Tập bài giảng Lịch sử các học thuyết kinh tế được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ công tác dạy và học học phần Lịch sử các học thuyết kinh tế cho đối tượng là sinh viên đại học các chuyên ngành kinh tế. Tập bài giảng được xây dựng với bố cục gồm 7 chương, kết thúc mỗi chương có phần câu hỏi ôn tập. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Tập bài giảng Lịch sử các học thuyết kinh tế được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ công tác dạy và học học phần Lịch sử các học thuyết kinh tế cho đối tượng là sinh viên đại học các chuyên ngành thuộc Khoa Kinh tế của Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
Tập bài giảng được xây dựng với bố cục gồm 7 chương, được trình bày trên 150 trang đánh máy, kết thúc mỗi chương có phần câu hỏi ôn tập
Cách tiếp cận khi xây dựng tập bài giảng Lịch sử các học thuyết kinh tế theo hướng khái quát hóa nội dung, diễn đạt để phù hợp với đối tượng chính là sinh viên đại học thuộc Khoa Kinh tế của Trường Đại học SPKT Nam Định
Trong quá trình xây dựng tập bài giảng, nhóm tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu trong và ngoài nước; đặc biệt có sử dụng trích dẫn hoặc phát triển ý tưởng, nội dung của nhiều tác giả (nêu trong phần danh mục tài liệu tham khảo) Tập thể nhóm tác giả xin phép được sử dụng tài liệu của quý vị với vai trò là nền tảng cơ bản xây dựng tập bài giảng này nhằm góp phần phát triển những lý thuyết về Kinh tế học đến gần với người đọc, người học hơn, tăng cường tính phổ biến về lý thuyết về các trường phái kinh
tế, đặc biệt là các lý thuyết đang ảnh hưởng đến việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiên nay
Cuối cùng, nhóm tác giả chúng tôi xin gửi những lời cám ơn trân trọng nhất tới các nhà nghiên cứu, các học giả, bạn bè, đồng nghiệp đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu, những lời góp ý quý giá để chúng tôi hoàn thành tập bài giảng này
Tập bài giảng Lịch sử các học thuyết kinh tế có thể còn nhiều thiếu sót Chúng tôi mong nhận được sự góp ý của bạn đọc
NHÓM TÁC GIẢ
Trang 2Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU i
CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC 1
1.1 Đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ của môn lịch sử các học thuyết kinh tế 1
1.1.1 Đối tượng nghiên cứu của môn học 1
1.1.2 Nhiệm vụ của môn học 2
1.2 Phương pháp nghiên cứu của môn lịch sử các học thuyết kinh tế 3
1.2.1 Phương pháp biện chứng duy vật 3
1.2.2 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học 3
1.2.3 Phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử 3
1.2.4 Một số phương pháp khác 3
1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế 4
TỔNG KẾT CHƯƠNG 5
CÂU HỎI ÔN TẬP 6
CHƯƠNG 2: HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG 7
2.1 Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa trọng thương 7
2.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội 7
2.1.2 Cơ sở phương pháp luận 7
2.2 Tư tưởng và đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa trọng thương 8
2.2.1 Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa trọng thương 8
2.2.2 Đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa trọng thương 9
2.3 Các giai đoạn phát triển của Chủ nghĩa trọng thương 9
2.3.1 Giai đoạn thế kỷ XV-XVI 9
2.3.2 Giai đoạn giữa thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII 10
2.4 Đặc điểm chủ nghĩa trọng thương một số nước 10
2.4.1 Chủ nghĩa trọng thương Anh 10
2.4.2 Chủ nghĩa trọng thương Pháp 11
2.5 Quá trình tan rã của Chủ nghĩa trọng thương 11
2.5.1 Nguyên nhân CNTT tan rã 11
2.5.2 Sự phê phán Chủ nghĩa trọng thương 11
TỔNG KẾT CHƯƠNG 13
CÂU HỎI ÔN TẬP 14
CHƯƠNG 3: HỌC THUYẾT KINH TẾ TƯ SẢN CỔ ĐIỂN 15
3.1 Trường phái trọng nông 15
3.1.1 Hoàn cảnh lịch sử xuất hiện chủ nghĩa trọng nông 15
3.1.1.1.Thời kỳ tích lũy nguyên thủy tư bản kết thúc 15
Trang 33.1.1.2.Thời kỳ quá độ từ phong kiến lên tư bản chủ nghĩa 15
3.1.2 Những quan điểm, lý luận, học thuyết kinh tế chủ yếu của trường phái trọng nông 16
3.1.2.1 Phái trọng nông phê phán gay gắt chủ nghĩa trọng thương 16
3.1.2.2 Cương lĩnh chính sách kinh tế của chủ nghĩa trọng nông 17
3.1.2.3 Học thuyết về trật tự tự nhiên 17
3.1.2.4 Học thuết về “sản phẩm ròng” 18
3.1.2.5 Học thuyết về lao động sản xuất và lao động không sinh lời 18
3.1.2.6 Học thuyết về giai cấp 18
3.1.2.7 Lý luận về tiền lương và lợi nhuận 19
3.1.2.8 Lý luận về tư bản 19
3.1.3 Những đại biểu của Chủ nghĩa trọng nông 20
3.1.3.1 Francois Quesnay (1694-1774): 20
3.1.3.2 Anne Robert Jacque Turgo 23
3.2 Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh 23
3.2.1 Hoàn cảnh xuất hiện trường phái kinh tế học cổ điển Anh 23
3.2.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội 23
3.2.1.2 Khái niệm kinh tế chính trị 24
3.2.2 William Petty 25
3.2.2.1 Tiểu sử và tác phẩm 25
3.2.2.2 Nội dung cơ bản trong học thuyết kinh tế của W.Petty 26
3.2.3 Adam Smith 28
3.2.3.1 Tiểu sử, tác phẩm và phương pháp luận của A.Smith 28
3.2.3.2 Hệ thống lý luận kinh tế của A.Smith 29
3.2.3 David Ricardo ( 1772 - 1823 ) 37
3.2.3.1 Tiểu sử, hoàn cảnh lịch sử và phương pháp luận 37
3.2.3.2 Hệ thống các quan điểm kinh tế của D.Ricardo 37
3.3 Sự suy đồi của kinh tế chính trị tư sản cổ điển 43
3.3.1 Nguyên nhân dẫn đến sự suy đồi của kinh tế học cổ điển 43
3.3.2 Học thuyết kinh tế của Thomas Robert Malthus (1766 - 1834) 44
3.3.2.1 Tiểu sử - Tác phẩm 44
3.3.2.2 Học thuyết kinh tế của Malthus 45
3.3.3 Học thuyết kinh tế của Jean Baptiste Say (1766 - 1832) 46
3.3.3.1 Tiểu sử, tác phẩm và phương pháp luận của J.B Say 46
3.3.3.2 Học thuyết kinh tế của J.B Say 46
3.3.4 Học thuyết kinh tế của Henry Charles Carey (1793 - 1879) 48
3.3.4.1 Tiểu sử, tác phẩm và phương pháp luận của H.C Carrey 48
Trang 43.3.4.2 Học thuyết kinh tế của H.C Carrey 48
TỔNG KẾT CHƯƠNG 50
CÂU HỎI ÔN TẬP 52
CHƯƠNG 4: KINH TẾ CHÍNH TRỊ TIỂU TƯ SẢN 53
4.1 Tiền đề kinh tế xã hội và đặc điểm HTKT tiểu tư sản 53
4.1.1 Tiền đề kinh tế - xã hội 53
4.1.2 Đặc điểm học thuyết kinh tế tiểu tư sản 53
4.2 Những quan điểm kinh tế chủ yếu của Sismondi 53
4.2.1 Sismondi phê phán chủ nghĩa tư bản theo lập trường tiểu tư sản 53
4.2.2 Lý luận về giá trị, lợi nhuận, tiền công và địa tô 54
4.2.3 Lý luận về sự thực hiện và khủng hoảng kinh tế 55
4.3 Những quan điểm kinh tế chủ yếu Proudon 56
4.3.1 Tiểu sử, những tác phẩm chủ yếu của Proudon 56
4.3.2 Đặc trưng phương pháp luận của Proudon 56
4.3.3 Những quan điểm kinh tế chủ yếu của Proudon 56
TỔNG KẾT CHƯƠNG 59
CÂU HỎI ÔN TẬP 60
CHƯƠNG 5: HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHÔNG TƯỞNG TÂY ÂU THẾ KỶ 19 61
5.1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm 61
5.1.1 Hoàn cảnh lịch sử ra đời của CNXH không tưởng châu Âu thế kỷ XIX 61
5.1.2 Đặc điểm cơ bản của CNXH không tưởng châu Âu thế kỷ XIX 61
5.2 Học thuyết kinh tế của Saint Simon 62
5.2.1 Quan điểm lịch sử của Saint Simon 62
5.2.2 Sự phê phán chủ nghĩa tư bản của Saint Simon 62
5.2.3 Dự đoán về xã hội tương lai 63
5.3 Học thuyết kinh tế của Chalrles Fourier 63
5.3.1 Lý thuyết về lịch sử phát triển của xã hội 63
5.3.2 Sự phê phán chủ nghĩa tư bản 64
5.3.3 Lý luận về xã hội tương lai 65
5.4 Học thuyết kinh tế của Robert Owen 65
5.4.1 Hoạt động thực tiễn của Robert Owen 65
5.4.2 Sự phê phán chủ nghĩa tư bản 66
5.4.3 Dự án về “tiền lao động”, về sự trao đổi công bằng và kế hoạch lao động 66 TỔNG KẾT CHƯƠNG 68
CÂU HỎI ÔN TẬP 69
Trang 5CHƯƠNG 6: SỰ PHÁT SINH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC
MARX - LENIN 70
6.1 Những tiền đề khách quan cho sự ra đời của kinh tế chính trị Macxit 70
6.1.1 Tiền để ra đời của kinh tế chính trị học Macxit 70
6.1.1.1 Tiền đề kinh tế - chính trị - xã hội 70
6.1.1.2 Tiền đề tư tưởng 72
6.1.2 Các đại biểu và tư tưởng kinh tế nổi bật 73
6.1.2.1 Friedrich Engels (F Ăngghen) 73
6.1.2.2 Karl Marx (C Mác) 74
6.1.3 Đặc điểm của kinh tế chính trị Mácxit 74
6.2 Quá trình hình thành và phát triển kinh tế chính trị học Macxit 75
6.2.1 Giai đoạn hình thành và phương pháp luận của kinh tế chính trị học Marx (1843 - 1848) 75
6.2.2 Giai đoạn xây dựng hệ thống các phạm trù và quy luật kinh tế của kinh tế chính trị học Marx (1848 - 1867) 78
6.2.3 Giai đoạn hoàn thiện kinh tế chính trị Marx (1867 - 1895) 85
6.3 Những đóng góp chủ yếu của Marx và Engels trong kinh tế chính trị học 85
6.3.1 Marx đưa ra quan niệm mới về đối tượng và phương pháp của kinh tế chính trị 85
6.3.2 Marx đưa ra các quan điểm lịch sử về sự phát triển kinh tế vào việc phân tích các phạm trù, các quy luật kinh tế 86
6.3.3 Dựa trên quan điểm lịch sử, Marx thực hiện một cuộc cách mạng về học thuyết giá trị - lao động 86
6.3.4 Công lao to lớn của Marx là xây dựng học thuyết giá trị thặng dư Đây là hòn đá tảng của chủ nghĩa Marx 89
Giả sử ngày lao động là 12 giờ: 90
6.3.5 K Marx đã vạch rõ bản chất của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản 97
6.3.6 Đóng góp của K Marx trong phạm trù tư bản 97
6.3.7 K Marx phân tích nguồn gốc khủng hoảng và thất nghiệp trong xã hội tư bản 98
6.3.8 Marx và Engels đã dự đoán những nội dung cơ bản của xã hội tương lai 98
6.4 V.I Lenin tiếp tục phát triển kinh tế chính trị học Marx 99
6.4.1 Tiểu sử và tác phẩm 99
6.4.2 Tư tưởng của Lenin về chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước 99
6.4.3 Quan điểm của Lenin về xây dựng chủ nghĩa xã hội 102
TỔNG KẾT CHƯƠNG 104
Trang 6CÂU HỎI ÔN TẬP 105
CHƯƠNG 7: CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ TƯ SẢN HIỆN ĐẠI 106
7.1 Học thuyết kinh tế của tân cổ điển 106
7.1.1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm chủ yếu 106
7.1.2 Các lý thuyết kinh tế chủ yếu của trường phái tân cổ điển 106
7.1.2.1 Lý thuyết “ích lợi giới hạn” 106
7.1.2.2 Lý thuyết giá trị giới hạn 107
7.1.2.3 Thuyết giới hạn ở Mỹ 107
7.1.2.4 Trường phái thành Lausanne (Thụy Sỹ) 108
7.1.2.5 Trường phái Cambridge (Anh) 109
7.2 Các học thuyết kinh tế của trường phái Keynes 111
7.2.1 Hoàn cảnh ra đời và những đặc điểm chủ yếu của học thuyết Keynes 111
7.2.2 Nội dung học thuyết kinh tế của Keynes 111
7.2.2.1 Lý thuyết về việc làm 111
7.2.2.2 Lý thuyết về sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế 114
7.2.3 Những hạn chế của lý thuyết Keynes 114
7.2.4 Trường phái sau Keynes 114
7.3 Các lý thuyết kinh tế của chủ nghĩa tự do mới 115
7.3.1 Sự phục hồi lý thuyết tự do kinh doanh và đặc điểm của chủ nghĩa tự do mới 115
7.3.2 Sự phát triển của chủ nghĩa tự do mới ở Cộng hoà liên bang Đức 119
7.3.3 Các lý thuyết của trường phái trọng tiền hiện đại 121
7.4 Các lý thuyết kinh tế của trường phái trọng cung ở Mỹ 129
7.5 Kinh tế vĩ mô dự kiến hợp lý ở Mỹ 130
7.6 Những đặc điểm của Chủ nghĩa tư do mới ở Pháp 133
7.7 Sự xuất hiện và đặc điểm phương pháp luận của kinh tế học trường phái chính hiện đại 134
7.7.1 Lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp 134
7.7.2 Lý thuyết giới hạn “khả năng sản xuất” và “sự lựa chọn” 136
7.7.3 Lý thuyết thất nghiệp 137
7.7.4 Lý thuyết về lạm phát 139
7.7.5 Lý thuyết tiền tệ, ngân hàng vầ thị trường chứng 141
7.8 Lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế 143
7.8.1 Khái niệm về tăng trưởng và phát triển kinh tế 143
7.8.1.1 Sự phân loại các quốc gia 143
7.8.1.2 Đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển 144
7.8.1.3 Khái niệm về tăng trưởng và phát triển kinh tế 145
Trang 77.8.2 Lý thuyết cất cánh của W.W Rostow 146
7.8.3 Lý thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và “ cú huých” từ bên ngoài 147
7.8.4 Lý thuyết về mô hình kinh tế nhị nguyên của Athur Lewis 149
7.8.5 Lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế các nước Châu á gió mùa 151
TỔNG KẾT CHƯƠNG 153
CÂU HỎI ÔN TẬP 154
TÀI LIỆU THAM KHẢO 155
Trang 9CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC
1.1 Đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ của môn lịch sử các học thuyết kinh tế 1.1.1 Đối tượng nghiên cứu của môn học
Xã hội loài người đã và đang trải qua những hình thái kinh tế - xã hội khá nhau
Ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người đều có những hiểu biết và cách giải thích hiện tượng kinh tế - xã hội nhất định Việc giải thích các hiện tượng kinh tế
- xã hội ngày càng trở nên cần thiết đối với đời sống kinh tế của xã hội loài người Lúc đầu việc giải thích các hiện tượng kinh tế - xã hội xuất hiện dưới những hình thức tư tưởng kinh tế lẻ tẻ, rời rạc, về sau mới trở thành những quan niệm, quan điểm kinh tế
có tính hệ thống của các giai cấp khác nhau Cho đến ngày nay, đã xuất hiện nhiều trường phái kinh tế với những đại biểu đưa ra nhiều những quan điểm khác nhau khi
đứng trước hiện thực kinh tế - xã hội Để cung cấp một cách có hệ thống các quan
điểm, các học thuyết kinh tế của các trường phái, các đại biểu tiêu biểu trên thế giới gắn với điều kiện lịch sử xuất hiện của chúng, môn lịch sử các học thuyết kinh tế đã ra
đời để đáp ứng yêu cầu đó
Lịch sử các học thuyết kinh tế là một môn khoa học xã hội nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển, đấu tranh và thay thế lẫn nhau của các hệ thống quan điểm kinh tế của các giai cấp cơ bản trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau
Đối tượng nghiên cứu của môn lịch sử các học thuyết kinh tế là hệ thống các quan điểm kinh tế của các đại biểu tiêu biểu của các giai cấp khác nhau trong các hình thái kinh tế xã hội gắn với các giai đoạn lịch sử nhất định Nó chỉ ra những công
hiến, những giá trị khoa học và phê phán có tính lịch sử những hạn chế của các đại biểu trong các trường phái kinh tế học
Tư tưởng kinh tế được chứa đựng trong ngôn ngữ vì ngôn ngữ là vỏ bọc vật chất của tư duy, cho nên Lịch sử các tư tưởng kinh tế chỉ có thể bắt đầu nghiên cứu từ lịch
sử thành văn, tức là thời cổ đại đến ngày nay Nó được biểu hiện tập trung, khái quát trong các tác phẩm, các chính sách kinh tế hay học thuyết kinh tế…
Tư tưởng kinh tế, trong đó những quan hệ kinh tế được phản ánh vào trong ý thức của con người, được con người quan niệm, nhận thức; là kết quả của quá trình nhận thức những quan hệ kinh tế của con người Vì vậy, nó phản ánh sự vận động của những quan hệ kinh tế, các giai cấp, nghĩa là phản ánh những điều kiện và hình thức của sản xuất, cùng những quan hệ giai cấp được phát sinh ra bởi điều kiện và hình thức
đó Chính sự vận động của những quan hệ kinh tế, quan hệ giai cấp quyết định sự ra
Trang 10đời, phát sinh, phát triển và thay thế lẫn nhau của tư tưởng kinh tế Sự chín muồi của những điều kiện vật chất cho phép sự chín muồi của nhận thức kinh tế
Tư tưởng kinh tế bao giờ cũng là kết quả nhận thức của một người, một tầng lớp, một giai cấp nhất định trong lịch sử, là vũ khí lý luận nhằm bảo vệ lợi ích trước mắt hoặc lâu dài cho tầng lớp, giai cấp sinh ra nó
Bản chất giai cấp của tư tưởng kinh tế liên hệ chặt chẽ với tính khoa học của nó
Sự phát triển khoa học và áp dụng khoa học đến mức nào tùy thuộc ở chỗ giai cấp đó đóng vai trò tiến bộ đối với sự phát triển của sản xuất hay không? Giai cấp có đóng vai trò tiến bộ, cách mạng trong lịch sử đều có đóng góp to lớn cho sự phát triển khoa học của tư tưởng kinh tế Giai cấp đó dùng khoa học để đạt mục đích của nó vì vậy tư tưởng của họ mang tính tiến bộ và khoa học Nhìn chung nó phản ánh đúng đắn quá trình hình thành và phát triển khách quan của các quan hệ kinh tế Song khi đã hết vai trò tiến bộ trong lịch sử, tư tưởng kinh tế của các giai cấp này sẽ trở thành bảo thủ, kìm hãm sự phát triển của khoa học
Mặt khác, các tư tưởng kinh tế tuân theo các quy luật về mặt nhận thức Mỗi một bước phát triển của tư tưởng kinh tế, là một bước gần đến chân lý khách quan; mỗi một học thuyết kinh tế là một nấc thang, một viên gạch để dựng nên tòa lâu đài tri thức kinh tế Về mặt này, lịch sử phát triển của tư tưởng kinh tế là lịch sử của quá trình nhận thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Không có một lý luận kinh tế nào tuyệt đối, hoàn mỹ và cuối cùng cả Tất cả chỉ
là những mắt khâu trong dây chuyền tiến tới chân lý tuyệt đối, cho nên xem xét lại những khái niệm, phạm trù là công việc tất yếu, thường xuyên, là đòi hỏi khách quan của sự phát triển Với tư cách này, lịch sử các tư tưởng kinh tế đã tạo ra cơ sở cho sự thống nhất của tư tưởng kinh tế, là tư tưởng kinh tế nói chung của loài người
Như vậy, lịch sử các học thuyết kinh tế chỉ nghiên cứu những quan điểm kinh tế
đã phát triển thành một hệ thống nhất định Hệ thống các quan điểm kinh tế và tổng hợp những tư tưởng kinh tế giải thích các hiện tượng kinh tế trong mối liên hệ sản xuất nhất định Những quan điểm kinh tế chưa thành hệ thống, nhưng có ý nghĩa lịch sử, được trình bày kế tiếp nhau theo tiếp trình lịch sử thuộc về môn lịch sử tư tưởng kinh
tế Mặt khác, lịch sử các học thuyết kinh tế không chỉ nghiên cứu hệ thống các quan điểm kinh tế của các nhà tư tưởng thuộc lĩnh vực kinh tế chính trị học, mà còn nghiên cứu hệ thống các quan điểm về những vấn đề kinh tế hiện đại
1.1.2 Nhiệm vụ của môn học
- Nghiên cứu, đánh giá quan điểm kinh tế của các đại biểu, các trường phái khác nhau trên quan điểm cụ thể Từ đó cung cấp cho người học những hiểu biết khái quát
về lịch sử phát triển kinh tế của nhân loại, những học thuyết kinh té chủ yếu, chi phối
sự phát triển kinh tế trong những thời kỳ khác nhau
Trang 11- Những quan điểm kinh tế phát sinh, phát triển trong những điều kiện kinh tế -
xã hội nhất định, gắn với giai cấp nhất định, phục vụ quyền lợi cho giai cấp đó, không
có kinh tế phi giai cấp, lịch sử các học thuyết phản ánh tư tưởng kinh tế của các giai cấp khác nhau trong những giai đoạn lịch sử nhất định
- Lịch sử các học thuyết kinh tế ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và nền kinh tế thị trường của nhân loại từ thế kỷ XV đến nay, nó phản ánh sự tồn tại và phát triển xã hội về mặt kinh tế Mặt khác, nó còn là sự khái quát thực tiễn để trở lại chỉ đạo sự phát triển của bản thân nền kinh tế thị trường
- Với vai trò là môn khoa học có phương pháp luận, lịch sử các học thuyết kinh tế cung cấp một cách có hệ thống các quan điểm, các lý luận kinh tế làm cơ sở cho các khoa học kinh tế khác, đặc biệt là các môn học kinh tế liên quan đến nền kinh tế thị
trường
1.2 Phương pháp nghiên cứu của môn lịch sử các học thuyết kinh tế
1.2.1 Phương pháp biện chứng duy vật
Cũng như các môn khoa học khác, Lịch sử các học thuyết kinh tế sử dụng phép biện chứng duy vật - học thuyết về những mối liên hệ, những quy luật chung nhất của
sự phát triển của tồn tại và tư duy, làm cơ sở của việc nghiên cứu khoa học
Đây là phương pháp chung xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu một cách có hệ thống các quan điểm kinh tế, đồng thời đánh giá đúng đắn công lao và hạn chế của các nhà kinh tế trong lịch sử
Mặt khác, phản ánh một cách khách quan tính phê phán vốn có của các học thuyết kinh tế, không phủ nhận tính độc lập tương đối của các học thuyết kinh tế và vai trò, vị trí lịch sử của nó
1.2.2 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
Khi nghiên cứu các hiện tượng, quá trình kinh tế cần gạt bỏ đi những yếu tố ngẫu nhiên, tạm thời Tập trung nghiên cứu những yếu tố mang tính bản chất, quy luật, thường xuyên lặp đi lặp lại
1.2.3 Phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử
Hệ thống các quan điểm kinh tế là kết quả phản ánh các quan hệ kinh tế vào ý
thức con người trong giai đoạn lịch sử nhất định Nguồn gốc ra đời, sự phát triển và diệt vong của các lý luận kinh tế do cơ sở kinh tế xã hội quyết định Vì vậy, việc nghiên cứu hệ thống các quan điểm kinh tế đòi hỏi phải tuân thủ một cách triệt để nguyên tắc lôgic - lịch sử
1.2.4 Một số phương pháp khác
Phương pháp phê phán, phân tích và tổng hợp: nhằm đánh giá đúng công lao,
đóng góp, hạn chế, tính kế thừa và phát triển của các trường phái kinh tế trong lịch sử
Trang 12Phương pháp tiếp cận có hệ thống: theo dõi quá trình phát sinh, phát triển của các
phạm trù, quy luật kinh tế qua các trường phái, ảnh hưởng của chúng tới sự phát triển kinh tế - xã hội
Nguyên tắc chung cho các phương pháp nghiên cứu môn học lịch sử các học thuyết kinh tế
1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế
Trước hết, Lịch sử các học thuyết kinh tế với tư cách là một môn khoa học có tính độc lập thực hiện chức năng nhận thức Chức năng này yêu cầu phải nghiên cứu, đánh khía các quan điểm kinh tế của các đại biểu, các trường phái khác nhau trong quan điểm lịch sử cụ thể
Là một môn khoa học xã hội nghiên cứu những quan điểm kinh tế phát sinh, phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định gắn liền với lợi ích của các giai cấp nhất định nên lịch sử các học thuyết kinh tế có chức năng tư tưởng Không có tư tưởng kinh tế phi giai cấp
Với chức năng thực tiễn, lịch sử các học thuyết kinh tế cho phép chúng ta nắm vững tính khoa học, của các quan điểm kinh tế, tiếp thu những bài học của lịch sử để đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay
Lịch sử các học thuyết còn có chức năng phương pháp luận Nó cung cấp một cách hệ thống các quan điểm, các lý luận kinh tế là cơ sở lý luận cho khoa học kinh tế chính trị và các khoa học kinh tế khác Đặc biệt là những môn nghiên cứu những vấn
đề có liên quan đến kinh tế thị trường
Với những chức năng trên, việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế là rất cần thiết, là bộ phận không thể tách rời của việc nghiên cứu các khoa học kinh tế trong giai đoạn hiện nay
Việc nghiên cứu nguồn gốc các phạm trù cơ bản, các quy luật các vấn đề khác của kinh tế chính trị không thể bỏ qua tính lịch sử của chúng Do vậy, chỉ có thể hiểu một cách sâu sắc và hoàn chỉnh môn kinh tế chính trị sau khi nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế
Trong điều kiện hiện nay, việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế giúp người học nâng cao hiểu biết về nền kinh tế thị trường và những kiến thức cần thiết để nắm vững và thực hiện thành công đường lối chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta
Trang 13TỔNG KẾT CHƯƠNG
Lịch sử các học thuyết kinh tế là môn khoa học xã hội nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển, đấu tranh và thay thế lẫn nhau của các hệ thống quan điểm kinh tế của các giai cấp cơ bản trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau
Đối tượng nghiên cứu của môn lịch sử các học thuyết kinh tế là hệ thống các quan điểm kinh tế của các giai cấp khác nhau trong hình thái kinh tế - xã hội khác nhau gắn với các giai đoạn lịch sử nhất định
Lịch sử các học thuyết kinh tế chỉ nghiên cứu những quan điểm kinh tế đã được hình thành như một hệ thống nhất định Những quan điểm kinh tế chưa thành hệ thống nhưng có ý nghĩa lịch sử thuộc môn Lịch sử tư tưởng kinh tế
Phương pháp nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế là phương pháp duy vật biện chứng Việc nghiên cứu hệ thống các quan điểm kinh tế đòi hỏi phải thực hiện một cách triệt để nguyên tắc lịch sử Không nên xem xét di sản của quá khứ bằng tiêu chuẩn hiện tại, không thể đánh giá ý nghĩa của chúng căn cứ vào trình độ khoa học hiện nay Ngoài ra, việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế cần sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau, như: phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp phê phán, phân tích tổng hợp và tiếp cận có hệ thống… để thấy rõ được vai trò lịch sử, đóng góp và hạn chế của các quan điểm kinh tế của các đại biểu khác nhau
Đối với sinh viên thuộc khối chuyên ngành kinh tế, việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế là rất cần thiết, là bộ phận không thể tách rời của việc nghiên cứu các khoa học kinh tế trong giai đoạn hiện nay
Trang 14CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Phân tích đối tượng và phương pháp nghiên cứu của môn lịch sử các học thuyết kinh tế
2 Phân tích các phương pháp nghiên cứu của môn lịch sử các học thuyết kinh tế
3 Tư tưởng kinh tế là gì? Trình bày đặc điểm của tư tưởng kinh tế
4 Tại sao nói việc nghiên cứu môn lịch sử các học thuyết kinh tế là rất cần thiết đối với các khoa học kinh tế trong giai đoạn hiện nay?
5 Trình bày ý nghĩa của việc nghiên cứu môn lịch sử các học thuyết kinh tế
6 Vai trò của môn lịch sử các học thuyết kinh tế là gì?
7 Tại sao nghiên cứu môn học lịch sử các học thuyết kinh tế lại có vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu về nền kinh tế thị trường?
Trang 15CHƯƠNG 2: HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG
2.1 Hoàn cảnh lịch sử ra đời chủ nghĩa trọng thương
2.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội
Chủ nghĩa trọng thương (CNTT) là hệ thống tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản ra đời trong thời kỳ tan rã của phương thức sản xuất phong kiến, phát sinh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN) CNTT tồn tại từ cuối thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVII ở nhiều nước châu Âu mà điển hình là ở Anh và Pháp
Sự xuất hiện của chủ nghĩa trọng thương gắn liền với những chuyển biến lịch sử
to lớn trong thời kỳ này, có thể tóm lược như sau:
- Kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, thị trường trong nước mở rộng và thống nhất dần, đồng thời phát triển về hàng hải cũng thúc đẩy giao thương quốc tế và xâm lấn thuộc địa phát triển nhanh Từ đó thế lực của tầng lớp thương nhân được tăng cường
và dần trở thành bá chủ trong xã hội Lý tưởng ôn hòa của thời Trung cổ đi vào bóng tối của thời gian, người ta xác định chỉ có giầu sang là điều mong ước duy nhất trên cõi đời và lăn xả vào mọi hoạt động để làm giầu, tiền được dùng như là một phương tiện trung gian trao đổi với tư cách là tư bản để mưu lợi (theo công thức T-H-T’)
- Bộ mặt chính trị - xã hội cũng thay đổi khác hẳn với thời Trung cổ: Chế độ quân chủ được củng cố, mọi quyền hành tập trung về tay trung ương, guồng máy cai trị được tăng cường, sử dụng lực lượng quân sự khổng lồ, và nhà vua phải dựa vào sựa giúp đỡ tài chính của tầng lớp thương gia tư sản trong xã hội Giai cấp phong kiến có
sự phân hóa: các vương hầu quí tộc lớn mạnh không chịu khuất phục ngai vua Nông
nô muốn thoát khỏi ách thống trị của lãnh chúa, và tầng lớp nhân dân thành thị ( gồm thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ… ở thị trấn) cũng muốn chấm dứt sự đô hộ của giới quí tộc, do đó địa vị của giai cấp phong kiến bắt đầu lung lay Sự phân hóa giầu nghèo ngày càng sâu sắc Do có khối lượng vàng bạc khổng lồ tràn ngập thị trường Châu Âu, nhu cầu và sức mua của người tiêu thụ tăng trong khi sức sản xuất không thay đổi, thậm chí có khuynh hướng giảm, nhưng tư bản thương nhân được lợi làm giàu nhanh chóng
2.1.2 Cơ sở phương pháp luận
+ Xuất hiện phong trào phục hưng chống lại những tư tưởng đen tối thời Trung cổ: xuất hiện những tư tưởng mới về chủ nghĩa nhân đạo tư sản, chủ nghĩa duy vật trong triết học, các ngành khoa học tự nhiên phát triển mạnh như thiên văn học, cơ học, hóa học …(Đại diện là các nhà khoa học thiên tài như Galile, Kopecnic, Kepsler…)
Trang 16+ Người dân có mơ ước về công bằng xã hội và có sự chuyển biến cơ bản trong tâm lý: trước kia con người chỉ nghĩ đến tôn giáo, đạo lý Giờ họ nghĩ đến thực tiễn, hướng tới các môn khoa học và quyền lợi vật chất Các quan niệm tích cực không cấm đoán giầu sang, xem sự thành công là vật chất là phép lành do Chúa ban cho Đây là điều khích lệ đối với những người có óc kinh doanh làm giầu, tạo điều kiện thúc đẩy những hành vi tích lũy theo kiểu tư bản chủ nghĩa
+ Về quan điểm chính trị: nổi bật là 2 ý niệm căn bản:
Một là, phải củng cố nền độc lập và chủ quyền từng quốc gia
Hai là, xem con người như là một thực thể, một công dân của quốc gia, một
thành phần của nhân loại, đề cao cá tính và vai trò của mỗi cá nhân
Từ đó khuynh hướng chính trị lập quốc và phát triển kinh tế theo hướng TBCN được đẩy mạnh
+ Đặc biệt là những phát kiến địa lý (thể kỷ XV - XVI) tìm ra châu Mỹ, đường biển qua châu Phi, từ châu Âu sang ấn Độ… tạo điều kiện mở rộng thị trường xâm chiếm thuộc địa, làn sang du thương chuyển vàng từ châu Mỹ về châu Âu… Vai trò của tư bản thương nghiệp được nêu cao, nó đòi hỏi phải có lý thuyết kinh tế chỉ đạo
2.2 Tư tưởng và đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa trọng thương
2.2.1 Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa trọng thương
- CNTT đánh giá cao vai trò của tiền tệ:
CNTT coi tiền tệ là nội dung căn bản của của cải, một nước càng có nhiều tiền (vàng) thì càng giàu Hàng hóa chỉ là phương tiện làm tăng khối lượng tiền tệ Do đó mục đích chủ yếu trong chính sách kinh tế của mỗi quốc gia là phải gia tăng được khối lượng tiền tệ
- CNTT lấy tiền làm tiêu chuẩn để đánh giá mọi hình thức hoạt động nghề nghiệp:
Họ cho rằng chỉ có hoạt động ngoại thương mới là nguồn gốc thật sự của của cải
Trong hoạt động ngoại thương phải thực hiện xuất siêu “Nội thương là hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm Muốn tăng của cải phải có ngoại thương nhập dẫn của cải qua nội thương”
- CNTT cho rằng lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông mua bán, trao đổi sinh ra:
Lợi nhuận thương nghiệp là kết quả của sự trao đổi không ngang giá, là sự lừa gạt Trong trao đổi phải có bên thua để bên kia được, dân tộc này làm giàu bằng cách
hy sinh lợi ích của dân tộc khác
- Tính chất dân tộc là một trong những đặc điểm nổi bật của hệ tư tưởng của CNTT:
Những người theo CNTT chú trọng chủ yếu đến việc xây dựng thị trường dân tộc,
ở mỗi nước có những biện pháp tích lũy tiền tệ khác nhau Họ không những nói đến sự
Trang 17tăng của cải nói chung, mà còn nói đến sự tăng của cải ở mỗi nước nhất định bằng cách làm phá sản nước khác
2.2.2 Đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa trọng thương
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu CNTT là lĩnh vực lưu thông trao đổi K.Marx đã chỉ ra
rằng: chủ nghĩa trọng thương thế kỷ XVI - XVII đã đi theo “Cái hình thái chói lọi của giá trị trao đổi và đứng trên lĩnh vực thô sơ lưu thông hàng hóa để xem xét nền sản xuất TBCN”
- Đề cao vai trò của Nhà nước:
CNTT đánh giá cao các chính sách kinh tế của Nhà nước, dựa vào chính quyền Nhà nước để tích lũy tiền tệ Họ cho rằng chỉ có dựa vào Nhà nước mới có thể phát triển được kinh tế
- CNTT tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế hàng hóa và kho học kinh tế:
Những quan niệm của CNTT kinh tế là một bước tiến bộ to lớn so với thời trung
cổ Nó đoạn tuyệt với nền kinh tế tự cung, tự cấp và giáo lý phong kiến để phát triển nền kinh tế hàng hóa TBCN, mở đường cho sự phát triển của khoa học kinh tế
2.3 Các giai đoạn phát triển của Chủ nghĩa trọng thương
2.3.1 Giai đoạn thế kỷ XV-XVI
Thời kỳ này được coi là thời kỳ “Chủ nghĩa tiền tệ” hay “ chủ nghĩa vàng”.Tư tưởng trung tâm của thời kỳ này là: bản cân đối (hệ thống) tiền tệ:
- Theo họ cân đối tiền tệ là ngăn chặn không cho đem tiền ra nước ngoài, khuyến khích mang tiền từ nước ngoài về
- Phải cân đối tiền tệ theo hướng “Thu” phải lớn hơn “Chi”, phải đem tiền về càng nhiều càng tốt bằng con đường ngoại thương, phải giữ tiền tệ trong nước không
“chảy” ra nước ngoài, và phải bằng mọi cách thu hút tiền nước ngoài vào trong nước
- Chủ trương hạn chế tối đa nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về, cấm xuất khẩu tiền Khuyến kích xuất khẩu hàng ra nước ngoài, và sau khi bán hàng ở nước ngoài phải đem tiền về
- Lập hàng rào thuế quan, giảm lợi tức cho vay để bảo vệ và khuyến khích sản xuất trong nước
- Giai đoạn này chính là giai đoạn tích lũy về tiền của chủ nghĩa tư bản có sự tham gia của Nhà nước
Trang 182.3.2 Giai đoạn giữa thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII
Thời kỳ này được coi là “chủ nghĩa trọng thương thực sự”
- Đặc điểm là vẫn coi sự giàu có là tiền tệ, một nước phải tích lũy tiền, và con đường làm giàu vẫn là ngoại thương
- Nhưng khác thời kỳ đầu là ở chỗ: không coi “cân đối tiền tệ” là chính, coi
“cân đối thương nghiệp” là chính
- Không cấm xuất khẩu tiền, lên án việc tích trữ tiền ở trong nước, đồng thời khuyến khích mở rộng xuất khẩu, cũng tán thành việc nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài với quy mô lớn nếu có tác dụng đối với nền kinh tế
+ Cấm xuất khẩu công cụ và nguyên liệu, thực hiện thương mại trung gian, khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ hàng hóa trong nước
+ Đối với nhập khẩu: tán thành nhập khẩu nguyên vật liệu để đem chế biến xuất khẩu
- Cho phép xuất khẩu tiền để đẩy mạnh buôn bán và lưu thông hàng hóa, lên án việc tích lũy tiền
- Mục đích chính của gia đoạn này vẫn là tích lũy tiền cho chủ nghĩa tư bản nhưng bằng các biện pháp kinh tế là chủ yếu
2.4 Đặc điểm chủ nghĩa trọng thương một số nước
2.4.1 Chủ nghĩa trọng thương Anh
CNTT ở Anh ra đời sớm và chín muồi nhất Tây Âu trong thế kỷ XVI - XVII CNTT ở Anh phát triển qua 2 giai đoạn:
- Giai đoạn I (thế kỷ XV - XVI) được gọi là giai đoạn hệ hống về “Bảng Cân đối tiền tệ” Đại biểu điển hình là William Stapphot (1554 - 1912)
Ở giai đoạn này các nhà kinh tế đồng nhất của cải với tiền tệ, họ chưa hiểu quan
hệ giữa lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ Những người theo CNTT tìm mọi cách để tăng của cải tiền tệ, tích lũy tiền tệ bằng biện pháp hành chính như: cấm xuất khẩu tiền tệ ra nước ngoài, tập trung buôn bán vào những vùng có thể kiểm soát được, bắt thương nhân nước ngoài phải tiêu hết tiền trên đất Anh, tỷ giá hối đoái và số lượng tiền được quy đổi với người nước ngoài theo đúng quy định của Nhà nước
Nhận xét về giai đoạn của CNTT, Friedrich Engels viết :“Các dân tộc chống đối nhau như những kẻ bủn xỉn, hai tay ôm giữ túi tiền qúy báu, nhìn sang láng giềng với con mắt ghen tỵ, đa nghi”
- Giai đoạn II (cuối thế kỷ XVI và thế kỷ XVII) được gọi là giai đoạn học thuyết
về “Bảng cân đối thương mại” Đại biểu điển hình là Thomas Mun (1571 - 1941)
Ở thời kỳ này những người trọng thương chủ nghĩa đã thấy rõ hơn mối quan hệ giữa lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ, họ khuyến khích xuất khẩu tiền nhằm mua nguyên liệu sản xuất hàng hóa, bán hàng hóa để thu được số tiền lớn hơn Hơn
Trang 19nữa họ cho rằng: Trong buôn bán thương nghiệp phải đảm bảo xuất siêu, thực hiện thương nghiệp trung gian, thực hiện chính sách thuế quan bảo hộ, khuyến khích xuất khẩu hàng hóa …
Tư tưởng xuất phát của những biện pháp thương nghiệp, theo Thomas: nếu tiền tệ
đẻ ra thương nghiệp cũng đẻ ra tiền tệ, người nào có hàng hóa thì sẽ có tiền
- J.B.Colbert đã đề ra hệ thống tài chính của Pháp trong vòng 100 năm nên còn gọi là chủ nghĩa Colbert Ông cũng cho rằng ngoại thương có khả năng làm cho thần dân sung túc, sự hùng cường của quốc gia là do số lương tiền tệ quyết định Ông rất chú trọng phát triển công nghiệp nhưng những biện pháp nhằm thúc đẩy công nghiệp của ông lại làm cho nông nghiệp sa sút như chính sách hạ giá hàng nông phẩm, bắt bán lúa mì với bất cứ giá nào khi đã mang ra thị trường không được chở về nhà
Tóm lại, những người trọng thương chủ nghĩa đều nhằm mục đích tích lũy thật nhiều tiền tệ chú trọng phát triển thương nghiệp nhưng, ở mỗi nước có khác nhau về phương pháp thực hiện và chịu sự tác động của hoàn cảnh kinh tế- xã hội So với ở Anh thì ở Pháp CNTT ít tính lý luận, thiên về hoạt động thực tiễn, tính chất trọng
thương có phần không triệt để và bắt đầu của sự tan rã
2.5 Quá trình tan rã của Chủ nghĩa trọng thương
2.5.1 Nguyên nhân CNTT tan rã
Sự tãn rã của CNTT bắt đầu từ thế kỷ XVII trước hết là ở Anh, do sự phát triển của công trường thủ công, lợi tích của giai cấp tư sản đã chuyển sang lĩnh vực sản xuất Thời kỳ tích lũy ban đầu của CNTB đã kết thúc và thời kỳ sản xuất TBCN đã bắt đầu Tính chất phiến diện của CNTT đã bộc lộ rõ ràng khi coi tiền tệ là tiêu chuẩn duy nhất của tài sản quốc gia chỉ coi trọng lưu thông trao đổi, không biết đến quy luật kinh
tế, điều hành nền kinh tế chủ yếu dựa vào sự can thiệp chính của Nhà nước
2.5.2 Sự phê phán Chủ nghĩa trọng thương
Đại biểu cho thời kỳ tan rã của CNTT là nhà kinh tế học người Anh Duley North (1641 - 1695), ông đã phê phán những quan điểm cơ bản của CNTT
Trang 20- Về ngoại thương: Nếu CNTT cho ngoại thương là chiến tranh, là biện pháp làm thiệt hại bên kia để làm giàu, thì D North cho rằng thương nghiệp là sự trao đổi có lợi cho cả hai bên
- Khi đánh giá về tiền tệ ông cho rằng số lượng tiền tệ phụ thuộc vào yêu cầu của lưu thông thương nghiệp Nếu tiền tệ tăng nhiều thì số tiền thừa sẽ chạy ra nước ngoài hoặc đi vào tích trữ và ngược lại
- Ông bác bỏ sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước, nêu khẩu hiệu tự do kinh tế trong nước cũng như ngoài nước
Trang 21TỔNG KẾT CHƯƠNG
Có thể đánh giá chủ nghĩa trọng thương qua hai điểm cơ bản như sau:
- Thứ nhất, trong điều kiện lịch sử thế kỷ từ XV – XVII, quan điểm của chủ nghĩa
trọng thương đã có bước tiến bộ lớn so với chính sách và tư tưởng phong kiến thời Trung cổ Điều này thể hiện ở chỗ:
+ Tư tưởng kinh tế phong kiến là tư tưởng của nền kinh tế tự cung, tự cấp (nền kinh tế tự nhiên) nên rất hạn chế, nó cản trở việc giao lưu buôn bán, do đó cản trở sự phát triển sản xuất CNTT đã khắc phục hạn chế này, thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất của nhân loại lên một bước
+ Các học giả trọng thương, lần đầu tiên trong lịch sử đã cố gắng nhận thức và giải thích hiện tượng kinh tế dưới góc độ lý luận, học đã biết dựa vào những thành tựu tri thức nhân loại và biết áp dụng các phương pháp khoa học Do đó, đã mở ra kỷ nguyên mới cho việc nghiên cứu và nhận thức các vấn đề kinh tế trên cơ sở đúng đắn khoa học; đoạn tuyệt hẳn với tư tưởng kinh tế thời Trung cổ giải thích các hiện tượng kinh tế bằng các quan niệm tôn giáo
- Thứ hai, tuy nhiên CNTT còn nhiều hạn chế, thể hiện ở chỗ:
+ Những thành tựu đạt được còn nhỏ bé, việc giải thích các vấn đề kinh tế còn quá đơn giản
+ Các học giả trọng thương mới chỉ nêu ra các nguyên tắc, cương lĩnh dựa trên sự
mô tả, xem xét bề ngoài chứ chưa thực sự tìm được các quy luật phản ánh bản chất hiện tượng kinh tế
+ Tầm nhìn của họ còn phiến diện; mới chỉ dừng lại ở lưu thông chưa nghiên cứu được quá trính sản xuất, đồng thời chưa nhận thức được toàn bộ sự vật (trước hết là bản chất tiền tệ)
Trang 22CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Trình bày điều kiện lịch sử ra đời và đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa trọng thương
2 Tại sao những người trọng thương chủ nghĩa đánh giá cao vai trò của tiền tệ và thương nghiệp
3 Hãy nêu những đặc điểm và tư tưởng kinh tế chủ yếu của CNTT
4 CNTT phát triển qua mấy giai đoạn, nội dung của từng giai đoạn là gì và nó được thể hiện như thế nào ở Anh và Pháp?
5 Đánh giá những đóng góp tích cực của CNTT vào sự phát triển trong giai đoạn đầu của CNTB
6 Trình bày đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa trọng thương Chủ nghĩa trọng thương có những đóng góp và hạn chế cơ bản nào?
7 Tại sao nói chủ nghĩa trọng thương có vai trò quan trọng trong việc hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Trang 23CHƯƠNG 3 HỌC THUYẾT KINH TẾ TƯ SẢN CỔ ĐIỂN
3.1 Trường phái trọng nông
3.1.1 Hoàn cảnh lịch sử xuất hiện chủ nghĩa trọng nông
3.1.1.1.Thời kỳ tích lũy nguyên thủy tư bản kết thúc
Cũng như Chủ nghĩa trọng thương, Chủ nghĩa trọng nông (CNTN) xuất hiện trong khuôn khổ thời kỳ quá độ phong kiến sang chế độ TBCN, nhưng ở giai đoạn phát triển kinh tế trưởng thành hơn Vào thế kỷ XVIII, ở Tây Âu đã phát triển theo con đường TBCN và ở nước Anh cách mạng công nghiệp đã bắt đầu Ở nước Pháp, CNTB với hệ thống công trường thủ công đã bén rễ một cách vững chắc Điều đó đòi hỏi phải xét lại cương lĩnh kinh tế và học thuyết của CNTT là cấp thiết Thời kỳ tích lũy ban đầu đã chấm dứt và việc dùng thương mại để bóc lột các nước thuộc địa đã không còn phù hợp
Do sự phát triển của hệ thống công trường thủ công làm cho lợi nhuận của công nghiệp cao hơn và ổn định hơn so với lợi nhuận thương nghiệp, giai cấp tư sản lớn mạnh và đòi hỏi sự tự do hóa thương mại
Các quan điểm đề cao tiền và nguồn gốc giàu có của các dân tộc là dựa vào đi
buôn tỏ ra lỗi thời lạc hậu, cản trở quá trình sản xuất
3.1.1.2.Thời kỳ quá độ từ phong kiến lên tư bản chủ nghĩa
Chủ nghĩa trọng nông (CNTN) xuất hiện vào giữa thế kỷ XVIII từ nền kinh tế đặc biệt của Pháp lúc bấy giờ là sự đình đốn của kinh tế nông nghiệp Sự thống trị hà khắc của chế độ chiếm hữu phong kiến về ruộng đất với mức độ bóc lột cao Địa tô phong kiến chiếm từ 1/4 đến 1/3 số nông phẩm sản xuất ra, ngoài ra nông dân còn phải nộp nhiều thứ thuế khác và thuế thập phân cho nhà thờ
Nông nghiệp còn bị thiệt hạ nặng nề do chính sách trọng thương của bộ trưởng tài chính Colbert như: hạ giá thành ngũ cốc, thực hiên các biện pháp cướp bóc nông nghiệp để phát triển công nghiệp “ăn đói để xuất khẩu”
Tình hình trên đã làm cho nông nghiệp sa sút đời sống của nông dân Pháp túng quẫn, nạn đói kéo dài nên nhà thờ Volte đã mỉa mai rằng: “nông dân bàn tán về lúa mỳ nhiều hơn là về thượng đế”
Để chống lại tư tưởng của CNTT, tìm đường giải phóng kinh tế nông dân khỏi quan hệ sản xuất phong kiến, phát triển nông nghiệp theo kiểu TBCN trường phái trọng nông đã xuất hiện
Đặc điểm chung của phái trọng nông là đã chuyển đổi tượng nghiên cứu của KTCT sang lĩnh vực sản xuất nông nghiệp CNTN đánh giá cao vai trò của ngành
Trang 24nông nghiệp Vì họ cho rằng: xã hội loài người phát triển theo quy luật tự nhiên, là nông nghiệp Chỉ có lao động nông nghiệp mới là lao động có ích, lao động sinh lời, vì
nó tạo ra sản phẩm thuần tuý cho xã hội, nên muốn giàu có phải phát triển nông nghiệp
Những đại biểu xuất sắc của CNTN là Fransois Quesnay ( 1694 - 1774) và Anne Bobert Jacqué Turgot ( 1727 - 1771)
K Mark coi những người thuộc trường phái trọng nông là những người bênh vực chủ nghĩa tư bản, vạch rõ sự cần thiết phải chuyển sang lối kinh doanh theo TBCN:
“Chủ nghĩa tư bản tự mở cho mình một con đường trong khuôn khổ xã hội phong kiến”
3.1.2 Những quan điểm, lý luận, học thuyết kinh tế chủ yếu của trường phái trọng nông
3.1.2.1 Phái trọng nông phê phán gay gắt chủ nghĩa trọng thương
Một là, lợi nhuận của thương nhân có được là do tiết kiệm các khoản chi phí
thương mại Theo các nhà kinh tế trọng nông lợi nhuận mà thương nhân có được chỉ là
sự tiết kiệm các khoản chi phí thương mại Thực ra, đối với việc mua bán hàng hóa, cả hai bên mua và bán đều không được và mất gì Ông khẳng định tiền của thương nhân không phải là lợi nhuận của quốc gia Còn Turgot cho rằng: bản thân thương mại không thể tồn tại được nếu như đất đai được chia đều cho mỗi người và mỗi người chỉ
có số “cần thiết để sinh sống”
Hai là, phê phán việc đánh giá quá cao vai trò của tiền tệ Họ cho rằng tiền
nhiều hay ít không nghĩa lý gì, chỉ cần có đủ tiền để giữ vững giá cả tương ứng với hàng hóa Boisguillebert đã phê phán gay gắt tư tưởng trọng thương đã đề quá cao vai trò của đồng tiền, lên án gay gắt chính sách giá cả của bộ trưởng Colbert Ông chứng minh rằng của cải một quốc dân chính là những vật hữu ích và trước hết là sản phẩm của nông nghiệp cần phải được khuyến khích
Ba là, chống lại các đặc quyền về thuế và phải có thuế thống nhất, điều này sẽ
làm tăng tự do lưu thông, kích mọi người sản xuất và làm giàu
Bốn là, phê phán thương nghiệp đề cao sản xuất thực tế.Chủ nghĩa trọng thương
coi tích lũy vàng là nguồn gốc của sự giầu có, do đó đẻ ra đội thuyền buôn chuyên đi bóc lột Ngược lại chủ nghĩa trọng nông cho rằng, cần phải có một nền nông nghiệp làm giàu cho tất cả mọi người Tiền bạc không là gì cả, sản xuất mới là thực tế
Năm là, đề cao tự do lưu thông, tự do thương mại, phê phán bảo hộ Họ đề cao
tự do lưu thông, tự do thương mại tạo ra nguồn lực làm giầu, làm tăng trưởng kinh tế
Sáu là, Nếu chủ nghĩa trọng thương biến nhà nước thành nhà kinh doanh và mở
đường cho nhà kinh doanh hoạt động Chủ nghĩa trọng nông lại chủ trương “tự do
Trang 25hành động”, “chống lại nhà nước toàn năng”, tính tự do tư nhân không bị pháp luật và nghiệp đoàn làm suy yếu
3.1.2.2 Cương lĩnh chính sách kinh tế của chủ nghĩa trọng nông
Về thực chất cương lĩnh là những quan điểm, những chiến lược và chính sách nhằm phát triển kinh tế, trước hết và chủ yếu là phát triển nông nghiệp:
- Quan điểm về Nhà nước:
Họ cho rằng Nhà nước có vai trò tối cao đứng trên tất cả các thành viên xã hội, Nhà nước có xu thế toàn năng, bênh vực quyền lợi cho quý tộc, địa chủ và nhà buôn
- Quan điểm ưu tiên cho sản xuất nông nghiệp:
Họ quan niệm, chỉ có sản xuất nông nghiệp mới sản xuất ra của cải hàng hóa…
do đó chi phí cho sản xuất nông nghiệp là chi phí cho sản xuất, chi phí sinh lời, do vậy chính phủ cần phải đầu tư tăng chi phí cho nông nghiệp
Chính sách cho chủ trang trại được tự do lựa chọn ngành sản xuất kinh doanh, lựa chọn súc vật chăn nuôi, có ưu tiên về cung cấp phân bón Khuyến khích họ xuất khẩu nông sản đã tái chế, không nên xuất khẩu nguyên liệu thô: tiêu thụ như thế nào thì phải sản xuất cái để xuất khẩu như thế ấy
Chính sách đầu tư cho đường xá, cầu cống: Lợi dụng đường thuỷ rẻ để chuyên chở hàng hóa Cần chống lại chính sách giá cả nông sản thấp để tích lũy trên lưng nông dân Bởi vậy đã không khuyến khích được sản xuất, không có lợi cho sản xuất và đời sống nhân dân Cách quản lý tốt nhất là duy trì sự tự do hoàn toàn của cạnh tranh
- Quan điểm về tài chính:
Đặc biệt là vấn đề thuế khóa, phân phối thu nhập… Nên ưu đãi cho nông nghiệp, nông dân và chủ trại,… chứ không phải ưu đãi cho quý tộc, tăng lữ, nhà buôn Như vậy, cương lĩnh kinh tế của phái trọng nông đã vạch rõ một số quan điểm, chính sách mở đường cho nông nghiệp phát triển theo định hướng mới Cương lĩnh coi trọng và đề cao sản xuất nông nghiệp Song, cương lĩnh có những điểm hạn chế: đó là chưa coi trọng vai trò của công nghiệp, thương mại, của kinh tế thị trường, mà có xu thế thuần nông
3.1.2.3 Học thuyết về trật tự tự nhiên
CNTN đã dùng học thuyết về luật tự nhiên để rút ra những kết luận trong kinh tế Theo F Quesnay có 2 loại quy luật tự nhiện: Quy luật vật lý tác động trong lĩnh vực tự nhiên và quy luật luân lý tác động trong lĩnh vực kinh tế xã hội Quy luật luân lý cũng tất yếu như quy luật vật lý Nội dung cơ bản của thuyết trật tự tự nhiên là:
- Thừa nhận vai trò của tự do cá nhân, coi dó là luật tự nhiên của con người không thể thiếu được Chống lại chế độ phong kiến và xem nó là chế độ không bình thường
- Chủ trương thực hiện tự do cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hóa
Trang 26- Thừa nhận quyền bất khả xâm phạm đối với chế độ tư hữu
- Nhà nước không nên can thiệp sâu vào kinh tế, Nhà nước như người làm vườn không nên đụng chạm đến rễ cây mà chỉ nên chăm sóc vườn cây thôi
Như vậy, nội dung của luật tự nhiên của F Quesnay về căn bản là quy luật tư sản
3.1.2.4 Học thuết về “sản phẩm ròng”
Học thuyết về “sản phẩm ròng” sản phẩm thuần tuý là lý thuyết trọng tâm của CNTN Những người theo CNTN cho rằng: sản phẩm thuần tuý là số chênh lệch giữa tổng sản phẩm và chi phí sản xuất Nó là số dôi ra ngoài chi phí sản xuất Nó được tạo
ra trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, còn trong công nghiệp không tạo ra sản phẩm thuần tuý Họ giải thích rằng trong công nghiệp quá trình tạo ra sản phẩm mới chỉ là quá trình kết hợp giản đơn những chất cũ có sẵn trong tự nhiên, không có sự tăng lên
về chất nên không tạo ra sản phẩm thuần tuý Ngược lại, trong nông nghiệp nhờ có sự tác động của tự nhiên nên có sự tăng thêm về chất, tạo ra chất mới, tạo ra sản phẩm thuần tuý
Như vậy, CNTN là giải thích nguồn gốc của sản phẩm thuần tuý theo tinh tinh thần của chủ nghĩa tự nhiên, tựa hồ như đất đai là nguồn gốc của sản phầm thuần tuý Cách giải thích này đã che lấp cái hạt nhân hợp lý trong học thuyết về sản phẩn thuần tuý của họ là ở chỗ đã coi sản phẩm thuần tuý là một sản phẩm lao động của người công nhân làm thuê trong lĩnh vực nông nghiệp biến thành phần thu nhập của giai cấp
tư sản và địa chủ
3.1.2.5 Học thuyết về lao động sản xuất và lao động không sinh lời
Từ lý thuyết về sản phẩm thuần tuý Quesnay cho rằng: lao động sản xuất là lao động tạo ra sản phẩm thuần tuý, Lao động nào không tạo ra sản phẩm thuần tuý là lao động không sinh lời Như vậy chỉ có lao động nông nghiệp tạo ra sản phẩm thuần tuý nên nó là lao động sản xuất, còn lao động công nghiệp là lao động không sinh lời
- Giai cấp thứ hai là những người thu sản phẩm thuần tuý (người sở hữu)
- Giai cấp thứ ba là giai cấp không sản xuất, không sinh lợi (những người trong lĩnh vực công nghiệp và thương nghiệp)
Như vậy, Quesnay đã không hiểu cơ sở phân chia giai cấp của xã hội, đã không phân biệt nhà tư sản với công nhân làm thuê, đã gắn sự phân chia đó với sự phân chia theo ngành
Trang 27Về sau, Turgot đã bổ sung sự mới mẻ vào quan niệm về giai cấp Ông chia xã hội thành 5 giai cấp:
- Trong nông nghiệp có giai cấp công nhân nông nghiệp và giai cấp các nhà tư bản nông nghiệp
- Trong công nghiệp có giai cấp công nhân công nghiệp và giai cấp các nhà tư bản công nghiệp
- Giai cấp thứ 5 là giai cấp sở hữu
Như vậy so với F Quesnay, Turgot đã thấy giai cấp tư sản riêng biệt trong công nghiệp và trong nông nghiệp, nhưng việc phân chia giai cấp vẫn dựa vào ngành sản xuất
3.1.2.7 Lý luận về tiền lương và lợi nhuận
Turgot đã phân biệt sự khác nhau giữa chủ xí nghiệp và công nhân: “công nhân
là người mất hết tư liệu sinh hoạt”, tiền lương của công nhân là thu nhập theo lao động, còn sản phẩm thuần tuý là thu nhập của nhà tư bản gọi là lợi nhuận Như vậy, lợi nhuận là thu nhập không lao động do công nhân tạo ra
Ngoài ra Turgot còn đặt nền móng cho tư tưởng về lợi nhuận bình quân giữa các ngành và xu hướng giảm tỷ suất lợi nhuận
3.1.2.8 Lý luận về tư bản
CNTT coi tư bản là tiền, còn Quesnay coi tư bản không phải là bản thân tiền tệ
mà là tư liệu sản xuất mua bằng tiền tệ mà là tư liệu sản xuất mua bằng tiền tệ đó Theo ông thành phần của giá trị trong sản phẩm nông nghiệp gồm 3 bộ phận:
- Tiền ứng ra đầu tiên (chi phí về máy móc, nhà xưởng…)
- Tiền ứng trước hàng năm (chi phí về giống và tiền lương …)
- Sản phẩm thuần tuý
Như vậy Quesnay là người đầu tiên trong lịch sử, đã dựa vào tính chất chu chuyển của tư bản để chia tư bản thành tư bản ứng trước đầu tiên, tư bản ứng ra hàng năm, tức là mầm mống của việc phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động
Quan điểm của Quesnay về tư bản đã được Turgot tiếp tục phát triển Ông là người đầu tiên nêu ra khái niệm tư bản, theo ông tư bản không chỉ là tiền tệ, mà là giá trị của tiền tiền được tích lũy lại tư bản gồm có giá trị, hơn nữa chỉ gồm có giá trị có thể tích lũy được
Đồng thời Turgot cũng là người đầu tiên chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động
Trang 283.1.3 Những đại biểu của Chủ nghĩa trọng nông
Những tác phẩm chính của Quesnay:
- Bàn về thương mại, 1760
- Biểu kinh tế, 1758
- Phân tích biểu kinh tế, 1766
- Chế độ chuyên chế Trung Quốc, 1787
- Những nguyên lý chung của chính sách kinh tế của một quốc gia nông nghiệp,
Quesnay chủ trương phát triển nông nghiệp theo hướng đồn điền tư bản chủ nghĩa Theo ông, chỉ có nền kinh tế như thế mới đảm bảo được hao phí lao động ít nhất, K.Marx coi việc tăng tư bản dùng trong nông nghiệp là hiện tượng tích cực, chìa khóa đặc biệt để tăng thêm của cải xã hội
- Công lao thứ hai của Quesnay là ông phân tích một cách khoa học việc tái sản xuất thông qua Biểu kinh tế Về mặt lý luận ông tỏ ra sáng suốt, táo bạo và độc đáo Ông đã mở ra trang mới trong lịch sử tư tưởng kinh tế
* Nội dung biểu kinh tế của Quesnay:
Biểu kinh tế của Quesnay được công bố năm 1758 là một cống hiến to lớn và phản ánh đầy đủ các quan điểm kinh tế của CNTN
- Để việc nghiên cứu thuận lợi Quesnay đã đặt ra các giả định:
+ Nghiên cứu tái sản xuất giản đơn;
+ Trừu tượng hóa sự biến động của giá cả;
+ Không xét đến ngoại thương
+ Toàn bộ sản phẩm ròng trở thành địa tô
Trang 29- Quesnay chia xã hội thành 3 giai cấp cơ bản:
+ Giai cấp sản xuất: Những người tạo ra sản phẩm thuần túy (tất cả những người trong nông nghiệp; chủ đồn điền và công nhân của họ)
+ Giai cấp không sản xuất: Những người hoạt động trong công nghiệp, thương nghiệp
+ Giai cấp sở hữu: Những người thu sản phẩm thuần túy ( tức là chủ ruộng đất) Đồng thời ông chia tổng sản phẩm xã hội thành hai mặt giá trị và hiện vật
+ Về mặt hiện vật: Quesnay chia sản phẩm xã hội thành sản phẩm công nghiệp
và sản phẩm nông nghiệp
+ Về mặt giá trị ông giả định tổng sản phẩm xã hội bao gồm 7 tỷ được chia thành
5 tỷ sản phẩm nông nghiệp và 2 tỷ sản phẩm công nghiệp
Trong chi phí sản xuất nông nghiệp được chia làm 3 bộ phận;
+ 2 tỷ tiền ứng trước hàng năm (tiền lương, giống…),
+ 1 tỷ tiền ứng trước đầu tiên
+ 2 tỷ sản phẩm thuần tuý
Giá trị của sản phẩm công nghiệp được chia thành:
+ 1 tỷ tư liệu tiêu dùng cho công và nhà tư bản
+ 1 tỷ nguyên vật liệu để tiếp tục sản xuất
Giả định số tiền trong lưu thông là 2 tỷ, số tiền này đúng bằng số giá trị sản phẩm thuần tuý do giai cấp sản xuất trả cho chủ đất (dưới dạng địa tô), tức là giai cấp
sơ hữu không sản xuất gì cả và chi tiêu bằng sản phẩm thuần tuý (sản phẩm ròng)
- Giai cấp sản xuất có 5 tỷ là sản phẩm nông nghiệp, trong đó: 1 tỷ để khấu hao
tư bản ứng trước lần đầu (tư bản cố định), 2 tỷ tư bản ứng trước hàng năm (tư bản lưu động) và 2 tỷ là sản phẩm ròng
- Giai cấp không sản xuất có 2 tỷ là sản phẩm công nghiệp, trong đó: 1 tỷ để bù đắp cho tiêu dùng, 1 tỷ để bù đắp nguyên liệu tiếp tục sản xuất
Sự trao đổi sản phẩm giữa các giai cấp được thực hiện qua 5 hành vi:
Hành vi 1: giai cấp sở hữu dùng 1 tỷ tiền để mua nông sản tiêu dùng cho cá
nhân, 1 tỷ tiền được chuyển vào tay giai cấp sản xuất
Hành vi 2: Giai cấp sở hữu dùng 1 tỷ tiền còn lại để mua công nghệ phẩm, 1 tỷ
tiền này chuyển vào tay giai cấp không sản xuất
Hành vi 3: Giai cấp không sản xuất dùng 1 tỷ tiền bán công nghệ phẩm ở trên để
mua nông sản (làm nguyên liệu), 1 tỷ tiền này chuyển vào tay giai cấp sản xuất
Hành vi 4: Giai cấp sản xuất mua 1 tỷ tư bản ứng trước đầu tiên (nông cụ), số
tiền này lại chuyển vào tay giai cấp không sản xuất
Trang 30Hành vi 5: Giai cấp không sản xuất dùng một tỷ tiền bán nông cụ mua nông sản
cho tiêu dùng cá nhân, số tiền này chuyển về tay giai cấp sản xuất, khi đó giai cấp sản xuất có 2 tỷ tiền nộp tô cho địa chủ (giai cấp sở hữu) và giai cấp sở hữu lại có 2 tỷ tiền Quan hệ giao nộp và kết thúc quá trình thực hiện sản phẩm Cả ba giai cấp có đủ điều kiện để thực hiện quá trình sản xuất tiếp theo
Hình 3.1: Sơ đồ tái sản xuất của Quesnay
- Nhận xét về biểu kinh tế của Quesnay
+ Lần đầu tiên việc nghiên cứu tái sản xuất đã được nêu thành sơ đồ đơn giản nhưng có tính tổng hợp cao Những giả định đưa ra để nghiên cứu về cơ bản là dúng
đã phân tích sự vận động của tổng sản phẩm, xã hội cả về 2 mặt: giá trị và hiện vật, kết hợp với sự vận động của tiền
+ Tuy vậy “biểu kinh tế” của Quesnay còn nhiều hạn chế, ông không đánh giá đúng vai trò của sản xuất công nghiệp, chưa chỉ ra được cơ sở của tái sản xuất mở rộng trong công nghiệp cũng như trong nông nghiệp Trong sơ đồ của Quesnay mới phân chia tổng sản phẩm xã hội thành sản phẩm công nghiệp và sản phẩm nông nghiệp, chưa thấy được vấn đề tiên quyết để phân tích tái sản xuất là phân chia tổng sản phẩm
xã hội thành hai khu vực sản xuất tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng
Tóm lại “biểu kinh tế” của Quesnay có ý nghĩa to lớn về phương pháp luận là một tư tưởng thiên tài của thời kỳ bấy giờ, đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu tái sản xuất sản phẩm xã hội
Trang 313.1.3.2 Anne Robert Jacque Turgo
Tiểu sử: Turgot (1727-1781) là nhà kinh tế học, nhà chính trị lớn người Pháp
Năm 1761 làm trưởng quan hành chính của vua, 1774 trở thành tổng thanh tra tài chính Ông là người có tư tưởng tiến bộ
Nội dung lý thuyết của Turgo:
- Phát triển lý luận về sản phẩm ròng: Ông cho rằng lao động đóng vai trò quan trọng và chỉ có lao động của nông dân mới sản xuất ra một lượng dư thừa vượt quá tiền công lao động Lượng dư thừa này là sản phẩm ròng
- Lý luận về giá trị - lao động: Theo ông giá trị do lợi ích của vật phẩm trong việc thỏa nhu cầu quyết định Giá cả thị trường hình thành do cạnh tranh san bằng các giá cả Ông lẫn lộn gữa giá cả, giá trị, giá cả thị trường và giá cả sản xuất
- Lý luận về tiền lương và lợi nhuận: Đề ra “quy luật sắt” về tiền lương, thấy được sự khác nhau giữa thu nhập của người công nhân và nhà tư bản, cho rằng lợi nhuận là kết quả do lao động thặng dư của người công nhân tạo ra Thấy được quy luật bình quân hóa lợi nhuận
3.2 Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh
3.2.1 Hoàn cảnh xuất hiện trường phái kinh tế học cổ điển Anh
3.2.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội
Cuối thế kỷ XVII chủ nghĩa trọng thương đã trở thành lỗi thời và bắt đầu tan rã,
ở Anh và Pháp thì Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh (KTCTTSCĐ) xuất hiện Vào thời kỳ này các công trường thủ công phát triển và chiếm vị trí thống trị trong lĩnh vực
sản xuất công nghiệp và nông nghiệp Giai cấp tư sản đã thấy rằng “Muốn làm giàu
phải bóc lột lao động, lao động làm thuê của những người nghèo là nguồn gốc làm giàu vô tận cho những người giàu”
- Sự kiện cách mạng tư sản Anh đã tạo ra một tình hình chính trị mới Mặt khác,
sự phát triển của khoa học trong thời kỳ này về triết học, toán học … đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy những tư tưởng tiến bộ và sự phát triển của nhiều khoa học, trong đó có khoa học KTCT
Tóm lại, những điều kiện kinh tế, xã hội khoa học của cuối thế kỷ XVII đã chứng tỏ thời kỳ tích lũy ban đầu của tư bản đã kết thúc và thời kỳ sản xuất, đặt ra vượt quá khả năng giải thích của CNTT, đòi dòi phải có lý luận mới để hướng dẫn sự vận động và phát triển CNTB Trên cơ sở đó KTCTTSCĐ ra đời
Theo Karl Marx KTCTTSCĐ ở nước Anh bắt đầu từ William Petty và kết thúc ở David Ricardo còn ở Pháp bắt đầu từ Piere Boisguillebert và kết thúc ở Simonde de Sismondi
Trang 323.2.1.2 Khái niệm kinh tế chính trị
Các nhà kinh tế học của trường phái KTCTTSCĐ lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu các vấn đề kinh tế của nền sản xuất của nền sản xuất TBCN đặt ra Lần đầu tiên họ đã nêu ra một hệ thống các phạm trù và quy luật của nền kinh tế TBCN như phạm trù giá trị, giá cả, lợi nhuận tiền lương, địa tô, lợi tức… cùng các quy luật giá trị, cung cầu, lưu thông tiền tệ… Lần đầu tiên các nhà kinh tế tư sản cổ điểm đã áp dụng phương pháp trừu tượng hóa để nghiên cứu các hiện tượng và mối liên hệ kinh tế nhằm vạch ra bản chất, các quy luật vận động của quan hệ sản xuất các quy luật vận động của quan hệ sản xuất QHSX tư bản chủ nghĩa Họ ủng hộ tự do kinh tế chống lại sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế
Tuy vậy, do ảnh hưởng của trình độ phát triển kinh tế xã hội và nhãn quan giai cấp nên các các nhà KTCTTSCĐ còn nhiều hạn chế, coi các quy luật của CNTB là quy luật tự nhiên tuyệt đối, vĩnh viễn
Kinh tế tư sản cổ điểm có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, xem quyền sở hữu là nền tảng của đời sống xã hội:
Coi lợi ích cá nhân như là động lực thúc đẩy mọi hoạt động của con người trong các sinh hoạt kinh tế Coi tính ích kỷ là yếu tố kích thích hiệu quả nhất mọi chủ thể kinh tế có những quyết định hợp lý và thích nghi sản xuất, về tiêu thụ, về kinh doanh,
về trao đổi… theo nguyên tắc “hi sinh tối thiểu – hưởng lợi tối đa”
Thứ hai, xem cơ chế kinh tế hoàn toàn là một môi trường hợp lý cần thiết để đưa
tới sự hòa hợp tự nhiên giữa các lợi ích cá nhân, bảo đảm tính yển chuyển trong nền kinh tế và để đạt một trạng thái quân bình tự động, mà luật cung cầu chính là động cơ chính cho sự quân bình này Với sự hòa hợp và quân bình đó, lợi ích công cộng của xã hội sẽ đảm bảo đạt mức tối đa
Do vậy, Chính quyền nhà nước không nên can thiệp vào guồng máy kinh tế Tự
do cạnh tranh, tự do mậu dịch… là điều cốt yếu trong nền kinh tế ổn định, lành mạnh
và phát triển
Nhờ có sự tự do mà sự phân công lao động được hình thành giữa các cá nhân trong nước, cũng như các quốc gia trên thế giới Nếu guồng máy kinh tế đang ở trạng thái quân bình mà nhà nước can thiệp vào thì trạng thái quân bình đó sẽ bị phá vỡ và khó có thể tái lập được
Thứ ba, coi tiền là phương tiện trung gian trong quá trình trao đổi Một nền kinh
tế sung túc của một quốc gia giầu có biểu hiện ở khối của cải kinh tế ngày càng dồi dào, hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng nhộn nhịp, chứ không phải ở khối lượng vàng bạc nhiều hay ít
Trang 33Sự tăng số lượng quí kim trong một quốc gia là do nhu cầu gia tăng sản xuất và một số dịch vụ trao đổi giữa các chủ thể kinh tế đưa tới Tiền chẳng qua chỉ là chất dầu
mỡ làm bôi trơn các bộ phận trong nền kinh tế mà thôi
Lao động của con người mới thực sự là nguồn gốc của sự giàu có của các quốc gia, vì nó tạo ra mọi của cải kinh tế
3.2.2 William Petty
3.2.2.1 Tiểu sử và tác phẩm
W Petty (1623 - 1687 ) là một trong những người sáng lập ra KTCT TSCĐ ở Anh, ông sinh ra trong một gia đình làm nghề thủ công, ông là người có nhiều tài năng, đạt trình độ tiến sĩ vật lý, là nhạc trưởng, là người phát minh ra máy móc, là bác
sĩ trong quân đội
K Marx gọi W Petty là cha đẻ của KTCT cổ điển và khoa thống kê dân số Ông viết nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Bàn về thuế khóa và lệ phí” (1662), số học chính trị
1676, bàn về tiền tệ 1682
- Thế giới quan của W.Petty là chủ nghĩa duy vật tự phát, coi kinh nghiệm là cơ
sở của nhận thức (ông theo triết học Becon)
- Về phương pháp luận: W.Petty đã áp dụng phương pháp nghiên cứu mới, ông muốn tìm ra bản chất của các hiện tượng kinh tế và xác định mối quan hệ nhân quả giữa chúng, tôn trọng quy luật Nhưng ông có sự nhầm lẫn khi coi các quy luật kinh tế của CNTB cũng như các quy luật của tự nhiên đều tồn tại vĩnh viễn
- Về phương pháp trình bày W.Petty xuất phát từ hiện tượng cụ thể phức tạp đến trừu tượng Đây cũng là phương pháp nghiên cứu kinh tế đặc trưng của thế kỷ XVII
- Quan điểm kinh tế của W.Petty phản ánh sự quá độ từ CNTT sang KTCT TSCĐ Trong những tác phẩm ban đầu W.Petty còn mang nhiều dấu vết của CNTT, sau đó hạn chế dần Trong thời kỳ đầu ông cho rằng “thành quả to lớn của thương nghiệp là tích lũy tiền tệ Sự giàu có biểu hiện dưới hình thức vàng và bạc là sự giàu có muôn đời’ hay lao động của thuỷ thủ có năng suất cao hơn của nông dân ba lần, vì thương nghiệp có lợi hơn công nghiệp, công nghiệp có lợi hơn nông nghiệp Nhưng sau này, ở tác phẩm “Bàn về tiền tệ” ảnh hưởng của CNTT đối với W.Petty không còn nữa, ông cho rằng “Tiền tệ không phải lúc nào cũng là tiêu chuẩn của sự giàu có” “ tiền tệ chỉ là một phần trăm của sự giàu có cho nên đánh giá tiền tệ quá cao là một sai lầm” Theo ông “tiền là mỡ của một cơ thể chính trị (Nhà nước) béo phệ cũng như thiếu mỡ là bệnh tật của cơ thể”
Trang 343.2.2.2 Nội dung cơ bản trong học thuyết kinh tế của W.Petty
a Lý luận về giá trị lao động
Trong tác phẩm “bàn về thuế khóa và lệ phí W.Petty đã nghiên cứu giá cả Ông chia làm 2 loại: giá cả chính trị (giá cả thị trường) và giá cả tự nhiên (tức giá trị) theo ông giá cả chính trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngẫu nhiên nên khó xác định
Vậy giá cả tự nhiên là gì? Ông cho rằng với một thời gian lao động khi khai thác được 1 ounce bạc và cũng thời gian đó sản xuất được 1 barrel lúa mỳ là cơ sở để so sánh giá trị của chúng Như vậy giá cả của một barrel lúa mỳ bằng một ounce bạc Nếu cùng một số lượng lao động như trên mà khai thác được 2 ounce bạc thì 1 barrel lúa
- Tóm lại : W.Petty là người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết giá trị - lao động Ông đã khẳng định lao động là cơ sở của giá cả tự nhiên, lao động sản xuất giữ vai trò chủ yếu trong việc tạo ra của cải cho xã hội Ông đã đưa ra một nguyên lý nổi tiếng “lao động là cha còn đất đai là mẹ của của cải”
Tuy vậy lý luận giá trị - lao động của W.Petty còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng CNTT Ông chỉ thừa nhận lao động khai thác bạc là nguồn gốc của giá trị, còn giá trị của các hàng hóa khác chỉ được xác định nhờ quá trình trao đổi với bạc Theo ông giá trị của hàng hóa chính là sự phản ánh giá trị của tiền tệ cũng như ánh sáng của mặt trăng là sự phản chiếu của ánh sáng mặt trời Hơn nữa ông còn mắc sai lầm là đã xác định giá trị của hàng hóa do hai yếu tố: lao động và tự nhiên tạo thành
- Ông là người đầu tiên đưa ra quy luật lưu thông tiền tệ mà nội dung của nó là
số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông được xác định trên cơ sở số lượng hàng hóa và tốc độ chu chuyển của tiền tệ, ông còn chỉ ra sự ảnh hưỏng của thời gian thanh toán
Trang 35với số lượng tiền tệ cần thiết trong lưu thông, thời hạn thanh toấn càng ngắn thì số lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông càng nhiều
c Lý luận về tiền lương
Lý luận về tiền lương của W.Petty được xây dựng trên cơ sowr lý luận giá trị - lao động Ông coi lao động là hàng hóa và tiền lương là giá cả tự nhiên của lao động
- Petty xác định tiền lương là khoản giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết nuôi sống người công nhân Ông cho rằng nếu tiền lương cao thì công nhân thích uống rượu, hay
bỏ việc, muốn cho công nhân làm việc phải có biện pháp hạ thấp tiền lương tới mức tối thiểu nhất
Như vậy, quan niệm của W.Petty về tiền lương phản ánh trình độ phát triển ban đầu của CNTB Lúc này sản xuất máy móc chưa phát triển nên chưa tạo ra được sự phụ thuộc hoàn toàn của lao động vào tư bản, giai cấp tư sản phải dựa vào Nhà nước
để duy trì mức lương thấp
- Petty còn phân tích mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa tiền lương và giá cả lúa mỳ Ông cho rằng tiền lương tỷ lệ ngịch với giá cả lúa mỳ (giá trị tư liệu sinh hoạt) Mặc dù còn có sai lầm nhưng Petty đã nêu được cơ sở khoa học của tiền lương
là giá trị của các tư liệu sinh hoạt
d Lý luận về địa tô , lợi tức và giá cả ruộng đất
W.Petty coi địa tô là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí sản xuất, mà chi phí này gồm chi phí về giống và tiền lương Khi phân tích về địa tô ông không trực tiếp nói đến sự bóc lột nhưng ông nói rằng: người công nhân chỉ nhận được một số lượng tiền lương tối thiếu, phần còn lại là vốn và số chênh lệch vào túi địa chủ dưới hình địa tô thì chứng tỏ ông thừa nhận nguồn gốc của địa tô là do bóc lột
K Marx cho rằng W.Petty là người đầu tiên đã nêu ra mầm mống của lý luận về chế độ bóc lột đã dự đoán đúng đắn bản chất của giá trị thặng dư
- W.Petty phân tích lợi tức gắn liền với địa tô, theo ông nếu có tiền có thể mang lại thu nhập bằng hai cách Thứ nhất, là dùng tiền mua đất đai để thu địa tô Thứ hai, là mang gửi vào ngân hàng để thu lợi tức W.Petty coi lợi tức là tô của tiền, nó lệ thuộc vào mức địa tô (mà người ta có thể dùng tiền đó để mua đất), cũng có nghĩa là mức lợi tức cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện sản xuất nông nghiệp
- Vấn đề giá cả ruộng đất là một vấn đề phức tạp W.Petty đã cố gắng dùng lý luận giá trị - lao động để giải thích vấn đề này Ông cho rằng bán ruộng đất là bán quyền thu tô Vì vậy, giá cả ruộng đất đo địa tô quyết định Ông đưa ra công thức tính giá cả ruộng đất là: giá cả ruộng đất = địa tô x 20
Con số 20 là ông dựa vào kinh nghiệm thống kê để xác định Ông giả định rằng một gia đình có 3 thế hệ Con 7 tuổi, cha 27, ông 47 tuổi, Họ cách nhau 20 tuổi và con
Trang 36có thể tiếp tục chung sống với nhau 20 năm nữa, do đó ông đã lấy số 20 để tính giá cả ruộng đất Đây là điều không đúng
Tóm lại, mặc dù các quan điểm của W.Petty còn chưa thống nhất, đang chuyển dần từ CNTT sang KTCT TSCĐ nhưng ông đã có nhiều đóng góp quan trọng cho khoa học kinh tế Ông là người đầu tiên đặt nền móng cho lý luận giá trị
Ông đã cố gắng dùng lý luận giá trị - lao động để xem xét các vấn đề kinh tế khác của XHTBCN Các nhà KTCT họ sau này dù tán thành hay phản đối ông, đều lấy ông làm điểm xuất phát
3.2.3 Adam Smith
3.2.3.1 Tiểu sử, tác phẩm và phương pháp luận của A.Smith
Adam Smith (1723- 1790) đã mở ra một giai đoạn mới trong sự phát triển KTCT học tư sản, Ông xuất thân từ một gia đình viên chức thuế quan Sau khi tốt nghiệp đại học, 13 năm ông đã giảng dạy về thần học, văn học, luận lý học, lôgic học, luật học và chính trị, trong đó có đề cập đến các vấn đề về kinh tế chính trị Năm 1763 ông ngừng giảng dạy và đi du lịch Châu Âu ở Pháp ông đã gặp nhiều nhà trọng nông chủ nghĩa Sau đó ông trở về nước và viết tác phẩm nổi tiếng của đời mình là “Nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc của cải các nước”, xuất bản năm 1776
K Marx coi Smith là nhà kinh tế học tổng hợp của thời kỳ công trường thủ công Ông còn là nhà tư tưởng tiên tiến của giai cấp tư sản muốn thủ tiêu tàn tích của xã hội phong kiến, mở đường CNTB phát triển Ông kêu gọi tích lũy và phát triển lực lượng sản xuất theo ý nghĩa tư sản Ông cho rằng chỉ có TBCN là một xã hội bình thường Theo Smith biểu hiện của xã hội bình thường là xã hội có những quan hệ đẻ ra trên cơ
sở phụ thuộc về kinh tế, gắn liền với sản xuất và trao đổi hàng hóa theo nguyên tắc tự
do mậu dịch, tự do cạnh tranh
Học thuyết về “trật tự tự nhiên” của Smith xuất phát từ con người, Ông cho rằng con người bình đẳng với nhau từ khi mới ra đời, con người giúp đỡ và tác động lẫn nhau dựa trên hai cơ sở , tình yêu và sự ích kỷ , trong đó ích kỷ là cái mạnh hơn làm nảy sinh tư tưởng “hãy đưa cho tôi cái tôi cần, còn tôi sẽ đưa cho anh cái mà anh cần”
Từ đó Smith rút ra kết luận: con người có bản năng trao đổi từ khi sơ sinh, do vậy một
xã hội tự do trao đổi, tự do mậu dịch tự do cạnh tranh là hợp quy luật tự nhiên
Trên cơ sở thuyết “trật tự tự nhiên” Smith đã đưa ra một số tư tưởng có giá trị Ông cho rằng quy luật kinh tế có thể kìm hãm hay thúc đẩy quy luật kinh tế Theo ông Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế Nhà nước có thể thực hiện các chức năng kinh tế khi nhiệm vụ này vượt qua sức của một doanh nghiệp như xây dựng đường xá, sông đào và các công trình lớn khác
Trang 37Thế giới quan của Smith chủ yếu là duy vật ông thừa nhận quy luật khách quan
và phân tích một cách khoa học nhiều hiện tượng kinh tế xã hội Nhưng chủ nghĩa duy vật của ông còn mang tính tự phát máy móc, xa lạ với phép biện chứng
Phương pháp luận của Smith là phương pháp hai: Khoa học và tầm thường Nhận xét về điều này K Marx đã viết; Chính A Smith đã ngây thơ rơi vào một mâu thuẫn thường xuyên Một mặt ông quan sát mối liên hệ bên trong của các phạm trù kinh tế hoặc cơ cấu bi che lấp của hệ thống kinh tế tư sản Mặt khác, ông lại đặt mối liên hệ đó như môi liên hệ bề ngoài hiện tượng cạnh tranh và do đó ông xa lạ đối với khoa học… Hai phương pháp nhận thức đó - một phương pháp đi sâu vào mối liên hệ bên trong của chế độ tư sản và có thể nói là đi sâu vào cơ cấu sinh lý của nó, một phương pháp khác chỉ mô tả liệt kê theo kiểu thuật lại những định nghĩa các khái niệm
có tính chất công thức về những các biểu hiện bên ngoài quá trình cuộc sống dưới hình thức bề ngoài nó Hai phương pháp nhận thức đo của Smith không những sống yên ổn bên nhau mà còn soắn xuýt lấy nhau và thường xuyên mâu thuẫn với nhau
Phương pháp hai mặt của A Smith có ảnh hưởng sâu sắc đến KTCT học tư sản sau này
3.2.3.2 Hệ thống lý luận kinh tế của A.Smith
a Lý luận về phân công lao động
Là nhà kinh tế học của thời kỳ công trường thủ công nên Smith đã chú trọng phân tích sự phân công lao động Ông cho rằng tài sản của xã hội phụ thuộc vào hai nhân tố: Thứ nhất, là tỷ lệ lao động làm việc trong nền sản xuất vật chất, thứ hai là trình độ phát triển của sự phân công lao động A Simth còn chỉ ra những tác dụng to lớn của phân công lao động và đảm bảo chuyên môn hóa và hoàn thiện về kỹ thuật, tiết kiệm được thời gian chuyển từ việc này sang việc khác, dễ dàng áp dụng máy móc, tuy vậy ông đã giải thích sai lệch nguyên nhân của sự phân công là do khuynh hướng muốn trao đổi của con người chưa phân biệt rõ phân công lao động xã hội với phân công trong công trường thủ công
b Lý luận về tiền tệ:
- A Smith đã hiểu được bản chất hàng hóa của tiền, coi tiền là một thứ hàng hóa tách ra là “bánh xe vĩ đại của lưu thông” là “công cụ đặc biệt của trao đổi thương mại”
Nhưng A.Smith cho rằng tiền chỉ là phương tiện kỹ thuật làm cho việc trao đổi được thuận tiện, ông so sánh tiền tệ với con đường rộng lớn trên đó người ra chở cỏ khô và lúa mì, bản thân con đường không làm tăng thêm cỏ khô và lúa mì
Như vậy, A.Smith chưa đánh giá đúng tiền tệ, chỉ coi tiền tệ là vật mối giới giản đơn
Trang 38- Về quy luật lưu thông tiền tệ, A.Smith cho rằng không phải số lượng tiền tệ quyết định, giá cả mà giá cả quyết định số tiền tệ
Ông còn nhấn mạnh rằng số lượng tiền tệ được quyết định bởi số lượng hàng hóa mà nó phải lưu thông
Tóm lại, lý luận về tiền tệ của A.Smith còn hạn chế, ông đã đơn giản hóa nhiều chức năng của tiền tệ, chỉ chú ý nhiều đến chức năng phương tiện lưu thông Cũng mhư nhiều nhà kinh tế khác ở thế kỷ XVII, A.Smith đã biết tiền là hàng hóa nhưng chưa hiểu vì sao hàng hóa lại biến thành tiền
c Lý luận về giá trị - lao động
- Công lao to lớn của A.Smith là ở chỗ ông đã phân biệt sự khác nhau giữa giá trị
sử dụng và giá trị trao đổi, khẳng định rằng giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi
Ông nhấn mạnh sự ích lợi không có quan hệ gì đến giá trị trao đổi, không khó và nước rất có ích nhưng không có chút giá trị nào Giá trị trao đổi do lao động quyết định
- A.Smith đã nghiên cứu mối quan hệ giữa giá cả tự nhiên và giá cả thị trường Theo ông giá cả tự nhiên là trung tâm Giá cả thị trường là giá cả thực tế của hàng hóa, giá cả này nhất trí với giá cả tự nhiên khi cung bằng cầu Nhưng sự biến động của cung cầu làm cho giá cả thị trường chênh lệch với giá cả tự nhiên, còn bản thân giá cả
tự nhiên cũng thay đổi cùng với tỷ xuất tự nhiên của mỗi bộ phận cấu thành nó
- Tuy nhiên, lý luận giá trị - lao động của A Smith còn nhiều hạn chế Điểm nổi bật là ông chưa nhất quán khi định nghĩa giá trị
Ông nêu ra hai định nghĩa giá trị:
+ Thứ nhất, giá trị do lao động hao phí để sản xuất hàng hóa quyết định, lao
động là thước đo thực tế của mọi giá trị Với định nghĩa này ông là người đứng vững trên cơ sở lý thuyết giá trị - lao động
+ Thứ hai, theo ông giá trị một hàng hóa bằng số lượng lao động mà người ta có
thể mua được nhờ hàng hóa đó Đây là định nghĩa sai lầm
Từ định nghĩa này ông suy ra giá trị do lao động tạo ra chỉ đúng trong nền kinh
tế hàng hóa giản đơn, còn trong CNTB giá trị do các nguồn thu nhập tạo thành nó bằng tiền lương cộng với lợi nhuận và địa tô Như vậy A Smith đã lẫn lộn giữa hai vấn đề, hình thành giá trị và phân phối giá trị trong CNTB Những sai lầm của A Smith là do phương pháp hai mặt của ông trong quá trình nghiên cứu
d Lý luận về thu nhập
Công lao của A Smith là đã dựa trên sự sở hữu để chia xã hội tư bản thành 3 giai cấp: những người chiếm hữu ruộng đất, các nhà tư bản công nghiệp, thương nghiệp và nông nghiệp, giai cấp công nhân làm thuê
Trang 39Mỗi giai cấp nhận được một bộ phận thu nhập tương ứng từ tổng thu nhập của xã hội Giai cấp chiến hữu ruộng đất nhận được địa tô, giai cấp các nhà tư bản nhận được lợi nhuận, công nhân nhận được tiền lương
Lý luận về tiền lương, lợi nhuận địa tô của A Smith được xây đựng trên cơ sở lý luận giá trị - lao động Theo ông trong giá trị của hàng hóa do người công nhân tạo ra thì anh ta chỉ nhận được một phần gọi là tiền lương, phần còn lại là địa tô và lợi nhuận của tư bản
- Lý luận về địa tô:
+ A Smith cho rằng địa tô là khoản khấu trừ đầu tiên vào sản phẩm lao động + Về mặt lượng đó là khoản dôi ra ngoài tiền lương của công nhân và lợi nhuận của tư bản nông nghiệp
Tuy nhiên , lý luận địa tô của A Smith còn nhiều hạn chế: ông coi địa tô là phạm trù vĩnh viễn ông chưa nghiên cứu địa tô chênh lệch II và phủ nhận địa tô tuyệt đối Ông chưa hiểu sự chuyển hóa lợi nhuận siêu ngạch thành địa tô, cho rằng năng suất lao động trong nông nhiệp cao hơn trong công nghiệp là do có sự giúp đỡ của tự nhiên
- Lý luận về lợi nhuận:
+ Theo A Smith lợi nhuận là “khoản khấu trừ thứ hai” vào sản phẩm của lao động, nguồn gốc của lợi nhuận là bóc lột lao động làm thuê
+ Ông còn chỉ ra lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận đẻ ra từ lợi nhuận
+ A Smith còn nhìn thấu xu hướng bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận do cạnh tranh giữa các ngành và khuynh hướng giảm sút của tỷ suất lợi nhuận khi khối lượng
tư bản đầu tư tăng lên
Tuy vậy, A Smith chưa thấy được sự khác nhau giữa lợi nhuận và giá trị thặng
dư, ông chưa hiểu sự chuyển hóa của giá trị thành giá cả sản xuất
- Lý luận về tiền lương:
+ A Smith cho rằng trong các xã hội trước CNTB người lao động làm việc bằng
tư liệu sản xuất ruộng đất của mình thì họ nhận được sản phẩm toàn vẹn, tức tiền lương ngang bằng với sản phẩm toàn vẹn, tức tiền lương ngang bằng với sản phẩm lao động Còn trong CNTB công nhân là người làm thuê, chỉ nhận được một phần giá trị sản phẩm lao động của mình
Trang 40+ Cơ sở của tiền lương là giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân và gia đình anh ta, nên theo ông nếu hạ thấp tiền lương tới mức tối thiểu là thảm hoạ cho sự tồn tại của dân tộc
+ A Smith còn nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương như cung cầu về lao động, quy mô đầu tư tư bản, tính hình phát triển kinh tế của từng nước… Tuy nhiên, A Smith có hạn chế coi tiền lương là giá cả của lao động
e Lý luận về tư bản
+ A Smith coi rằng vật phẩm tiêu dùng không là tư bản mà cũng không phải mọi
tư liệu sản xuất đều là tư bản, chỉ có tư liệu sản xuất do lao động tạo nên mới là tư bản, chỉ có bộ phận tài sản mang lại lợi nhuận mới là tư bản
Như vậy, tư bản là những yếu tố điều kiện vật chất cần thiết cho sản xuất Khi nghiên cứu về tư bản cố định và tư bản lưu động với tư bản lưu thông, làm mất tính sản xuất của tư bản lưu động
+ Ông cho rằng: tư bản lưu động là tư bản mang lại thu nhập cho người chủ của
nó, do kết quả của việc thực hiện, tiêu thụ hàng hóa, bao gồm tiền, lương thực dự trữ, nguyên liệu, hàng hóa trong kho
Tức là, ông đã hiểu tư bản lưu động với ý nghĩa hai mặt: khi thì gồm những yếu
tố của tư bản sản xuất (như nguyên liệu) khi thì gồm những yếu tố của tư bản lưu thông (hàng hóa, tiền tệ …) trong khi đó ông không xếp sức lao động vào tư bản lưu động
Tóm lại, phương pháp phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động của Smith không đúng đắn, không nhất quán, như K Marx nhận xét “bước tiến bộ duy nhất của
A Smith là ở chỗ làm cho các phạm trù tư bản trở thành phổ biến”
f Lý luận về tái sản xuất
Lý luận về tái sản xuất của A Smith xây dựng trên cơ sở luận điểm cho rằng giá trị của hàng hóa bao gồm các nguồn thu nhập: tiền lương, lợi nhuận, địa tô Tức là ông đã bỏ qua tư bản bất biến, bỏ qua phần giá trị tư liệu sản xuất đã được chuyển vào sản phẩm
Vì vậy, lý luận về tái sản xuất của A Smith đã không phân tích được sản xuất đơn giản vì toàn bộ phần thu nhập đã bị tiêu dùng hết cho nhu cầu cá nhân của công nhân và nhà tư bản Đồng thời, lý luận đó cũng không phân tích được tái sản xuất mở rộng vì ông đã bỏ qua tư bản bất biến
Khi nhận xét về nguyên nhân sai lầm của A Smith , K Marx đã chỉ ra rằng “ở đây A Smith đã vấp phải một sự phân biệt rất quan trọng giữa công nhân sản xuất tư liệu sản xuất và công nhân trực tiếp sản xuất ra tư liệu tiêu dùng, tổng sản phẩm xã hội phải chia làm hai nhóm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, còn giá trị của sản phẩm bao gồm : c+v+m”