1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tập bài giảng lịch sử các học thuyết kinh tế (dành cho sinh viên đại học ngành GDTC, kế toán, quản trị kinh doanh)

92 355 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 813,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những thành tựu Mặc dù chưa nghiên cứu đến quy luật kinh tế và còn hạn chế về tính lý luận nhưng hệ thống quan điểm học thuyết kinh tế trọng thương đã tạo ra những tiền đề lý luận kinh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ -

Trang 2

MỤC LỤC Ch-ơng I Error! Bookmark not defined

đối t-ợng, ph-ơng pháp nghiên cứu và chức năng của môn lịch sử các học thuyết kinh tế Error! Bookmark not defined

I Đối t-ợng nghiên cứu của môn lịch sử các học thuyết kinh tế Error! Bookmark not defined

II Ph-ơng pháp nghiên cứu của môn lịch sử các học

thuyết kinh tế Error! Bookmark not defined

III chức năng của lịch sử các học thuyết kinh tế

Error! Bookmark not defined CHƯƠNG II Error! Bookmark not defined

Quá trình phát sinh, phát triển của kinh tế chính trị t-

SẢN CỔ ĐIỂN Error! Bookmark not defined

I học thuyết kinh tế chủ nghĩa trọng th-ơng Error! Bookmark not defined

1 Hoàn cảnh ra đời Error! Bookmark not defined

2 Đặc điểm và các giai đoạn phát triển của chủ

nghĩa trọng th-ơng Error! Bookmark not defined

a Đặc điểm Error! Bookmark not defined

b Các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa trọng th-ơng Error! Bookmark not defined

3 Những quan điểm kinh tế của chủ nghĩa trọng

th-ơng Error! Bookmark not defined

4 Đánh giá về chủ nghĩa trọng th-ơng Error! Bookmark not defined

a Những thành tựu Error! Bookmark not defined

b Hạn chế Error! Bookmark not defined

5 Vai trò lịch sử của chủ nghĩa trọng th-ơng Error! Bookmark not defined

Ii học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng nông Error! Bookmark not defined

1 Hoàn cảnh ra đời chủ nghĩa trọng nông Error! Bookmark not defined

2 Những quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa

trọng nông Error! Bookmark not defined

a Phê phán chủ nghĩa trọng th-ơng Error! Bookmark not defined

b C-ơng lĩnh kinh tế của chủ nghĩa trọng nông

Error! Bookmark not defined

Trang 3

3 Các học thuyết kinh tế trọng nông Error! Bookmark not defined

a Học thuyết về trật tự tự nhiên Error! Bookmark not defined

b Học thuyết về “sản phẩm ròng” (sản phẩm thuần tuý) Error! Bookmark not defined

c Học thuyết về tiền tệ, giá trị t- bản, tiền

l-ơng, lợi nhuận và phân phối sản phẩm Error! Bookmark not defined

4 Đánh giá chủ nghĩa trọng nông Error! Bookmark not defined

a Thành tựu Error! Bookmark not defined

b Hạn chế Error! Bookmark not defined

III học thuyết kinh tế t- sản cổ đIển Error! Bookmark not defined

1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm cơ bản Error! Bookmark not defined

a Hoàn cảnh ra đời Error! Bookmark not defined

b Đặc điểm Error! Bookmark not defined

2 Các lý thuyết kinh tế của học thuyết kinh tế t- sản cổ điển Error! Bookmark not defined

a Lý thuyết kinh tế của William Petty(1623- 1687) Error! Bookmark not defined

b Lý thuyết kinh tế của A Đam Smith ( 1723 –

1790) Error! Bookmark not defined

c Lý thuyết kinh tế của David Ricacdo (1772 –

1823) Error! Bookmark not defined

IV Học thuyết kinh tế chính trị t- sản tầm th-ờng

Error! Bookmark not defined

1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm Error! Bookmark not defined

a Hoàn cảnh ra đời Error! Bookmark not defined

b Đặc điểm Error! Bookmark not defined

2 Các lý thuyết kinh tế chính trị t- sản tầm th-ờng Error! Bookmark not defined

a Lý thuyết của Thomas Robert Malthus (1766-

1834) Error! Bookmark not defined Sơ l-ợc tiểu sử và đặc điểm ph-ơng pháp luận Error! Bookmark not defined

2 Lý thuyết của Jean Baptiste Say (1767 – 1832)

Error! Bookmark not defined

Trang 4

a Tiểu sử và đặc điểm ph-ơng pháp luận Error! Bookmark not defined

b Một số lý thuyết kinh tế J.B.Say Error! Bookmark not defined

Ch-ơng iiI Error! Bookmark not defined

học thuyết kinh tế tiểu t- sản Error! Bookmark not defined

i Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm Error! Bookmark not defined

1 Hoàn cảnh ra đời Error! Bookmark not defined

2 Đặc điểm Error! Bookmark not defined

ii Các lý thuyết kinh tế của tiểu t- sản Error! Bookmark not defined

1 Lý thuyết kinh tế của Sismodi (1773 – 1842) Error! Bookmark not defined

a Tiểu sử và ph-ơng pháp luận Error! Bookmark not defined

b Các lý thuyết kinh tế của Sismondi Error! Bookmark not defined

Lý thuyết giá trị – lao động Error! Bookmark not defined

2 Lý thuyết của P.J.Proudon (1809 -1865) Error! Bookmark not defined

a.Tiểu sử, ph-ơng pháp luận Error! Bookmark not defined

b Các lý thuyết kinh tế của Proudon Error! Bookmark not defined

Lý thuyết về sở hữu Error! Bookmark not defined

Ch-ơng Iv Error! Bookmark not defined

Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa xã hội không t-ởng

Error! Bookmark not defined

I Hoàn cảnh ra đời và những đặc điểm cơ bản Error! Bookmark not defined

1 Hoàn cảnh ra đời Error! Bookmark not defined

2 Đặc điểm chung lý thuyết kinh tế của CNXH không t-ởng Error! Bookmark not defined

II Các lý thuyết kinh tế của chủ nghĩa xã hội không t-ởng Error! Bookmark not defined

1 Học thuyết kinh tế của Saint Simon (1760 – 1825) Error! Bookmark not defined

a Quan điểm lịch sử của Saint Simon Error! Bookmark not defined

Trang 5

b Saint Simon phê phán chủ nghĩa t- bản Error! Bookmark not defined

c Saint Simon dự đoán mới về xã hội t-ơng lai

Error! Bookmark not defined

2 Học thuyết kinh tế Charler Fourier (1772 - 1839) Error! Bookmark not defined

a Lý thuyết về lịch sử xã hội Error! Bookmark not defined

b Sự phê phán chủ nghĩa t- bản Error! Bookmark not defined

c Fourier dự đoán xã hội t-ơng lai Error! Bookmark not defined

3 Học thuyết kinh tế của Robert owen (1771 – 1858) Error! Bookmark not defined

a Owen phê phán chủ nghĩa t- bản Error! Bookmark not defined

b Owen dự đoán về xã hội t-ơng lai Error! Bookmark not defined

III khái quát những quan điểm chủ yếu của Chủ nghĩa xã hội không t-ởng về xã hội t-ơng lai Error! Bookmark not defined

1 Đặc tr-ng cơ bản của nền kinh tế xã hội t-ơng lai Error! Bookmark not defined

a Về cơ sở của xã hội mới Error! Bookmark not defined

b Về lực l-ợng sản xuất Error! Bookmark not defined

c Về nhà n-ớc Error! Bookmark not defined

d Về mục đích Error! Bookmark not defined

e Tổ chức hoạt động trong xã hội t-ơng lai Error! Bookmark not defined

2 Biện pháp thực hiện Error! Bookmark not defined

Học thuyết kinh tế Macxit Error! Bookmark not defined

i Những điều kiện lịch sử phát triển của chủ nghĩa mác Error! Bookmark not defined

II Quá trình hình thành và phát triển học thuyết kinh

tế mác - xít Error! Bookmark not defined

1 Sơ l-ợc tiểu sử C.Mác và Ph.ăngghen, VI Lênin

Error! Bookmark not defined

a Các Mác (1818 - 1883) Error! Bookmark not defined

Trang 6

b Ph Ăng ghen (1820 - 1895) Error! Bookmark not defined

c VI Lê-nin (1870 - 1924) Error! Bookmark not defined

2 Quá trình hình thành và phát triển của học thuyết kinh tế Mácxít Error! Bookmark not defined

a Đặc điểm Error! Bookmark not defined

b Các thời kỳ phát triển của kinh tế chính trị Mácxít Error! Bookmark not defined

III Những sáng kiến mang tính chất cách mạng của Mác

và Ăngghen về học thuyết kinh tế Error! Bookmark not defined

Ch-ơng VI Error! Bookmark not defined

Học thuyết kinh tế của tr-ờng phái cổ điển mới Error! Bookmark not defined

I Hoàn cảnh ra đời và Những đặc điểm cơ bản Error! Bookmark not defined

1 Hoàn cảnh ra đời Error! Bookmark not defined

2 Đặc điểm cơ bản Error! Bookmark not defined

II Các lý thuyết cơ bản Error! Bookmark not defined

1 Lý thuyết cơ bản của phái thành Viene (áo) Error! Bookmark not defined

a Định luật nhu cầu của Herman Gossen (1810 – 1858) Error! Bookmark not defined

b Lý thuyết sản phẩm kinh tế của tr-ờng phái

Viene (áo) Error! Bookmark not defined

2 Lý thuyết “giới hạn” của Mỹ Error! Bookmark not defined

a Lý thuyết “năng suất giới hạn” của John Bates Clark (1847 – 1938) Error! Bookmark not defined

b Lý thuyết phân phối của Clark Error! Bookmark not defined

3 Lý thuyết kinh tế của tr-ờng phái Lausanne (Thuỵ Sĩ) Error! Bookmark not defined

a Giới thiệu Leon Walras Error! Bookmark not defined

b Lý thuyết cân bằng tổng quát của Leon Walras

Error! Bookmark not defined

4 Lý thuyết kinh tế của phái Cambridge (Anh) Error! Bookmark not defined

a Về đối t-ợng, ph-ơng pháp của kinh tế chính trị học Error! Bookmark not defined

Trang 7

b Lý thuyết về của cải và nhu cầu Error! Bookmark not defined

c Lý thuyết về sản xuất và các yếu tố của sản

xuất Error! Bookmark not defined

Ch-ơng VII Error! Bookmark not defined

Học thuyết kinh tế của tr-ờng phái Keynes Error! Bookmark not defined

I Hoàn cảnh ra đời và Những đặc điểm cơ bản Error! Bookmark not defined

1 Hoàn cảnh ra đời Error! Bookmark not defined

2 Đặc điểm cơ bản Error! Bookmark not defined

II Các lý thuyết kinh tế cơ bản Error! Bookmark not defined

1 Lý thuyết chung về việc làm của J.M.Keynes Error! Bookmark not defined

2 Lý thuyết tổng cầu của J.M.Keynes Error! Bookmark not defined

Ch-ơng VIII Error! Bookmark not defined

học thuyết kinh tế của chủ nghĩa tự do mới Error! Bookmark not defined

I Hoàn cảnh ra đời và những đặc điểm cơ bản Error! Bookmark not defined

1 Hoàn cảnh ra đời Error! Bookmark not defined

2 Đặc điểm ph-ơng pháp luận Error! Bookmark not defined

II Học thuyết về kinh tế thị tr-ờng – xã hội ở cộng hòa Liên Bang Đức Error! Bookmark not defined

1 Hoàn cảnh xuất hiện lý thuyết về nền kinh tế thị tr-ờng xã hội Error! Bookmark not defined

2 Những quan điểm cơ bản về kinh tế thị tr-ờng xã hội Error! Bookmark not defined

3 Những thành tựu và hạn chế của nền kinh tế thị tr-ờng xã hội Error! Bookmark not defined

III Các lý thuyết kinh tế của tr-ờng phái tự do mới ở

Mỹ Error! Bookmark not defined

1 Lý thuyết kinh tế của phái trọng tiền hiện đại ở

Mỹ Error! Bookmark not defined

2 Các quan điểm của phái trọng cung ở Mỹ Error! Bookmark not defined

Ch-ơng Ix Error! Bookmark not defined

học thuyết Kinh tế của tr-ờng phái chính hiện đại

Error! Bookmark not defined

Trang 8

I Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm cơ bản Error! Bookmark not defined

1 Hoàn cảnh ra đời Error! Bookmark not defined

2 Đặc điểm cơ bản Error! Bookmark not defined

II Một số lý thuyết trong kinh tế học của tr-ờng phái chính hiện đại Error! Bookmark not defined

1 Lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp Error! Bookmark not defined

2 Lý thuyết thấp nghiệp Error! Bookmark not defined

Các khái niệm về thất nghiệp và tỉ lệ thất nghiệp

Error! Bookmark not defined

3 Lý thuyết lạm phát Error! Bookmark not defined

4 Lý thuyết về “cái vòng luẫn quẫn” và “cú hích từ bên ngoài” Error! Bookmark not defined

Tài liệu tham khảo Error! Bookmark not defined

CHƯƠNG I ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU VÀ CHỨC NĂNG CỦA

MễN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ

Đối tượng nghiờn cứu của mụn lịch sử cỏc học thuyết kinh tế là cỏc hệ thống quan điểm kinh tế của cỏc giai cấp khỏc nhau trong cỏc hỡnh thỏớ kinh tế xó hội khỏc nhau gắn với cỏc giai đoạn lịch sử nhất định Nú chỉ ra những cống hiến, những giỏ trị khoa học, cũng như phờ phỏn cú tớnh lịch sử những hạn chế của những đại biểu, cỏc trường phỏi kinh tế học Từ đú làm tiền đề cho sự ra đời và phỏt triển cỏc học thuyết kinh tế tiếp theo

Lịch sử cỏc học thuyết kinh tế khụng phải đi vào nghiờn cứu tất cả cỏc tư tưởng kinh tế trong lịch sử mà chỉ nghiờn cứu một bộ phận của lịch sử tư tưởng kinh tế Hay núi cỏch khỏc, lịch sử cỏc học thuyết kinh tế chỉ nghiờn cứu những

Trang 9

tư tưởng kinh tế đã mang tính chất khái quát hoá đặc trưng cho một xu hướng, khuynh hướng hay một giai đoạn lịch sử nào đó trong quá trình phát triển tư tưởng kinh tế của loài người

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA MÔN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ

Phép biện chứng duy vật là học thuyết về những mối liên hệ, những quy luật chung nhất của sự phát triển, của tồn tại và của tư duy, đây là phương pháp nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn khách quan, từ quá trình sản xuất vật chất của

xã hội để xem xét và giải thích mọi vấn đề, mọi hiện tượng và quá trình kinh tế Mặt khác nó đòi hỏi việc nghiên cứu các hiện tượng của các quá trình kinh tế trong mối quan hệ phổ biến và quan điểm phát triển toàn diện

Việc nghiên cứu hệ thống các quan điểm kinh tế trong các giai đoạn lịch sử khác nhau còn đòi hỏi phải sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp logich, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê…nhằm vạch rõ những thành tựu khoa học, những hạn chế cũng như sự kế thừa, phát triển của các quan điểm kinh tế, của các đại biểu khác nhau

III CHỨC NĂNG CỦA LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ

Lịch sử các học thuyết kinh tế là một môn khoa học độc lập, nó chiếm vị trí quan trong trong số các khoa học xã hội Lịch sử các học thuyết kinh tế có các chức năng của mình, bao gồm các chức năng sau:

Chức năng nhận thức: Nghiên cứu, giải thích các hiện tượng, các quá trình kinh tế nhằm phát hiện ra các khái niệm, các phạm trù, các quy luật kinh tế Từ

đó nhận thức được tư tưởng, quan điểm kinh tế của thời đại giúp cho con người vận dụng vào hoạt động kinh tế của mình một cách có hiệu quả

Chức năng thực tiễn: Thực hiện chức năng này lịch sử các học thuyết kinh tế chỉ ra những điều kiện, cơ chế, phương pháp, vận dụng các tư tưởng quan điểm kinh tế của các học thuyết kinh tế vào hoạt động thực tiễn của con người nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất

Chức năng phương pháp luận: Lịch sử các học thuyết kinh tế có mối quan hệ với các khoa học khác, khi nghiên cứu học phần này chúng ta có thể hiểu một cách đầy đủ hơn, hoàn chỉnh hơn các môn khoa học khác như: Khoa học kinh tế chính trị, khoa học kinh tế ngành, khoa học kinh tế chức năng…

Trang 10

Với những chức năng trên, việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế là rất cần thiết, là một bộ phận không thể tách rời của việc nghiên cứu các khoa học khác trong giai đoạn hiện nay Nó giúp cho người học mở rộng và nâng cao hiểu biết về kinh tế thị trường, đặc biệt nó trang bị cho những nhà kinh tế học cũng như các nhà quản lí kinh tế những kiến thức cần thiết trong việc nghiên cứu và xây dựng đường lối, chiến lược phát triển kinh tế của đất nước

CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH PHÁT SINH, PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Nó xuất hiện vào giữa thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XVII, giai đoạn này bao gồm thời kì tích luỹ tư bản nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản Đây là thời kì tước đoạt bằng bạo lực nền sản xuất nhỏ và tích luỹ tiền tệ ở ngoài phạm vi các nước Châu Âu bằng các hoạt động thương mại, mua bán và trao đổi không ngang giá với các nước thuộc địa

- Xét mặt chính trị- tư tưởng

Trang 11

Giai cấp tư sản đã có tiềm lực về kinh tế nhưng chưa có tiềm lực về chính trị (chưa nắm quyền thống trị xã hội) Lúc này quyền lực nằm trong tay địa chủ, phong kiến và thế lực nhà thờ (tôn giáo), chủ nghĩa duy vật cũng ra sức chống lại các thuyết giáo duy tâm của nhà thờ (như Brunô, Bacon ở Anh) Vì vậy, học thuyết kinh tế chủ nghĩa trọng thương ra đời nhằm chống lại các thế lực phong kiến và nhà thờ (thiên chúa giáo)

Mặt khác, trong thời kì này xuất hiện nhiều nhà tư tưởng lớn khởi xướng các phong trào đấu tranh làm cho cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản phát triển một cách mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực khác nhau (văn hoá Phục Hưng, cải cách tôn giáo, chiến tranh của nhân dân Đức, năm 1556 cách mạng tư sản Hà Lan bùng nổ)

- Xét mặt kinh tế

Sản xuất hàng hoá ra đời từ thời kì chiếm hữu nô lệ nhưng phải đến thời kì này, khi lực lượng sản xuất phát triển với sự phân công lao động xã hội diễn ra một cách sâu sắc, thì nó thúc đẩy sức sản xuất của xã hội phát triển

Sản xuất hàng hoá phát triển làm cho tiền tệ phát triển, tiền tệ phát triển làm cho quá trình trao đổi mua bán phát triển và thị trường được mở rộng, khi thương nghiệp và thị trường được mở rộng lại thúc đẩy nhanh quá trình tan rã của sản xuất tự cấp, tự túc

Mặt khác, sản xuất hàng hoá ra đời đã thúc đẩy nhanh quá trình phân hoá giàu nghèo, đây là tiền đề cho sự ra đời phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

- Xét mặt khoa học kĩ thuật

Ở thời kì này có nhiều phát minh khoa học ra đời và được ứng dụng một cách rộng rãi vào đời sống kinh tế - xã hội, thúc đẩy sản xuất phát triển, đặc biệt

là các phát minh trên các lĩnh vực thiên văn, địa lí, khoa học tự nhiên, vật lý

Nhờ ứng dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật làm cho các cuộc phát kiến địa lý lớn ra đời nhằm tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng hoá và mua bán vật liệu Những phát kiến địa lý ở thế kỉ XV- XVI tìm ra châu Mỹ đi vòng qua châu Phi đến châu Á, tạo ra khả năng mở rộng thị trường và xâm chiếm thuộc địa (Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha chiếm nhiều thuộc địa nhất)

Kết quả của các cuộc phát kiến địa lý làm cho giai cấp tư sản ở Tây Âu thu được nhiều lợi nhuận (vàng, khoáng sản, kim cương, nguyên liệu) Chính

Trang 12

điều này khẳng định vai trò quan trọng của thương nghiệp nhất là ngoại thương,

từ đó họ cho rằng của cải chỉ có thể sinh ra từ ngoại thương

2 Đặc điểm và các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa trọng thương

a Đặc điểm

Chủ nghĩa trọng thương là một hệ thống tư tưởng kinh tế đại biểu cho tầng lớp thương nhân, giai cấp tư sản đang lên trong giai đoạn tan rã của chế độ phong kiến và sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Đó là những chính sách, cương lĩnh kinh tế của giai cấp tư sản kêu gọi thương nhân tận dụng ngoại thương buôn bán để bóc lột các nước khác nhằm bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản đang hình thành

Chủ nghĩa trọng thương ra đời và tồn tại trong thời kì tích luỹ nguyên thuỷ

tư bản, đây là quá trình tước đoạt những người sản xuất nhỏ để tập trung tiền tệ vào trong tay giai cấp tư sản thông qua con đường ngoại thương

Chủ nghĩa trọng thương là học thuyết kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản nhằm nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, song tính chất lý luận còn rất đơn giản và thô sơ (chưa đi vào phân tích bản chất bên trong của quá trình kinh tế)

Chủ nghĩa trọng thương không phải là một học thuyết thuần nhất có tính chất phổ biến cho tất cả các dân tộc, các quốc gia mà nó mang tính chất riêng biệt ở từng nước

Ví dụ: Học thuyết trọng thương về trọng kim ở Tây Ban Nha, học thuyết trọng thương thiên về kỹ thuật ở Pháp, học thuyết trọng thương về ngoại thương

ở Anh, Hà Lan

Sở dĩ chủ nghĩa trọng thương mang đặc điểm dân tộc riêng biệt ở từng nước

vì quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa tư bản ở mỗi nước khác nhau Trong đó chủ nghĩa trọng thương ở Anh là điển hình

b Các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa trọng thương

Giai đoạn thế kỷ XV- XVI (hay còn gọi là giai đoạn học thuyết tiền tệ)

Chủ nghĩa trọng thương đưa ra cương lĩnh kinh tế lấy tiền làm cân đối chính (chủ nghĩa tiền tệ- lấy tiền làm trung tâm)

* Nội dung:

Trang 13

Giai đoạn đầu này, các nhà kinh tế học như A Xeria, Staford đồng nhất của cải với tiền tệ, họ chưa hiểu quan hệ giữa lưu thông hàng hoá với lưu thông tiền

tệ

* Để tăng tiền chủ nghĩa trọng thương đưa ra những giải pháp sau:

- Nhà nước cần can thiệp vào nền kinh tế để điều tiết lưu thông tiền tệ (không để nền kinh tế phát triển một cách tự do)

- Cấm xuất khẩu tiền, vàng, bạc ra nước ngoài mà phải thu hút tiền càng nhiều càng tốt

- Nhà nước cần giám sát thương nhân không cho đem tiền đi mà phải mua hàng hoá

- Cần tích trữ tiền

Như vậy ở giai đoạn này các biện pháp chủ yếu nhằm giữ khối lượng tiền

tệ có ở trong nước và dựa vào các biện pháp hành chính “phi kinh tế” để giải quyết các vấn đề kinh tế Những biện pháp này cho thấy những người chủ nghĩa trọng thương giai đoạn sơ kỳ hiểu tiền với chức năng phương tiện cất trữ nhưng chưa hiểu được bản chất của tiền và quy luật lưu thông của nó

Giai đoạn thế kỷ XVII (giai đoạn học thuyết về bảng cân đối thương mại)

* Nội dung chủ yếu:

Ở thời kỳ này tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng thương là vừa coi trọng lưu thông tiền tệ vừa coi trọng lưu thông hàng hoá, họ lấy quan hệ thương mại làm cân đối chính

* Biện pháp thực hiện:

- Phát triển nội thương không hạn chế

- Mở rộng xuất khẩu, đảm bảo xuất siêu nhưng vừa phải, giảm chi phí sản xuất

- Nhập khẩu quy mô lớn (chủ yếu là nhập nguyên liệu để gia công, nâng cao trình độ sản xuất trong nước)

- Phải đảm bảo nguyên tắc mua ít bán nhiều

Như vậy, ở giai đoạn này chủ nghĩa trọng thương đã có bước phát triển về lý luận, họ đã thấy được vai trò của lưu thông tiền tệ và quan tâm tới sản xuất Song hai lĩnh vực này đều có chung một mục đích đó là tích trử tiền

3 Những quan điểm kinh tế của chủ nghĩa trọng thương

Trang 14

- Chủ nghĩa trọng thương đánh giá cao vai trò của tiền tệ và coi tiền là của cải thực sự của xã hội

- Chủ nghĩa trọng thương cho rằng khối lượng tiền chỉ có thể tăng lên thông qua thương nghiệp, nhất là ngoại thương

- Chủ nghĩa trọng thương chưa đưa ra các khái niệm, các quy luật kinh tế,

họ chủ trương dựa vào nhà nước để phát triển kinh tế (dùng quyền lực của nhà

nước, của pháp luật, của quân sự)

4 Đánh giá về chủ nghĩa trọng thương

a Những thành tựu

Mặc dù chưa nghiên cứu đến quy luật kinh tế và còn hạn chế về tính lý luận nhưng hệ thống quan điểm học thuyết kinh tế trọng thương đã tạo ra những tiền đề lý luận kinh tế- xã hội cho các lý luận kinh tế thị trường sau này phát triển, nó thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, đề cao thương nghiệp…

Họ là những người đầu tiên nghiên cứu chủ nghĩa tư bản, nghiên cứu về kinh tế nhất là thương nghiệp và ngoại thương, trong điều kiện sản xuất hàng hoá chưa phát triển thì thương nghiệp và ngoại thương là một đòn bẫy kinh tế thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tích luỹ vốn ban đầu cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản

Họ đã thấy được những vấn đề thực tiễn và đã khái quát thành những nguyên tắc, cương lĩnh kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản, tạo điều kiện cho sự

ra đời chủ nghĩa tư bản Châu Âu Bước đầu hướng vào phát triển công nghiệp, mặc dù họ coi trọng thương nghiệp, ngoại thương nhưng dần dần họ đã nhận ra rằng muốn cho thương nghiệp, ngoại thương phát triển thì phải phát triển sản xuất mà trước hết là sản xuất hàng xuất khẩu (thời kỳ này công trường thủ công

đã phát triển ở nhiều nước như Anh, Pháp…)

Họ đã đoạn tuyệt hẵn với cách lý giải theo quan điểm tôn giáo, đạo đức Lần đầu tiên trong lịch sử họ đã lý giải các hiện tượng kinh tế từ thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội (nhìn dưới gốc độ kinh tế)

b Hạn chế

Một quốc gia không thể tồn tại nhờ vào buôn bán được, học thuyết kinh tế chủ nghĩa trọng nông chỉ nghiên cứu lĩnh vực lưu thông và cực đoan khi cho rằng ngoại thương là phương pháp làm giàu duy nhất

Thành tựu lý luận còn quá nhỏ bé

Trang 15

5 Vai trò lịch sử của chủ nghĩa trọng thương

Mặc dù có những hạn chế nhưng so với tiến trình phát triển của xã hội loài người học thuyết kinh tế chủ nghĩa trọng thương đã thấy được Tiền với chức năng là phương tiện cất trữ, thấy được sự giàu có không chỉ ở giá trị sử dụng mà còn ở giá trị, thấy được mục đích của sản xuất hàng hoá là lợi nhuận, thấy được những chính sách của chính phủ nhất là chính sách bảo hộ thuế quan có tác dụng rút ngắn thời kì quá độ từ thời kì phong kiến sang chủ nghĩa tư bản để cho ra đời phương thức sản xuất mới

Họ đưa ra các tư tưởng về sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, quan điểm này được kinh tế học tư sản hiện đại vận dụng

II HỌC THUYẾT KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA TRỌNG NÔNG

1 Hoàn cảnh ra đời chủ nghĩa trọng nông

Chủ nghĩa trọng nông xuất hiện ở Pháp từ đầu thế kỷ XVIII do các nguyên nhân cơ bản sau đây:

Chủ nghĩa tư bản sinh ra trong lòng chế độ phong kiến tuy chưa làm được cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến nhưng nó có sức mạnh kinh tế và muốn cách tân kinh doanh trong nông nghiệp, đòi hỏi phải có lý luận kinh tế mở đường

Sự thống trị của chế độ phong kiến ở Pháp đến giữa thế kỷ XVIII đã khủng hoảng nghiêm trọng và phản động làm cho trung tâm những mâu thuẫn kinh tế chuyển sang lĩnh vực nông nghiệp, đòi hỏi phải có lý luận giải quyết mâu thuẫn đó

Chủ nghĩa trọng nông xuất hiện là sự phản ánh trực tiếp chống lại chủ nghĩa trộng thương nhưng ở Pháp lúc này tình hình đặc biệt: Lẽ ra đấu tranh chống chủ nghĩa trọng thương sẽ làm cho công trường thủ công phát triển nhưng

ở đây lại khuyến khích cho chủ nghĩa trọng nông ra đời, mở đường cho nông nghiệp phát triển (kinh tế chủ trại)

Tóm lại, hoàn cảnh nước Pháp giữa thế kỷ XVIII là hoàn cảnh đặc biệt, buộc phải tìm con đường giải phóng lực lượng sản xuất từ trong nông nghiệp chứ không phải trong công trường thủ công như ở Anh và các nước khác

2 Những quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa trọng nông

a Phê phán chủ nghĩa trọng thương

Trang 16

Chủ nghĩa trọng nông phê phán chủ nghĩa trọng thương trong việc chỉ ra nguồn gốc của lợi nhuận, cho rằng lợi nhuận xuất hiện từ quan hệ mua bán nhưng chủ nghĩa trọng nông lại cho rằng lợi nhuận sinh ra từ sản xuất, giá trị hàng hoá nằm trong quá trình sản xuất Họ cho rằng chủ nghĩa trọng thương quá

đề cao vai trò của đồng tiền, theo họ khối lượng tiền nhiều hay ít chẳng có ý nghĩa gì cả, chỉ cần có đủ số lượng tiền tương ứng với hàng hoá

Chủ nghĩa trọng nông chủ trương tự do lưu thông vì tự do lưu thông sẽ kích thích sản xuất phát triển tạo ra nhiều lợi nhuận và làm giàu cho tất cả mọi người, họ phê phán chủ nghĩa trọng thương trong vấn đề thực hiện chế độ bảo

hộ mậu dịch và các thứ thuế

Chủ nghĩa trọng nông khẳng định cần phải có một nền nông nghiệp giàu

có, phải ưu tiên cho nông nghiệp, họ cho rằng tiền bạc không là gì cả sản xuất mới là tất cả, nhất là sản xuất nông nghiệp, nó sẽ dẫn tới sự giàu có cho tất cả mọi người

b Cương lĩnh kinh tế của chủ nghĩa trọng nông

Trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa trọng thương, phái trọng nông đã đề ra

cương lĩnh, chính sách kinh tế của họ Cương lĩnh này được trình bày đầy đủ

hơn cả trong tác phẩm những nguyên lý chung của chính sách kinh tế của một quốc gia nông nghiệp

Trên cơ sở nghiên cứu mọi mặt của chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa trọng nông đưa ra cương lĩnh kinh tế như sau:

- Nhà nước cần phải có vai trò tối cao đối với tất cả mọi thành viên trong xã hội (Nhà nước không nên chỉ bênh vực quyền lợi của địa chủ, quý tộc, của các nhà buôn lớn)

- Họ cho rằng chỉ có sản xuất nông nghiệp mới là ngành sản xuất ra hàng hoá, của cải vật chất Do đó chi phí cho nông nghiệp là chi phí sản xuất, chi phí sinh lời, nhà nước cần ưu tiên cho sản xuất nông nghiệp

Cương lĩnh chính sách kinh tế của trọng nông đòi hỏi tổ chức sản xuất chủ nghĩa tư bản phải có ngành kinh tế chủ yếu để làm chổ dựa cho chế độ phong kiến, đó là ngành nông nghiệp

Những chính sách cụ thể của nhà nước nhằm ưu tiên phát triển sản xuất nông nghiệp :

Trang 17

+ Cho phép chủ trại được tự do lựa chọn ngành kinh doanh ( chính sách sản xuất kinh doanh)

+ Đầu tư cho đường sá, cầu cống làm cho chuyên chở sản xuất hàng hoá tốt hơn ( chính sách đầu tư)

+ Chế độ thuế khoá, phân phối thu nhập…nên ưu đãi cho nông nghiệp, nông dân, chủ trại chứ không phải ưu đãi cho quý tộc, phong kiến (chính sách về tài chính)

Như vậy, cương lĩnh kinh tế của chủ nghĩa trọng nông đã vạch rõ một số quan điểm, chính sách mở đường cho nông nghiệp phát triển theo định hướng mới, đề cao sản xuất nông nghiệp, hạn chế của họ là chưa coi trọng vai trò của công nghiệp, của kinh tế thị trường mà có xu thế thuần nông

3 Các học thuyết kinh tế trọng nông

Nội dung cơ bản:

Học thuyết về luật tự nhiên của Qnesney thừa nhận quyền tự do của con người, coi đó là luật tự nhiên của con người, không thể thiếu được Chống lại chế

độ phong kiến và xem nó là một chế độ không bình thường dựa trên sự dốt nát là một sai lầm của lịch sử

Họ chủ trương phải có sự tự do cạnh tranh giữa những người sản xuất (điều kiện, trình độ chất lượng, giá cả ) Họ đưa ra khẩu hiệu “Tự do buôn bán, tự do hoạt động”, thừa nhận quyền bất khả xâm phạm đối với chế độ sở hữu

b Học thuyết về “sản phẩm ròng” (sản phẩm thuần tuý)

Lý thuyết trọng tâm của phái trọng nông là sản phẩm thuần tuý, sản phẩm thuần tuý là số chênh lệch giữa tổng sản phẩm và chi phí sản xuất, nó là số dôi ra ngoài chi phí sản xuất, nó được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp còn công nghiệp không tạo ra sản phẩm thuần tuý

Trang 18

Chủ nghĩa trọng nông đã giải thích nguồn gốc sản phẩm thuần tuý theo tinh thần của chủ nghĩa tự nhiên, nó là tặng vật tự nhiên cho con người và tồn tại vĩnh viễn

Lao động tạo ra sản phẩm thuần tuý là lao động sản xuất, lao động sinh lời, các lao động khác không tạo ra sản phẩm thuần tuý thì không phải là lao động sản xuất Như vậy, chỉ có lao động nông nghiệp tạo ra sản phẩm thuần tuý, tuy nhiên điều này không có nghĩa lao động công nghiệp ăn bám vào nông nghiệp

Từ lý thuyết sản phẩm thuần tuý Qnesey đưa ra lý thuyết giai cấp Ông chia xã hội thành 3 giai cấp: giai cấp sản xuất ra sản phẩm thuần tuý, giai cấp không sản xuất và giai cấp sở hữu, tức là những người chủ ruộng đất nhờ đó họ chiếm hữu sản phẩm thuần tuý tạo ra

Trên cơ sở nội dung của lý thuyết sản phẩm thuần tuý, những người trọng nông đã biết chú ý đến vai trò của lao động sản xuất và coi đó là nguồn gốc tạo

ra giá trị hàng hoá nhưng cái hạn chế cơ bản của họ là chỉ coi trọng lao động sản xuất nông nghiệp mà chưa thấy được vai trò của sản xuất công nghiệp, thương nghiệp

c Học thuyết về tiền tệ, giá trị tư bản, tiền lương, lợi nhuận và phân phối sản phẩm

Tiền tệ: Chủ nghĩa trọng nông cho rằng tiền là phương tiện lưu thông, làm

môi giới giữa mua và bán Tiền có chức năng là thước đo giá trị của hàng hoá, và thực hiện các chức năng khác như phương tiện lưu thông, cất trử, thanh toán

Giá trị tư bản: Chủ nghĩa trọng nông cho rằng tư bản là đất đai đưa lại

sản phẩm thuần tuý, nói cách khác tư bản là tư liệu sản xuất được mua bằng tiền Căn cứ vào quá trình chu chuyển của tư bản để phân chia các bộ phận của tư bản, chủ nghĩa trọng nông phân chia tư bản thành 2 bộ phận

- Bộ phận tư bản ứng trước đầu tiên, gồm các chi phí máy móc, thiết bị, nông cụ mà giá trị của chúng đươc chuyển dần dần vào sản phẩm trong nhiều năm

- Bộ phận tư bản ứng trước hàng năm, gồm những chi phí về hạt giống, tiền lương công nhân mà giá trị của chúng được chuyển hết vào trong sản phẩm

Trang 19

Cách phân biệt này là một bước tiến lớn trong lịch sử các học thuyết kinh

tế, đây là nền móng để sau này các nhà kinh tế học phân chia tư bản, tuy nhiên cách phân chia này chỉ diễn ra trong lĩnh vực lao động sản xuất nông nghiệp vì vậy nó còn bộc lộ nhiều hạn chế như họ coi tư bản không phải là tiền, không phải là quan hệ xã hội mà là một đóng vật chất, chưa phân biệt được tư bản với tiền thông thường, chưa phân biệt được chức năng của tiền trong sự vận động của tư bản

Tiền lương và lợi nhuận: Tiền lương là thu nhập do lao động, lợi nhuận

là phần thu nhập sản phẩm thuần tuý của nhà tư bản do người công nhân tạo ra

Nhà tư bản không lao động vẫn thu được phần lợi nhuận, họ không trực tiếp đứng ra lao động sản xuất mà là người tổ chức Đây là một tư tưởng tiến bộ

vì họ thấy được sức lao động của người công nhân, tuy nhiên chủ nghĩa trọng nông ủng hộ quan điểm “quy luật sắt về tiền lương” tức là tiền lương của công nhân phải thu hẹp ở mức tư liệu sinh hoạt cần thiết, tối thiểu vì cung lao động luôn luôn lớn hơn cầu về lao động, do đó công nhân buộc phải cạnh tranh với nhau để có việc làm và nhà tư bản dựa vào điều kiện này để có thể trả lương thấp (hạn chế)

Phân phối sản phẩm: Theo những người trọng nông thì kết quả của sản

xuất phải được phân phối như sau:

Hoàn lại phần ứng trước (phần vốn)

Trả lại phần lợi tức của khoản ứng trước ban đầu

Một khoản dư thừa mà người nông dân có thể đem trao đổi mua bán, đó là phần của cải duy nhất mà họ có trong tay Phần được coi là phần thu nhập ấy là

cơ sở cho toàn bộ kết cấu vận hành nền kinh tế Chính từ phần thu nhập đó mà trích ra phần dành cho Tô (thờ, cúng, tôn giáo), cho thu nhập công cộng (duy trì,

Trang 20

Chủ nghĩa trọng nông nghiên cứu sản xuất nhưng không chỉ là quá trình sản xuất cá biệt, đơn lẽ mà quan trọng hơn họ đã biết nghiên cứu quá trình tái sản xuất của toàn bộ xã hội- một vấn đề hết sức to lớn của kinh tế chính trị

Chủ nghĩa trọng nông đã có bước tiến trong việc mô hình hoá, sơ đồ hoá các quan hệ kinh tế, đây là nền móng cho sơ đồ tái sản xuất xã hội của Mác sau này Chủ nghĩa trọng nông đã đặt nền móng gợi mở nhiều vấn đề có giá trị cho đến ngày ngày nay như: Tôn trọng quyền tự do của con người, đề cao tự do cạnh tranh, bảo vệ lợi ích người sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp, đổi mới phương thức sản xuất nông nghiệp

Họ hiểu sai ngành sản xuất và lao động sản xuất

III HỌC THUYẾT KINH TẾ TƯ SẢN CỔ ĐIỂN

1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm cơ bản

a Hoàn cảnh ra đời

Cuối thế kỷ XVIII, ở nước Anh và Pháp học thuyết kinh tế cổ điển xuất hiện Vào thời kì này, sau khi tích luỹ được khối lượng tiền tệ lớn, giai cấp tư sản tập trung phát triển lĩnh vực sản xuất Vì vậy, các công trường thủ công trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp phát triển mạnh mẽ

Ở thời kỳ này diễn ra việc tước đoạt ruộng đất của nông dân, hình thành giai cấp cô sản và chủ chiếm hữu ruộng đất Sự tồn tại của chế độ phong kiến không chỉ kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa tư bản mà còn làm sâu sắc hơn mâu thuẫn trong giai cấp quý tộc

Nếu trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương, sự hoạt động của tư bản chủ yếu là trong lĩnh vực lưu thông, thì do kết quả sự phát triển của công trường thủ công,

tư bản đã chuyển sang lĩnh vực sản xuất Nhiều vấn đề kinh tế của sản xuất đã đặt ra vượt quá khả năng giải thích của lý thuyết chủ nghĩa kinh tế trọng thương Điều này đòi hỏi phải có lý thuyết kinh tế mới soi đường, học thuyết kinh tế cổ điển xuất hiện

Trang 21

b Đặc điểm

Học thuyết kinh tế cổ điển là xu hướng của tư tưởng kinh tế tư sản phát sinh trong thời kì hình thành phương phức sản xuất chủ nghĩa tư bản Các nhà kinh tế học của trường phái này lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu các vấn đề kinh tế của nền sản xuất chủ nghĩa tư bản đặt ra

Lần đầu tiên họ xây dựng một hệ thống các phạm trù và quy luật của nền kinh tế thị trường như phạm trù giá cả, giá trị, lợi nhuận, tiền lương, địa tô, địa tức, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu

Lần đầu tiên họ áp dụng phương pháp trừu tượng hoá nghiên cứu các mối liên hệ nhân quả để vạch ra bản chất và quy luật vận động của quan hệ sản xuất chủ nghĩa tư bản

Họ ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế, chống lại sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế Tuy vậy, những kết luận của họ còn mang tính phi lịch sử, lẫn lộn giữa yếu tố khoa học và yếu tố tầm thường, họ đồng nhất các quy luật kinh tế với các quy luật tự nhiên, coi chủ nghĩa tư bản là phương thức tồn tại vĩnh viễn

Ở nước Anh học thuyết kinh tế cổ điển bắt đầu từ William Petty và kết thúc ở David Ricardo, ở Pháp bắt đầu từ Boiguillebertoi và kết thúc ở Simonde Sismondi, sau đó là thời kì hậu cổ điển

2 Các lý thuyết kinh tế của học thuyết kinh tế tư sản cổ điển

a Lý thuyết kinh tế của William Petty(1623- 1687)

Tiểu sử và đặc điểm phương pháp luận

W Petty là một trong những người sáng lập ra học thuyết kinh tế cổ điển ở Anh, ông sinh ra trong một gia đình thợ thủ công, có trình độ tiến sĩ vật lý, là nhạc trưởng, là người phát minh ra máy móc, là bác sĩ trong quân đội, ông vừa là một đại địa chủ vừa là một nhà công nghiệp, ông còn là cha đẻ của khoa học thống kê, những tác phẩm nổi tiếng của ông như “Điều ước về thuế và thu thuế”(1662), “Số học chính trị”(1676), Bàn về tiền tệ”(1682)

* Đặc điểm phương pháp luận:

W Petty là một nhà tự nhiên đến với kinh tế học nên ông coi kinh tế là một quá trình phát triển tự nhiên với các quy luật của nó mà không cần có sự can thiệp từ bên ngoài

Trang 22

Do hoạt động lý luận gắn với thực tiễn nên phương pháp luận của ông vượt

xa các nhà kinh tế học trước đó Ông đi sâu tìm hiểu bản chất bên trong các quá trình kinh tế vừa thừa nhận các quy luật kinh tế khách quan Đây là cột mốc đánh dấu sự phát triển tư tưởng kinh tế trong lịch sử

Tuy nhiên, ông chưa thoát khỏi những ảnh hưởng tư tưởng của học thuyết kinh tế trọng thương khi coi sự giàu có phải gắn với việc tích luỹ nhiều vàng, bạc đặc biệt coi trọng thương nghiệp hơn các ngành công nghiệp, mặt khác ông cũng chưa phân biệt rõ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, chưa thấy được sự khác nhau giữa quy luật kinh tế và quy luật tự nhiên Do vậy, ông cho rằng các quy luật của chủ nghĩa tư bản tồn tại vĩnh viễn

Các lý thuyết kinh tế của W Petty

Lý thuyết giá trị lao động

Ông là người có công lao trong việc nêu ra nguyên lý giá trị lao động, ông đưa ra 3 phạm trù về giá cả hàng hoá trong tác phẩm “ Bàn về thuế khoá và lệ phí” Đó là giá cả tự nhiên, giá cả nhân tạo, giá cả chính trị

Giá cả tự nhiên là giá trị hàng hoá, nó do lao động của người sản xuất tạo

ra, và nó thông qua một tỷ lệ trao đổi nó với một lượng bạc nhất định

Giá cả nhân tạo là giá cả thị trường của hàng hoá, nó thể hiện giá cả tự nhiên mặt khác nó phụ thuộc quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường và phụ thuộc nhiều vào các yếu tố ngẫu nhiên khác nên nó khó xác định (phong tục, tập quán, thị hiếu, thẫm mỹ )

Giá cả chính trị thể hiện tác động của các nhân tố chính trị đối với chi phí lao động để sản xuất hàng hoá (có sự can thiệp của nhà nước)

Đối với W.petty, người đương thời của cách mạng tư sản và chiến tranh

vệ quốc, thì việc phân biệt giá cả tự nhiên, tức là chi phí trong đIều kiện lao động bình thường, với giá cả chính trị là lao động chi phí trong điều kiện chính trị không thuân lợi, là điều có ý nghĩa to lớn

W Petty là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho lý thuyết giá trị lao động

Tuy nhiên lý thuyết giá trị lao động của ông còn chịu ảnh hưởng tư tưởng chủ nghĩa trọng thương, ông chỉ thừa nhận lao động khai thác bạc là nguồn gốc của giá trị, còn giá trị của các hàng hoá khác chỉ được xác định nhờ quá trình

Trang 23

trao đổi với bạc Mặt khác, ông có luận điểm nổi tiếng là “Lao động là cha còn đất là mẹ của mọi của cải ”, về phương diện của cải vật chất, đó là công lao to lớn của ông Nhưng ông lại xa rời tư tưởng giá trị- lao động khi ông kết luận “lao động và đất đai là cơ sở tự nhiên của giá cả mọi vật phẩm” tức là cả lao động và đất đai là nguồn gốc của giá trị

Lý thuyết tiền tệ

Tiền tệ là hình thái biểu hiện của giá trị hàng hoá

Quan điểm về tiền tệ của ông chuyển dần từ chủ nghĩa trọng thương sang quan điểm của trường phái cổ điển

Ông nghiên cứu 2 thứ kim loại giữ vai trò tiền tệ là vàng, bạc Giá trị của chúng dựa trên cơ sở lao động khai thác ra chúng quyết định Ông phê phán chế

độ song bản vị, ủng hộ việc dùng một kim loại duy nhất để làm tiền tệ Theo ông tiền tệ nhất thiết phải có đủ giá trị khi phát hành, việc giảm giá trị của tiền là một tai họa cho nền kinh tế

Ông là người đầu tiên đưa ra quy luật lưu thông tiền tệ, mà nội dung của

nó là số lượng tiền cần thiết cho lưu thông được xác định trên cơ sở số lượng hàng hoá và tốc độ chu chuyển của tiền tệ, ông chỉ ra ảnh hưởng của thời gian thanh toán với số lượng tiền dần thiết trong lưu thông

Ông phê phán quan niệm của chủ nghĩa trọng thương về tích trữ tiền không hạn độ, ông cho rằng tiền tệ không phải lúc nào cũng là tiêu chuẫn của sự giàu có, nó chỉ là công cụ của lưu thông hàng hoá vì vậy không cần phải tăng số lượng tiền tệ quá mức cần thiết

Lý thuyết về tiền lương

Ông xây dựng lý thuyết tiền lương trên cơ sở lý thuyết giá trị lao động, ông coi lao động là hàng hoá, tiền lương là giá cả tự nhiên của lao động Ông đặt nhiệm vụ xác định mức tiền lương theo ông giới hạn cao nhất của tiền lương là mức tư liệu sinh hoạt tối thiểu để nuôi sống người công nhân Vì theo ông , nếu tiền lương cao thì công nhân thích uống rượu, bỏ việc, còn lương thấp thì công nhân phải tích cực lao động, gắn với nhà tư bản hơn Với quan điểm này ông là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho “Quy luật sắt” của tiền lương

b Lý thuyết kinh tế của A Đam Smith ( 1723 – 1790)

Tiểu sử và đặc điểm phương pháp luận

Trang 24

A Đam Smith sinh năm 1723 tại Xcôtlen, là nhà kinh tế chính trị cổ điển

nổi tiếng ở Anh và trên thế giới Ông đã học tập và có học vấn uyên bác về các

lĩnh vực xã hội, ông từng là sinh viên từ năm 14 tuổi và tốt nghiệp liên tiếp hai

trường đại học, sau đó trở thành giảng viên, trưởng khoa logic, trưởng khoa triết

học, đạo đức của trường đại học tổng hợp Glasgow nổi tiếng

* Đặc điểm phương pháp luận:

- Về thế giới quan:

Thế giới quan của A.Smith về cơ bản là duy vật Đó là đặc trưng trong

phương pháp luận của ông Ông thừa nhận các quy luật khách quan trong đời

sống kinh tế, và phân tích một cách khoa học các hiện tượng kinh tế xã hôị Tuy

nhiên chủ nghĩa duy vật của ông còn tự phát, máy móc, ông còn xa lạ với phép

biện chứng

- Về phương pháp luận: Mang tính chất 2 mặt

Thứ nhất, mặt khoa học, ông đã quan sát phân tích các mối liên hệ bản

chất bên trong của các phạm trù, hiện tượng kinh tế, qua đó rút ra các kết luận

khoa học và xây dung được một hệ thống các phạm trù kinh tế cơ bản như: Phân

công lao động, trao đổi, thu nhập

Thứ hai, mặt tầm thường, trong một số trường hợp ông chỉ quan sát, mô tả

hời hợt, chỉ liệt kê hiện tượng bên ngoài nên rút ra một số kết luận sai lầm Phương pháp luận mâu thuẫn, vừa khoa học vừa tầm thường của A.Smith có ảnh

hưởng tới kinh tế học tư sản sau này

Lý thuyết kinh tế của A.Smith

Lý thuyết giá trị lao động

A.Smith khẳng định lao động tạo ra giá trị của hàng hoá, hay nói cách

khác giá trị hàng hoá do lao động hao phí tạo ra, lao động là thước đo cuối cùng

của giá trị Ông phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa giá trị sử dụng và giá trị trao

đổi và khẳng định giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi, ông cho rằng

giá trị được biểu hiện ở giá trị trao đổi của hàng hoá, trong quan hệ số lượng với

hàng hoá khác, còn trong nền sản xuất hàng hoá phát triển nó được biểu hiện ở

tiền

Như vậy ông đã có bước phát triển cao hơn các nhà kinh tế trước đó khi

khẳng định tất cả mọi lao động đều tạo ra giá trị của hàng hoá

Trang 25

Do lao động sản xuất ra hàng hoá làm cho hàng hoá có tính hai mặt, hai thuộc tính đó là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi Mặt khác khi phân tích giá trị của hàng hoá ông đã xác định được lượng giá trị của hàng hoá, hàng hoá do lao động tạo ra thì chất của nó là sức lao động hao phí còn lượng là số lượng lao động đã hao phí, thời gian lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá

Tuy nhiên, khi xem xét để xác định thước đo bên ngoài của giá trị ông đưa ra định nghĩa thứ hai về giá trị, ông cho rằng giá trị là do lao động mà người

ta có thể mua được bằng hàng hoá này quyết định và ông đã đem khái niệm này

áp dụng vào để giải quyết việc trao đổi giữa tư bản và lao động, khi thấy nó không còn đúng nữa thì ông tuyên bố giá trị do lao động tạo ra chỉ đúng trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn còn trong nền kinh tế tư bản thì giá trị của hàng hoá do ba nguồn thu nhập: tiền lương, lợi nhuận và địa tô tạo thành Trong định nghĩa thứ hai này ông đã nhầm lẫn giữa lao động sống và lao động quá khứ, giữa

số lượng lao động và giá trị lao động, giữa việc hình thành giá trị và phân phối giá trị, đây là hạn chế cơ bản nhất làm cho ông xa rời lý thuyết giá trị lao động

Lý luận về phân công lao động

A.Smith cho rằng con người luôn luôn có nhu cầu trao đổi và từ trao đổi sinh ra phân công Theo ông sự giàu có của xã hội phụ thuộc vào hai nhân tố

Thứ nhất phụ thuộc vào tỉ lệ làm việc trong nền sản xuất vật chất

Thứ hai phụ thuộc vào trình độ phất triển của phân công lao động

Theo ông, phân công lao động có tác dụng to lớn trong việc chuyên môn hoá lao động, phát triển sự khéo léo, tài năng, tính tháo vát của người lao động Phân công lao động có nhiều ưu điểm: Bảo đảm kỹ thuật phát triển, tiết kiệm thời gian chuyển từ việc này sang việc khác, làm dễ dàng cho việc sử dụng máy móc ông cũng vạch ra mặt trái của sự phân công lao động phụ thuộc vào quy mô thị trường Ông đã nhận thấy mối quan hệ giữa phân công với quy mô thị trường

Hạn chế của A.Smith trong lý luận về phân công lao động là giải thích sai lệch nguyên nhân của sự phân công, chưa phân biệt được phân công của công trường thủ công với phân công xã hội, chưa chú ý đến mặt xã hội của sự phân công lao động xã hội

Lý luận về giai cấp và thu nhập

Trang 26

Những vấn đề kinh tế của chủ nghĩa tư bản được A Smith giải thích theo quan điểm thu nhập Ông lấy lý luận thu nhập để giải thích quan hệ phân phối, kết cấu giai cấp và mâu thuẫn giai cấp tiến bộ hơn chủ nghĩa trọng nông, A Smith đã chia xã hội tư bản thành 3 giai cấp:

+ Những người chiếm hữu ruộng đất (hưởng địa tô)

+ Các nhà tư bản công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp (hưởng lợi nhuận)

+ Công nhân (hưởng tiền lương)

Địa tô:

Là khoản khấu trừ đầu tiên vào sản phẩm lao động, là kết quả của việc bốc lột người sản xuất trực tiếp, là tiền trả về việc sử dụng đất đai, nó phụ thuộc và mức độ phì nhiêu của đất đai và việc người nông dân có khả năng trả tiền cho ruộng đất

Lợi nhuận:

Là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm lao động do công nhân tạo ra, nguồn gốc của lợi nhuận là lao động không được trả công của người công nhân Lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận, được đẻ ra từ lợi nhuận mà nhà tư bản hoạt động bằng tiền đi vay và phải trả cho chủ của nó để được quyền sở hữu tư bản

Tiền lương:

Theo ông, trước chủ nghĩa tư bản tiền lương là sản phẩm trọn vẹn của lao động, trong chủ nghĩa tư bản khi sở hữu tư bản chủ nghĩa được xác lập, người công nhân trở thành lao động làm thuê thì tiền lương của công nhân không phải

là toàn bộ giá trị sản phẩm lao động của họ sản xuất ra nữa mà chỉ là một bộ phận của giá trị đó Cơ sở của tiền lương là giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết nhất cho đời sống của người công nhân và gia đình họ Mức tiền lương phải ngang với nức giới hạn tối thiểu của nó, nếu tiền lương thấp hơn mức tối thiểu là thảm hoạ cho sự tồn tại của dân tộc Ông nhấn mạnh: Phải để cho “ Những người nuôi xã hội nhận được một số thức ăn, quần áo và nhà ở khả dĩ có thể chịu được” Một xã hội không thể “ Phồn vinh và hạnh phúc nếu một bộ phận rất lớn những thành viên của nó nghèo nàn và khổ sở”

Ông ủng hộ quan điểm trả tiền lương cao Theo ông, tiền lương cao sẽ tạo khả năng tăng trưởng kinh tế và mức lương cao là nhân tố kích thích công nhân

Trang 27

tăng năng suất lao động, điều này sẽ tạo điều kiện tăng tích luỹ tư bản và tăng nhu cầu về lao động Ông vạch rõ: Nhà tư bản không sợ gì việc trả lương cao cho công nhân, vì cơ chế của thị trường lao động sẽ điều chĩnh mức lương tương ứng

Tóm lại, ông đã có nhiều luận điểm đúng đắn về tiền lương, ông đã chỉ rõ

cơ sở kinh tế của mâu thuẫn giai cấp trong tiền lương (công nhân muốn lương cao, còn nhà tư bản trả càng ít càng hay) Điều này thể hiện xu hướng tiến bộ của học thuyết kinh tế Tuy nhiên, ở ông vẫn còn một số hạn chế như: Coi tiền lương

là phạm trù vĩnh viễn, chưa thấy được tiền lương là giá cả sức lao động

Công lao của ông là ở chỗ đã gắn ba giai cấp đó với ba hình thức thu nhập: Địa tô, lợi nhuận và tiền công Mỗi bộ phận giai cấp này sẽ nhận được một phần thu nhập tương ứng từ trong tổng thu nhập của xã hội

Lý luận về tư bản

Nếu chủ nghĩa trọng nông coi mọi của cải là tư bản, thì A.Smith cho rằng vật phẩm tiêu dùng không thể là tư bản và cũng không phải mọi tư liệu sản xuất đều là tư bản, chỉ có tư liệu sản xuất do lao động tạo nên mới là tư bản, chỉ có bộ phận tài sản mang lại lợi nhuận mới là tư bản

Theo ông, tư bản lưu động là tư bản mang lại thu nhập cho người chủ của

nó do kết quả của việc thực hiện, tiêu thụ hàng hoá Tư bản lưu động bao gồm: Tiền, dự trữ lương thực, nguyên liệu, hàng hoá ở trong kho Theo ông, tư bản của thương nhân thuộc về tư bản lưu động Tư bản cố định là tư bản đem lại lợi nhuận

A.Smith đã đưa khoa học kinh tế chính trị thành một hệ thống, lý luận kinh tế của ông vừa chứa đựng những nhân tố khoa học, vừa chứa đựng những nhân tố tầm thường Trong tất cả các vấn đề, A.Smith đều có mâu thuẫn Điều đó

là do nhiệm vụ của A.Smith có hai mặt, một mặt, cố gắng xâm nhập vào cái sinh

lý nội tại bên trong của xã hội tư bản, mặt khác, cố gắng miêu tả những hình thái sinh động biểu hiện qua bề ngoài của xã hội này

c Lý thuyết kinh tế của David Ricacdo (1772 – 1823)

Tiểu sử và đặc điểm phương pháp luận

David Ricacdo sinh ra trong một gia đình giàu có làm nghề chứng khoán Năm 12 tuổi Ông vào học trường trung học thương nghiệp, sau đó làm việc trong

Trang 28

lĩnh vực buôn bán chứng khoán, năm 1784 ông được gửi sang học phổ thông trung học ở Amstecdam Năm 21tuổi ông xây dựng gia đình và sống tự lập, năm

1797 ông tiếp tục học tập và nghiên cứu các môn khoa học cơ bản Từ năm 1807 trở đi ông chuyên nghiên cứu về kinh tế chính trị và công bố nhiều tác phẩm về tiền tệ Ông là một nhà khoa học và nhà kinh doanh chứng khoán, một nhà quý tộc, một nhà hoạt động chính trị

Về thế giới quan

Ông sống vào thời kì cuộc cách mạng công nghệ đã hoàn thành, những vấn đề sản xuất hoàn toàn mới, sức sản xuất cao, sản xuất chủ yếu bằng máy Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho ông nghiên cứu, từ đó tác động đến phương pháp nghiên cứu của ông

Ông thừa nhận tính quy luật khách quan trong quá trình phát triển kinh tế của đời sống kinh tế-xã hội

Ông coi chủ nghĩa tư bản tồn tại tự nhiên vĩnh viễn

Về phương pháp luận

Ông đã đứng trên lập trường duy vật (chủ nghĩa duy vật máy móc) để đi tìm quy luật kinh tế Ông sử dụng rộng rãi phương pháp trừu tượng hoá để nghiên cứu bản chất của các hiện tượng kinh tế trong xã hội tư bản

Tư tưởng về quy luật khách quan trong sự phát triển kinh tế đã quán triệt trong toàn bộ học thuyết của ông

Các lý thuyết kinh tế của D Ricacdo

Lý luận về giá trị – lao động

Lý luận giá trị chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống quan điểm của D

Ricacdo, ông định nghĩa giá trị hàng hoá như sau: “Giá trị của hàng hoá hay số

lượng của một hàng hoá nào khác mà hàng hoá đó trao đổi, là do số lượng lao động tương đối, cần thiết để sản xuất ra hoàng hoá đó quyết định, chứ không phải do khoản thưởng lớn hay nhỏ trả cho lao động đó quyết định”

Cũng như A.Smith, D Ricacdo đã phân biệt rõ hai thuộc tính của hàng hoá là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi Ông chỉ rõ giá trị sử dụng là điều kiện cần thiết cho giá trị trao đổi nhưng không phải là thước đo của nó

Giá trị trao đổi là giá trị tương đối được biểu hiện ở một số lượng nhất định của hàng hoá khác (thay tiền tệ)

Trang 29

Về thước đo giá trị ông cho rằng cả vàng hay bất kỳ một hàng hoá nào khác không bao giờ có thể là một thước đo giá trị hoàn thiện cho tất cả mọi vật Mọi vật thay đổi trong giá cả hàng hoá là hậu quả của những thay đổi trong giá trị của chúng

Về cơ cấu giá trị, ông chỉ ra rằng trong cơ cấu giá trị hàng hoá phải bao gồm 3 bộ phận c + v + m chứ không thể loại C ra khỏi giá trị sản phẩm như quan niệm của Ađam Smith Tuy nhiên ông chưa phân tích được sự chuyển dịch C vào sản phẩm mới diễn ra như thế nào

Ông phân biệt lao động phức tạp với lao động giản đơn, ông giải thích rằng lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hoá được xác định theo điều kiện xấu nhất, ảnh hưởng của cung- cầu đến giá trị hàng hoá chỉ có tính nhất thời

D Ricacdo phân biệt giá trị cả tự nhiên và giá trị cả thị trường, ông cho rằng không một hàng hoá nào mà giá cả không bị ảnh hưởng của biến động ngẫu nhiên hay tạm thời Nhưng nguyện vọng của mỗi nhà tư bản muốn rút vồn mình ra khỏi một công việc kinh doanh lãi ít và đầu tư vào một công việc kinh doanh có lãi hơn, nguyện vọng đó không cho phép giá cả thị trường của các hàng hoá dừng lâu ở một mức nào đó cao hơn nhiều hay thấp hơn nhiều so với giá cả

tự nhiên của chúng

Khác với A.Smith, D Ricacdo đã có những quan điểm tiến bộ, triệt để hơn

và hoàn thiện hơn về lý thuyết giá trị lao động, nhất là ông cho rằng quy luật giá trị không chỉ hoạt động trong các xã hội trước tư bản mà còn hoạt động trong cả

xã hội tư bản, thực hiện đầy đủ các chức năng kinh tế của nó như phân phối lao động, tìm kiếm thị trường, điều tiết giá cả

Tuy nhiên điểm hạn chế cơ bản của ông là chưa nghiên cứu về chất của giá trị vì vậy chưa thấy được tính lịch sử của phạm trù này, đồng nhất nó với các hình thái của nó

Lý luận về thu nhập, tiền lương, lợi nhuận và địa tô

D Ricacdo cho rằng giá trị được tạo ra gồm có 2 phần: tiền lương và lợi nhuận, ông định giải quyết việc xác định tiền công theo quy luật giá trị nhưng vì ông vẫn theo quan điểm của A.Smith cho rằng tiền công là giá cả của lao động,

Trang 30

nên ông thấy xác định giá trị của lao động bằng lao động là phi lý Ông coi lao động là hàng hoá và tiền lương là giá cả của lao động

Ông chịu ảnh hưởng của quy luật về nhân khẩu của Thomas Robert Malthus Do đó ông cho rằng tiền công cao sẽ làm cho nhân khẩu tăng nhanh, dẫn đến cung về lao động lớn hơn cầu về lao động, làm cho tiền công phải hạ xuống, đời sống công nhân xấu đi là kết quả tất yếu của việc tăng nhân khẩu

Một trong Những công lao to lớn của ông là đã phân tích được tiền công thực tế và xác định nó như là một phạm trù kinh tế Ông nhấn mạnh rằng lượng hàng hoá người công nhân mua được bằng tiền công, chưa quyết định địa vị xã hội của người đó, sự quyết định tình cảnh của công nhân phụ thuộc vào mối tương quan giữa tiền lương và lợi nhuận

D Ricacdo xem lợi nhuận là phần giá trị thừa ra ngoài tiền công Ông chưa biết đến phạm trù giá trị thặng dư nhưng trước sau nhất quán quan điểm cho rằng giá trị là do công nhân tạo ra lớn hơn tiền công mà họ nhận đựơc

Lý luận về địa tô của D Ricacdo là sự kiện lớn trong lịch sử kinh tế chính trị

Mặc dù trước, một số luận điểm về địa tô đã được trình bày, ông bác bỏ lý luận địa tô và sản vật của những lực lượng tự nhiên hoặc do năng suất lao động đặc biệt trong nông nghiệp mang lại Ông hoàn toàn dựa vào quy luật giá trị để giải thích địa tô, ông nhấn mạnh rằng địa tô hình thành không ngược với quy luật giá trị mà theo quy luật giá trị

D Ricacdo cho rằng, giá trị nông sản hình thành trên điều kiện ruộng đất xấu nhất, ruộng đất là yếu tố có giới hạn nên xã hội phải canh tác cả trên ruộng đất xấu, do đó tư bản kinh doanh trên ruộng đất tốt và trung bình thu được lợi nhuận siêu ngạch, lợi nhuận siêu ngạch này phải nộp cho địa chủ, ông phê phán tính chất ăn bám của địa chủ không tham gia sản xuất nhưng lại thu địa tô nhân danh quyền sở hữu ruộng đất

Tóm lại, về lý luận thu nhập, ông có nhiều tiến bộ nhưng do hạn chế lịch

sử nên những quan điểm của ông chưa đạt đến đỉnh cao của khoa học và nhất là ông phủ nhận tính lịch sử của các phạm trù kinh tế

Lý luận về tiền tệ

Trang 31

D Ricacdo cho rằng một nền kinh tế muốn phát triển cần dựa trên việc lưu thông tiền tệ vững chắc, ông nêu khái niệm giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá

trị, ông viết: Với giá trị nhất định của tiền, số lượng tiền trong lưu thông phụ

thuộc vào tổng giá trị cả hàng hoá

Hàng hoá sản xuất ra bao nhiêu cần phải có số lượng tương ứng, khi lưu thông tiền tệ phải dựa vào vùng làm cơ sở có như vậy nền kinh tế mới phát triển bền vững, trong quá trình lưu thông hàng hoá có thể sử dụng một phần hoặc toàn

bộ tiền giấy nhưng với một điều kiện nghiêm ngặt là tiền giấy đó phải đổi được vàng

Quan niệm về tiền của ông vẫn chưa có bước phát triển mới mặc dù ông biết tiền là để trao đổi hàng hoá nào đó Nguyên nhân là do ông chưa hiểu đựơc bản chất và chức năng của tiền tệ, chỉ coi tiền tệ là phương tiện kỹ thuật lưu thông Lẫn lộn lưu thông tiền vàng và tiền giấy, chưa phát hiện được bản chất của tiền là vật ngang giá chung

Lý luận về tư bản

D Ricacdo đã coi tư bản là một vật nhất định chứ không phải là một quan

hệ xã hội Theo ông: Tư bản là bộ phận của cải trong nước, được dự vào việc

sản xuất và vào thức ăn, đồ mặc, nhà xưởng…

Khi phân tích tư bản, ông đã phân chia tư bản thành 2 bộ phận, một bộ phận đài thọ cho lao động (tư bản ứng trước) và bộ phận còn lại dùng để mua nguyên liệu cung cấp cho lao động

Trên cơ sở 2 bộ phận tư bản này ông phân chia thành tư bản cố định và tư bản lưu động Tư bản cố định là tư bản tồn tại vĩnh viễn và bị hao mòn dần, tư bản lưu động là tư bản chi phí cho lao động

Như vậy, về lý thuyết tư bản mặc dù còn nhiều hạn chế như chưa phân biệt rõ ràng giữa các bộ phận tư bản và chỉ thấy tư bản dưới dạng hiện vật chứ không phải quan hệ xã hội Nhưng ông đã phân chia các bộ phận tư bản tương đối khoa học và đúng đắn Vì vậy người ta đánh giá lý thuyết này của ông là một trong những đóng góp lớn cho môn kinh tế chính trị học

Học thuyết kinh tế của D Ricacdo đạt tới đỉnh cao nhất của kinh tế chính trị tài sản cổ điển Ông đứng vững trên cơ sở lý thuyết giá trị lao động để giải thích các vấn đề Nếu Ađam Smith có công lao trong việc đưa tất cả các quan

Trang 32

niệm kinh tế có từ trước đó cấu thành một hệ thống thí ông đã xây dựng hệ thống

đó trên một nguyên tắc thống nhất là thời gian lao động quyết định giá trị hàng hoá

IV HỌC THUYẾT KINH TẾ CHÍNH TRỊ TƯ SẢN TẦM THƯỜNG

1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm

a Hoàn cảnh ra đời

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế đầu tiên năm 1825 của chủ nghĩa tư bản, ở các nước tư bản Tây Âu nhất là Anh, Pháp các cuộc khủng hoảng kinh tế liên tiếp xảy ra với chu kỳ ngày càng rút ngắn lại

Do các cuộc khủng hoảng kinh tế làm cho đời sống của giai cấp công nhân ngày càng khó khăn, từ đó mâu thuẫn giữa các giai cấp ngày càng gay gắt, đe doạ trực tiếp đến sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản

Ở thời kỳ này, kinh tế chính trị tư sản cổ điển đến thời kì bế tắc về lí luận trong thực tiễn các chính sách kinh tế không đem lại hiệu qủa, mặt khác thời kì này xuất hiện tư tưởng chủ nghĩa xã hội không tưởng, phê phán một cách kịch liệt chế độ chủ nghĩa tư bản Trước bối cảnh đó học thuyết kinh tế tư sản tầm thường xuất hiện nhằm chống lại trào lưu chủ nghĩa xã hội không tưởng và bảo

vệ chế độ xã hội tư bản Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự suy đồi của kinh tế chính trị tư sản cổ điển

2 Các lý thuyết kinh tế chính trị tư sản tầm thường

a Lý thuyết của Thomas Robert Malthus (1766- 1834)

Sơ lược tiểu sử và đặc điểm phương pháp luận

Malthus sinh ra trong một gia đình quý tộc, và làm nghề tu hành Sau khi tốt

nghiệp đại học ở Cambndge, ông trở thành mục sư ở nông thôn Năm 1789, ông

Trang 33

xuất bản cuốn: Bàn về quy luật nhân khẩu Năm 1799, ông tiến hành một cuộc ngao du ở Châu Âu, kết quả là năm 1803 ông cho tái bản cuốn “Bàn về quy luật nhân khẩu” Năm 1087 ông được mời làm giáo sư kinh tế chính trị ở trường trung học của công ty Đông ấn và dạy học cho đến lúc chết

Đặc điểm nỗi bật trong phương pháp luận của ông là nặng về phân tích hiện tượng, thay thế các quy luật kinh tế bằng các quy luật tự nhiên sinh học

Các lý thuyết kinh tế của Malthus

Lý thuyết về nhân khẩu

Đây là lý thuyết trung tâm của Malthus, cuộc cách mạng công nghiệp đã

làm tăng thêm nạn thất nghiệp và bần cùng Malthus đã gánh lấy trách nhiệm giải thích hiện tượng đó và biện hộ cho chủ nghĩa tư bản Malthus xuất phát từ hiện tượng của thế giới thực vật, động vật Ông đem các quy luật thuần tuý có tính chất sinh vật học của tự nhiên áp dụng vào xã hội loài người và chứng minh

cứ 25 năm dân số lại tăng gấp đôi còn tư liệu sinh hoạt không thể tăng nhanh hơn cấp số cộng, ông phác hoạ ra bức tranh thảm hoạ của sự phát triển loài người và kết luận rằng cái khuynh hướng dân số muốn thường xuyên sinh sôi nảy nở vượt quá tư liệu sinh hoạt là quy luật nhân khẩu, nó tác động một cách mạnh mẽ ngay

từ khi xã hội sinh ra, ông cho rằng sự nghèo khó, đói khát và những nỗi bất hạnh khác không phải do chế độ xã hội mà do số dân không tích ứng tư liệu sinh hoạt,

do những quy luật tự nhiên và những sự say đắm của con người Malthus nói:

“Nhân dân phải tự buộc tội bản thân mình là chủ yếu về những sự đau khổ của mình”

Ông chứng minh lý luận của mình bằng những tài liệu thực tế, ông dựa vào tình hình dân số gia tăng ở Mỹ để chứng minh dân số tăng theo cấp số nhân, dựa vào những tài liệu ở nước Pháp lấy quy luật màu mỡ đất đai giảm dần làm

cơ sở để chứng minh tư liệu sản xuất tăng theo cấp số cộng Do tốc độ tăng dân

số nhanh hơn tốc độ tăng tư liệu sinh hoạt nên nạn khan hiếm tư liệu sinh hoạt là tất yếu, sự bần cùng, đói rét có tính chất phổ biến cho mọi xã hội Để khắc phục trình trạng này, ông đề ra nhiều biện pháp như: lao động quá sức, nạn đói, bệnh tật, chết chóc, chiến tranh để hạn chế tốc độ sinh, không cho thanh niên lập gia đình sớm Đồng thời nhà nước cần khuyến khích việc cải tiến kỹ thuật canh tác, phát triển lưu thông hàng hoá tự do, ban hành chế độ tự do xuất nhập khẩu thực

Trang 34

phẩm, khuyến khích hướng dẫn dân cư sang vùng đất mới giàu tài nguyên nhưng chưa được khai thác

Nhìn chung, Malthus muốn đưa ra một xu hướng có tính qui luật là nhân khẩu tăng nhanh hơn tư liệu sinh hoạt Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với loài người, nhất là các nước đang phát triển hiện nay Tuy vậy, trong số các biện pháp mà ông đề ra có biện pháp mang tính chất thù địch với con người Đó là biểu hiện hạn chế của ông

Lý luận về lợi nhuận

Malthus cho rằng lợi nhuận được biểu hiện như là khoản thặng dư ngoài

số lượng lao động đã chi phí để sản xuất ra hàng hoá đó Vì vậy nó không phụ thuộc vào lao động, nó như một khoản cộng thêm khi bán

Về thực chất, quan niệm lợi nhuận của ông cũng như phái trọng thương, nghĩa là lợi nhuận xuất hiện trong lưu thông nhờ bán hàng hoá đắt hơn khi mua,

nó không thể xuất hiện trong việc trao đổi giữa các nhà tư bản

Ông nhận định trong phạm vi khả năng những người đảm nhiệm sản xuất (tức là nhà tư bản và công nhân) không thể tìm ra lượng cầu có khả năng thanh toán, do đó tình trạng thừa hàng hóa sẽ xuất hiện Xã hội chỉ có nhà tư bản và công nhân thì không thể tránh khỏi tai hoạ đó, lối thoát của chủ nghĩa tư bản là phải tăng mức tiêu dùng của giai cấp không sản xuất như quý tộc, tăng lữ, nhân viên nhà nước… những người chỉ mua, không bán “những người thứ ba”

Lý thuyết về thực hiện

Ông thừa nhận có sản xuất thừa hàng hoá dẫn đến khủng hoảng kinh tế mà nguyên nhân là thiếu hụt về cầu tiêu dùng Theo ông để giải quyết cần có lực lượng thứ 3 trong xã hội, lực lượng này chỉ mua mà không bán, lực lượng không sản xuất mà tiêu dùng nhiều thì họ sẽ mua hết hàng hoá Đó là tầng lớp binh lính, nhân viên nhà nước, địa chủ, quý tộc các nhà tu hành

Ông khuyến khích tiêu dùng phải xa hoa, lãng phí (chủ nghĩa thực dụng) Tóm lại các lý thuyết kinh tế của Malthus đều tập trung chú ý đến việc biện hộ cho quá trình sản xuất chủ nghĩa tư bản, ông chỉ lấy cái hiện tượng bên ngoài để giải thích nội dung bên trong của quá trình kinh tế

2 Lý thuyết của Jean Baptiste Say (1767 – 1832)

a Tiểu sử và đặc điểm phương pháp luận

Trang 35

J.B Say sinh ra trong một gia đình thương nhân ở Lyon.(Pháp) Từ năm

1819 ông là giáo sư kinh tế chính trị của đại học tổng hợp Pari và nhiều trường Đại học ở Pháp Ông viết nhiều tác phẩm như “Luận văn kinh tế chính trị” (1803), “Bài giảng đầy đủ kinh tế chính trị học “ (1818)…

Điểm nỗi bật trong phương pháp luận của J.B.Say là ông áp dụng phương pháp chủ quan, phi lịch sử, siêu hình trong việc đánh giá các hiện tượng và quá trình kinh tế, phủ nhận các qui luật kinh tế khách quan Điều này thể hiện sự xa rời của ông đối với phái cổ điển

Ông cho rằng, khoa kinh tế chính trị không phải là chính trị, tách kinh tế chính trị ra khỏi chính trị, thực ra là ông muốn xoá bỏ yếu tố giai cấp và xã hội trong kinh tế chính trị và không thừa nhận những mâu thuẫn vốn có của xã hội tư bản

b Một số lý thuyết kinh tế J.B.Say

Lý thuyết về tính hữu dụng của J.B.Say

Đó là công dụng của hàng hoá, theo quan điểm của trường phái tư sản cổ điển nếu thừa nhận lao động tạo ra giá trị nghĩa là thừa nhận sự bốc lột và như vậy sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản Vì vậy cần phải phủ nhận

lý thuyết giá trị lao động

Ông đưa ra tính hữu dụng để đối lập với lý thuyết giá trị lao động Trên cơ

sở đó ông đưa ra quan điểm sản xuất tạo ra tính hữu dụng (giá trị sử dụng) còn tính hữu dụng sẽ truyền giá trị cho vật, do đó tính hữu dụng của vật càng cao thì giá trị của vật càng lớn

Như vậy về thực chất ông không phân biệt được giá trị và giá trị sử dụng, đồng nhất hai khái niệm này làm một

Lý thuyết “ba nhân tố sản xuất”

Từ chổ đồng nhất giá trị sử dụng với giá trị, ông đã chuyển những nhân tố sản xuất ra giá trị sử dụng thành những nhân tố tạo ra giá trị

Lý thuyết “ba nhân tố sản xuất” của J.B.Say được xây dựng trên cơ sở lý thuyết giá trị – ích lợi Theo ông, tham gia vào quá trình sản xuất có ba nhân tố

là lao động, đất đai, tư bản Mỗi nhân tố có lợi ích riêng và tạo ra các bộ phận giá trị tương ứng, ích lợi của lao động tạo ra tiền lương, ích lợi của tư bản tạo ra lợi

Trang 36

nhuận, ích lợi của đất đai tạo ra địa tô Như vậy, mỗi nhân tố sản xuất đưa lại một ích lợi nhất định, tạo ra một bộ phận giá trị nhất định

Lý thuyết thực hiện

J.B.Say muốn chứng minh cho tái sản xuất chủ nghĩa tư bản là nhịp nhàng không có khủng hoảng kinh tế Ông đưa ra “quy luật thị trường” Nội dung của quy luật là dưới chủ nghĩa tư bản, khối lượng hàng hoá sản xuất ra bằng khối lượng hàng hoá mua vào, tức là tổng cung bằng tổng cầu Vì vậy, không thể có thừa tổng cung, ông thừa nhận là, có thể mất cân đối giữa cung và cầu, xảy ra ở một vài loại hàng hoá riêng lẽ Song đối với toàn xã hội không thể có sản xuất thừa Ông cho rằng, tình trạng sản xuất thừa chỉ có thể diễn ra qua hai trường hợp sau: Một là, vượt quá khả năng tuyệt đối của nhu cầu Trường hợp này không bao giờ có được Hai là, sản xuất thừa ở một loại hàng hoá nào đó do sức mua không đủ Nhưng nếu sản xuất ở những nghành sử dụng sản phẩm thừa tăng lên thì sức mua càng tăng lên Do vậy, ông cho rằng, để khắc phục tình trạng sản xuất thừa phải tăng sản xuất, điều đó sẽ cải thiện triển vọng thực hiện hàng hoá

Như vậy, lý thuyết của J.B.Say nhằm mục đích cổ vũ nền sản xuất chủ nghĩa tư bản và tìm mọi cách để chứng minh cho sự tồn tại vĩnh viễn của chủ nghĩa tư bản thông qua việc mô tả các hiện tượng bên ngoài của quá trình kinh

tế Tuy nhiên các quan điểm của ông đều thể hiện tính chủ quan trong việc đánh giá các vấn đề kinh tế nhất là ông đã đồng nhất việc sản xuất chủ nghĩa tư bản với sản xuất hàng hoá đơn giản, hạn chế của ông là chưa thấy được mục đích cơ bản của nền sản xuất hàng hoá chủ nghĩa tư bản

Nội dung ôn tập

1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm cơ bản của học thuyết kinh tế trọng thương

2 Hai giai đoạn phát triển và các quan điểm kinh tế của chủ nghĩa trọng thương

3 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của chủ nghĩa trọng nông

4 Nội dung các lý thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng nông

5 Trình bày hoàn cảnh xuất hiện và đặc điểm của trường phái cổ điển

6 Phân tích nội dung cơ bản các học thuyết kinh tế của William Petty, Adam Smith, David Ricacdo về giá trị, tiền tệ tư bản, tiền lương, lợi nhuận, địa tô và tái sản xuất

Trang 37

7 Trình bày nội dung của học thuyết về bàn tay vô hình của Adam Smith Học thuyết này có vai trò như thế nào trong hệ thống học thuyết kinh tế tư sản hiện

đại

8 Trình bày hoàn cảnh ra đời và đặc điểm học thuyết kinh tế chính trị tư sản tầm thường

9 Trình bày lý thuyết của Mantuyt

10 Trình bày lý thuyết về ba nhân tố sản xuất – Ba nguồn thu nhập của Jang Batit Say

CHƯƠNG III HỌC THUYẾT KINH TẾ TIỂU TƯ SẢN

(Hướng dẫn sinh viên tự học- 1t)

1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM

1 Hoàn cảnh ra đời

- Cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến sự thay đổi đáng kể về kinh tế – xã hội Trong xã hội tư bản ngoài hai giai cấp cơ bản là vô sản và tư sản còn có giai cấp khác trong đó có giai cấp tiểu tư sản Các giai cấp khác nhau đều có những quan điểm, nhận thức khác nhau về những quan hệ kinh tế và hình thành những tư tưởng, học thuyết kinh tế khác nhau

- Nền sản xuất đại công nghiệp ra đời làm cho sự phụ thuộc của công nghiệp vào nhà tư bản từ hình thức trở thành thực tế Những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản như : sự bần cùng hoá giai cấp vô sản, thất nghiệp, phân hoá giai cấp ngày càng tăng lên Đặc biệt ở các nước tư bản nhỏ, khi bước vào cách mạng công nghiệp với nền sản xuất nhỏ chiếm ưu thế thì những mâu thuẫn xã hội diễn

Trang 38

- Họ phê phán nền sản xuất lớn chủ nghĩa tư bản nhưng lại không phê phán

sở hữu tư nhân và tự do cạnh tranh

- Để khắc phục những tệ nạn của kinh tế chủ nghĩa tư bản họ chủ trương hoặc là đẩy mạnh sản xuất hàng hoá nhỏ, hoặc chuyển thành chủ nghĩa tư bản

nhỏ

Các nhà kinh tế tiểu tư sản vừa phê phán chủ nghĩa tư bản nhưng lại muốn bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, đây là cơ sở kinh tế của chủ nghĩa tư bản nên lý thuyết kinh tế của những người tiểu tư sản không thể phát hiện được bản chất của chủ nghĩa tư bản và không có cơ sở đề tồn tại lâu dài

II CÁC LÝ THUYẾT KINH TẾ CỦA TIỂU TƯ SẢN

1 Lý thuyết kinh tế của Sismodi (1773 – 1842)

a Tiểu sử và phương pháp luận

Jean Charles Leonard Simonde de Sismondi sinh ra ở Thụy Sĩ, cha của ông

là một giáo sĩ theo đạo Can vanh, xuất thân từ một gia đình quý tộc, ông học ở trường dòng của những người theo đạo Can vanh Sau khi tốt nghiệp đại học tổng hợp, một thời gian ngắn ông làm việc ở ngân hàng Lyon Từ năm 1800 ông bắt đầu nghiên cứu khoa học Ông là một trong số các nhà sử học lớn nhất nước Pháp Ông viết cuốn: “Lịch sử người Pháp” 31 tập trong thời gian gần 30 năm, ông tham gia viết “Lịch sử các nước cộng hoà ý”, gồm 16 tập

Quá trình phát triển tư tưởng kinh tế của ông chia thành hai giai đoạn Trong giai đoạn đầu, ông ủng hộ A.Smith trong quan điểm về tự do kinh tế, không

có sự can thiệp của nhà nước Trong giai đoạn sau, do sự phát triển của cách mạng công nghiệp làm cho những tệ nạn của kinh tế thị trường càng trầm trọng, thì ông phê phán chủ nghĩa tư bản và các quan điểm của phái cổ điển

Trong nghiên cứu khoa học kinh tế, ông áp dụng phương pháp chủ quan và phê phán việc áp dụng phương pháp trừu tượng hoá của các nhà kinh tế học phải

Trang 39

cổ điển Ông coi kinh tế chính trị là khoa học của đạo đức, một phẩm hạnh, liên quan đến phẩm giá con người, chứ không liên quan đến quy luật kinh tế

Ông phê phán nền sản xuất tư bản chủ nghĩa nhưng khi lý tưởng nền sản xuất nhỏ thì ông lại là người bảo vệ chủ nghĩa tư bản

b Các lý thuyết kinh tế của Sismondi

Lý thuyết giá trị – lao động

Nội dung quan trọng trong lý thuyết kinh tế của Sismondi là ông giải quyết các vấn đề kinh tế trên cơ sở lý thuyết giá trị – lao động

Theo ông:

- Lao động là nguồn gốc duy nhất của mọi của cải

- Ông thấy được mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá mặc

dù không vạch ra được cơ sở của mâu thuẫn này

- Ông thấy được thước đo giá trị hàng hoá là “thời gian lao động xã hội cần thiết” từ đó ông quy lao động thành mối mối liên hệ giữa nhu cầu xã hội và lao động xã hội cần thiết để thỏa mãn nhu cầu.Đây chính là bước tiến xa hơn Smith, Ricardo của Sismondi

- Ông thấy được sự chênh lệch giữa giá trị và giá cả song lại coi tình hình này là một sự vi phạm quy luật giá trị trong chủ nghĩa tư bản Ông cho rằng quy luật giá trị chỉ thật sự được tôn trọng trong chế độ kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ dựa trên cơ sở chiếm hữu nhỏ

- Kế tục quan điểm của Smith, ông cho rằng sản phẩm xã hội gồm hai bộ phận: một phần của công nhân hay tiền lương, hai là phần của nhà tư bản và địa chủ ( lợi nhuận và địa tô) ông gọi nó là “siêu giá trị”

Lý thuyết về tiền lương, lơị nhuận và địa tô

Trang 40

- Ông cho rằng, đặc trưng của chủ nghĩa tư bản là sự tập trung của cải vào tay một số tư bản lớn và tình cảnh bần cùng hoá của những người lao động ( chế

độ sở hữu tư nhân)

*Địa tô

- Mặc dù cho rằng địa tô là quà tặng của tự nhiên nhưng ông vẫn khẳng định:Địa tô là kết quả của sự bóc lột công nhân

- Ông phê phán quan điểm ruộng đất xấu không đem lại địa tô của A.Smith

và khẳng định : ruộng đất xấu cũng đem lại địa tô Đây là mầm móng của tư tưởng địa tô tuyệt đối và việc độc quyền sở hữu ruộng đất

Tuy nhiên, ông đã sai lầm khi cho rằng địa tô là tăng thưởng của tự nhiên nên coi “tự nhiên” (đất đai) cũng tạo ra giá trị phụ thêm do đó ông nêu ra luận điểm: Hình như địa tô từ dưới đất mọc lên, tức là ông không hiểu nguồn gốc của

địa tô tuyệt đối và bộ máy chiếm hữu địa tô

Lý thuyết thực hiện và khủng hoảng kinh tế

Đây là lý thuyết trung tâm của Sismondi, ông cho rằng mục đích của sản xuất là tiêu dùng, ông kết luận sản xuất phải phù hợp với thu nhập, mà thu nhập quyết định tiêu dùng, nên sản xuất phải phù hợp với tiêu dùng Đó là điều kiện để thực hiện sản phẩm Nếu sản xuất vượt quá tiêu dùng, hay nói cách khác, là “tiêu dùng không đầy đủ”, thì có một bộ phận sản xuất thừa ra, không thực hiện được giá trị Vì vậy, dẫn đến sản xuất thừa, khủng hoảng kinh tế

Theo Sismondi, trong nền kinh tế chủ nghĩa tư bản, thị trường trong nước thường xuyên bị thu hẹp Nguyên nhân là do người công nhân bị bần cùng, thất nghiệp nên thu nhập của họ bị giảm sút, nhà tư bản không tiêu dùng hết thu nhập của họ, mà còn tích luỹ lại một phần thu nhập đó Người sản xuất nhỏ bị phá sản, nên cũng bị giảm tiêu dùng Như vậy, sản xuất tăng lên mà tiêu dùng lại không đầy đủ, nên thị trường trong nước không thể hiện được “siêu giá trị”

Muốn thực hiện được “siêu giá trị” ông thấy là phải có ngoại thương Ông cho rằng, ngoại thương như “lỗ thông hơi” của chủ nghĩa tư bản Nhờ đó mà “siêu giá trị” có thể được thực hiện Nhưng, vì nước nào cũng đẩy mạnh hoạt động ngoại thương, nên việc thực hiện “siêu giá trị” vẫn khó khăn Do vậy, cần phải có tầng lớp người thứ ba để “tăng sức mua, tăng tiêu dùng” “Người thứ ba” này

Ngày đăng: 20/11/2017, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm