1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân

158 200 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập bài giảng được xây dựng với bố cục gồm 8 chương như sau: Chương mở đầu: khái quát về học phần; chương 1 - kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa; chương 2 - kinh tế nước Mỹ; chương 3 - kinh tế Nhật Bản; chương 4 - kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa; chương 5 - kinh tế Liên Xô (cũ); chương 6 - kinh tế Trung Quốc; chương 7 - kinh tế Asean; chương 8 - kinh tế Việt Nam.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ công tác dạy và học học phần Lịch sử các học thuyết kinh tế cho đối tượng là sinh viên đại học các chuyên ngành thuộc Khoa Kinh tế của Trường Đại học Sư phạm

Trong quá trình xây dựng tập bài giảng, nhóm tác giả đã tham khảo nhiều tài liệu trong và ngoài nước; đặc biệt có sử dụng trích dẫn hoặc phát triển ý tưởng, nội dung của nhiều tác giả (nêu trong phần danh mục tài liệu tham khảo) Tập thể nhóm tác giả xin phép được sử dụng tài liệu của quý vị với vai trò là nền tảng cơ bản xây dựng tập bài giảng này nhằm góp phần phát triển những kiến thức về lịch sử kinh tế quốc của các quốc gia đến gần với người đọc, tăng cường tính phổ biến về các kiến thức về lịch sử kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là kiến thức này có ý nghĩa thực tiễn cũng như kinh nghiệm lớn đến việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Cuối cùng, nhóm tác giả chúng tôi xin gửi những lời cám ơn trân trọng nhất tới các nhà nghiên cứu, các học giả, bạn bè, đồng nghiệp đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu, những lời góp ý quý giá để chúng tôi hoàn thành tập bài giảng này Tập bài giảng Lịch sử kinh tế quốc dân có thể còn nhiều thiếu sót Chúng tôi mong nhận được sự góp ý của bạn đọc

NHÓM TÁC GIẢ

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU i

CHƯƠNG MỞ ĐẦU KHÁI QUÁT VỀ MÔN HỌC 1

1 Vị trí và tác dụng của môn học 1

2 Đối tượng và nhiệm vụ môn học 3

2.1 Đối tượng 3

2.2 Nhiệm vụ của môn học 4

3 Phương pháp nghiên cứu 4

Câu hỏi ôn tập 5

CHƯƠNG 1 KINH TẾ CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA 6

1.1 Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa 6

1.1.1 Sự phân công lao động và trao đổi hàng hóa 6

1.1.2 Thành thị phong kiến Châu Âu 6

1.1.3 Tác động của các phát kiến địa lý 7

1.1.4 Tích luỹ nguyên thuỷ tư bản 8

1.1.5 Phát triển kỹ thuật 9

1.2 Kinh tế các nước tư bản thời kỳ tự do cạnh tranh 9

1.2.1 Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa giữ vai trò thống trị 9

1.2.2 Cách mạng công nghiệp và hậu quả của nó 10

1.2.3 Sự phát triển kinh tế của các nước tư bản 12

1.3 Kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa thời kỳ độc quyền 13

1.3.1 Thời kỳ độc quyền hóa (1871 – 1913) 13

1.3.2 Thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939) 14

1.4 Thời kỳ sau chiến tranh thế giới 2 (1946 – đến nay) 15

1.4.1 Giai đoạn khôi phục kinh tế (1945 – 1950) 15

1.4.2 Giai đoạn tăng trưởng (1951 – 1973) 15

1.4.3 Giai đoạn phát triển chậm chạp và không ổn định (1973 - 1985) 17

1.4.4 Điều chỉnh kinh tế từ năm 1985 đến nay 17

Câu hỏi ôn tập 26

CHƯƠNG 2 KINH TẾ NƯỚC MỸ 27

2.1 Kinh tế Mỹ trước khi giành độc lập (trước 1776) 27

2.1.1 Công cuộc khẩn thực của người Châu Âu 27

2.1.2 Kinh tế Mỹ thời kỳ thống trị của thực dân Anh 28

2.2 Kinh tế Mỹ thời kỳ trước độc quyền (1776 - 1865) 28

2.2.1 Công cuộc di thực bành trướng đất đai mở rộng thị trường 28

2.2.2 Cách mạng công nghiệp và bành trướng lãnh thổ 28

2.2.3 Nội chiến ở Mỹ (1861 - 1865) 30

2.3 Kinh tế Mỹ thời kỳ độc quyền (1865 đến nay) 30

2.3.1 Thời kỳ bùng nổ kinh tế Mỹ (1865 - 1913) 30

Trang 3

2.3.2 Kinh tế Mỹ từ chiến tranh thế giới thứ nhất đến chiến tranh thế giới hai (1914 - 1945)

31

2.3.3 Kinh tế Mỹ từ sau chiến tranh thế giới hai (1945 – 1973) 32

2.3.4 Kinh tế Mỹ từ năm 1974 đến nay 34

Câu hỏi ôn tập 41

CHƯƠNG 3 KINH TẾ NHẬT BẢN 42

3.1 Kinh tế Nhật Bản thời kỳ phong kiến 42

3.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội Nhật Bản cuối thời kỳ phong kiến Nhật Bản 42

3.1.2 Sự ra đời của Chủ nghĩa tư bản Nhật Bản 43

3.2 Kinh tế Nhật Bản từ cải cách Minh Trị đến chiến tranh thế giới thứ II (1868 – 1945) 44 3.2.1 Cải cách Minh Trị 44

3.2.2 Cách mạng công nghiệp và chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản 45

3.2.3 Kinh tế Nhật Bản thời kỳ (1914 - 1945) 46

3.3 Kinh tế Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay 47

3.3.1 Thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến tranh (1945 – 1954) 47

3.3.2 Thời kỳ phát triển nhanh (1955 – 1973) 48

3.3.3 Thời kỳ kinh tế trưởng thành (1974 đến nay) 51

Câu hỏi ôn tập 59

CHƯƠNG 4 KINH TẾ CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 60

4.1.Quá trình hình thành hệ thống kinh tế Xã hội chủ nghĩa 60

4.1.1 Sự xuất hiện Chủ nghĩa xã hội 60

4.1.2 Quan hệ hợp tác giữa các nước Xã hội chủ nghĩa 61

4.2 Kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (1917-1960) 63 4.2.1 Cải tạo quan hệ sản xuất cũ xây dựng quan hệ sản xuất mới 63

4.2.2 Xây dựng cơ sở vật chất của Chủ nghĩa xã hội 64

4.2.3 Xây dựng thể chế kinh tế Xã hội chủ nghĩa 65

4.3 Kinh tế các nước Xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ từ 1961 - 1991 65

4.3.1 Cải cách kinh tế 65

4.3.2 Phát triển kinh tế 66

4.4 Kinh tế các nước Xã hội chủ nghĩa thời kỳ từ 1991 đến nay 67

Câu hỏi ôn tập 69

CHƯƠNG 5 KINH TẾ LIÊN XÔ (cũ) 70

5.1 Đặc điểm kinh tế nước Nga trước cách mạng tháng Mười (1917) 70

5.1.1 Nước Nga phong kiến từ thế kỷ VI đến đầu thể kỷ XIX 70

5.1.2 Nước Nga tư bản chủ nghĩa (1861 – 1913) 70

5.2 Kinh tế Liên Xô thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội (1918 -1955) 70

5.2.1 Những cải cách sau cách mạng tháng 10 70

5.2.2 Thời kỳ nội chiến (1918 - 1920) 71

5.2.3 Thời kỳ khôi phục kinh tế (1921 – 1925) 72

5.2.4 Thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội 72

Trang 4

5.2.5 Thời kỳ chiến tranh vệ quốc (1941– 1945) 74

5.2.6 Thời kỳ hoàn thiện chủ nghĩa xã hội (1951 – 1955) 74

5.3 Kinh tế liên xô thời kỳ củng cố và hoàn thiện CNXH (1956 – 1990) 74

5.3.1 Đặc điểm kinh tế Liên Xô giai đoạn 1956 - 1975 74

5.3.2 Đặc điểm kinh tế trong giai đoạn 1976 - 1990 76

5.4 Kinh tế Nga thời kỳ hậu Liên Xô 76

5.4.1 Chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường 76

5.4.2 Kinh tế Nga hồi phục (1995 – nay) 77

Câu hỏi ôn tập 78

CHƯƠNG 6 KINH TẾ TRUNG QUỐC 79

6.1 Đặc điểm kinh tế Trung Quốc thời kỳ phong kiến 79

6.2 Kinh tế Trung Quốc từ ngày thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đến năm 1978 79

6.3 Kinh tế Trung Quốc từ 1978 đến nay 86

6.3.1 Kinh tế Trung Quốc từ năm 1978 tới năm 1987 86

6.3.2 Kinh tế Trung Quốc từ năm 1988 đến nay 91

Câu hỏi ôn tập 96

CHƯƠNG 7 KINH TẾ ASEAN 97

7.1 Kinh tế Asean trước khi giành độc lập 97

7.1.1 Cơ cấu kinh tế 97

7.1.2 Chính sách kinh tế 98

7.2 Kinh tế Asean sau khi giành độc lập 99

7.2.1 Sự xâm nhập của CNTD mới 99

7.2.2 Mô hình phát triển ASEAN 100

7.2.3 Những thành tựu và hạn chế 107

7.2.4 Một số kinh nghiệm của ASEAN 110

Câu hỏi ôn tập 111

CHƯƠNG 8 KINH TẾ VIỆT NAM 112

8.1 Kinh tế Việt Nam thời kỳ phong kiến 112

8.1.1.Kinh tế Việt Nam thời kỳ tiền phong kiến 112

8.1.2 Kinh tế Việt Nam thời kỳ phong kiến hóa (179 trước công nguyên đến 938) 115

8.2 Kinh tế Việt Nam thời kỳ thực dân Pháp thống trị 119

8.2.1 Kinh tế Việt Nam từ khi Pháp xâm lược đến chiến tranh thế giới lần thứ hai 119

8.2.3 Kinh tế trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) 119

8.3 Kinh tế Việt Nam thời kỳ 1955 - 1975 122

8.3.1 Đặc điểm tình hình và nhiệm vụ cơ bản của miền Bắc 122

8.3.2 Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội 123

8.3.3 Kinh tế miền Nam trong vùng Mỹ – Ngụy kiểm soát 132

8.3.4 Kinh tế trong vùng giải phóng 134

8.4 Kinh tế Việt Nam thời kỳ 10 năm đầu sau khi đất nước thống nhất (1976 – 1985) 136

Trang 5

8.4.1 Đặc điểm tình hình và đường lối phát triển kinh tế 136

8.4.2 Thực trạng nền kinh tế nước ta 1976 – 1985 138

8.5 Kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay) 141

8.5.1 Bối cảnh và nội dung đổi mới 141

8.5.2 Những chuyển biến của nền kinh tế 143

Câu hỏi ôn tập 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 7

CHƯƠNG MỞ ĐẦU KHÁI QUÁT VỀ HỌC PHẦN

1 Vị trí và tác dụng của học phần

Sự hình thành và phát triển của môn học: Môn lịch sử kinh tế được ra đời từ khi

chủ nghĩa tư bản xuất hiện ở Tây Âu Đến giữa thế kỷ XIX nó trở thành một môn khoa học độc lập tách khỏi các khoa học lịch sử và khoa học kinh tế để trưởng thành

lên với cuộc sống riêng của mình; Trước khi chủ nghĩa Mác ra đời, khoa học lịch sử

kinh tế theo quan điểm tư sản đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản chủ nghĩa: Đức, Anh, Pháp, Hà Lan,…Trong các nước đó có nhiều công trình nghiên cứu lịch sử kinh tế, nhưng các tác phẩm ấy còn thiên về mô tả sự phát triển kỹ thuật và lược bỏ tính chất xã hội trong sự phát triển Họ chứng minh tính ưu việt và tính vĩnh

hằng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

Chủ nghĩa Mác ra đời tạo nên một bước ngoặt cho khoa học xã hội nói chung, cho lịch sử kinh tế nói riêng Hai ông Mác và Ăngghen, đã sáng tạo ra môn lịch sử kinh tế trên quan điểm Mác xít và đã đặt nó vào vị trí xứng đáng Chính Mác -Ăngghen (và sau đó là Lênin) cũng đã rất chú trọng nghiên cứu lịch sử kinh tế

Từ đó đến nay, khoa học lịch sử kinh tế được phát triển mạnh mẽ trên thế giới ở các nước tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa

Ở nước ta, từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, môn khoa học này cũng ngày càng được chú trọng Trong vòng vài ba thập kỷ nay, ở nhiều Viện nghiên cứu và Trường đại học kinh tế đã thành lập các bộ môn chuyên nghiên cứu và giảng dạy môn học này, các ấn phẩm về lịch sử kinh tế cũng xuât hiện ở nước ta ngày càng nhiều

Vị trí của môn học: Môn lịch sử kinh tế quốc dân giữ một vị trí quan trọng trong

cơ cấu kiến thức của sinh viên và cán bộ kinh tế Đây là một môn học kinh tế cơ sở, trang bị những kiến thức kinh tế chung, tổng hợp, tạo nên cái “nền” để sinh viên đi vào tiếp thu kiến thức chuyên ngành được tốt hơn Nếu thiếu kiến thức lịch sử kinh tế thì sinh viên sẽ có “lỗ hổng” về lý luận kinh tế và có thể bị vấp váp, sai lầm trong hoạt

động thực tiễn về kinh tế

Môn lịch sử kinh tế ngày càng trở nên rất cần thiết đối với lý luận và thực tiễn vì

nó có nững tác dụng thiết thực, góp phần làm cho sinh viên:

- Nghiên cứu lịch sử kinh tế góp phần nâng cao trình độ lý luận kinh tế:

Những kiến thức về lịch sử kinh tế giúp cho sinh viên nắm vững lý luận kinh tế

cơ bản sâu sắc hơn và phong phú hơn trên cơ sở thực tiễn

Thực tế cho thấy, việc nghiên cứu đời sống kinh tế, điều kiện phát triển của xã hội, nghiên cứu sự sản xuất ra của cải vật chất chính là cơ sở khoa học trong việc xây dựng hệ thống lý luận kinh tế của C.Mác và Ph.Ăngghen chứng minh một cách tuyệt

Trang 8

diệu lý luận kinh tế của mình và phát hiện ra những quy luật phát sinh, phát triển và những mâu thuẫn trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước tư bản

Cũng từ nghiên cứu những diễn biến sinh động của thực tiễn lịch sử kinh tế của các nước trên thé giới, một số nhà kinh tế học đã đúc kết, xây dựng các lý thuyết phát triển kinh tế làm phong phú thêm kho tàng học thuyết kinh tế và có ý nghĩa chỉ đường cho thực tiễn xây dựng phát triển kinh tế của mỗi nước gắn với những giai đoạn lịch sử

cụ thể

- Học tập nghiên cứu lịch sử kinh tế sẽ giúp nắm bắt và học tập bài học kinh

nghiệm trong phát triển kinh tế:

Việc học tập, nghiên cứu lịch sử kinh tế sẽ giúp sinh viên nắm được những bài học kinh nghiệm về xây dựng, phát triển kinh tế của các nước cũng như của nước ta Những bài học kinh nghiệm này được rút ra từ những thành công, thậm chí cả từ những hạn chế trong sự phát triển kinh tế Điều đó giúp sinh viên hiểu được nguyên tắc kế thừa và phát triển trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế Mác đã viết:

“Mỗi hiện tượng xuất hiện nhất thiết phải từ trên một nền tảng kinh tế nhất định trực tiếp sẵn có, do quá khứ để lại” Đồng thời, từ nghiên cứu lịch sử kinh tế, sinh viên sẽ nhận thức được xu hướng và đặc điểm phát triển kinh tế của thế giới cũng như của Việt Nam

Khi nghiên cứu về kinh tế của các nước tư bản đã cho thấy vai trò của cach mạng khoa học công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự đa dạng của kinh té thị trường cũng như thấy được những khuyết tật của nó va sự cần thiết về chức năng điều tiết của nhà nước đối với các hoạt động kinh tế

Việt Nam đang trong giai đoạn thực hiện công cuộc hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh toàn cầu hoá và sự bùng nổ của cách mạng khoa học công nghệ thời đại đã làm thay đổi cả tư duy, nhận thức về công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thực tế, những bài học kinh nghiệm của các nước đi trước đều có ý nghĩa lý luận thực tiễn sâu sắc Điển hình như vấn đề về công nghiệp hoá, bài học kinh nghiệm được rút ra là cần phải xác định được mô hình công nghiệp hoá phù hợp để kết hợp tôi ưu nguồn lực bên trong, bên ngoài, gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá Mô hình công nghiệp hoá ở Việt Nam cần phải nắm vững các quan điểm: công nghiệp hoá phải bám sát xu thế vận động của kinh tế thế giới, vừa tạo điều kiện khai thác lợi thế của mình, vừa tận dụng những cơ hội do thời đại tạo ra; công nghiệp hoá phải hướng đến sự phát triển kinh tế bền vững

- Nâng cao lập trường tư tưởng cho sinh viên: Nghiên cứu lịch sử kinh tế, người

học sẽ nắm được thành tựu xây dựng và phát triển kinh tế của thế giới và của nước ta,

từ đó nâng cao lòng yêu nước chân chính kết hợp với tinh thần quốc tế xã hội chủ nghĩa, củng cố được nhận thức về xu thế tất yếu của xã hội loài người Đồng thời,

Trang 9

thông qua việc học tập lịch sử kinh tế, người học sẽ nhận thức rõ hơn cơ sở thực tiễn của các đường lối chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước

- Bồi dưỡng quan điểm lịch sử và quan niệm thực tiễn cho sinh viên: Có nghiên

cứu toàn bộ lịch sử phát triển của sự vật, hiện tượng, người học mới nắm bắt được vấn

đề một cách cơ bản nhất, khách quan nhất V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Muốn đề cập tới vấn

đề một cách đúng đắn, nghiêm chỉnh, chắc chắn thì trước hết phải nhìn toàn bộ lịch sử phát triển của nó.”Đồng thời, nắm được điều kiện lịch sử cụ thể thì người học mới hiểu

rõ và vận dụng đúng đắn kinh nghiệm lịch sử Rõ ràng, việc học tập, nghiên cứu môn

lịch sử linh tế sẽ bồi dưỡng cho sinh viên quan điểm lịch sử và quan điểm thực tiễn

2 Đối tượng và nhiệm vụ học phần

2.1 Đối tượng

Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử của các phương thức sản xuất nối tiếp nhau Mỗi phương thức sản xuất gồm có hai mặt: quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất - quan hệ biện chứng với nhau Do đó, đối tượng nghiên cứu của lịch

sử kinh tế là sự phát triển của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất Đồng thời, môn học còn đề cập đến một số yếu tố của kiến thức thượng tầng như đường lối chính sách kinh tế, luật pháp của nhà nước…

Lịch sử kinh tế nghiên cứu sự phát triển của quan hệ sản xuất vì quan hệ sản xuất là cơ sở kinh tế của hình thái kinh tế xã hội, biểu hiện tính chất xã hội của nền sản xuất Khi quan hệ sản xuất thay đổi thì xã hội cũng biến đổi từ hình thái này sang hình thái khác

Đồng thời, lịch sử kinh tế còn nghiên cứu sự phát triển của lực lượng sản xuất

vì lực lượng sản xuất nói lên trình độ chế ngự thiên nhiên, là tiêu chuẩn để phân biệt

sự khác nhau giữa các thời kỳ phát triển Hơn nữa, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn luôn quan hệ chặt chẽ với nhau

Lịch sử kinh tế nghiên cứu lực lượng sản xuất không phải chỉ để hiểu rõ sự tác động qua lại với quan hệ sản xuất mà còn để hiểu rõ được bản thân sự phát triển của lực lượng đó Tuy nhiên, lịch sử kinh tế nghiên cứu sự phát triển lực lượng sản xuất chủ yếu về mặt ý nghĩa kinh tế, xã hội của các công cụ lao động, của những phát minh sang chế đối với việc nâng cao năng suất lao động xã hội và trong việc cải tạo các mối quan hệ sản xuất cũ

Lịch sử kinh tế còn đề cập đến một số yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng như đường lối chính sách, luật pháp của nhà nước…vì các yếu tố đó trở thành những nhân

tố của sự phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định.Song việc đề cập đó chỉ là để làm rõ đối tượng nghiên cứu của lịch sử kinh tế mà thôi

Trang 10

2.2 Nhiệm vụ của

Lịch sử kinh tế có nhiệm vụ phản ánh thực tiễn lịch sử kinh tế một cách khoa học, trung thực, tức là phải thu thập, chọn lọc, mô tả được các hiện tượng và quá trình kinh tế, vẽ lại bức tranh toàn diện của nền kinh tế, nói lên được những điều kiện xuất hiện của các hiện tượng và sự kiện kinh tế

Nhưng lịch sử kinh tế không phải chỉ có nhiệm vụ mô tả các hiện tượng và quá trình kinh tế, mà trên cơ sở đó phải đúc kết rút ra được những bài học kinh nghiệm để giúp ích cho công việc xây dựng kinh tế hiện tại, qua mỗi quá trình lịch sử kinh tế cụ thể phải tìm ra những đặc điểm và những quy luật đặc thù

3 Phương pháp nghiên cứu của học phần

- Phương pháp luận nghiên cứu của lịch sử kinh tế quốc dân là phương pháp

duy vật biện chứng Phương pháp duy vật biện chứng nhìn nhận các hiện tượng và quá trình hoạt động của nền kinh tế trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, có phủ định và

kế thừa nhau trong sự vận động và phát triển không ngừng Do vậy, khi nghiên cứu lịch sử kinh tế không chỉ chú ý đến các hiện tượng kinh tế riêng biệt mà còn phải chú ý xem xét, phân tích và đánh giá các hiện tượng kinh tế trong mối liên hệ phổ biến vì nền kinh tế như một cơ thể sống luôn diễn ra đa dạng, phức tạp và nhiều khi hàm chứa

cả mâu thuẫn Điều đó có nghĩa là khi nghiên cứu lịch sử kinh tế, nếu chỉ tách biệt để phân tích hiện tượng kinh tế một cách riêng biệt thì dễ dẫn đến những kết luận chủ quan mà không thấy được động thái tích cực và xu hướng vận động của nền kinh tế trong sự tác động tương tác của nhiều nhân tố Trong đó, có những nhân tố mang tính quyết định, phản ánh đặc trưng và phát triển của nền kinh tế

- Cơ sở lý luận của lịch sử kinh tế là cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, các lý thuyết kinh tế học và đường lối, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta

Đó cũng chính là cơ sở để xác định những phương pháp cụ thể trong phân tích và đánh giá động thái phát triển của nền kinh tế, luận giải về các sự kiện, các hiện tượng và quá trình kinh tế của các nền kinh tế quốc dân

Trong nghiên cứu, lịch sử kinh tế quốc dân sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Phương pháp lịch sử là phương

pháp nghiên cứu sự phát triển kinh tế gắn với các sự kiện, hiện tượng kinh tế theo tiến trình thời gian và trong hoàn cảnh cụ thể Sử dụng phương pháp này, khoa học lịch sử kinh tế mới có thể thực hiện tốt nhất nhiệm vụ phản ánh trung thực, khách quan lịch sử phát triển của các nền kinh tế quốc dân

Phương pháp logic là phương pháp nghiên cứu bỏ qua những hiện tượng kinh tế ngẫu nhiên, đi vào bản chất của hiện tượng kinh tế, từ đó khái quát lý luận của tiến trình phát triển kinh tế của các quốc gia

Trang 11

Phương pháp lịch sử cũng như phương pháp logic đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Phương pháp lịch sử có ưu điểm là hết sức rõ ràng, cụ thể nhưng lại

Thực tế cho thấy, khi nghiên cứu lịch sử kinh tế nếu các hiện tượng kinh tế không rõ ràng, đầy đủ thì những kết luận khoa học rút ra từ các sự kiện kinh tế cụ thể

sẽ không chắc chắn và kém thuyết phục vì lịch sử kinh tế luôn diễn ra với tính muôn màu, muôn vẻ của nó Do vậy, nếu chỉ sử dụng phương pháp lịch sử đơn thuần sẽ không giúp được nghiên cứu nắm đươc chân lý khách quan

- Phương pháp phân kỳ lịch sử: Trong nghiên cứu, lịch sử kinh tế phân chia quá

trình phát triển kinh tế thành các thời kỳ và giai đoạn khác nhau Phương pháp này nhằm làm rõ đặc trưng trong phát triển kinh tế của các nước trong từng thời kỳ và từng giai đoạn lịch sử cụ thể

- Các phương pháp tiếp cận liên ngành: Trong nghiên cứu, lịch sử kinh tế còn

sử dụng kết hợp các phương pháp khác như” các phương pháp thống kê, phương pháp toán kinh tế, phương pháp đối chứng, so sánh, phương pháp xã hội học…Thực tế, yêu cầu phát triển khoa học ngày nay gắn với quá trình chuyên môn hoá, chuyên ngành hoá và gắn với quá trình mở rộng, lien kết thâm nhập vào nhau, hoà quyện lẫn nhau giữa các chuyên ngành khoa học Phương pháp lien ngành nảy sinh trong bối cảnh như thế và ngày càng trở thành xu thế quan trọng trong đời sống học thuật Tiếp cận theo phương pháp nghiên cứu liên ngành đòi hỏi phải tăng cường các hoạt động thông tin khoa học, tổ chức nhiều hội thảo bao gồm chuyên gia của các chuyên ngành khác nhau cùng luận bàn những vấn đề liên quan trong tiếp cạn nghiên cứu của mình Đồng thời, tiếp cạn liên ngành cần có sự kết hợp chặt chẽ hài hoà giữa các phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại, phải tìm cách cập nhật thành tựu mới của khoa học - công nghệ và nhanh chóng hiện đại hoá phương pháp nghiên cứu

Câu hỏi ôn tập

1 Trình bày vai trò, vị trí của môn Lịch sử kinh tế quốc dân

2 Trình bày đối tượng nghiên cứu của môn Lịch sử kinh tế quốc dân

3 Trình bày các phương pháp nghiên cứu cơ bản của môn Lịch sử kinh tế quốc dân

Trang 12

CHƯƠNG 1 KINH TẾ CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

1.1 Sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

1.1.1 Sự phân công lao động và trao đổi hàng hóa

Sự phân công triệt để giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp và sự trao đổi giữa

hai khu vực đó

Sau khi đế quốc La Mã sụp đổ, các lãnh địa phong kiến được hình thành Trong các lãnh địa phong kiến, tuy chưa có sự thay đổi lớn về kỹ thuật canh tác, người nông dân trong hoàn cảnh mới không còn như thời nô lệ, đã nhiệt tình hơn với sản xuất, do

đó cung cấp nhiều lương thực, thực phẩm cho lãnh chúa Người nông dân đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm canh tác, áp dụng nhiều biện pháp thâm canh, mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp Một số nông dân đã có thể tách một phần hay toàn bộ nông thôn ra thị trấn làm nghề thủ công đáp ứng nhu cầu của lãnh chúa Sản xuất phát triển do năng suất lao động nông nghiệp tăng, đã có nhiều sản phẩm trao đổi lấy hàng thủ công

Trong nghề thủ công, kỹ thuật đúc và chế biến kim loại, dệt vải, thuộc da, sản xuất gỗ hay đẽo đá có nhiều tiến bộ trong phạm vi từng lãnh địa Nhu cầu của lãnh chúa ngày càng tăng lên Địa tô thu về được nhiều, tầng lớp phong kiến tha hồ tiêu xài, thừa để trao đổi lấy hàng thủ công cần thiết Các quý tộc, trước kia may âu phục bằng vải lanh hay da cừu, áo choàng bằng len Muốn sản xuất loại hàng đặc biệt này, phải

có chỗ ổn định, rộng rãi có thiết bị và người có chuyên môn Các lãnh chúa cần có nhà thờ bề thế để cúng lễ, có tu viện để đào tạo thầy tu, có lâu đài tráng lệ bằng đá, cao, chắc chắn để tự vệ Nhu cầu mới nảy sinh, lại xuất hiện nhiều loại thợ, nhiều xưởng biệt lập

Đến thế kỷ XI, lực lượng sản xuất trong nông nghiệp và thủ công nghiệp trong phạm vi lãnh địa đã đạt được một khối lượng sản phẩm mới Nông nghiệp và thủ công nghiệp biệt lập, thủ công nghiệp không thể là cái đuôi của công nghiệp như trước kia

1.1.2 Thành thị phong kiến Châu Âu

Là những thành phố tự do, không thuộc sự khống chế của lãnh chúa phong kiến, trong đó thủ công nghiệp là ngành kinh tế chính Bên cạnh đó các ngành thương nghiệp, cho vay lấy lãi phát triển Mỗi nghề đều có tổ chức nghề nghiệp, những phường hội Có phường hội về từng nghề thủ công và buôn bán Trong thành thị phong kiến, lúc đầu người thợ thủ công vừa là người sản xuất ra vật phẩm, vừa là người đem chào hàng, bán sản phẩm Nhưng khi thị trường tiêu thụ hàng hóa mở rộng

ra ngoài phạm vi thành thị, thì xuất hiện người chuyên mang hàng của xưởng thợ đi bán, đi mua nguyên vật liệu cho xưởng thợ đó sản xuất, đó là những thương nhân Thương nhân hợp thành từng đoàn người đi khắp lục địa châu Âu sang Ấn Độ để bán hàng Trên đường đi, có chỗ dừng chân, gặp nhau để trao đổi hàng ở một số địa

Trang 13

điểm nhất định gọi là hội chợ Hội chợ lớn đầu tiên trên thế giới là hội chợ Sampannhơ (Pháp)

Khi mang hàng bán, thương nhân cần nhiều tiền để mua hàng Đầu tiên, những thương nhân thừa tiền cho thương nhân khác vay, về sau hình thành dẫn những tổ chức cho vay Tổ chức cho vay lớn nhất thế giới vào thế kỷ XIV, XV là các hãng Mêdêli (Ý), Vendecốp (Đức) Các hãng này không chỉ là chủ nợ của các thương nhân, mà cả của các quý tộc, vua chúa

Thương nhân giàu có trở thành những nhân vật trung tâm trong thành thị phong kiến Thừa tiền, họ tự đứng ra tổ chức xưởng thợ, thuê lao động, tự sản xuất hàng hóa đem bán theo nhu cầu của thị trường, không cần lệ thuộc vào người thợ thủ công nữa Như vậy, đã xuất hiện một tầng lớp người mới Họ không trực tiếp lao động, có vốn, thuê lao động để bóc lột Đó là mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện ở một số thành phố ven bờ Địa Trung Hải vào thế kỷ XIV-XV, nhưng thời đại của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ bắt đầu từ thế kỷ XVI, nó gắn liền với nhiều điều kiện mới

1.1.3 Tác động của phát kiến địa lý

Ở Tây Âu: Vào thế kỷ XV, nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển, nhưng ở

các quốc gia phong kiến lại không có tiền, vàng để thanh toán các khoản chi phí xa xỉ trong triều đình Vua chúa nợ con buôn đã nhiều, ngân khố Nhà nước vẫn rỗng “Khát vàng” là động lực, thúc đẩy các quốc gia phong kiến tìm con đường sang phương Đông để kiếm vàng, nhưng con đường quen thuộc trên Địa Trung Hải để sang Ấn Độ

đã bị đế quốc Thổ chiếm giữ Nhà nước phong kiến Tây Ban Nha đã đi đến giai đoạn phong kiến tập quyền, đang hung cường nhất, đã bắt buộc phải tổ chức những con đường mới sang phương Đông: năm 1492, Cristoforo Colombo đi vào vùng Caribe khám phá ra châu Mĩ; năm 1496, Vasco da Gama đi sâu vào lục địa châu Phi, cuối cùng đến Ấn Độ, từ năm 1519-1521, Ferdinand Magellan kế thừa thành tựu của các cuộc thám hiểm trên, tìm ra con đường vòng quanh thế giới Hành trình vòng quanh thế giới của ông đã chứng minh là người ta có thể đi buôn bán bất cứ từ đâu, có thể

đến bất cứ nơi nào, mà vẫn có thể trở lại chỗ cũ được

Các cuộc thám hiểm đó ảnh hưởng đến quá trình hình thành phương tức sản xuất

tư bản chủ nghĩa ở châu Âu:

- Thị trường thế giới và những tác động về thương nghiệp: Những lục địa mới

phát triển là thị trường rộng lớn cho hàng hóa ở châu Âu tiêu thụ, đồng thời là những nơi cung cấp các nông sản phẩm đa dạng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp ở châu Âu phát triển Trước năm 1500, người ta biết diện tích quả đất là 50 triệu km2, đến năm 1600 thì diện tích đó là 310 triệu km2 Nhiều nông sản phẩm trước kia chưa

hề biết như thuốc lá, ca cao, cà phê, chè,…đã được nhập vào ngày càng nhiều Nhiều

Trang 14

loại trước đã có thì nay tăng gấp bội như hồ tiêu từ 200 tấn tăng lên 7.000 tấn Phương pháp thương nghiệp quốc tế thay đổi: nhiều nước thành lập các tổ chức thương nghiệp độc quyền, chuyên bán một thứ hàng ở một thị trường nhất định, như công ty Phi Châu

ở Anh, công ty Đông Ấn ở Hà Lan, Anh…Trung tâm buôn bán cũng thay đổi, từ Địa Trung Hải chuyển lên phía Bắc Âu Từ thế kỷ thứ XVI về trước, các thành phố miền Bắc nước Ý nổi tiếng Từ thế kỷ XVI về sau, các thành phố của các nước Anh, Pháp,

Hà Lan…Nghiệp vụ thương nghiệp quốc tế thay đổi người ta không cần mang hàng đến chỗ buôn bán, mà chỉ mang hàng mẫu, rồi kí hợp đồng, nhận hàng và trả tiền Các hình thức tín dụng, kế toán thương mại quốc tế… trở thành công cụ phổ biến trong

mọi hình thức buôn bán

- Cách mạng giá cả ở châu Âu: Gây ảnh hưởng lớn đến quá trình tan rã của chế

độ phong kiến, thúc đẩy quá trình hình thành chủ nghĩa tư bản

Từ những lục địa mới, vàng và bạc bị cướp về châu Âu Trong thế kỷ XVII khối lượng vàng ở châu Âu tăng từ 590.000 kg lên 1.192.000 kg, bạc từ 7 triệu kg tăng lên 21,4 triệu kg Kim loại quý tăng lên hay phương tiện thanh toán tăng lên, trong khi đó

số lượng hàng hóa sản xuất ra không thay đổi tương ứng Do vậy, giá cả làm thay đổi tình hình kinh tế xã hội ở châu Âu Tầng lớp phong kiến vì thu tô bằng tiền bị phá sản Thương nhân có dịp làm giàu và tích lũy Người lao động trong các xưởng thợ gặp khó khăn Cuộc “cách mạng giá cả” tác động một cách khách quan đến sự hình thành quan

hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa làm tan rã cơ sở kinh tế của chế độ phong kiến

- Xuất hiện chế độ bóc lột thuộc địa: Những vùng đất mới trở thành những nơi bị

xâm chiếm để khai thác tài nguyên, cưỡng bức cung cấp lao động và phải trao đổi hàng hóa không bình đẳng Vương quốc thuộc địa đầu tiên của thế giới là Bồ Đào Nha

và Tây Ban Nha và ngoài ra còn Anh, Pháp, Hà Lan Chế độ thuộc địa chỉ mới bắt đầu vào thế kỷ thứ XVI, XVII, nhưng các thủ đoạn bóc lột thuộc địa dần dần được áp dụng phổ biến cho đến nay, như buôn bán không ngang giá, khai thác vơ vét tài nguyên mang về chính quốc

1.1.4 Tích luỹ nguyên thuỷ tư bản

Bản anh hùng ca của phát kiến địa lý vĩ đại mở ra thời đại tích lũy nguyên thủy của tư bản Đó là quá trình dùng bạo lực để tạo ra nguồn vốn và lao động làm thuê cho chủ nghĩa tư bản

Quá trình tích lũy nguyên thủy tư bản ở mỗi nước có những nét riêng biệt, diễn ra

ở nhũng thời điểm khác nhau Ví dụ điển hình là của nước Anh, quá trình tích lũy nguyên thủy diễn ra sớm và mang nhiều phương pháp điển hình như tước đoạt ruộng đất của người dân, buôn bán nô lệ và cướp biển, xâm chiếm thuộc địa, phát hành công trái, thực hiện chế độ bảo hộ công nghiệp, độc quyền, ngoại thương… Bằng những

Trang 15

biện pháp đó, đến cuối thế kỷ XVI, tư bản Anh đã tích lũy được khoảng 1 triệu phun – Steclinh vàng và bạc và có một nguồn lao động làm thuê

1.1.5 Phát triển kỹ thuật

Thế kỷ XV-XVI có nhiều tiến bộ kỹ thuật về năng lượng và luyện kim Thế kỷ thứ XVI có hai sang kiến trong lĩnh vực năng lượng là sử dụng sức gió trong công việc xay bột và dùng động lực sức nước trong nhiều ngành sản xuất như xay bột, khai thác than, đặc biệt trong ngành luyện kim

Vào thế kỷ thứ XV,XVI, ở châu Âu, phong kiến có nhiều nhu cầu về kim loại cả

về số lượng và chất lượng để chế tạo vũ khí, đóng tàu… phục vụ chiến tranh và xâm chiếm thuộc địa Những phương pháp sản xuất mới giữ được nhiệt độ cao và liên tục, cho phép luyện được những mẻ kim loại lỏng, đúc những công cụ mà người ta muốn

Số lượng kim loại tăng lên, phương pháp chế biến kim loại thay đổi theo Những công cụ để chế biến kim loại cũng thay đổi: Đã xuất hiện những loại búa đơn giản, máy bào, gọt, mài thô sơ, đã có bộ cần trục thô sơ hạ sâu trong lòng mỏ Đến cuối thế

kỷ XVI đã chế tạo được đồng hồ xách tay Cơ cấu của bộ máy tự động là điểm xuất phát cho những suy nghĩ phát minh sau này

Trong ngành dệt, bàn dệt hoàn toàn bằng thủ công dần dần được cải tiến, lắp bàn đạp thay cho thao tác của hai bàn tay Trong nông nghiệp, tăng diện tích gieo trồng, tạo giống mới Lực lượng sản xuất và phân công xã hội phát triển ngày càng mâu thuẫn với phạm vi chật hẹp của nền sản xuất nhỏ trong các thành phố trung cổ Thị trường mỏ rộng vốn và lao động làm thuê càng tăng và cơ sở kỹ thuật được cải tiến đã tạo điều kiện để tổ chức sản xuất với quy mô lớn hơn Công trường thủ công tư bản chủ nghĩa ra đời là hình thức quá độ từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa, giữ vai trò thống trị ở châu Âu từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII

1.2 Kinh tế các nước tư bản thời kỳ tự do cạnh tranh

1.2.1 Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa giữ vai trò thống trị

Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa và quan hệ sản xuất phong kiến dẫn đến cuộc cách mạng tư sản nhằm lật đổ chế độ phong kiến: ở Hà Lan (1556); Anh (1640 - 1660); Pháp (1789 - 1794); Mỹ (1864 - 1865); Nga (1861); Nhật (1868), Trung Quốc (1911) … Đến thế cuối thế kỷ XIX, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã hình thành và phát triển ở nhiều nước trên thế giới

Chủ nghĩa tư bản ở Anh, Hà Lan thuộc dạng cổ điển có đặc trưng sau: cách mạng ruộng đất bắt đầu sớm, chủ nghĩa tư bản phát triển mạng trong nông nghiệp, tài nguyên của các nước thuộc địa, chính sách của nhà nước phong kiến ảnh hưởng đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản

Trang 16

Ở Mỹ, Canađa, Úc, Tây Ban Nha chủ nghĩa tư bản phát triển trong nông nghiệp bằng con đường trang trại Ở Pháp chủ nghĩa tư bản ở nông thôn có điều kiện thuận lợi

vì cách mạng tư sản triệt để hơn đã quét sạch các đẳng cấp phong kiến

Con đường phát triển CNTB ở các nước Đức, Balan, Hunggari, Rumani, Nhật và Nga là con đường phong kiến kiểu Phổ: Chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp phát triển chậm chạp do các tàn dư của chế độ nông nô phong kiến

Chủ nghĩa tư bản ở các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, Inđônêxia, các nước Ảrập, các nước châu Mỹ La tinh phát triển theo dạng thuộc địa, chế độ phong kiến bị kỳm hãm

Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được bảo hộ về mặt pháp lý ở nhiều nước sau

khi cách mạng tư sản thành công

1.2.2 Cách mạng công nghiệp và hậu quả của nó

1.2.2.1 Cách mạng công nghiệp Anh

Nước Anh là nước đầu tiên thực hiện CM công nghiệp, cách mạng công nghiệp không phải là hiện tượng kỹ thuật thuần túy, mà còn biểu hiện tính chất kinh tế xã hội, tác động lớn đến quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản

Tiến trình của cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh

- Cách mạng công nghiệp bắt đầu từ việc phát triển công cụ sản xuất

+ Năm 1733, John Kay đã chế tạo ra thoai bay chạy bằng dây và sức đẩy của bàn đạp thay thế việc đưa thoi bằng tay

+ Năm 1768, James Hargreave tạo ra máy kéo sợi có năng suất cao

+ Năm 1779, Samuel Compton đóng được máy kéo sợi có ưu điểm mịn, đẹp + Năm 1785, Edmund Cartwright đã chế tạo hoàn chỉnh được máy dệt, nâng năng suất dệt lên 40 lần

- Nhu cầu về kim loại có chất lượng tốt để chế tạo máy mới ngày càng tăng + Năm 1735, Derbi cải tiến cách chế than cốc

+ Năm 1784, Henry Cort phát hiện ra cách dùng than đá nấu gang thành sắt

- Cách mạng trong lĩnh vực năng lượng có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển ngành công nghiệp Năm 1784, James Watt đã sáng chế ra máy hơi nước

Trang 17

- Ngành công nghiệp cơ khí và chế tạo máy chính xác ra đời và phát triển: Năm

1789, Modeale chế tạo ra máy phay, máy bào, máy tiện

- Công nghiệp phát triển, yêu cầu về tăng cường các phương tiện giao thông và đường giao thông

+ Cách mạng công nghiệp bắt đầu từ việc xây dựng kênh đào: Năm 1755, kênh đào đầu tiên được xây dựng dài 11 dặm gần Liverpool Trong khoảng ¼ đầu thế kỷ XIX, ở nước Anh có đến 4.670 dặm kênh đào

+ Giai đoạn 2 mở đầu bằng việc đóng tầu thủy Năm 1807, Robert Fulton đã chế ra tàu thủy chạy bằng hơi nước thay thế cho những mái chèo hay những cánh buồm

+ Từ năm 1812 – 1854, là giai đoạn thứ 3 của cuộc cách mạng trong giao thông vận tải - giai đoạn xây dựng đường sắt Năm 1814, chiếc đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước đã ra đời Đến năm 1829, vận tốc xe lửa đã lên tới 14 dặm/giờ Năm

1830, đường sắt chạy từ Manchester đến Liverpool được xây dựng, tuyến đường này

có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động buôn bán của nước Anh

Đặc điểm của cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh:

Bắt đầu từ công nghiệp nhẹ (ngành dệt) rồi dẫn đến các ngành công nghiệp nặng: luyện kim, cơ khí Từ các công cụ đến các máy động lực với đỉnh cao nhất là máy hơi nước, nó tuân theo từ trình tự từ thấp đến cao, từ thủ công lên nửa cơ khí và

cơ khí Đó cũng là quá trình bót lột nhân dân lao động trong nước và thuộc địa

Hậu quả kinh tế - xã hội của cuộc cách mạng công nghiệp:

- Dân cư trong nước bị xáo trộn, lực lượng sản xuất mới xuất hiện được phân bố lại, nhiều thành phố lớn xuất hiện Dân cư thành phố tăng lên 3,5 lần (1750 - 1871) Ngược lại dân cư nông thôn giảm đi nhanh chóng năm 1871 chỉ còn 14,1% trong tổng

số 22 triệu dân Trong thời gian từ 1815 – 1880 có 8 triệu người Anh di cư đến các vùng đất thuộc địa mới

- Trong xã hội hình thành nên giai cấp mới đối lập với giai cấp tư sản đó là giai cấp vô sản

- Ruộng đất chủ yếu tập trung vào tay địa chủ lớn

Nước Anh nhờ cuộc cách mạng công nghiệp trở thành “công xưởng của thế giới”, năm 1848 sản lượng công nghiệp của Anh chiến 45% sản lượng công nghiệp thế giới Nước Anh chở thành “chủ nợ, là trung tâm cho vay của thế giới tư bản”, “người thương nghiệp quốc tế”

1.2.2.2 Cách mạng công nghiệp Pháp và Đức

* Cách mạng công nghiệp ở Pháp:

Bắt đầu từ năm 1815 – 1830, có đặc điểm

Trang 18

- Quá trình tích lũy vốn chậm và yếu ớt hơn so với Anh Phương pháp chủ yếu bằng thuế cao, tích lũy vốn từ các thuộc địa

- Cách mạng công nghiệp Pháp bắt đầu từ công nghiệp nhẹ, cụ thể là ngành dệt lụa Quá trình đó được chia làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: (1815 - 1848) đánh dấu bằng sự tăng cường máy móc trong nông

nghiệp và phát triển sản xuất

Giai đoạn 2: (từ những năm 50 của thế kỷ XIX đến những năm 20 của thế kỷ

XX) Từ năm 1850 – 1870 số lượng máy hơi nước tăng lên không ngừng tới 24.000 chiếc

Nước Pháp hoàn thiện quá trình công nghiệp hóa vào những năm 20 của thế

XX, sau gần 100 năm (1830 – 1920) Đến khi hoàn thành cách mạng công nghiệp, tuy

đã có hệ thống công nghiệp nặng và nhẹ, song sản xuất lớn tập trung vẫn chưa đóng vai trò chính, sản xuất ở các công trường thủ công còn phổ biến Những năm 60 của thế kỷ XIX, nước Pháp có 3 triệu công nhân, song 4/10 làm việc tại các công xưởng, còn lại làm trong các xưởng tiểu thủ công nghiệp Nền nông nghiệp tiểu nông, phân tán, lạc hậu Trong số 15 triệu lao động của cả nước lao động nông nghiệp chiếm 7 triệu CNTB xâm nhập vào nông thôn nhưng không diễn ra dưới hình thứ trang trại như ở Anh, mà ruộng đất tập trung vào tay địa chủ, phát canh thu tô, dẫn đến một tầng lớp tá điền đông đảo và sử dụng công cụ lao động lạc hậu so với châu Âu

Vào những năm 70 của thế kỷ XX, cơ cấu kinh tế của nước Pháp là cơ cấu công nông nghiệp phát triển Trong công nghiệp hàng tiêu dùng vẫn chiếm tỷ trọng lớn về giá trị và sản lượng Từ 1870 đến 1913, cơ cấu thay đổi rất chậm chạm và ngày càng lạc hậu so với các nước tư bản khác, đứng sau Mỹ, Anh, Đức

diễn ra khẩn trương hơn

1.2.3 Sự phát triển kinh tế của các nước tư bản

Nhờ có tác động của cách mạng công nghiệp, kinh tế các nước tư bản đã có sự phát triển vượt bậc trong khoảng 20 cuối thời kỳ trước độc quyền

Trang 19

Sự phát triển của công nghiệp và giao thông vận tải đòi hỏi nguồn vốn rất lớn

đã thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng và các công ty cổ phần

Cách mạng công nghiệp cũng đã thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa ở tất cả các nước, năm 1870 tỷ lệ dân cư đô thị Đức là 32,5%, Pháp là 31%

Cách mạng công nghiệp đã diễn ra sớm ở các nước tư bản khác bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ XVIII đến những năm 70 của thế kỷ XIX Hệ thống công xưởng cơ khí đã thay thế hệ thống công trường thủ công Nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất trong chủ nghĩa tư bản đã tăng nhanh hơn nhiều so với thời kỳ phong

kiến

1.3 Kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa thời kỳ độc quyền

1.3.1 Thời kỳ độc quyền hóa (1871 – 1913)

* Công xã Pari (1871)

Đánh dấu sự kết thúc thời kỳ phát triển “tiến bộ”, thuận chiều của chủ nghĩa tư bản Từ đó, nó bước sang giai đoạn mới - giai đoạn phát triển và khủng hoảng xen kẽ, giai đoạn độc quyền hóa (1871-1913) bắt đầu từ khi nền kinh tế tư bản có những phát minh mới trong các lĩnh vực sản xuất, vận tải, và đời sống Trước hết phải kể đến những phát minh về năng lượng

Ở giai đoạn trước, nếu hơi nước là nguồn năng lượng chủ yếu, thì thời kỳ này là điện và hơi đốt Sự phát minh ra điện được các nhà khoa học ứng dụng trong các ngành kinh tế (máy phát điện, máy biến thế, tàu chạy bằng điện, bóng đèn điện, )

Việc phát minh ra điện năng cho phép chuyển những động cơ đi xa nơi cung cấp điện Đó là một ưu thế lớn của điện so với hơi nước Do phát hiện ra dầu lửa năm

1870, người ta phát minh ra đầu máy chạy bằng động cơ đốt trong, rồi một phương tiện vận tải mới ra đời (ô tô năm 1883 -1985), một loại đầu máy mới có sức kéo mạnh

ra đời - đầu máy diezen (1891)

Trong lĩnh vực hóa học, người ta khám phá những nguyên tắc phân tích và tổng hợp các chất Đó là những nguyên tắc để chế ra các loại thuốc nhuộm, thuốc chữa bệnh, nước hoa,

Kỹ thuật mới và việc khám phá ra quá trình công nghiệp hóa là tiền đề cho phát minh phương pháp luyện kim mới, phương pháp chế biến kim loại có chất lượng tốt (phương pháp luyện thép của Becxme và Mactanh vào những năm 50,60 của thế kỷ XIX; từ ngành chế tạo máy làm chai tự động, máy dệt, tự động, máy in,

* Kỹ thuật phát triển làm xuất hiện nhiều hình thức sản xuất và kinh doanh mới trên thế giới

Xuất hiện nhiều ngành công nghiệp mới như ngành điện, ngành khai thác và chế biến dầu lửa, ngành hóa chất; ngành cơ khí chế tạo ô tô mới ra đời, cơ cấu sản xuất đã thay đổi

Trang 20

Tiền đề xuất hiện các tổ chức sản xuất mới: quá trình công nghiệp mới cho phép thay thế những lò luyện kim nhỏ bằng những xí nghiệp luyện kim lớn có chu trình hoàn chỉnh Điện năng phát triển cho phép mở rộng các công xưởng không cần gần nơi phát điện

Hình thức tích tụ, tập trung vốn mới xuất hiện - công ty cổ phần Công ty cổ phần trở thành một hình thức trung gian giữa những hãng riêng lẻ của thế kỷ XIX với tư bản độc quyền của thế kỷ XX Công ty cổ phần đã giải thoát sự hạn chế của các tư bản cá biệt; mở rộng khả năng phát triển sản xuất Nó là bước đầu của các hình thức công ty độc quyền sau này, như carten (về giá cả), syndicate (về tiêu thụ), trust (sản xuất và tiêu thụ), consortium (sản xuất, tiêu thụ và tài chính) Lúc đầu, nó chỉ xuất hiện trong một số ngành nhất định, nhưng về sau, theo mối liên hệ dây chuyền, các tổ chức độc quyền mở rộng ra trong nhiều ngành khác (công nghiệp - ngân hàng) thành tư bản tài chính Quá trình này đã diễn ra trong những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Tư bản mỗi nước đi lên con đường độc quyền hóa theo thế mạnh và cách thức riêng của mình Đến đầu thế kỷ XX tính chất độc quyền hóa trong các nước tư bản phương Tây định hình Đó là thời kỳ tư bản tài chính nắm quyền thống trị Các tập đoàn tư bản độc quyền chia nhau giành giật thị trường Từ năm 1876 đến năm 1914, sáu nước lớn (Anh, Nga, Pháp, Nhật, Đức, Mỹ) chia nhau cướp bóc 25 triệu km2 đất đai của các thuộc địa (bằng 2,5 lần châu Âu và nô dịch 500 triệu người các nước này) Chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha (1898), Nga - Nhật (1905) là những mốc đánh dấu các chặng đường giành giật thị trường ở các thuộc địa, giữa các nhóm tư bản độc quyền ở các nước Đến trước chiến tranh thế giới thứ I, các nước tư bản phát triển sớm (như Anh, Pháp…) đã chiếm “xong” các thuộc địa Những nước đế quốc khác muộn màng hơn (như Mỹ, Nhật, Đức…) không có thuộc địa để bành trướng, tìm nguyên liệu cho công nghiệp và đầu tư Tư bản Đức phát triển, lấn át tư bản các tổ chức độc quyền của Anh, Pháp, Đức…đã dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới thứ I (1914-1918)

Biểu đồ 1.1 Tỷ trọng công nghiệp của các nước tư bản năm 1913

1.3.2 Thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 – 1939)

Chiến tranh thế giới thứ nhất đã làm cho loài người phải chịu những tổn thất ghê gớm: Trong chiến tranh thế giới thứ nhất 70 triệu người phải ngừng sản xuất, gần 10 triệu người bị chết, 20 triệu người bị thương, sản lượng công nghiệp giảm 50% so với trước

Mü 38%

§øc 16%

Anh 13%

Ph¸p 11%

C¸c n-íc kh¸c 22%

Trang 21

chiến tranh, 1/6 của cải vật chất của loài người bị hủy hoại (trị giá tới 208 tỷ đô la) Tất cả các nước tham gia chiến tranh đều bị thiệt hại, chỉ có 2 nước giàu lên do chiến tranh (Mỹ, Nhật) Thu nhập của Mỹ tăng 40% của Nhật tăng 25% do bán vũ khí, lương thực cho các bên tham gia chiến tranh hoặc cho các thuộc địa của các nước tham chiến

Đặc điểm kinh tế các nước tư bản thời kỳ này: Nền kinh tế tư bản lâm vào tình trạng khủng hoảng và phát triển bấp bênh vì những mâu thuẫn vốn có của nó và vì xuất hiện một nước xã hội chủ nghĩa sau Cách mạng tháng Mười Nga thành công.Thời

kỳ này, có thể chia thành nhiều thời kỳ nhỏ với những đặc trưng riêng của nó Từ 1918

- 1921 đánh dấu những cơn suy thoái sai chiến tranh, và có cuộc khủng hoảng năm

1920 - 1921 Từ năm 1921 - 1929, kinh tế các nước tư bản đã được khôi phục và phát triển vượt mức trong chiến tranh 2 - 3 lần.Nhưng sau đó, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa lại gặp những mâu thuẫn mới, dẫn đến cuộc khủng hoảng năm 1929 - 1933 Đây là một cuộc khủng hoảng toàn diện, một cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới lớn nhất từ trước đến nay Năm 1933 nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới bị giảm 37% so với năm 1929 Năm 1936, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt đâu khôi phục lại đạt mức năm

1928 Một năm sau nổ ra cuộc khủng hoảng kinh tế mới Cuộc khủng hoảng này kéo theo khủng hoảng về chính trị Cao trào cách mạng đã nổ ra ở nhiều nước đặc biệt ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam.Trước sự đe dọa đó, chủ nghĩa phát xít xuất hiện ở Đức, Ý, Nhật đòi chia lại thị trường thế giới Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra là biểu hiện cao nhất của những mâu thuẫn sâu sắc giữa các nước đế quốc Chiến tranh thế giới thứ hai đã gây nên tổn thất to lớn: Hơn 50 triệu người bị chết, của cải bị tàn phá trị giá 962 tỷ đô la Riêng Mỹ là một nước tư bản chủ nghĩa được giàu có lên sau chiến tranh này

1.4 Thời kỳ sau chiến tranh thế giới 2 (1946 – đến nay)

1.4.1 Giai đoạn khôi phục kinh tế (1945 – 1950)

Các nước thực hiện tái thiết kinh tế sau chiến tranh

Một số tổ chức lớn ra đời: IBRD (Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế), IMF (Quỹ tiền tệ quốc tế), GATT (Hiệp định chung về thương mại và thuế quan); Hiệp ước Bretton Woods về chế độ tỷ giá cố định (35 USD = 1 ounce Au)

Mỹ thực hiện kế hoạch Marshall viện trợ cho Tây Âu

Hầu hết các nước tư bản đã khôi phục nền kinh tế, ngang bằng và vượt mức trước chiến tranh (năm 1938), nền kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng với tốc độ khá cao

1.4.2 Giai đoạn tăng trưởng (1951 – 1973)

Trong thời gian từ 1951 - 1973, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát triển với nhịp độ nhanh chóng, với nhiều hiện tượng kinh tế - xã hội mới xuất hiện

* Về công nghiệp:

Trang 22

- Nhịp độ phát triển nhanh hơn so với thời kỳ trước chiến tranh, bình quân 5,5%/năm (tăng hơn 2 lần so với thời kỳ 1920 - 1928)

- Giá trị sản lượng bình quân một công nhân tăng từ 3.090 đô la (năm 1950) lên 6.110 đô la (năm 1970)

- Ba ngành cơ khí, hóa chất, năng lượng có nhịp độ phát triển cao nhất Ngành cơ khí có tốc độ phát triển là 5,7%; hơi đốt, điện 7,7%; hóa chất 8,3%, trong khi nhịp độ của ngành luyện kim 3,8%; dệt,may mặc, thực phẩm 3 - 3,8%

- Các mặt hàng tiêu dùng lâu bền như ô tô, tủ lạnh… tăng lên so với trước rất nhiều

* Về nông nghiệp:

- Trước chiến tranh trình độ trang bị kỹ thuật còn lạc hậu rất nhiều, lao động

nông nghiệp chiếm từ 1/3 đến 2/5 tổng số lao động trong các ngành kinh tế, nhiều nước Tây Âu chưa tự túc được lương thực

- Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều cơ sở kinh doanh trong nông nghiệp đã được hiện đại hóa Trung bình trên diện tích 100 ha, ở Tây Đức, Hà Lan, Áo, Tân Tây Lan có từ

11 đến 15,5 máy kéo, ở Bỉ, Mỹ, Thụy Điển, Pháp có từ 5 - 10 chiếc Nhờ áp dụng những thành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật, sản xuất nông nghiệp ngày càng gắn bó với nông nghiệp, tổ hợp công – nông nghiệp, liên kết giữa các khâu sản xuất, chế biến, vận tải, tiêu thụ và cung cấp vật tư kỹ thuật được hình thành Bốn nước tư bản: Mỹ, Pháp, Canada, Úc trở thành những nước xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của các nước tư bản phát triển trong giai đoạn 1953 - 1962 là 4,8%; giai đoạn 1963 - 1972 là 5,0%

- Các cuộc khủng hoảng chu kỳ vẫn xảy ra, nhưng thời gian không kéo dài, không diễn ra cùng lúc ở nhiều nước và mức độ khủng hoảng không lớn

- Tỷ lệ tăng giá tiêu dùng bình quân của các nước những năm 1950 -1970 duy trì ở mức xấp xỉ 3% Các nước còn đạt được mục tiêu việc làm đầy đủ

Biểu đồ 1.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của một số nước

4,0

5,5 4,6 10,4

5,1 6,8 8,7

Trang 23

* Cơ cấu nền kinh tế thay đổi nhanh chóng giai đoạn 1950 – 1973:

- Tỷ trọng khu vực I (nông, lâm, ngư nghiệp) giảm nhanh: Pháp từ 33% xuống 12%, CHLB Đức từ 25% xuống 7%; Italia từ 41% (năm 1954) xuống 17%; Anh từ 5% (năm 1951) xuống 3%

- Tỷ trọng của khu vực II (công nghiệp và xây dựng) tăng lên chậm

- Tỷ trọng của khu vực III (dịch vụ) mở rộng rất lớn: Thương mại, vận tải, bưu điện, tài chính tiền tệ, bảo hiểm, y tế, giáo dục, du lịch v.v phát triển nhanh

1.4.3 Giai đoạn phát triển chậm chạp và không ổn định (1973 - 1985)

- Đặc điểm của giai đoạn nay là: Nền kinh tế các nước tư bản tăng trưởng chậm, không ổn định (tốc độ bình quân chỉ đạt ≈ 2,4%/năm)

- Chu kỳ khủng hoảng rút ngắn trong giai đoạn này bị rút ngắn

- Nhiều hiện tượng mới xuất hiện: Khủng hoảng năng lượng, khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng kinh tế đi liền với thất nghiệp và lạm phát cao

- Nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng chậm và bất ổn định: Sự can thiệp của nhà

nước không có khả năng thích ứng với những biến động kinh tế trong nước, quốc tế; Đầu tư sụt giảm; Cạnh tranh giữa các nước ngày càng trở nên gay gắt; Cuộc đấu tranh giành độc lập về kinh tế của các nước đang phát triển; Tình trạng trì trệ, khủng hoảng

kéo dài

- Xuất hiện những lý thuyết kinh tế mới (tiêu biểu là lý thuyết về mô hình kinh

tế hỗn hợp)

1.4.4 Điều chỉnh kinh tế từ năm 1985 đến nay

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, dựa trên lý thuyết của J.M.Keynes, điều chỉnh kinh tế được coi là hoạt động thường xuyên của chính phủ các nước tư bản phát triển Tuy nhiên, trước những khó khăn, mâu thuẫn mới xuất hiện và dựa trên những lý thuyết kinh tế mới, từ đầu thập niên 1980 các nước tư bản thực sự bước vào giai đoạn tổng điều chỉnh toàn bộ nền kinh tế với các nội dung chủ yếu sau:

- Thứ nhất , điều chỉnh sự can thiệp của chính phủ theo hướng là tăng hiệu quả của cơ chế thị trường

Thực tế, việc nhà nước gia tăng lượng cung tiền để kích thích đầu tư trong giai đoạn trước mặc dù đã mang lại những tác động tích cực đến sự tăng trưởng của nền kinh tế nhưng đồng thời nó cũng gây ra những hậu quả nghiêm trọng Đó là tình trạng thâm hụt ngân sách và lạm phát gia tăng Vì vậy, các nước đã giảm tỷ trọng chi tiêu của nhà nước để giảm thâm hụt ngân sách, hạn chế mức cung tiền để ngăn chặn lạm phát Lý thuyết trọng tiền là cơ sở lý luận cho điều chỉnh kinh tế đó

Ở Mỹ, chính phủ đã thực hiện việc giảm chi tiêu ngân sách, ví dụ như: cắt giảm chi phí quốc phòng từ mức thường xuyên chiếm 35-38% ngân sách trước năm 1984 xuống mức 30% Các cơ quan tài chính Mỹ áp dụng các biện pháp mới về điều tiết các

Trang 24

nguồn thanh toán tự do góp phần làm cho tốc độ tăng cung ứng tiền tệ giảm xuống, nhờ đó chỉ số giá cả đã giảm từ 12,4% năm 1980 xuống 8,9% năm 1981 và 3,9% năm

1982

Ở nước Anh, chính phủ đã tiến hành tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực khai thác than, sắt thép, cung cấp gas, điện, nước, đường sắt, vận tải, hàng không và viễn thông Bên cạnh đó, Anh cũng thực hiện tư nhân hóa nhà ở công cộng và đồng thời hạn chế chi tiêu và cải cách chế độ tài chính đối với các chính quyền địa phương Chính sách tiền tệ được tập trung vào mục tiêu kiểm soát lạm phát Ngân hàng trung ương đã nâng cao mức thanh toán và tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để hạn chế việc tăng khối lượng tiền tệ Nhờ đó mà thâm hụt ngân sách đã giảm từ 4% GDP năm 1980 xuống 1,5% năm 1983, chỉ số giá cả giảm từ 11,2% năm 1981 xuống 4,6% năm 1983

Về thực chất, những nội dung điều chỉnh này là sửa đổi cách thức can thiệp của nhà nước và sự vận động của hệ thống tài chính - tiền tệ Sau một loạt các biện pháp

ổn định tài chính – tiền tệ thì xu hướng nới lỏng điều tiết của nhà nước, không can thiệp quá sâu vào hoạt động của nền kinh tế đã trở thành xu hướng chủ đạo Việc khắc phục lạm phát cao và giảm chi tiêu nhà nước sẽ chủ yếu dựa vào các giải pháp kinh tế

có tính phòng ngừa và mềm dẻo nhằm duy trì mức lạm phát phù hợp với nhịp độ tăng trưởng kinh tế Chính phủ sử dụng lãi suất tín dụng như một hệ thống “van điều chỉnh” cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế

- Thứ hai, kích thích phát triển khu vực kinh tế tư nhân

Tốc độ tăng đầu tư tư bản cố định ở các nước tư bản giảm sút nghiêm trọng trong thập niên 1970 là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đình trệ của nền kinh

tế Do vậy, chính phủ các nước đã chủ trương huy động mọi khả năng của nền kinh tế

để kích thích đầu tư tư nhân Chính phủ Mỹ đã cắt giảm 25% thuế thu nhập cá nhân trong vòng 3 năm (1981-1984) Hệ thống thuế thu nhập từ mức tối đa 50% và tối thiểu 10% đã giảm xuống tỷ lệ tương ứng là 30% và 10% Ở Anh và các nước Tây Âu cũng

có các biện pháp điều chỉnh thuế tương tự Có điểm khác là các nước này giảm thuế trực thu đồng thời với việc mở rộng thuế giá trị gia tăng, chuyển gánh nặng thuế từ người kinh doanh sang người tiêu dùng để hạn chế tiêu dùng, tăng tiết kiệm

Thực tế cho thấy, các biện pháp điều chỉnh thuế, giảm chi tiêu nhà nước có hiệu quả thực sự nếu những biện pháp này được kết hợp với việc thực hành phi điều chỉnh hóa ở một số lĩnh vực thuộc phạm vi sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước việc nhà nước nới lỏng mọi sự kiểm soát hành chính đẻ các doanh nghiệp tự do kinh doanh thích ứng với xu thế tự do hóa, vừa giảm được chi phí quản lý của nhà nước

- Thứ ba, điều chỉnh cơ cấu kinh tế

Trang 25

Sự đình trệ của nền kinh tế trước tác động của khủng hoảng dầu lửa phản ánh

sự khủng hoảng cơ cấu kinh tế trong các nước tư bản Trong giai đoạn trước, các nước

tư bản dã phát triển mạnh các ngành công nghiệp tiêu tốn nhiều nguyên nhiên liệu, phụ thuộc quá nhiều vào nguồn năng lượng dầu lửa nhập ngoại giá rẻ Vì vậy, khi giá dầu tăng cao, những ngành sản xuất sử dụng nhiều năng lượng giảm sút nhanh chóng do thiếu hụt nguồn tài chính cho việc nhập khẩu dầu lửa đã kéo theo sự sụt giảm của nền kinh tế, đặc biệt là với những nước nhập khẩu nhiều dầu lửa Mặt khác, do kinh tế tăng trưởng tương đối nhanh trong nhiều năm nên tiền lương ở các nước tư bản cũng tăng lên, sức cạnh tranh của những ngành sử dụng nhiều lao động sẽ giảm sút so với các nước đang phát triển Thực trạng đó cho thấy điều chỉnh cơ cấu kinh tế trở thành một yêu cầu cấp bách

Hướng điều chỉnh là giảm bớt những ngành sử dụng nhiều năng lượng và nhân công, đẩy mạnh cải tiến kỹ thuật- công nghệ để giảm tiêu hao nguyên liệu và năng lượng Đồng thời, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch chuyển lao động và vốn từ các ngành sản xuất vật chất sang các ngành dịch vụ sẽ tạo điều kiện cho các ngành sản xuất vật chất tổ chức lại, kết cấu lại theo hướng ngày càng hiện đại

Sự cải cách cơ cấu trong ngành công nghiệp đã trở nên rõ rệt hơn với sự phát triển rất nhanh của các ngành công nghiệp kỹ thuật cao Trong thực tế, vào những năm

1980, các nước tư bản đã đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng những tiến bộ khoa học- kỹ thuật mới, thúc đẩy sự ra đời của những ngành có hàm lượng khoa học – công nghệ cao,

sử dụng ít lao động, nhưng đem lại giá trị gia tăng lớn Nhằm phục vụ yêu cầu phát triển các ngành sản xuất vật chất công nông nghiệp cùng với các nhu cầu ngày càng đa dạng của đời sống xã hội, các ngành dịch vụ cũng được mở rộng và hiện đại hóa nhanh chóng Sự phát triển đa dạng của các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống đã góp phần tích cực nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội và đóng góp vào tăng trưởng chung của nên kinh tế Đó cũng là tiền đề để các nước tư bản phát triển thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức khi bước vào thế kỷ XXI

Trong khi chuyển dịch cơ cấu trong nước theo hướng trên, các nước tư bản đã đẩy mạnh việc chuyển giao các ngành có công nghệ lạc hậu hơn, tiêu tốn nhiều nguyên liệu, năng lượng và sử dụng nhiều lao động, thậm chí gây nhiều ô nhiễm sang các nước đang phát triển

- Thứ tư, điều chỉnh các quan hệ kinh tế quốc tế

Các cuộc “chiến tranh thương mại” là biểu hiện những mâu thuẫn mới giũa các nước tư bản nhưng nó không dẫn đến các cuộc xung đột vũ trang như trước đây Các nước tư bản đã tìm cách làm dịu những mâu thuẫn này thông qua các cuộc gặp gỡ cấp cao nhằm tìm ra các giải pháp chung để đưa nền kinh tế của họ ra khỏi bế tắc, mà mở đầu la hội nghị những người đúng đầu sáu nước tư bản lớn (Mỹ, Nhật Bản, CHLB

Trang 26

Đức, Anh, Pháp, Italia) tại Pháp tháng 11-1975 Năm 1976 đã diễn ra cuộc họp thượng đỉnh lần thứ II gồm 7 nước (có thêm Canada) và từ đó gọi là nhóm G7 Hằng năm hội nghi thượng đỉnh G7 được tổ chức để bàn về các vấn đề kinh tế, chính trị trên thế giới

và đưa ra các chính sách của họ Những chính sách đó không những chỉ có tác động đến kinh tế mỗi nước mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến tinh hình kinh tế thế giới

Trong quan hệ thương mại quốc tế, tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã ra đời thay thế cho GATT nhằm khắc phục tình trạng bảo hộ mậu dịch mới xuất hiện trong giai đoạn trước Ngoài ra, nhiều tổ chức, diễn đàn kinh tế khu vực cũng đã ra đời nhằm xây dựng các khu vực mậu dịch tự do, liên minh kinh tế nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh với các khu vực khác như diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), liên minh châu Âu (EU)…

Tăng cường các hoạt động đầu tư ra nước ngoài, diều chỉnh dòng chảy và phương thức đầu tư quốc tế là một nét mới trong điều chỉnh kinh tế các nước tư bản Trong hai thập niên cuối Thế kỷ XX, FDI của toàn thế giới đã gia tăng nhanh chóng,

từ 511,9 tỷ USD năm 1980 đã tăng lên 1.700 tỷ USD năm 1990 và 4.000 tỷ USD năm

1998 nhưng dòng chảy FDI thế giới đã có sự thay đổi lớn Trong những năm

1950-1960, dòng chảy của FDI thường tập trung vào các nước đang phát triển (chiếm khoảng 70% tổng số), 30% còn lại là đầu tư vào các nước tư bản phát triển, thì từ đầu thập kỷ 1990 dòng chảy của vốn đã đổi theo chiều ngược lại, vốn đầu tư vào các nước đang phát triển giảm xuống chỉ còn chiếm 16,8% Năm 1989, FDI của Nhật Bản tập chung chủ yếu ở Bắc Mỹ (chiếm 50,2%) và Châu Âu (21,9%) Mỹ là nước nhận được vốn đầu tư nước ngoài nhất với 193 tỷ USD, chiếm gần 1/3 tổng số vốn FDI của thế giới, đồng thời cũng là nươc đầu tư ra nước ngoài lớn nhất đạt tới 133 tỷ USD Đáng chú ý là những lĩnh vực công nghệ hiện đại có thể đem lại lợi nhuận cao nhưng cần nhiều vốn là những lĩnh vực được chú ý đầu tư

Sự thay đổi dòng vận động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo xu hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào các nước phát triển có nhiều nguyên nhân Thực tế cho thấy, một nước thường không có lợi thế sản xuất tất cả các mặt hàng để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của xã hội, các doanh nghiệp trong nó không phải lúc nào cũng đủ khả năng về vốn, công nghệ, nhân lực để đầu tư vào những lĩnh vực công nghệ cao, đòi hỏi đầu tư lớn Mặt khác, trong điều kiện kinh tế mở, sự xâm nhập và phụ thuộc lẫn nhau sẽ làm tăng thêm sự an toàn, sự chia sẻ rủi ro khi có các sự cố bất lợi khó lường xảy ra cho một nước Đồng thời, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lại chính

là biên pháp tốt nhất để một nước né tránh các hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước khác Trong khi đó, các nước đang phát triển thường không có đủ kết cấu hạ tầng, trình độ của người lao động thấp không đáp ứng được nhu cầu phát triển các ngành với

Trang 27

công nghệ hiện đại, thị trường tiêu thụ có hạn vì thu nhập thấp, sức mua thấp đã bị giảm dần lợi thế cạnh tranh trong việc hấp dẫn các nguồn FDI

Về thương mại quốc tế, chính phủ có chính sách hỗ trợ tài chính cho xuất khẩu,

cụ thể là cấp tín dụng ưu đãi cho các nhà xuất khẩu dưới hai hình thức: thành lập quỹ

hỗ trợ xuất khẩu; cung cấp tín dụng ưu đãi cho các nhà xuất khẩu (khoản chênh lệch giữa lãi suất ưu đãi và lãi xuất thị trường được nhà nước chi trả từ vốn ngân sách) Trong nhiều trường hợp, nước nhập khẩu còn được vay tín dụng ưu đãi của các nước xuất khẩu để nhập khẩu theo các hợp đồng đã ký kết Nhà nước còn bảo hiểm cho những thiệt hại rủi ro trong hoạt động xuất khẩu do sự không ổn định của hệ thống tiền

tệ quốc tế Việc tài trợ của nhà nước cho xuất khẩu còn được thực hiện dưới hình thức bồi hoàn thuế, tức nhà nước sẽ trả một phần thuế cho những nhà xuất khẩu nhập nguyên liệu và bán thành phẩm để sản xuất phục vụ xuất khẩu

Nhìn chung, các chính sách điều chỉnh đã có tác dụng đáng kể đưa nền kinh tế các nước tư bản thoát khỏi tình trạng suy thoái và đình trệ (1974 - 1982)

Từ năm 1983 đén 1990 kinh tế các nước tư bản phục hồi với nhịp độ tăng trưởng bình quân đạt 3,2%/năm, cao hơn mức 2,4% của giai đoạn 1973 - 1982 Trong những năm 1990 khủng hoảng tuy vẫn xảy ra ở một số nước nhưng mức độ suy thoái không trầm trọng như trước và không trùng pha giữa các nước với nhau Giai đoạn

1993 - 2000, tốc độ tăng trưởng GDP của các nước phát triển đạt 3,1%

Trang 28

trưởng kinh tế Mỹ đạt tới đỉnh cao nhất là 5,2% Nền kinh tế Nhật Bản đã sớm ra khỏi tình trạng trì trệ và giữ tốc độ tăng trưởng với mức bình quân 4%/năm trong giai đoạn 1980-1990 Tuy nhiên, trong thập niên 1990, Nhật Bản lại rơi vào tình trạng suy thoái, tốc độ tăng trưởng bình quân chỉ đạt 1,4%/năm Kinh tế các nước Tây Âu phục hồi chậm chạp hơn Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong các giai đoạn tương ứng của Pháp là 2,3% và 1,7%, Đức là 2,2% và 1,5%, Italia là 2,4% và 1,2%, Anh là 3,2% và 2,2%

Bên cạnh đó, sự chuyển dịch cơ câu kinh tế theo hướng giảm các ngành sản xuất vật chất đồng thời tăng các ngành dịch vụ cũng thể hiện rất rõ trong nền kinh tế các nước tư bản phát triển Thực tế, khu vực I đã có xu hướng giảm xuống ngay từ trong quá trình công nghiệp hóa diễn ra ở các nước trước chiến tranh thế giới thư hai nhưng có xu hướng giảm tỷ trọng khu vực II chỉ diễn ra trong khoảng 20 năm cuối thế

kỷ XX Đồng thời với quá trình đó là sự gia tăng tỷ trọng của khu vực III Những ngành được đẩy mạnh phát triển trong các nước tư bản từ những năm cuối thê kỷ XX

là các ngành công nghệ cao như kỹ thuật điện tử, năng lượng mới, thông tin quang học, vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ khai thác khoảng không…

Bảng 1.2 Cơ cấu GDP theo khu vực kinh tế

tế Tỷ trọng các ngành công nghệ cao đã chiếm trên 50% tổng số sản phẩm xã hội ở

Mỹ, chiếm trên 30% ở Nhật Bản, Anh, Đức, Pháp… Khoa học công nghệ đã góp tới

50 - 60% vào sự tăng trưởng kinh tế, trong đó 3/5 là do tăng năng suất lao động

Ở các nước tư bản phát triển,cơ cấu,trình độ nghiệp vụ và các yếu tố cấu thành giá tri hàng hóa sức lao động cũng biến đổi Tỷ trọng lao động trong các ngành có hảm lượng khoa học công nghệ cao tăng lên Tỷ lệ “công nhân cổ xanh” trong các ngành công nghiệp Mỹ giảm từ 30% năm 1960 xuống 20% năm 1980, hiện nay còn thấp hơn

Trang 29

rất nhiều Trong thời đại kinh tế tri thức, chính phủ và các công ty tư nhân đã chú trọng đầu tư nâng cao trình độ của đội ngũ người lao động Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, thu nhập, và chi tiêu cho việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động cũng được nâng lên Các nước tư bản phát triển hiện nắm phần lớn tổng sản lượng sản xuất và cũng là những nước có mức thu nhập bình quân đầu người vào loại cao nhất thế giới

Thực tế cho thấy, quá trình điều chỉnh kinh tế ở các nước tư bản phát triển chính là thực hiện cải cách một bước triệt để nền kinh tế cả về cơ cấu và cơ chế diều tiết trước xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới Nó đã có tác dụng đáng kể đối với

sự phát triển kinh tế, song các nước tư bản vẫn chưa giải quyết được nhiều căn bệnh cố hữu của nó Do vậy, chính sách điều chỉnh kinh tế đã phá vỡ các tương quan truyền thống và tạo dựng thế quan hệ cạnh tranh mới Điều đó cũng làm cho cạnh tranh giữa các nước công nghiệp chủ yếu trở nên đa dạng và quyết liệt hơn Đây là một trong những vấn đề mà nền kinh tế các nước công nghiệp chủ yếu sẽ phải đối mặt trong những năm đầu thế kỷ XXI

Thực tế, thập kỷ đầu tiên thế kỷ XXI đánh dấu nhũng biến động lớn của nền kinh tế các nước tư bản Năm 2001, tốc độ tăng trưởng của các nước tư bản phát triển đều giảm sút, Mỹ chỉ còn 1,1%; EU là 1,7% và Nhật Bản thậm chí còn tăng trưởng

âm 0,9% Những năm sau đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước đã được cải thiện tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tế thế giới đã bùng phát từ Mỹ năm 2007, lan tỏa nhanh chóng ra toàn thế giới và tạo ra cơn địa chấn với nền kinh tế thế giới

Xét về bản chất, cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ chính sách tín dụng thế chấp rủi ro cao với thị trường bất động sản và chính sách tiền tệ nới lỏng được duy trì trong thời gian dài khi thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ của chính phủ đã dẫn tới sự hình thành siêu bong bóng tài chính và bất động sản Tình trạng khó khăn , đổ vỡ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đã lan nhanh sang các ngành sản xuất kinh doanh khác như ngành công nghiệp ô tô, xây dựng … Cuộc khủng hoảng bùng nổ từ Mỹ đã lan sang các nền kinh tế Tây Âu Thực tế cho thấy, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh doanh như tài chính ngân hàng, công nghiệp ô tô, điện tử, bất động sản vốn được coi là siêu lợi nhuận đã rơi vào tình trạng suy sụp

Năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế ở hầu hết các nước tư bản phát triển đều sụt giảm mạnh Năm 2009, hầu hết các nền kinh tế tư bản phát triển nhất đều rơi vào tình trạng suy thoái Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Mỹ là -2.6%; CHLB Đức là -4.7%; Nhật Bản là -6.3%; Anh -4.9%; Pháp -2.5% Tính chung, tăng trưởng kinh tế các nước phát triển là -3.4%

Trang 30

Bảng 1.3 Tốc độ tăng trưởng GDP của các nước tư bản phát triển

…, đầu tư vào lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, các hoạt động nghiên cứu phát triển năng lượng thay thế vào những ngành có hàm lượng giá trị gia tăng cao Cụ thể như sau :

- Cắt giảm lãi suất : Lãi suất ở Mỹ còn 0-0.25%; ở Nhật Bản 0.1%, ở Anh 1.5% và bơm tiền vào hệ thống ngân hàng nhằm đảm bảo tính thanh khoản, thúc đẩy lưu thông tiền tệ nhằm tạo điều kiện gia tăng đầu tư sản xuất, nhất là đối với các ngành kinh tế then chốt của nền kinh tế

- Hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhất

là với loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ như bảo lãnh các khoản nợ: CHLB Đức 540

tỷ USD, Pháp 40 tỷ Euro, chính phủ mua lại cổ phần hoặc cấp vốn trực tiếp cho các ngành sản xuất then chốt: Mỹ đã cấp 17,4 tỷ USD cho 2 tập đoàn General Motor và Chrysler, EU hỗ trợ 30 tỷ Euro cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhật Bản lập quỹ bảo đảm tín dụng ngắn hạn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ với 275 tỷ USD

Trang 31

- Kích cầu đầu tư vào tiêu dùng nội địa: EU giảm thuế cho các ngành dịch vụ sử dụng nhiều lao động, Nhật Bản mở rộng các khoản cho vay , miễn thuế để mua nhà ,

Mỹ cắt giảm thuế cho các doanh nghiệp và cá nhân

- Đảm bảo an sinh xã hội: EU giảm thuế với người có thu nhập thấp, chi 14,4 tỷ Euro cho việc đẩy mạnh nghiên cứu và đào tạo nghề; CHLB Đức, Nhật Bản thực hiện giảm phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội …

Nhìn chung, các giải pháp được chính phủ các nước tư bản phát triển đưa ra nhằm khắc phục hậu quả của khủng hoảng và ngăn chặn suy thoái kinh tế đã mang lại những tác động tích cực Nhiều tập đoàn lớn đã tránh được sự đổ vỡ Các ngành sản xuất cơ bản khôi phục, tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm Năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ đã được khôi phục đạt 2,8% và CHLB Đức 3,5%, Nhật Bản 3,9% Tính chung tăng trưởng kinh tế của các nước tư bản phát triển năm này đạt 3,0% Mặc dù đã đạt được một số kết quả trong khôi phục kinh tế nhưng hầu hết các nước tư bản phát triển lại rơi vào một cuộc khủng hoảng mới đó là khủng hoảng nợ Vấn đề này đã trở nên đặc biệt nghiêm trọng với một số quốc gia thuộc EU như Hy Lạp, Italia, Tây Ban Nha Theo báo cáo của OECA (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế) năm 2011, nếu tính tỷ lệ nợ so với GDP thì Nhật Bản là nước có số nợ cao nhất bằng 213% GDP Số nợ của Mỹ chiếm khoảng 101% GDP Một số nước có số nợ cao hơn 100% GDP như Hi Lạp, Italia , và Ailen, Bỉ Số nợ của Anh và Pháp tương ứng là 89% và 97% GDP

Bảng 1.4 Tỷ lệ nợ so với GDP của một số nước tư bản phát triển

Trang 32

Câu hỏi ôn tập

1 Trình bày nguồn gốc ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

2 Trình bày vai trò của tích lũy nguyên thủy tư bản

3 Phân tích tiền đề, tiến trình, đặc điểm của cách mạng công nghiệp tại Anh trong thế kỷ XVIII Bài học kinh nghiệm từ việc nghiên cứu vấn đề này là gì?

4 Phân tích đặc điểm cách mạng công nghiệp ở Anh

5 So sánh cách mạng công nghiệp ở Anh so với cách mạng công nghiệp ở Đức

8 Tại sao kinh tế các nước tư bản phát triển nhanh trong giai đoạn 1951 – 1973

9 Trình bày những điều chỉnh kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa từ năm

1985 cho đến nay

10 Tại sao các nước tư bản trong giai đoạn hiện nay phải thực hiện nhiều điều chỉnh về kinh tế?

Trang 33

CHƯƠNG 2 KINH TẾ NƯỚC MỸ 2.1 Kinh tế Mỹ trước khi giành độc lập (trước 1776)

2.1.1 Công cuộc khẩn thực của người Châu Âu

Nước Mỹ, cũng như châu Mỹ được tìm ra sau những phát kiến địa lý vĩ đại vào cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI

Sau những phát kiến địa lý vĩ đại, người châu Âu lần lượt đặt chân lên châu Mỹ

mà lịch sử gọi đó là công cuộc “khẩn thực” Trên giải lục địa châu Mỹ đã bắt đầu hình thành những vùng thuộc địa của bọn thực dân Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp

Đặc điểm kinh tế vùng thuộc địa Bắc Mỹ ở nước Anh bấy giờ có tình trạng hàng loạt nông dân bị mất ruộng đất, họ muốn sang Bắc Mỹ sinh sống và nuôi hi vọng sẽ trở thành những chủ ruộng đất ở đó Việc một số lượng đông đảo nông dân Anh tham gia vào hoạt động khẩn thực đã góp phần đáng kể xây dựng chỗ đứng cho người Anh ở Bắc Mỹ Do nhu cầu mở rộng khai thác và bóc lột, thực dân Anh có du nhập vào Bắc

Mỹ một số ngành công nghiệp như dệt, khai mỏ, luyện kim… Về hoạt động thương nghiệp việc buôn bán giữa các vùng thuộc địa Bắc với châu Phi, Châu Âu được tiến hành

từ khá sớm Những mặt hàng buôn bán trao đổi là đường mật, rượu, nô lệ, lông thú… Các vùng thuộc địa miền Trung là nơi sinh sống của những người nông dân tự do

và chủ các ấp trại Ở đây điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho trồng trọt và chăn nuôi Việc sử dụng ruộng đất trong canh tác được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tự do hoặc chính phủ cấp cho dân cư sử dụng với mức thuế vừa phải

Các vùng thuộc địa phía Nam đất đai màu mỡ, khí hậu ở đây nóng ẩm rất thuận lợi cho hoạt động trồng trọt Cơ sở kinh tế ở đây là đồn điều quảng canh Lực lượng lao động chủ yếu là những nô lệ da đen Năm 1800, số nô lệ da đen làm việc trong các đồn điền lên tới 90 vạn người Các vùng thuộc địa ở phía Nam, công thương nghiệp phát triển yếu ớt Do vậy lực lượng thống trị ở đây là các chủ đồn điền nô lệ

Trong quá trình thống trị, Anh luôn kỳm hãm Bắc Mỹ trong vòng ảnh hưởng và lệ thuộc cả về kinh tế, chính trị Ngoài ra với thuộc địa Bắc Mỹ, nhà nước Anh còn có những chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi của quý tộc và địa chủ Nhìn chung sự thống trị của Anh ở Bắc Mỹ đã làm kỳm hãm xu hướng tiến bộ của lực lượng sản xuất tình trạng này kéo dài càng làm tăng thêm mâu thuẫn giữa Anh và thuộc địa Bắc Mỹ Về phương diện xã hội, những cư dân từ nhiều nước châu Âu tới sinh cơ lập nghiệp ở Bắc

Mỹ đều có nguyện vọng muốn thoát khỏi sự thống trị của Anh để hình thành quốc gia dân tộc độc lập

Như một tất yếu của lịch sử vào tháng 4 năm 1775 cuộc chiến trang giành độc lập

đã bùng nổ ở Bắc Mỹ Ngày 04 tháng 07 năm 1776, đại hội lục địa Bắc Mỹ đã họp và

Trang 34

ra tuyên ngôn độc lập bản tuyên ngôn thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Đến ngày 3 tháng 9 năm 1783 Anh chính thức công nhân nền độc lập của Mỹ

2.1.2 Kinh tế Mỹ thời kỳ thống trị của thực dân Anh

Trong quá trình thống trị, Anh luôn kỳm hãm Mỹ trong vòng ảnh hưởng và lệ thuộc cả về kinh tế, chính trị

Về kinh tế, với công nghiệp Chính phủ Anh ban hành những đạo luật như cấm đưa vào Mỹ các loại máy móc, mẫu hàng sáng chế và thợ cả… Trong sản xuất, Anh quy định những sản phẩm công nghiệp của Mỹ chỉ dừng lại ở bán thành phẩm, chứ không được sản xuất hàng thành phẩm Mỹ chỉ được sản xuất gang chứ không được sản xuất thép, chỉ được sản xuất đường thô chứ không được sản xuất đường tinh… Với lĩnh vực thương mại, từ năm 1551 - 1761, Chính phỉ Anh đã ban hành 125 đạo luật quy định hàng hóa của các nước châu Âu nhập vào Mỹ bị đánh thuế nặng, hàng hóa trao đổi giữa Mỹ và nước ngoài phải chuyên chở bằng tàu của Anh Anh muốn nắm độc quyền thương mại ở Mỹ

Về chính trị, Anh chia Mỹ thành 13 vùng tách biệt Chính sách chia để trị của thực dân Anh đã ảnh hưởng nhiều tới sự phát triển kinh tế nói chung ở Mỹ Sau khi chia Mỹ thành 13 vùng thì Anh quy định giữa các vùng không được trao đổi buôn bán với nhau, mỗi vùng chỉ được trao đổi buôn bán trực tiếp với Anh

Nhà nước Anh còn có những chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi của quý tộc và địa chủ Như việc khôi phục và củng cố mối quan hệ sở hữu ruộng đất kiểu như phong kiến của Anh ở Mỹ là cực kỳ phản động và trái với xu thế của lịch sử

Nhìn chung sự thống trị của Anh ở Mỹ đã làm kỳm hãm xu hướng tiến bộ của lực

lượng sản xuất tình trạng này kéo dài càng làm tăng thêm mâu thuẫn giữa Anh và Mỹ

2.2 Kinh tế Mỹ thời kỳ trước độc quyền (1776 - 1865)

2.2.1 Công cuộc di thực bành trướng đất đai mở rộng thị trường

Sau khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ra đời, nó tăng cường bành trướng lãnh thổ Chính sự cách biệt địa lý giữa châu Âu và châu Mỹ đã giúp Mỹ dễ dàng trở thành chủ nhân trên dải lục địa rộng lớn Nước Mỹ khi ấy bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, trải qua các cuộc chiến tranh và buôn bán, những vùng đất của Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp đã rơi vào tay Mỹ Như vậy, lãnh thổ Mỹ đã trải rộng từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương Mỹ đã trở thành một đế quốc thực dân hùng mạnh Khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thành lập thì diện tích của nó là 892.000 dặm vuông, nhưng sau thời kỳ bành trướng tới năm 1853 diện tích nước Mỹ lên tới 3.062.798 dặm vuông Việc mở rộng đất đai đóng một vai trò vô cùng quan trọng với sự phát triển kinh tế của Mỹ

2.2.2 Cách mạng công nghiệp và bành trướng lãnh thổ

Dựa vào những tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội thuận lợi, cuộc cách mạng công nghiệp đã diễn ra ở Mỹ vào những năm cuối của thế kỷ XVIII Năm 1790, một người

Trang 35

Anh di cư đã xây dựng nhà máy dệt đầu tiên Trong một thời gian, vài thập kỷ nhà máy đã có vốn khá lên với 690.000 USD

Nhìn chung, trong 10 năm cuối của thế kỷ XVIII, có nhiều nhà máy dệt đã được xây dựng với tốc độ khá nhanh chóng, trong thời gian 25 năm (1815 - 1840) số lượng sợi bông sử dụng tăng lên 5 lần Đồng thời vào đầu thế kỷ XIX, công nghiệp len dạ cũng được xúc tiến xây dựng: năm 1810 có 24 nhà máy Từ năm 1830 người ta đã xây dựng những nhà máy quy mô lớn

Sự phát triển của công nghiệp nhẹ đã thúc đẩy sự ra đời phát triển của những ngành công nghiệp nặng Năm 1810 có 153 lò cao, sản lượng thép đạt 33.908 tấn Tới năm 1869 sản lượng thép lên tới 600.000 tấn Vấn đề năng lượng cũng được nhanh chóng giải quyết Các mỏ than đã được tập trung khai thác, năm 1860 sản lượng đạt 14,3 triệu tấn

Chính sự phát triển và mở mang công nghiệp đặt ra những vấn đề bức bách trong lĩnh vực giao thông vận tải Nhìn chung tốc độ xây dựng đường sá, cầu cống cũng diễn

ra khá nhanh chóng Riêng đường sắt được xây dựng từ năm 1825, những tới năm

1850 đã có độ dài 14.518 km Các kênh đào cũng được mở rộng, năm 1850 chiều dài của các kênh đào là 5950 km

Nhìn vào cách mạng công nghiệp Mỹ, tốc độ phát triển khá nhanh chóng Năm

1850 giá trị sản lượng công nghiệp đã tăng lên 5 lần so với năm 1810 Trên đất nước

Mỹ, nhiều trung tâm công nghiệp đã hình thành Sản xuất công nghiệp của Mỹ đã vươn lên đứng hàng thứ 4 thế giới Cách mạng công nghiệp Mỹ được tiến hành trong điều kiện rất phong phú, có vị trí địa lý thuận lợi, dễ dàng mở mang hệ thống giao thông vận tải và có nguồn vốn, sức lao động, kỹ thuật từ châu Âu chuyển sang Đó là những lợi thế rất lớn của cách mạng công nghiệp Mỹ

Sự phát triển của cách mạng công nghiệp Mỹ đi từ công nghiệp nhẹ nhưng đã nhanh chóng chuyển sang công nghiệp nặng Cuộc cách mạng công nghiệp Mỹ diễn ra

và cơ bản hoàn thành trong thời gian ngắn hơn nhiều so với cách mạng công nghiệp Anh, Pháp

Công nghiệp sớm tác động vào nông nghiệp Do vậy, ngành chế tạo máy nông nghiệp ở Mỹ rất phát triển Công nghiệp sớm gắn bó với nông nghiệp là do nhu cầu khai khẩn vùng đất phía Tây rộng lớn và mầu mỡ Chính sự phát triển của công nghiệp góp phần đẩy nhanh xuất khẩu ở Mỹ, từ năm 1800 tới năm 1850, giá trị xuất khẩu tăng

từ 79 triệu đô la lên 144 triệu đô la Nhưng thời gian tiếp theo từ năm 1850 tới năm

1860 giá trị xuất khẩu tăng từ 144 triệu đô la lên 333 triệu đô la

Trong sản xuất nông nghiệp, sản lượng tăng với tốc độ khá nhanh chóng Đó chính là kết quả của công cuộc khẩn thực trên quy môn rộng lớn Năm 1860, sản lượng bông tiêu dùng trong nước chỉ hết khoảng 1/5, còn 4/5 để xuất cảng Mỹ đã trở thành

Trang 36

nước cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp dệt của Anh, Pháp, Đức và nhiều quốc gia khác Với thuốc lá từ năm 1850 tới năm 1860, sản lượng đã tăng lên gấp 2 lần, một nửa số sản phẩm đã được xuất sang Anh, Đức Riêng các bang ở miền Nam của Mỹ từ năm 1820 – 1850, sản lượng lúa gạo tăng lên 3 lần

Sự phát triển của nông nghiệp nước Mỹ đã hình thành hai hệ thống đối lập nhau,

đó là sự biểu hiện khác nhau giữa hai khuynh hướng phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp, ở miền Bắc nông nghiệp phát triển rất mạng mẽ còn ở miền Nam, chế độ nô lệ đồn điền vẫn ngự trị trong nông nghiệp

Ở miền Bắc trong sản xuất rất chú trọng ứng dụng kỹ thuật và sử dụng phổ biến các loại máy móc nông nghiệp và sức lao động làm thuê

Ở miền Nam chế độ nô lệ dồn điền là sự bóc lột man rợ với người lao động, cũng như vơ vét kiệt quệ nguồn tài nguyên thiên nhiên Ở các đồn điền nô lệ, bạo lực là yếu

tố trực tiếp của sản xuất, cũng như mọi hình thức bóc lột Trong sản xuất, các đồn điền phía Nam ít được sử dụng máy móc, kỹ thuật thay vào đó là khai thác và sử dụng tới kiệt quệ sức lao động của nô lệ da đen Do vậy năng suất lao động thấp

2.2.3 Nội chiến ở Mỹ (1861 - 1865)

Nguyên nhân dẫn đến nội chiến ở Mỹ (1861 - 1865):

- Mâu thuẫn phát sinh từ sự tồn tại của hai hệ thống nông nghiệp đối lập nhau cả

về kinh tế và chính trị xã hội của Bắc Mỹ và Nam Mỹ;

- Cả hai miền Bắc Mỹ và Nam Mỹ đều có xu hướng bành trướng ra phía Tây

- Các bang phía nam liên minh với nhau và ra tuyên bố ly khai khỏi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

- Nội chiến bùng nổ tháng 4 năm1861 và kết thúc tháng 4 năm1865 với sự chiến thắng thuộc về phe liên bang

2.3 Kinh tế Mỹ thời kỳ độc quyền (1865 đến nay)

2.3.1 Thời kỳ bùng nổ kinh tế Mỹ (1865 - 1913)

Sau cuộc nội chiến (1861 - 1865), từ một nước phụ thuộc vào châu Âu, nước Mỹ nhanh chóng trở thành quốc gia công nghiệp cũng như kinh tế đứng đầu thế giới

- Công nghiệp: giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng 4,98 lần (từ 1.907 triệu

USD (năm 1860) lên 9.498 triệu USD (năm 1894)

Năm 1913 sản lượng thép của Mỹ vượt Đức 2 lần, vượt Anh 4 lần đạt 31,3 triệu tấn thép

Ngành khai thác than sản lượng gấp hơn 2 lần Anh và Pháp cộng lại

Năm 1882 mới xuất hiện nhà máy điện đầu tiên, đến năm 1913 sản lượng điện đạt 57 triệu Kwh

Các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng như: may mặc, giầy da, chế biến thực phẩm cũng phát triển mạnh

Trang 37

Với nông nghiệp, nhà nước có chính sách khuyến khích kinh tế trang trại như không đánh thuế vào hàng nông sản

- Nông nghiệp nước Mỹ đạt được những thành tựu lớn: Giá trị sản lượng nông

nghiệp năm 1913 tăng 4 lần so với năm 1870, từ 2,5 tỷ USD lên 10 tỷ USD

Từ năm1870 đến năm1913 diện tích gieo trồng lúa mỳ tăng lên 4 lần

Nông nghiệp phát triển theo hướng chuyên canh, thâm canh, sử dụng máy móc và

kỹ thuật để tăng năng suất

Nước Mỹ cung cấp 9/10 bông; 1/4 lúa mạch trên thị trường thế giới vào cuối thế

Đã xây dựng các tuyến đường sắt nối liền Đông - Tây, Nam Bắc

Năm 1870 chiều dài đường sắt của Mỹ là 85.000 km

Năm 1913 chiều dài đường sắt của Mỹ đạt 411.000 km

Mỹ trở thành nước có ngoại thương phát triển và xuất khẩu tư bản

Năm 1899 xuất khẩu tư bản của Mỹ đạt 500 triệu USD, năm 1913 đạt 2.625 triệu USD Năm 1870 kim ngạch xuất khẩu đạt 377 triệu USD, năm 1914 đạt 5,5 tỷ USD Thị trường đầu tư và buôn bán chủ yếu của Mỹ là Canađa, các nước vùng biển Caribbean, Trung Mỹ, các nước châu Á đặc biệt là Nhật Bản và Ấn Độ

2.3.2 Kinh tế Mỹ từ chiến tranh thế giới thứ nhất đến chiến tranh thế giới hai (1914 - 1945)

Nước Mỹ tham gia Chiến tranh thế giới I từ tháng 4 năm 1917 khi mới tham gia nền kinh tế bị xáo trộn.Tuy nhiên, chiến tranh lại kích thích nền kinh tế Mỹ phát triển sản phẩm công nghiệp tăng 1,7 lần, nông nghiệp tăng 1,5 lần Bán vũ khí và thiết bị cho các nước tham chiến thu được 35 tỷ USD lợi nhuận

Sau chiến tranh Mỹ trở thành trung tâm kinh tế tài chính của thế giới tư bản chủ nghĩa, đồng thời là chủ nợ lớn nhất, riêng các nước Tây Âu vay nợ của Mỹ là 7 tỷ

USD

Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1920 - 1921 cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế Mỹ nhưng nền kinh tế đã nhanh chóng được khôi phục và bước vào giai đoạn phát triển ổn định năm 1924 -1928

Tháng 10 năm 1929 xuất hiện khủng hoảng kinh tế Đầu tiên là sự sụp đổ của công nghiệp sản xuất thép, lan sang các ngành xây dựng, vận tải, thương nghiệp, nông nghiệp

Trang 38

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 -1933, kinh tế Mỹ thụt lùi lại 20 năm: Sản xuất công nghiệp giảm 36%: 92 lò luyện thép với công suất 4 triệu tấn/năm bị phá huỷ; 6,4 triệu con lợn bị giết; 13 vạn công ty bị phá sản; hơn 10.000 ngân hàng bị đóng cửa; 100.000 lýt sữa bò đổ xuống cống; Năm 1932 có hơn 12 triệu người bị thất nghiệp (25% lực lượng lao động toàn nước Mỹ lúc bấy giờ)

Để cứu vãn nền kinh tế bị suy sụt trầm trọng, tổng thống Mỹ Rooselelt đã đề ra

“đường lối kinh tế mới” gồm một số điểm cơ bản:

- Giúp đỡ hệ thống tài chính, ngân hàng phát triển, cho vay để khuyến kích tư bản

tư nhân đầu tư, giảm giá đồng đô la Mỹ

- Trong công nghiệp, bắt buộc các xí nghiệp giảm sản xuất, thống nhất giá bán, quy định mức sản xuất từng xí nghiệp, quy định thị trường tiêu thụ và mức tiền lương cho công nhân

- Trong nông nghiệp, thực hiện chính sách nâng giá nông sản phẩm, giảm diện tích canh tác và trợ cấp cho các chủ trại

- Áp dụng các biện pháp giảm thất nghiệp bằng cách tạo ra việc làm mới nhờ đầu

tư xây dựng cơ sở hạ tầng

Tháng 12 năm 1941 Mỹ tham gia chiến tranh thế giới II Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ thiệt hại không đáng kể và Mỹ tiếp tục giàu lên vì chiến tranh nhờ bán

vũ khí cho các nước Đồng Minh, Mỹ thu được 117,2 tỷ USD lợi nhuận

Giai đoạn năm 1940 - 1945 sản xuất công nghiệp tăng gấp đôi; GDP tăng hơn 2 lần từ 99,7 tỷ USD lên 211,9 tỷ USD

Sau chiến tranh nước Mỹ chiếm hơn 50% sản xuất công nghiệp, ¾ tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, gần ¾ dự trữ vàng của hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ thực hiện kế hoạch Marshall các nội dung cơ bản sau:

- Kế hoạch Marshall viện trợ cho Tây Âu (12,5 tỷ USD (tính đến tháng 12 năm 1951), trong đó 16% là tư liệu sản xuất, còn lại là hàng tiêu dùng; viện trợ cho Nhật Bản 2,3 tỷ USD;

- Xâm nhập thị trường các nước châu Á, Phi, Mỹ Latinh thông qua các chương trình viện trợ

- Điều chỉnh nền kinh tế từ nền kinh tế phục vụ chiến tranh sang thời bình

2.3.3 Kinh tế Mỹ từ sau chiến tranh thế giới hai (1945 – 1973)

Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, Mỹ đã thực hiện nhiều biện pháp điều chỉnh nền kinh tế:

- Từ 1945, Chính phủ Mỹ đã áp dụng các biện pháp giảm sản xuất quân sự và phục hồi sản xuất dân dụng

Trang 39

- Chính phủ Mỹ tạo việc làm và cấp học phí cho hàng triệu quân nhân phục viên học nghề Chính phủ chuyển nhượng cho tư nhân các cơ sở công nghiệp quân sự, khuyến khích đầu tư tư nhân Tổng đầu tư tư nhân đạt 156,9 tỷ USD (1945 - 1949), trong đó đầu tư vào thiết bị mới bình quân mỗi năm là 14,4 tỷ USD

- Thực hiện xóa bỏ chế độ phân phối hàng tiêu dùng thời chiến, nới lỏng và kích thích tiêu dùng

- Thực hiện mở rộng bảo hiểm xã hội và nâng mức lương tối thiểu, phát triển xây dựng nhà ở công cộng giá rẻ

Giai đoạn năm 1951 – 1973, các chính sách kinh tế của chính phủ Mỹ thể hiện

sự vận dụng học thuyết kinh tế của J Keynes:

- Tỷ lệ tích lũy tư bản trong GDP của Mỹ 15,3% giai đoạn (1964-1973), đầu tư tư nhân của Mỹ từ 1953-1973 tăng từ 53 tỷ USD lên 209 tỷ USD

- Nước Mỹ tăng chi tiêu cho quân sự và đầu tư cho nghiên cứu khoa học (chi của chính phủ cho nghiên cứu khoa học chiếm 50%, chú trọng các hạng mục điện tử, vi điện tử, máy tính điện tử, năng lượng nguyên tử, nghiên cứu vũ trụ

- Phát triển khoa học giáo dục: Năm 1950, kinh phí giáo dục của Mỹ chiếm 3,38% tổng sản phẩm quốc dân, đến năm 1970 lên trên 7%

- Chính sách tiền lương và phúc lợi xã hội cao: Thời kỳ năm 1950 - 1972, tốc độ tăng lương danh nghĩa bình quân 4,7% (tốc độ tăng giá bình quân 2,5%); Tăng chi ngân sách cho phúc lợi xã hội (bảo hiểm xã hội cho người già, tàn tật, tai nạn lao động, thất nghiệp )

- Mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại: Tốc độ tăng GDP bình quân của Mỹ những năm 1953 -1973 là 3,5% (Nhật 9,8%, Pháp 5,2%, Tây Đức 5,9% )

Ở giai đoạn này Mỹ vẫn là cường quốc kinh tế có ưu thế về kinh tế, tài chính, tiền

tệ, và khoa học - kỹ thuật nhưng địa vị tương đối của Mỹ trong nền kinh tế thế giới tư bản giảm sút liên tục Nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút tương đối địa vị kinh tế của

Mỹ là do:

- Chính sách chạy đua vũ trang nên ngân sách quân sự tăng nhanh

- Lún sâu vào các cuộc chiến tranh (chiến tranh Việt Nam khoảng 352 tỷ USD)

- Tốc độ tăng năng suất lao động giảm sút, lợi thế so sánh giảm xuống do tiền lương của người lao động cao

- Đầu tư trong nước tăng tương đối chậm, đầu tư ra nước ngoài tăng nhanh

- Đồng đôla Mỹ bị mất giá, hai lần phá giá đồng đôla (18-12-1971, USD giảm giá 7,89%; 13-2-1973, USD giảm 10%)

- Phương pháp quản lý trong công nghiệp không còn phát huy tác dụng từ những năm 1970

Trang 40

2.3.4 Kinh tế Mỹ từ năm 1974 đến nay

* Thời kỳ 1974 – 2000

Trong những năm 1974 – 1982, kinh tế Mỹ phát triển chậm và không ổn định.Khủng hoảng kinh tế đi liền với khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng nănglượng, khủng hoảng tài chính, tiền tệ Tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt 2,3% trong khi của Nhật Bản đạt 4,7% Cùng với sự giảm sút về kinh tế, tình trạng lạm phát, thất nghiệp cũng gia tăng Thực trạng này bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:

- Đầu tư vốn cho kinh tế tăng chậm, trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế 1974-

1975 đầu tư tư bản cố định giảm 16,6%, tình trạng giảm sút đầu tư là do điều kiện tái sản xuất tư bản không thuận lợi (lạm phát, thất nghiệp tăng, tỷ xuất lợi nhuận bình quân giảm sút)

- Các cuộc khủng hoảng nguyên liệu và năng lượng 1974-1975, 1979-1982 với sự gia tăng của giá dầu đẫ tác động đến nền kinh té Mỹ, bởi lượng nhập khẩu dầu lửa của

Mỹ chiếm tới 53% tỏng nhu cầu dầu trong nước năm 1975

- Thị trường trong nước thu hẹp do thu nhập thực tế của người lao động giảm mạnh (lạm phát tăng, giá cả tăng nhanh)

Nhìn chung, sự đình trệ kéo dài của nền kinh tế Mỹ trước hết bắt nguồn từ mâu thuẫn nội tại của nền kinh tế đó là mâu thuẫn giữa sức sản xuất đã phát triển với quy

mô vô cùng lớn, vượt ra khỏi phạm vi quốc gia với cơ chế điều tiết nền kinh tế hướng vào trọng cầu Sự phát triển không ổn định của nền kinh tế Mỹ trên trường quốc tế đã đặt nền kinh tế Mỹ trước những thách thức về vấn đề cơ cấu lại nền kinh tế, khắc phục thâm hụt cán cân thương mại và cán cân thanh toán, xác lập lại nguồn dự trữ ngoại tệ

và điều chỉnh lại vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước

Để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng trì trệ kéo dài từ giữa những năm 1970 trở

đi, đặc biệt là sau khủng hoảng kinh tế 1973-1975 và 1979-1982, ở Mỹ đã diễn ra quá trình điều chỉnh kinh tế với các chính sách và giải pháp:

- Ủng hộ mạnh mẽ các nguyên tắc thị trường tự do nhưng chính phủ vẫn đóng một vai trò chính trong việc điều hành nền kinh tế Mỹ Nước Mỹ vẫn phải dựa vào chính phủ để giải quyết các vấn đề như giáo dục, bảo vệ môi trường… ngoài ra, chính phủ còn thực hiện chức năng nuôi dưỡng các ngành công nghiệp mới và bảo vệ các doanh nghiệp Mỹ khỏi sự cạnh tranh với nước ngoài

- Chính phủ Mỹ tiếp tục tăng chi tiêu ngân sách cho hoạt dộng nghiên cứu và triển khai Trong những năm 1980, chi tiêu ngân sách của chính phủ cho nghiên cứu

và triển khai gấp 3 lần những năm 1970 (từ 60 tỉ USD tăng lên 195 tỉ USD) Đồng thời, Mỹ cũng tăng cường nhập khẩu các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao Các ngành công nghệ kỹ thuật cao được Mỹ chú trọng là ngành công nghiệp otô, sản xuất máy tính (đặc biệt là phần mềm máy tính), thiết bị thông tin, chế tạo máy, công nghệ

Ngày đăng: 24/11/2021, 11:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w