CHƯƠNG 7: CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ TƯ SẢN HIỆN ĐẠI
7.1. Học thuyết kinh tế của tân cổ điển
7.1.1. Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm chủ yếu
- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, CNTB chuyển biến mạnh mẽ sang giai đoạn độc quyền, xuất hiện nhiều hiện tƣợng kinh tế mới đòi hỏi phải phân tích về mặt kinh tế.
- Trong bối cảnh đó, các học thuyết của trường phái tư sản cổ điển lại suy đồi, tỏ ra bất lực trong việc bảo vệ chủ nghĩa tƣ bản, đòi hỏi phải có những học thuyết kinh tế mới thay thế. Nhiều trường phái KTCT tư sản xuất hiện trong đó có trường phái “cổ điển mới”
- Trường phái “cổ điển mới” giữ vai trò thống trị vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, giống các nhà KTCT tư sản cổ điển, các nhà kinh tế trường phái
“cổ điển mới” ủng hộ tự do cạnh tranh, chống lại sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế.
- Trường phái cổ điển mới dựa vào yếu tố tâm lý chủ quan để giải thích các hiện tượng và các quá trình kinh tế xã hội. Đối lập với K. Mark, trường phái cổ điển mới ủng hộ lý thuyết giá trị - chủ quan. Theo lý luận này, cùng một hàng hóa với người cần nó hay nó có lợi ích nhiều thì giá trị của hàng hóa sẽ lớn và ngược lại.
- Đối tượng nghiên cứu của trường phái “cổ điển mới” là các đơn vị kinh tế riêng biệt, từ đó, rút ra những kết luận chung cho toàn xã hội, vì vậy, phương pháp phân tích của họ là phương pháp phân tích vi mô.
- Trường phái cổ điển mới muốn biến KTCT thành khoa học kinh tế thuần tuý, họ đƣa ra khái niệm “kinh tế học” để thay thế phạm trù “kinh tế chính trị”.
- Các nhà kinh tế trường phái cổ điển mới tích cực áp dụng toán học vào phân tích kinh tế, phối hợp các phạm trù toán học với phạm trù kinh tế để đƣa ra những khái niệm mới, trường phái cổ điển mới còn được gọi là trường phái “giới hạn”.
7.1.2. Các lý thuyết kinh tế chủ yếu của trường phái tân cổ điển 7.1.2. 1. Lý thuyết “ích lợi giới hạn”
- Ích lợi có đặc tính cụ thể của vật, có thể thảo mãn nhu cầu nào đó của con người. Có ích lợi khách quan và ích lợi chủ quan, ích lợi trừu tượng và ích lợi cụ thể.
Theo đà thỏa mãn nhu cầu, ích lợi có xu hướng giảm dần. Cùng với sự tăng lên của vật, để thảo mãn nhu cầu “mức độ bão hòa” tăng lên, còn “ mức độ cấp thiết” của nhu cầu giảm xuống. Do vậy, vật sau để thỏa mãn nhu cầu sẽ có ích lợi nhỏ hơn vật trước đó. Với một số lượng vật phẩm nhất định, thì vật phẩm cuối cùng là “vật phẩm
giới hạn”. Ích lợi của nó là “ích lợi giới hạn”. Nó quyết định cho lợi ích chung của tất cả các vật khác.
Hình 7.1 Mối quan hệ giữa ích lợi và số lượng hàng hóa
7.1.2.2. Lý thuyết giá trị giới hạn
Đƣợc xây dựng trên lý thuyết “ích lợi giới hạn" quan niệm rằng ích lợi quyết định giá trị. “Ích lợi giới hạn” tức là ích lợi của sản phẩm cuối cùng quyết định giá trị của sản phẩm. Vì vậy, “giá trị giới hạn” chính là giá trị cuả “sản phẩm giới hạn”. Nó quyết định giá trị của tất cả các sản phẩm khác.
Nhƣ vậy, khi sản phẩm tăng lên thì “ giá trị giới hạn” giảm dần và do vậy, tổng
“giá trị giới hạn” cũng giảm dần. Vì thế, họ đi đến kết luận muốn có nhiều giá trị phải tạo ra sự khan hiếm.
7.1.2.3 Thuyết giới hạn ở Mỹ
Đại biểu cho trường phái giới hạn ở Mỹ là John Bates Clark (1847 - 1938), giáo sƣ đại học tổng hợp Colombia.
a. Lý thuyết “ năng suất giới hạn”
Với sự tăng thêm của một nhân tố sản xuất nào đó, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, thì năng suất của nhân tố tăng thêm sẽ giảm. Với quy mô tƣ bản không thay đổi, khi số lƣợng công nhân tăng lên, mỗi công nhân mới bổ sung so với công nhân trước đây sẽ sản xuất ra một số lượng sản phẩm ít hơn.
Người công nhân được thuê sau cùng là người “công nhân giới hạn”, sản phẩm của họ là “sản phẩm giới hạn”, năng suất cảu họ là “năng suất giới hạn”. Nó quyết định rằng năng suất của tất cả các công nhân khác.
Ích lợi
Sản phẩm Ích lợi giới hạn
Hình 7.2 Đồ thị năng suất giới hạn
b. Lý thuyết phân phối của Clark
Trên cơ sở lý luận “năng suất giới hạn”, Clark đưa ra lý luận tiền lương và lợi nhuận. Ông sử dụng lý luận “năng lực chịu trách nhiệm” để phân tích. Theo lý luận này, thu nhập là “ năng lực chịu trách nhiệm” của các nhân tố sản xuất. Ở đây, công nhân có lao động, nhà tƣ bản có tƣ bản. Họ đều nhận đƣợc “sản phẩm có giới hạn”
tương ứng.
7.1.2.4 Trường phái thành Lausanne (Thụy Sỹ)
Vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trường phái “tân cổ điển”
phát triển ở Thụy Sỹ. Đại biểu xuất sắc là Leon Wallras (1834 - 1910).
Lý thuyết “Cân bằng thị trường” là một trong số các lý thuyết quan trọng của Leon Wallras.
Theo ông, trong cơ cấu kinh tế thị trường có 3 loại thị trường: thị trường sản phẩm, thị trường tư bản, thị trường lao động.
Thị trường sản phẩm là nơi mua và bán hàng hóa. Tương quan trao đổi giữa các loại hàng hóa là giá cả. Thị trường tư bản là nơi hỏi và vay tư bản. Lãi suất tư bản cho vay là giá cả tư bản. Thị trường lao động là nơi thuê mướn công nhân. Tiền công hay tiền lương là giá cả của lao động.
Ba thị trường này độc lập với nhau song nhờ hoạt động của doanh nghiệp nên có quan hệ với nhau. Doanh nhân là người sản xuất hàng hóa để bán. Muốn sản xuất, doanh nhân phải vay vốn, trên thị trường tư bản, thuê nhân công trên thị trường lao động. Trên hai thị trường này doanh nhân được coi là cầu. Sản xuất được hàng hóa, doanh nhân phải mang bán nó trên thị trường sản phẩm. Ở đây, doanh nhân được coi là cung.
Sản phẩm tăng thêm
Lao động
Nếu giá bán hàng hóa cao hơn chi phí sản xuất thì doanh nhân có lợi. Doanh nhân có xu hướng mở rộng sản xuất như thuê thêm công nhân, vay thêm tư bản. Do vậy, sức cầu của doanh nhân tăng lên, điều đó là cho giá cả tƣ bản và lao động tăng lên. Song, khi có thêm hàng hóa thì doanh nhân sẽ cung trên thị trường nhiều hơn. Do đó, giá cả hàng hóa trên thị trường có xu hướng giảm xuống.
Khi giá cả giảm xuống ngang với chi phí sản xuất thì cung và cầu hàng hóa ở trạng thái cân bằng. Doanh nhân không có lời trong việc sản xuất them, nên không thuê them công nhân và vay thêm tƣ bản nữa. Nhƣ vậy, giá hàng ổn định làm cho lãi suất và tiền lương ổn định. Cả ba thị trường đều có sự cân bằng cung cầu. Nền kinh tế cũng ở trong trạng thái cân bằng.
Điều kiện tất yếu để có cân bằng thị trường là sự cân bằng giữa giá cả hàng và chi phí sản xuất. Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh, trạng thái cân bằng giữa hàng và chi phí sản xuất đƣợc thực hiện qua sƣ dao động của cung- cầu.
7.1.2.5 Trường phái Cambridge (Anh)
Người đứng đầu trường phái (Anh) là Alfred Marshall (1842 - 1924). Ông là giáo sư trường đại học tổng hợp Cambridge. Một số đặc điểm và quan điểm cơ bản của trường phái này là:
- Về đối tượng, phương pháp của Kinh tế chính trị học: Kinh tế chính trị học hay Kinh tế học xem xét bộ phận của đời sống xã hội và cá nhân, đặc biệt có quan hệ với việc giành và sử dụng các vật chất cần thiết cho đời sống hạnh phúc.
- Lý thuyết về của cải và nhu cầu:
Của cải gồm những vật thỏa mãn nhu cầu một cách trực tiếp hay gián tiếp. Nó có thể là những của cải vật chất hay phi vật chất. Ông viết : “Các nhu cầu và mong muốn của con người thì nhiều và thuộc các loại rất khác nhau, nhưng chúng thường bị hạn chế và có khả năng đƣợc thỏa mãn”.
-. Lý thuyết về sản xuất và các yếu tố về sản xuất
Sản xuất theo ông là việc chế tạo ra các lợi ích. Nó nhƣ là một sự thay đổi hình thức hay thay đổi việc sử dụng vật chất. Ngƣợc lại, tiêu dùng sẽ là sự sản xuất tiêu cực về lợi ích.
Các yếu tố sản xuất bao gồm đất đai, lao động và tƣ bản.
d.Lý thuyết giá cả.
Lý thuyết giá cả là lý thuyết nổi tiếng của Marshall. Theo ông, giá cả là quan hệ số lƣợng mà trong đó hàng hóa và tiền tệ đƣợc trao đổi với nhau.
Lý luận giá cả của ông là sự tổng hợp các lý thuyết chi phí sản xuất, cung cầu,
“ích lợi giới hạn”.
Theo ông, thị trường là tổng thể những người có quan hệ mua bán, hay là nơi gặp gỡ của cung và cầu. Khi nghiên cứu cơ chế thị trường Marshall cho rằng, một mặt,
trong điều kiện cạnh tranh hoàn toàn thì cung cầu phụ thuộc vào giá cả. Mặt khác, cơ chế thị trường tác động làm cho giá cả phù hợp của cung cầu.
Ông đưa ra khái niệm “giá cung” và “ giá cầu”: Giá cung là giá cả mà người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất ở mức đương thời. Giá cung được quyết định bởi chi phí sản xuất. Giá cầu là giá mà người mua có thể mua số lượng hàng hóa hiện tại. Giá cầu đƣợc quyết định bởi lợi ích giới hạn.
Khi giá cung và giá cầu gặp nhau thì hình thành nên giá cả cân bằng hay giá cả thị trường. Giá cả thị trường là kết quả của sự va chạm giữa người mua và người bán, tức là va chạm giữa cung và cầu. Sự va chạm này làm hình thành giá cả cân bằng.
Ông cho rằng trong ngắn hạn cung, cầu ảnh hưởng đến giá cả, còn trong dài hạn thì chi phí có tác động đến giá cả. Ngoài ra, độc quyền cũng ảnh hưởng đến giá cả.
Hình 7.3 Giá cả cân bằng
Marshall đƣa ra khái niệm “co giãn của cầu” chỉ sự phụ thuộc của cầu vào mức giá cả. Theo ông, mức giá cả linh hoạt trên thị trường phụ thuộc vào tình trạng sau:
khối lương hàng hóa tăng lên một mức độ nhất định, khi giá cả hàng hóa giảm xuống và ngƣợc lại
Nếu ký hiệu:
K - Hệ số co giãn của cầu.
Thì :
Có ba trường hợp sau đây:
Giá cả
Số lƣợng D
S
K > 1: Là trường hợp một sự thay đổi nhỏ của giá cả làm cho cầu thay đổi lớn hơn, gọi là cầu co giãn.
K < 1: Là trường hợp một sự thay đổi lớn của giá chỉ làm cho cầu thay đổi không đáng kể, gọi là cầu không co giãn.
K = 1: Là tốc độ thay đổi của giá cả và của cầu như nhau. Trường hợp này cầu co giãn bằng đơn vị.
Sự co giãn của cầu phụ thuộc vào các nhan tố sau đây: mức giá cả, giá cả của hàng hóa có liên quan, sức mua của dân cƣ và nhu cầu mua sắm của dân cƣ.
Tóm lại: Lý thuyết giá cả của Marshall là cơ sở lý luận của kinh tế học vi mô hiện đại trong phân tích thị trường, cung cầu và giá cả.