Khái niệm về tăng trưởng và phát triển kinh tế

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử các học thuyết kinh tế (Trang 151 - 154)

CHƯƠNG 7: CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ TƯ SẢN HIỆN ĐẠI

7.8. Lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế

7.8.1. Khái niệm về tăng trưởng và phát triển kinh tế

Vào cuối những thập kỷ 40 và đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XX, sự phân biệt giàu nghèo giữa các quốc gia trên thế giới quá cách biệt. Các nước giàu bao gồm các nước Tây - Bắc Âu, Mỹ , Úc, Newzealand và Nhật Bản, còn các nước nghèo tập trung ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh. Nhƣng khoảng cách này dần đƣợc thu hẹp vào những năm 90 của thế kỷ XX. Ngày nay, ngày càng nhiều nước có thu nhập cao và

trung bình cao là các nước không phải phương Tây, đồng thời những nước tăng trưởng nhanh nhất không nhất thiết là những nước có GDP bình quân đầu người cao nhất.

Song, nói chung các nước ở châu Âu, châu Phi và châu Mỹ La Tinh vẫn là các nước nghèo.

Sự phân chia các nước phát triển, các nước đang phát triển và kém phát triển đƣợc nhiều tổ chức thế giới quan tâm. Nói chung, sự phân loại trình độ phát triển của các quốc gia chủ yếu là dựa trên cơ sở thu nhập GDP bình quân đầu người. Dựa vào tiêu chí này, năm 1986 Ngân hàng thế giới (WB) đã phân chia trình độ phát triển các nhóm quốc gia trên thế giới thành ba nhóm.

Một là, nhóm các nước có thu nhập thấp, đó là quốc gia có thu nhập GDP bình quân dưới 450đô la/người/năm.

Hai là, nhóm các nước có thu nhập trung bình, đó là những quốc gai có thu nhập GDP bình quân đầu người trên 6000 USD/người/năm (tiêu chí này không cố định và hiện nay mức thu nhập của các nước có thu nhập trung bình đã là từ 600 đến 10.000 USD/ người/ năm).

7.8.1.2. Đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển

Hiện nay, những nhà kinh tế đều tương đối thống nhất về những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển như sau:

Hầu hết đây là các nước thuộc địa, dưới sự thống trị của Tây Âu trước đây. Nếu kinh tế chủ yếu là nền sản xuất nông nghiệp truyền thống, còn gọi là “ Xã hội nông nghiệp, nông thôn”. Đó là nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, phân thái, lao động thủ công lạc hậu ( cày bừa đều bằng gỗ, hạt giống đƣợc gieo bằng tay, trâu, bò kéo trục đập lúa, nước mang về bằng những bình xứ đội trên đầu…)

Dân số đa số sống ở nông thôn; lực lƣợng chủ yếu là lao động nông nghiệp chiếm tới 65-75% ( tỷ lệ này các nước phát triển chỉ khoảng 10%), giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong GDP.

Thiếu vốn và công nghệ hiện đại; kỹ thuật sản xuất công nghiệp lạc hậu - còn gọi là nền “công nghiệp lều gỗ”; quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, năng suất thấp,thu nhập GDP bình quân trên đầu người thấp (có nước chỉ bằng 1/100 các nước phát triển); tỷ lệ tăng trưởng GDP thấp, tiết kiệm thấp nên tích lũy thấp ( dưới 10% GDP).

Ngoại thương kém phát triển thường là nhập siêu, hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là hàng nguyên liệu sơ chế.

Dân số tăng nhanh 2,1%/ năm (trong khi các nước phát triển tỷ lệ tăng dân số chỉ là 0,5%/ năm), dân số các nước đang phát triển chiếm 3/4 dân số thế giới, mật độ dân số cao. Trình độ văn hóa, giáo dục và dân trí thấp: tỷ lệ người lơn biết viết, biết đọc chỉ đạt 55%, trong khi đó các nước đang phát triển tỷ lệ đó đạt trên 90%.

Nhân dân có sức khỏe thấp, chế độ dinh dƣỡng nghèo nàn, tỷ lệ suy dinh dƣỡng ở trẻ em và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cao khoảng 50%. Tuổi thọ bình quân đầu người thấp (dưới 60 tuổi còn các nước phát triển là trên 70 tuổi), trong đó các nước có thu nhập thấp nhất nhƣ Ethiopia, Butan, Malawi… Tuổi thọ bình quân chỉ là 45 tuổi.

Về khoảng cách chênh lệch với các nước phát triển tới hàng chục thậm chí hàng trăm lần.

7.8.1.3 Khái niệm về tăng trưởng và phát triển kinh tế a. Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về tổng sản phẩm xã hội mà thu nhập bình quân đầu người

Hiện nay các quốc gia luôn quan tâm đến sự tăng trưởng kinh tế liên tục trong một thời kỳ tương đối dài - tức là tăng trưởng kinh tế bền vững.

Tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế đạt mức tương đối cao và ổn định trong thời gian tương đối dài (thường là 1 thế hệ từ 20 - 30 năm).

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế, song tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào những yêu tố cơ bản nhƣ sau:

Một là, vốn : đây là yếu tố quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Nói đến yếu tố vốn ở đây bao gồm cả tăng lƣợng vốn và đặc biệt là tăng hiệu quả sử dụng vốn.

Hai là, con người: là yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững. Đó phải là con người có sức khỏe có trí tuệ, có tay nghề cao, có động lực và nhiệt tình lao đông đƣợc tổ chức chặt chẽ.

Ba là, kỹ thuật và công nghệ: kỹ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại là nhân tố quyết định chất lượng của sự tăng trưởng kinh tế vì nó tạo ra năng suất lao động cao, do đó tích lũy đầu tựu lớn.

Bốn là, cơ cấu kinh tế: xây dựng đƣợc cơ cấu kinh tế càng hiện đại thì tăng trưởng kinh tế càng nhanh và bền vững.

Năm là, các thể chế chính trị và quản lý Nhà nước: thể chế chính trị càng ổn định, tiến bộ thì tăng trưởng kinh tế càng nhanh. Nhà nước càng đề ra được các đường lối, chính sách phát triển kinh tế đúng đắn thì tăng trưởng kinh tế càng nhanh.

b. Phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế đi kèm với sự tiến bộ của cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế và chất lƣợng cuộc sống.

Nhƣ vậy, phát triển kinh tế bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất là, sự tăng trưởng là sự tăng lên của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập bình quân đầu người.

Thứ hai là , sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng: tỷ trọng ngành nông nghiệp ngày càng giảm, còn tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng (đặc biệt là dịch vụ) trong tổng sản phẩm quốc dân.

Thứ ba là, đời sống của nhân dân ngày càng cao về phúc lợi xã hội, tiêu chuẩn sống, giáo dục, sức khỏe và sự bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội.

Mục tiêu của các quốc gia không chỉ dừng lại ở phát triển kinh tế mà cơ bản hơn là phát triển kinh tế bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai.

Phát triển kinh tế phụ thuộc đến những yếu tố cơ bản sau

Một là, lực lƣợng sản xuất: trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất càng cao tức công nghệ càng hiện đại và trình độ con người càng cao thì càng thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh.

Hai là, quan hệ sản xuất: quan hệ sản xuất mà phù hợp với tình chất và phù hợp với trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất thì thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh, bền vững và ngƣợc lại kìm hãm sự phát triển về kinh tế.

Ba là, kiến trúc thƣợng tầng: tuy là quan hệ phái sinh, nhƣng kiến trúc thƣợng tầng có tác động trở lại đối với sự phát triển kinh tế hoặc thúc đẩy sự phát triển kinh tế hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế. Trong kiến trúc thượng tầng, ảnh hưởng sâu sắc nhất là chính trị.

Tăng trưởng và phát triển kinh tế là hai thuật ngữ khác nhau nhưng luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tăng trưởng kinh tế không phải là phát triển kinh tế, nhưng tăng trưởng kinh tế là yếu tố cơ bản nhất của phát triển kinh tế. Nếu không có tăng trưởng kinh tế thì sẽ không có phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế bao hàm trong đó có tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững hơn.

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Lịch sử các học thuyết kinh tế (Trang 151 - 154)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(163 trang)