Sự xuất hiện và đặc điểm phương pháp luận của kinh tế học trường phái chính hiện đại

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử các học thuyết kinh tế (Trang 142 - 151)

CHƯƠNG 7: CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ TƯ SẢN HIỆN ĐẠI

7.7. Sự xuất hiện và đặc điểm phương pháp luận của kinh tế học trường phái chính hiện đại

7.7.1. Lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp

Đây là tư tưởng trung tâm của kinh tế học trường phái chính. Nó được trình bày rất rõ trong “ kinh tế học” của P.A. Samuelson.

Mầm mống của quan điểm “kinh tế hỗn hợp” có từ cuối những năm của thế kỷ XIX. Sau thời kỳ chiến tranh nó đƣợc các nhà kinh tế học Mỹ nhƣ A.Hasen, tiếp tục nghiên cứu. Tư tưởng này được phát triển trong kinh tế học của A.Hasen.

Nếu các nhà kinh tế học phái cổ điển và cổ điển mới say sƣa với “Bàn tay vô hình” và “cân bằng tổng quát”, trường phái Keynes và Keynes mới say sưa với “bàn tay Nhà nước”, thì ông chủ trương phân tích kinh tế phải dựa và “hai bàn tay” là cơ chế thị trường và Nhà nước. Ông cho rằng, “điều hành một nền kinh tế không có chính phủ hoặc thị trường cũng định vỗ tay bằng một bàn tay”.

- Cơ chế thị trường

Theo Samuelson, cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế. Trong đó, cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vẫn đề trung tâm của tổ chức kinh tế là: Sản xuất cái gì? Sản xuất nhƣ thế nào? Sản xuất cho ai?

Thị trường là một quá trình mà trong đó, người mua và người bán một thứ hàng hóa tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lƣợng hàng hóa.Sự biến động của giá cả đã làm cho trạng thái cân bằng cung cầu thường xuyên biến đổi và đó cũng chính là nội dung quy luật cung cầu hàng hóa.

Nền kinh tế thị trường chịu sự điều khiển của hai ông vua: người tiêu dùng và kỹ thuật. Nghiên cứu sự hoạt động của cơ chế thị trường, Samuelson cũng chỉ rõ: “bàn tay vô hình” đôi khi cũng đƣa nền kinh tế tới những sai lầm. Đó cũng chính là những khuyết tật của hệ thống kinh tế thị trường. Để đối phó với những khuyết tật của cơ chế thị trường, các nền kinh tế hiện đại phối hợp giữa “bàn tay vô hình” và “bàn tay hữu hình” nhƣ thuế khóa, chi tiêu và luật lệ chính phủ.

- Vai trò chính phủ trong kinh tế thị trường:

Chính phủ có bốn chức năng chính trong nền kinh tế thị trường.

Chức năng thứ nhất, là thiết lập khuôn khổ pháp luật. Chức năng này thực tế vƣợt ra ngoài khuôn khổ của lĩnh vực kinh tế học. Ở đây, chính phủ đề ra các quy tắc trò chơi kinh tế mà các doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả bản thân chính phủ cũng phải tuân thủ. Điều này bao gồm các quy định về tài sản (tài sản tƣ nhân nhƣ thế nào?), các quy tắc về hợp đồng và hoạt động kinh doanh, các trách nhiệm tương hỗ của các liên đoàn lao động, ban quản lý và nhiều luật lệ để xác định môi trường kinh tế.

Chức năng thứ hai, là sửa chữa những thất bại của thị trường để thị trường hoạt động có hiệu quả thông qua các hoạt động sau:

Trước hết, những thất bại mà thị trường gặp phải làm cho hoạt động của nó không hiệu quả là ảnh hưởng của độc quyền.

Thứ hai, là những tác động bên ngoài cũng dẫn đến tính không hiệu quả của hoạt động thị trường và đòi hỏi Nhà nước phải can thiệp.

Tác động bên ngoài xảy ra khi doanh nghiệp hoặc con người tạo ra chi phí - lợi ích cho doanh nghiệp khác, hoặc người khác mà các doanh nghiệp hoặc con người đó không đƣợc nhận đúng những lợi ích mà họ cần phải trả.

Thứ ba, chính phủ phải đảm nhiệm việc sản xuất hàng hóa công cộng. Theo các nhà kinh tế, hàng hóa tư nhân là một loại hàng hóa mà nếu như một người đã dùng thì người khác không thể dùng được nữa. Còn hàng công cộng là một loại hàng hóa mà khi một người đã dùng thì người khác vẫn có thể dùng được.

Ích lợi giới hạn của hàng hóa công cộng đối với xã hội và tƣ nhân là khác nhau.

Nhìn chung, ích lợi giới hạn mà tƣ nhân thu đƣợc từ hàng hóa công cộng là rất nhỏ. Vì vậy, tư nhân thường không muốn sản xuất hàng hóa công cộng. Mặt khác, có nhiều hàng hóa công cộng có ý nghĩa quan trọng cho quốc gia nhƣ hàng hóa quốc phòng, luật pháp, trật tự trong nước nên không thể giao cho tư nhân được. Vì vậy, chính phủ nhảy vào sản xuất hàng hóa công cộng.

Thứ tƣ, là thuế. Thuế dùng để chi trả chi phí cho chính phủ và để chính phủ sản xuất hàng hóa công cộng.

Chức năng thứ ba là đảm bảo sự công bằng thông qua nhũng chính sách để phân phối thu nhập bằng đánh thuế hoặc trợ cấp.

Chức năng thứ tư là ổn định kinh tế vĩ mô.

Chính phủ thực hiện các chức năng trên đây thông qua các công cụ là các loại thuế, các khản chi tiêu, lãi suất thanh toán chuyển nhƣợng, khối lƣợng tiền tệ và những quy định hay kiểm soát… Thông qua thuế, chính phủ điều tiết tiêu dùng, đầu tƣ cuả tƣ nhân khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh của doanh nhân. Các khoản chi tiêu của chính phủ sẽ thúc đấy các doanh nghiệp hay công nhân sản xuất ra một hàng hóa hay dịch vụ và cả những việc chuyển tiền nhằm hỗ trợ thu nhập (nhƣ bảo hiểm, trợ cấp thất nghiệp…) những quy định hay kiểm soát của chính phủ cũng là nhằm hướng nhân dân đi vào hoặc từ bỏ những hoạt động kinh doanh.

Cũng nhƣ “bàn tay vô hình”, “bàn tay hữu hình” cũng có khuyết tật, có nhiều vấn đề Nhà nước lựa chọn không đúng. Do vậy, phải kết hợp cả cơ chế thị trường và vai trò chính phủ trong điều hành nền kinh tế hiện đại, hình thành nên một “nền kinh tế hỗn hợp”. Trong “nền kinh tế hỗn hợp” có cả cơ chế thị trường và chính phủ. Cơ chế thị trường xác định giá cả và sản lượng trong nhiều lĩnh vực, trong khi đó, chính phủ điều tiết thị trường bằng các chương trình thuế, chi tiêu và luật lệ. Cả hai bên thị trường và chính phủ đều có tính chất thiết yếu.

7.7.2. Lý thuyết giới hạn “khả năng sản xuất” và “sự lựa chọn”

Do tính chất hạn chế của toàn bộ tài nguyên có thể sản xuất ra hàng hóa, một xã hội chỉ được lựa chọn trong số hàng hóa tương đối khan hiếm.

Về thực chất, lý thuyết “lựa chọn” nhằm đưa ra mô hình số lượng cho người tiêu dùng trong điều kiện kinh tế thị trường và trên cơ sở đó dự toán được sự thay đổi của nhu cầu xã hội.

Mô hình tiêu biểu là Samuelson lấy ví dụ nghiên cứu là sản xuất ra bơ và súng.

Trong mô hình này, đường ABCDEF gọi là đường giới hạn khả năng sản xuất.

Toàn bộ nền kinh tế, giả sử chỉ phải lựa chọn giữa hai sản phẩm là sản xuất ra bơ và súng. Với số lƣợng lao động, tài nguyên, tƣ bản nhất định, nếu sản xuất ra 15000 hàng hóa X thì không sản xuất hàng hóa Y và ngƣợc lại, nếu sản xuất 5 triệu kg hàng hóa Y thì không sản xuất X. Giữa hai thái cực này có nhiều phương án lựa chọn.

Giới hạn khả năng sản xuất biểu thị sự lựa chọn mà xã hội có thể có.

Từ sự phân tích trên, các nhà kinh tế học đƣa ra quan điểm về hiệu quả sử dụng tài nguyên. Theo họ, một nền kinh tế có hiệu quả là những điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất.

Hình 7.11 Đường giới hạn khả năng sản xuất

Các điểm bên trong đường giới hạn U là biểu hiện tài nguyên chưa được sử dụng hết, công nhân có việc làm, nhà máy không bỏ không, ruộng đất hoang hóa, tiền để rỗi. Điều đó thể hiện tính thiếu hiệu quả.

Các điểm nằm ngoài đường giới hạn I là không thể có trong điều kiện không có biến đổi nào về nguồn lực: tài nguyên, lao động, vốn, công nghệ.

Từ đó, các nhà kinh tế học cho rằng trong khuôn khổ nguồn lực giới hạn, muốn tăng sản lƣợng mặt hàng này thì phải cắt giảm sản lƣợng mặt hàng khác

7.7.3. Lý thuyết thất nghiệp

Thất nghiệp là vấn đề trung tâm của các xã hội hiện nay, khi mức thất nghiệp cao, tài nguyên bị lãng phí, thu nhập của nhân dân bị giảm sút.

Về mặt kinh tế, mức thất nghiệp cao là thời kỳ GDP thực tế thấp hơn mức tiềm năng của nó. Mức thất nghiệp cao đi liền với mức cao của sản lƣợng bị bỏ đi hoặc không sẩn xuất

Hàng hóa X

Hàng hóa Y

A B

C

D E

U F

I

Về mặt xã hội, thất nghiệp gây ra tổn thất về người, tâm lý xã hội nặng nề.

*Các khái niệm về thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp.

Những người có việc là những người đi làm. Còn những người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tìm việc làm.

Những người không có việc làm nhưng không tìm việc làm là những người ngoài lực lượng lao động. Đó là những người đang đi học, trông coi nhà cửa, về hưu, quá ốm đau không đi làm đƣợc hoặc thôi không tìm việc làm nữa.

Tỷ lệ thất nghiệp: là số người thất nghiệp chia cho toàn bộ lực lượng lao động.

Thất nghiệp tự nguyện là tình trạng thất nghiệp mà ở đó công nhân không muốn làm việc với mức lương trên thị trường lúc đó.

Thất nghiệp không tự nguyện: là tình trạng với mức lương cứng nhắc, không thay đổi, một quỹ lương nhất định chỉ thuê một số lượng công nhân nhất định, số còn lại muốn đi làm với mức lương đó nhưng không tìm được việc làm.

* Thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp chu kỳ

Thất nghiệp tạm thời phát sinh do sự di chuyển không ngừng con người giữa các vùng, các công việc hoặc là các giai đoạn khác nhau của cuộc sống. Do sự di chuyển mà một số người tự nguyện thất nghiệp.

Thất nghiệp cơ cấu xảy ra do sự mất cân đối giữa cung và cầu đối với công nhân. Ví dụ, mức cầu về loại lao động này tăng lên còn loại lao động khác thì giảm đi.Trong trường hợp đó, thay đổi mức cung điều chỉnh không kịp, gây ra thất nghiệp.

Thất nghiệp chu kỳ phát sinh khi mức cầu chung về lao động thấp. Nó gắng với giai đoạn suy thóai và đóng của chu kỳ kinh doanh.

* Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên

Một trong những khái niệm then chốt của kinh tế vĩ mô hiện nay là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Đây là mức mà ở đó các thị trường lao động khác biệt ở trạng thái cân bằng. Ở một số thị trường thì cầu quá mức( hoặc nhiều việc không có người làm)trong khi đó ở những thị trường khác thì cung quá mức(hay thất nghiệp). Gộp lại, tất cả các nhân tố hoạt động để sức ép đối với tiền lương và giá cả trên tất cả các thị trường đều cân bằng.

Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên luôn phải lớn hơn số 0. Vì trong một nước rộng lớn, mức độ cơ động cao, thị hiếu và tài năng đa dạng, mức cung cầu về số loại hàng hóa, dịch vụ thường xuyên thay đổi,tất yếu có thất nghiệp tạm thời và cơ cấu.

Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên liên quan chặt trẽ với lạm phát. Đó là tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất mà đất nước có thể chấp nhận được ở mức trung bình mà không có nguy cơ gây lạm phát tăng xoáy ốc

Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên có xu hướng ngày càng tăng. Nguyên nhân của sự gia tăng là tăng thêm số thanh thiếu niên, người thiểu số, phụ nữ và lực lượng lao đông;

tác động của chính sách(nhƣ trợ cấp bảo hiểm) làm cho công nhân thất nghiệp không tích cực tìm việc làm; do thay đổi cơ cấu sản xuất…

Để giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, cần cải thiện dịch vụ thị trường lao động, mở các lớp đào tạo, loại bỏ những trở ngại những chính sách của chính phủ; tạo ra việc làm công cộng

7.7.4. Lý thuyết về lạm phát

* Các ý nghĩa về lạm phát

Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng - giá bánh mỳ, dầu xăng, xe ô tô tăng, tiền lương, giá đất, tiền thuế tư liệu sản xuất tăng. Giảm lạm phát có nghĩa là giá cả chi phí nói chung hạ xuống.

Lạm phát gồm lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát.

Lạm phát vừa phải xảy ra khi giá cả tăng chậm, thường là một con số (dưới 10%), trong điều kiện lạm phát vừa phải và ổn định, giá cả tương đối không khác mức bình thường nhiều.

Lạm phát phi mã là lạm phát xảy ra khi tiền giấy bung ra quá nhiều, giá cả tăng gấp nhiều lần mỗi tháng

* Tác động của lạm phát

Lạm phát tác động đến kinh tế bằng hai cách:

Một là, phân phối lại thu nhập và của cải

Hai là, thay đổi mức độ và hình thức sản lƣợng.

Lạm phát gây ra những tác hại kinh tế lớn. Khi lạm phát không cân bằng thì giá cả tương đối, thuế suất và lãi suất thực tế bị biến dạng. Nhân dân đến ngân hàng nhiều hơn, thuế có thể tăng lên, thu nhập tính đƣợc có thể biến dạng. Lạm phát không dự đoán trước dẫn đến những đầu tư sai lầm, phân phối lại thu nhập một cách ngẫu nhiên.

Vì vậy, trong nền kinh tế hiện nay, hạn chế lạm phát là một trong những mục tiêu chủ yếu của nền kinh tế vĩ mô

* Nguồn gốc của lạm phát

Do những chấn động chính là cầu kéochi phí đẩy.

Lạm phát do cầu kéo diễn ra khi nền kinh tế tới hoặc vƣợt quá mức sản xuất tiềm năng, việc tăng mức cầu lúc này dẫn tới lạm phát. Trong trường hợp này, với mức cung hạn chế về sản lƣợng thực tế, tăng cầu làm tăng giá dẫn đến tăng lạm phát.

Khi chi phí đẩy giá cả lên trong thời kỳ tài nguyên đƣợc sử dụng hết , khủng hoảng diễn ra, gọi là lạm phát do chi phí đẩy. Đây là hiện tƣợng mới của nền kinh tế công nghiệp hiện nay. Nguyên nhân là: tăng tiền lương, tăng chi phí sản xuất, đòi doanh nghiệp phải tăng giá.

Hình 7.12 Lạm phát do cầu kéo

Hình 7.13 Lạm phát do chi phí đẩy

* Những biện pháp kiểm soát lạm phát

- Chấp nhận mức lạm phát và suy thóai kinh tế. Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ trao đổi. Để giảm lạm phát phải tăng thất nghiệp và ngƣợc lại.

- Kiểm soát giá cả và tiền lương .

- Dựa vào kỷ luật của thị trường cạnh tranh để hạn chế việc tăng giá cả và tiền lương.

- Sử dụng chính sách thu nhập dựa trên thuế, như trợ cấp cho những người mà tiền lương hoặc giá cả tăng chậm, đánh thuế vào những người làm tăng lạm phát

Mức giá

0 P’

Sản lƣợng tiềm năng

P

E

E’

AS

A’D’

AD

Mức giá

0 P’

Sản lƣợng tiềm năng

P

E E’

AS A’S’

Sản lƣợng thực tế

7.7.5. Lý thuyết tiền tệ, ngân hàng vầ thị trường chứng a. Lý thuyết tiền tệ

Lý thuyết tiền tệ đã qua quá trình phát triển trong thời ký A. Smith, D. Ricardo và K. Marx, các nhà kinh tế học đã ủng hộ tư tưởng giá trị - lao động về tiền. Trong tư bản, K. Marx đã phân tích các hình thái phát triển của giá trị từ hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên, đến hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng đến hình thái giá trị của tiền tệ. Từ đó, ông rút ra bản chất của tiền. Theo ông, tiền là hàng hóa đặc biệt đƣợc tách ra làm vật ngang giá chung các hàng hóa khác. Nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện giữa những người sản xuất hàng hóa.Tiền được dùng để đo lường giá trị hàng hóa, phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán và tiền tệ thế giới. Theo các nhà kinh tế học thời kỳ này, tiền xuất hiện khi vàng đƣợc dùng làm vật ngang giá chung cho quan hệ trao đổi trong một nước cũng như phạm vi thế giới.

Còn tiền giấy chỉ là ký hiệu tiền tệ.

Kinh tế thị trường càng phát triển, quan điểm về tiền được mở rộng lớn. Các nhà kinh tế học cho rằng, ngày nay là thời đại của tiền ngân hàng hoặc một thể chế tài chính nào đó, thẻ tín dụng, séc du lịch đƣợc sử dụng ở các cửa hàng; thẻ ghi nợ đƣợc ghi nhận vào máy tính trung tâm…

Từ đó, các nhà kinh tế học hiện nay kết luận: bản chất của tiền tệ là để dùng làm phương tiện trao đổi, nhờ đó chúng ta có thể mua và bán hầu hết mọi thứ. Nhiều đồ vật đã đƣợc làm tiền tệ qua các thời đại nhƣng thời nay chủ yếu là thời đại tiền giấy và tiền ngân hàng là những thứ không có giá trị nội tại:

Vấn đề quan trọng trong lý thuyết tiền tệ hiện nay là xác định thành phần của mức cung tiền tệ. Có nhiều quan điểm khác nhau về xác định thành phần , mức cung tiền tệ. Trong kinh tế học, D.A. Samuelson nêu một số thành phần cơ bản mức cung tiền tệ nhƣ sau:

Tiền giao dịch đƣợc ký hiệu là M1. Nó bao gồm các khoản tiền thực tế đƣợc dùng cho giao dịch, để mua bán đồ vật. Đó là tổng số tiền kim khí và tiền giấy lưu thông bên ngoài các ngân hàng cộng với tiền gửi ngân hàng có thể rút ra bằng séc

Tiền rộng đƣợc ký hiệu là M2. Đôi khi đƣợc gọi là “tiền tệ tài sản” hay “chuẩn tệ” . Khác với M1, tiền mở rộng M2 không thể sử dụng như một phương tiện không hạn chế để tiến hành những cuộc mua bán nhỏ và lớn.

Tuy nhiên, chũng có thể chuyển thành tiền mặt trong một thời gian rất ngắn nên rất gần với tiền gaio dịch. Thành phần của M2, gồm những tài sản, tài khoản gửi tiết kiệm ngoài tiền kim khí, tiền giấy và tiền gửi ngân hàng có thể rút ra bằng séc.

Tổng số tín dụng hoặc nợ kí hiệu là D, bao gồm toàn bộ các công cụ tài chính - tiền tệ - chuẩn tệ, công trái, văn tự cầm đồ.

b. Ngân hàng thương mại và quá trình tạo nguồn tiền gửi ngân hàng

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử các học thuyết kinh tế (Trang 142 - 151)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(163 trang)