Ở tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, nhà văn đã xác định một cách viết khác về Kinh Bắc, khác với cách viết của người tiền bối đồng hương nổi danh trong làng thơ Việt Hoàng Cầm.. Nghiên
Trang 1ĐẶNG THÀNH NGUYÊN
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN TRẦN THANH CẢNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN – 2017
Trang 2ĐẶNG THÀNH NGUYÊN
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN TRẦN THANH CẢNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Đinh Trí Dũng
NGHỆ AN – 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý thầy cô giáo Khoa Sư phạm Ngữ văn, Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban Giám hiệu Trường Đại học Vinh và Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban giám hiệu trường Đại học Sài Gòn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đinh Trí Dũng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên, tạo điều kiện
và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Vinh, ngày 09 tháng 08 năm 2017
Học viên
Đặng Thành Nguyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 L Ý DO CH Ọ N Đ Ề TÀI 4
2 LỊ CH S Ử NGHIÊN C Ứ U V Ấ N Đ Ề 5
3 ĐỐ I TƯ Ợ NG NGHIÊN C Ứ U VÀ PH Ạ M VI TƯ LI Ệ U KH Ả O SÁT 6
3.1 Đối tượng nghiên cứu 6
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát 7
4 MỤ C ĐÍCH VÀ NHI Ệ M V Ụ NGHIÊN C Ứ U 7
4.1 Mục đích nghiên cứu 7
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN C Ứ U 7
6 Đ ÓNG GÓP M Ớ I C Ủ A LU Ậ N VĂN 8
7 CẤ U TRÚC C Ủ A LU Ậ N VĂN 8
CHƯƠNG 1 9
TRUYỆN NGẮN TRẦN THANH CẢNH TRONG BỨC TRANH CHUNG CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 9
1.1 K HÁI QUÁT V Ề TRUY Ệ N NG Ắ N 9
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn 9
1.1.2 Ưu thế của truyện ngắn 11
1.2 V ÀI NÉT V Ề TRUY Ệ N NG Ắ N V I Ệ T N AM ĐƯƠNG Đ Ạ I 15
1.2.1 Sự đa dạng trong khai thác đề tài 15
1.2.2 Những đổi mới trong cách viết 20
1.2.3 Các xu hướng chính 22
1.3 T R Ầ N T HANH CẢ NH – CÂY BÚT “ VÀO NGH Ề TR Ễ NHƯNG CHÍN S Ớ M ” 28 1.3.1 Vài nét về tác giả và quan điểm sáng tác 28
1.3.2 Cây bút truyện ngắn đang được dư luận chú ý 30
CHƯƠNG 2 32
Trang 5ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN TRẦN THANH CẢNH TRÊN PHƯƠNG
DIỆN ĐỀ TÀI, CẢM HỨNG VÀ NHÂN VẬT 32
2.1 HỆ Đ Ề TÀI 32
2.1.1 Nông thôn, làng quê trong cơn biến động xã hội 32
2.1.2 Vẻ đẹp và những mất mát của truyền thống văn hóa, lễ hội cổ truyền 35
2.1.3 Đề tài tình yêu 41
2.2 CẢ M H Ứ NG SÁNG T Ạ O 46
2.2.1 Cảm hứng ngợi ca, hoài niệm quá khứ 46
2.2.2 Cảm hứng giễu nhại, phê phán 52
2.3 T H Ế GI Ớ I NHÂN V Ậ T 58
2.3.1 Những loại nhân vật tiêu biểu 58
2.3.2 Phương thức thể hiện nhân vật 79
CHƯƠNG 3 90
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN TRẦN THANH CẢNH TRÊN PHƯƠNG DIỆN TÌNH HUỐNG, GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ 90
3.1 TẠ O D Ự NG TÌNH HU Ố NG 90
3.1.1 Khái niệm tình huống 90
3.1.2 Các loại tình huống nổi bật 93
3.2 G I Ọ NG ĐI Ệ U 99
3.2.1 Khái niệm giọng điệu 99
3.2.2 Các sắc thái giọng điệu 101
3.3 N GÔN T Ừ NGH Ệ THU Ậ T 108
3.3.1 Ngôn từ tự nhiên, dân dã, gần gũi 109
3.3.2 Ngôn từ gần với văn hóa Quan họ 111
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong bức tranh thể loại, từng thể loại văn học sẽ có những thế mạnh riêng Truyện ngắn là một thể loại văn học ít bị ràng buộc bởi những hình thức nghệ thuật đã thành quy phạm Hình thức nghệ thuật trong truyện ngắn vừa luôn luôn “vỡ ra”, vừa được hàn gắn “cấu trúc” lại để tạo ra sự mở rộng ranh giới thể loại Từ xưa, các bậc thầy truyện ngắn thực sự đem đến cho thể loại văn học này một sự linh diệu trong bút pháp của mình như: Sê-khốp, Lỗ Tấn, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao… Theo tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, truyện ngắn hiện đại hướng người đọc tới sự hoài nghi, sự ngạc nhiên, sự thỏa nguyện… trước hiện thực cuộc sống bộn bề Đây là nguyên nhân dẫn đến việc chúng tôi chọn truyện ngắn nói chung, truyện ngắn Trần Thanh Cảnh nói riêng làm đối tượng nghiên cứu của Luận văn
1.2 Trong số các cây bút truyện ngắn, Trần Thanh Cảnh là một tác giả mới bước vào văn đàn Thế nhưng, ngay từ những trang viết đầu tay, nhà văn đã
sớm để lại dấu ấn riêng Tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc đã được Hội Nhà
văn Việt Nam trao giải thưởng ở hạng mục văn xuôi 2015 Sau giải thưởng này,
Trần Thanh Cảnh tiếp tục cho ra đời tập truyện ngắn Mỹ nhân làng Ngọc nhằm
cho thấy những mảnh đời bất hạnh éo le bậc nhất xứ Kinh Bắc Xuyên suốt hai tập truyện, Trần Thanh Cảnh khắc họa cái làng Ngọc– một vùng quê Kinh Bắc đang biến đổi ghê gớm để rồi truyền tải một thông điệp về bảo tồn, gìn giữ những giá trị nhân văn Vì vậy, với đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần chỉ ra những đóng góp riêng của nhà văn cho thể loại truyện ngắn nói chung
và truyện ngắn Việt Nam đương đại nói riêng
1.3 Hiện nay, truyện ngắn được giảng dạy khá nhiều trong nhà trường, đặc biệt là trường phổ thông Dù truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh chưa được đưa vào chương trình phổ thông để giảng dạy, nhưng với đề tài này, ít nhiều đã
Trang 7trang bị cho chúng tôi có thêm vốn kiến thức, giúp chúng tôi giảng dạy tốt hơn phần truyện ngắn Việt Nam
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài cho Luận văn của mình: Đặc
điểm truyện ngắn Trần Thanh Cảnh
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong sáng tác văn học, Trần Thanh Cảnh chưa thử mình trên nhiều thể loại khác nhau, chỉ tập trung ở lĩnh vực truyện ngắn Truyện ngắn Trần Thanh Cảnh thể hiện một cách tiếp cận riêng của nhà văn trong việc áp sát đời sống,
nhanh nhạy phát hiện vấn đề Ở tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, nhà văn đã
xác định một cách viết khác về Kinh Bắc, khác với cách viết của người tiền bối đồng hương nổi danh trong làng thơ Việt (Hoàng Cầm) Cho nên, tập truyện ngắn này được đông đảo độc giả và giới phê bình văn học đón nhận và khen ngợi
Theo những gì chúng tôi tìm hiểu được, đến nay, Kỳ nhân làng Ngọc của
Trần Thanh Cảnh chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, chỉ có những bài viết ngắn đăng trên các báo, các trang mạng… nhằm giới thiệu độc giả đến với tập truyện Viết “Lời giới thiệu” cho sáng tác này, nhà văn Hồ Anh Thái
ví von: “Gặp nhau, người ta có thể chìa ra cái danh thiếp, để tự giới thiệu Nhà văn có lẽ chỉ nên chìa ra một tác phẩm của mình, để tự giới thiệu” [10, tr.5] Cách ví von này, phải chăng, Hồ Anh Thái một mặt kích thích tính tò mò của độc giả trong việc tìm đọc, nghiên cứu tập truyện ngắn; mặt khác nhà văn khẳng định
“vị thế” văn chương Trần Thanh Cảnh trên văn đàn văn học Việt Nam Hay trong
Buổi tọa đàm giới thiệu cuốn Kỳ nhân làng Ngọc, PGS.TS Ngô Văn Giá nhận
xét: “Trần Thanh Cảnh vào nghề muộn nhưng chín sớm” [70] Lời nhận xét này giống như lá phiếu của cử tri bỏ vào thùng phiếu ủng hộ chủ nhân Trần Thanh Cảnh về thành công trong tập truyện ngắn Còn giới văn nghệ sĩ, họ có nhiều bình luận sắc nét, chi tiết hơn Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có một cách đánh giá khái quát: “Văn học trước thời kì đổi mới luôn chạy theo những cái bất thường, còn văn học sau đó tìm về những cái bình thường, hay cái đạo của đời thường
Và Trần Thanh Cảnh là người đã phát hiện ra một trong những cái đạo ấy” [70]
Trang 8Nhà văn Sương Nguyệt Minh thì cho rằng: “Truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh mang tầm vóc của một tiểu thuyết Hiện thực được dồn nén, cô động đến cực điểm Các nhân vật trong tác phẩm vừa có chất người vừa có cái gì đó quái quái Cái kết thúc của một số truyện ngắn khiến người ta xót xa nhưng lại rất nhân
văn” [70] … Như vậy, Kỳ nhân làng Ngọc có sức cuốn hút nằm ở chất liệu, ở
tính chủ định thông minh, năng lực khám phá, tài năng vận dụng chữ nghĩa, nhập thân vào cái bề bộn của đời sống Điều này đem đến nhiều tranh luận khi thưởng thức, nghiên cứu truyện ngắn Trần Thanh Cảnh
Còn tập truyện ngắn Mỹ nhân làng Ngọc, hiện chưa có những bình luận,
nghiên cứu chính thức được đăng trên các báo, tạp chí Thế nhưng, theo chúng tôi, tập truyện ngắn này cần phải được tìm hiểu, nghiên cứu kĩ Nếu không có
“vấn đề”, chúng tôi thiết nghĩ không có những dòng giới thiệu về tập truyện như sau: “Mĩ nhân làng Ngọc mang đến một không khí khác, những nhân vật của cuộc sống hiện đại được vẽ nên từ ngồn ngộn chất liệu của cuộc sống hằng ngày Tình không còn là tình, người hiền không còn muốn hiền, tác giả đã giỏi sử dụng chi tiết để kể lại một hiện thực ngập ứ tha hóa, nhưng may thay vẫn con chỗ cho
sự tử tế quay về” [69]
Ở trên là những nhận định, đánh giá về truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh Nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn Trần Thanh Cảnh nhằm chỉ ra những nét riêng trong sáng tác của nhà văn trên các phương diện: đề tài, cảm hứng, nhân vật, tình huống, giọng điệu, ngôn ngữ… Nhận diện và làm sáng tỏ các phương diện này, chúng tôi nghĩ: đây cũng là cách để chúng ta trân trọng những đóng góp thiết thực của nhà văn cho thể loại truyện ngắn nói riêng và cho văn học Việt Nam đương đại nói chung Hi vọng sau công trình này, chúng ta có thêm một nguồn tư liệu hữu ích để cảm nhận rõ hơn văn chương Trần Thanh Cảnh
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi tƣ liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là đặc điểm truyện ngắn Trần Thanh Cảnh (trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật)
Trang 93.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Chúng tôi khảo sát hai tập truyện ngắn: Kỳ nhân làng Ngọc (Nxb Trẻ) với
14 truyện ngắn và Mỹ nhân làng Ngọc (Nxb Trẻ) với 11 truyện ngắn
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nhận diện đặc điểm truyện ngắn Trần Thanh Cảnh, từ đó chỉ ra những đóng góp của nhà văn cho thể loại truyện ngắn Việt Nam đương đại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn Trần Thanh Cảnh trên phương diện nội dung
- Tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn Trần Thanh Cảnh trên phương diện nghệ thuật
- Bước đầu chỉ ra những đóng góp riêng của Trần Thanh Cảnh cho thể loại truyện ngắn Việt Nam đương đại
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp linh hoạt các phương pháp sau:
- Phương pháp cấu trúc, hệ thống: Xem xét các yếu tố cấu tạo nên cấu trúc của tác phẩm
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tiếp cận và khảo sát trực tiếp hai tập
truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc và Mỹ nhân làng Ngọc; trên cở sở đó, đưa ra
những luận điểm khái quát cho Luận văn
- Phương pháp thống kê, phân loại: Khảo sát 25 truyện ngắn tiêu biểu
trong hai tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc và Mỹ nhân làng Ngọc của Trần
Thanh Cảnh; qua đó thống kê, phân loại các kiểu nhân vật, các loại tình huống, sắc thái giọng điệu…
- Phương pháp so sánh: Nhằm làm nổi bật sự khác biệt giữa truyện ngắn Trần Thanh Cảnh với các truyện ngắn cùng thời của các nhà văn khác trong văn
Trang 10đàn văn học Việt Nam ở các phương diện: cảm hứng nghệ thuật, nhân vật, ngôn ngữ…
6 Đóng góp mới của luận văn
Nghiên cứu truyện ngắn Trần Thanh Cảnh, chúng tôi xác định những đóng góp riêng của nhà văn cho thể loại truyện ngắn Việt Nam nói riêng và cho văn học Việt Nam nói chung; chỉ ra sự thống nhất trong quan điểm nghệ thuật với thực tiễn sáng tác văn chương Trần Thanh Cảnh
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn được triển khai trong 3 chương
Chương 1 Truyện ngắn Trần Thanh Cảnh trong bức tranh chung của
truyện ngắn Việt Nam đương đại
Chương 2 Đặc điểm truyện ngắn Trần Thanh Cảnh trên phương diện đề
tài, cảm hứng sáng tạo và nhân vật
Chương 3 Đặc điểm truyện ngắn Trần Thanh Cảnh trên phương diện tình
huống, giọng điệu và ngôn từ
Trang 11Chương 1 TRUYỆN NGẮN TRẦN THANH CẢNH TRONG BỨC TRANH CHUNG CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Khái quát về truyện ngắn
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn
Truyện ngắn, từ tiếng Anh là short story, như tên gọi có thể xác định được đặc trưng về thể loại, là một truyện kể có dung lượng ngắn, tập trung vào một biến cố, diễn ra trong một thời gian ngắn và không gian nhỏ với một vài nhân vật
Tuy nhiên, mức độ dài ngắn của câu chuyện chưa phải là tiêu chí cốt lõi
để phân biệt giữa các thể loại văn xuôi có cả truyện vừa và tiểu thuyết Vì thế, trước câu hỏi đặt ra: “Truyện ngắn là gì?”, câu trả lời cho vấn đề này không hề đơn giản
Cho đến nay, theo những gì chúng tôi tìm hiểu được, chưa có định nghĩa nào cho thể loại văn học này có thể bao quát, thể hiện tính chính xác, trọn vẹn về truyện ngắn Định nghĩa nào cũng có sự bất cập giữa lí thuyết thể loại với thực tiễn sáng tác của nhà văn Vì thế, để bớt phần tranh luận không cần thiết về khái niệm, chúng ta cần thống nhất: Về nguyên tắc, truyện ngắn không có khung lí thuyết riêng dẫu nó đã trải qua một tiến trình phát triển rất dài trong lịch sử Từ
sự thống nhất này, chúng ta thử điểm qua một vài định nghĩa về truyện ngắn trong từ điển, của nhà nghiên cứu, trong chính sáng tác của các nhà văn
Các tác giả chương mục “truyện ngắn” của Từ điển Văn học Pháp ngữ thì
cho rằng: “Với nhiều người, truyện ngắn so với tiểu thuyết giống như phim ngắn
so với phim dài Truyện ngắn là bài tập của các nhà duy mĩ và cũng là bài tập dành cho những nhà văn mới vào nghề Đó là một thể loại ít được công chúng màng tới, và cũng chính vì vậy mà các nhà xuất bản thường ngoảnh mặt với nó” [52] Định nghĩa này vừa đề cập đến dung lượng tác phẩm, vừa cho thấy hiện thực của công việc sáng tác văn chương, nhưng không cho thấy gì hơn ngoài tình
Trang 12trạng mong manh và vô vọng của đặc trưng thể loại truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn đương đại Cùng quan điểm này, Charles Paul Bourget (1852- 1935)- nhà văn, nhà phê bình người Pháp thế kỉ XX, nổi tiếng với hai cuốn sách
về Lý thuyết phân rã (1881) và Tâm lí học hiện đại (1883)- có nhận định về
truyện ngắn khi so sánh với tiểu thuyết, qua đó cũng giải thích phần nào về sự chênh lệch số trang của từng thể loại: “Phong cách của truyện ngắn và của tiểu thuyết rất khác nhau Phong cách của truyện ngắn là thuộc về tình tiết Các tình tiết mà truyện ngắn dự định diễn tả, truyện ngắn đã tách nó ra, làm cô lập lại nó Các tình tiết mà cả dãy đã làm nên đối tượng của tiểu thuyết, tiểu thuyết đã làm ngưng kết chúng, nối chúng lại với nhau Tiểu thuyết tiến hành thông qua các triển khai, còn truyện ngắn thông qua sự tập trung… Truyện ngắn là độc tấu Tiểu thuyết là giao hưởng” [65] Nhận định này đã cho thấy: thông thường tiểu thuyết phải dài hơn truyện ngắn, thế nhưng lại chưa chỉ ra được là dài hơn bao nhiêu và có phải một tác phẩm văn học dài nào cũng được xem là tiểu thuyết?
Ở Việt Nam cũng có những quan niệm khác nhau về truyện ngắn Một trong những định nghĩa súc tích và khá chuẩn về truyện ngắn là định nghĩa của Lại Nguyên Ân Ông cho rằng truyện ngắn là “Một thể loại tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người
và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là ở dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ” [51, tr.1846-1847] Định nghĩa này nhấn mạnh đến tính chất tự sự dựa trên cơ sở phân loại tác phẩm văn học, còn ranh giới giữa truyện ngắn với tiểu thuyết chưa xác định rõ Với các nhà văn, trên cơ sở thực tế trải nghiệm, cũng đã đưa ra những nhận định cụ thể làm phong phú thêm cho khái niệm truyện ngắn, điều này thể hiện qua một số đúc kết Nguyễn Công Hoan chú ý nhấn mạnh đến chi tiết trong sáng tác văn chương nên cho rằng: “Truyện ngắn không phải là truyện
mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết” [60, tr.186] Nguyên Ngọc nhận
ra giữa truyện ngắn với tiểu thuyết có cùng phạm trù và có nhiều đặc điểm giống nhau Ông cho rằng truyện ngắn là một bộ phận của tiểu thuyết Do đó, ông nhấn
Trang 13mạnh: “Truyện ngắn là một bộ phận của tiểu thuyết nói chung…” và cho rằng:
“không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào những khuôn mẫu gò bó Truyện ngắn vốn nhiều vẻ Có truyện viết về cả một đời người, lại có truyện ghi lại một vài giây phút thoáng qua” [60, tr 301- 303] Quan niệm này nêu được những ưu thế của truyện ngắn (về ưu thế của truyện ngắn, chúng tôi sẽ nói rõ ở phần sau Luận văn) thế nhưng, theo chúng tôi, cũng không nên đồng nhất giữa truyện ngắn với tiểu thuyết, vì điều này chỉ phù hợp với những truyện ngắn mà ở đó sức nén của nó không kém gì so với tiểu thuyết
Từ những nhận định, đánh giá như đã nêu trên, chúng tôi nhận thấy khái
niệm truyện ngắn trong Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) cho rằng: “Truyện ngắn là thể loại tự
sự cỡ nhỏ, nội dung thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra liền một mạch đọc một hơi không nghỉ” [29] là khá chính xác, trọn vẹn và bao quát Định nghĩa này vừa hàm chứa cách nhận diện các thể loại văn học cơ bản, vửa đề cập đến nội dung trong từng tác phẩm, lại nêu lên cả quá trình sáng tác- tiếp nhận tác phẩm Song, chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh thêm: truyện ngắn hiện đại thường là những “nhát cắt” của đời sống Mỗi sáng tác thường tập trung vào một chủ đề, cốt truyện thường không phức tạp Nhân vật truyện ngắn thường là đại diện của một trạng thái, một ý thức xã hội chứ không được xây dựng với tính cách đầy đặn, hoàn chỉnh như trong tiểu thuyết
1.1.2 Ưu thế của truyện ngắn
M.Bakhtin từng nhận định: “Thể loại là trí nhớ siêu cá nhân của nghệ thuật… Thể loại là đại diện kí ức sáng tạo trong tiến trình văn học” Từ nhận định này, chúng ta có thể suy ra: mỗi thể loại văn học sẽ tương ứng với những đặc điểm riêng cho việc sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật Đề cập đến thể loại truyện ngắn, một thể loại văn học được coi là “xung kích” trong sáng tác văn chương, một thể loại có tính chất “thuốc thử” với hầu hết nhà văn trên con đường sáng tạo nghệ thuật đầy những cam go, chúng tôi nhận thấy nó có nhiều ưu thế
Trang 14nhưng hết sức phức tạp và đầy những lí thú Trong Luận văn, chúng tôi chỉ nêu
ra một vài ưu thế của thể loại truyện ngắn so với các thể loại văn học khác từ đó
đi vào tìm hiểu “Đặc điểm truyện ngắn Trần Thanh Cảnh”
Đầu tiên, truyện ngắn là một thể loại văn học có đặc trưng loại biệt, nghĩa
là đã tự mang một “hình hài” riêng Thế nhưng, trong tiến trình phát triển của văn học, tính loại biệt của truyện ngắn không cho phép nó được xa rời, đứng biệt lập riêng một cõi, “bất hòa” với “hàng xóm láng giềng” mà chính sự tác động qua lại rất mạnh mẽ giữa các loại hình, thể loại đã làm cho truyện ngắn ngày càng trở nên hoàn hảo, gắn bó chặt chẽ với các thể loại văn học khác Thông thường, truyện ngắn ít nhân vật; cốt truyện diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế; kết cấu không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng; đặc biệt là chi tiết phải hết sức cô đọng mang nhiều ẩn ý nhằm tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết… Vì thế, tìm hiểu truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn hiện đại ngày nay, chúng tôi nhận
ra thể loại văn học này vừa kế thừa những đặc trưng cơ bản về thể loại, vừa có độ
“nhòe” về đặc trưng giữa các thể loại Xét về mặt dung lượng, truyện ngắn có dung lượng nhỏ Vậy thế nào là dung lượng nhỏ? Có thể nói, dung lượng thông thường của một truyện ngắn co dãn trong khoảng từ 3 đến 50 trang Thế nhưng tìm hiểu truyện ngắn hiện đại ngày nay, chúng tôi bắt gặp nhiều truyện ngắn chỉ vài chục từ (truyện cực ngắn) Loại truyện này, xét về dung lượng, gần với truyện ngụ ngôn, truyện cười… hoặc gần với thể loại thơ Cho nên, nó có thế mạnh ở khía cạnh thời gian trong sáng tạo và cảm thụ, cũng như sức ám gợi Về khía cạnh cốt truyện, truyện ngắn có cốt truyện Thế nhưng, truyện ngắn của Thạch Lam, thường không có cốt truyện, mỗi sáng tác là mỗi “khoảnh khắc” tâm hồn nhân vật được truyền tải trong một khoảng không gian, thời gian cụ thể Đó có thể là những dòng trữ tình, dòng cảm xúc cuộn chảy ở bên trong Cho nên, trong sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật, chúng ta không nhất nhất phải xác định từng cốt truyện Đọc truyện ngắn, chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy có nhiều tác phẩm rất gần với kịch Sự giản thiểu các sự kiện, tình tiết trong truyện ngắn đòi hỏi độ
Trang 15căng của kịch Xung đột trong kịch với xung đột trong truyện ngắn cũng có yêu cầu về độ nén và sự bùng nổ mạnh mẽ của độ nén tạo nên tính hấp dẫn, tức yếu
tố “kịch tính” cao Điều này thể hiện nhiều trong các sáng tác của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Thiệp… Như vậy, truyện ngắn đã trở thành thể loại cho phép nhà văn thử nghiệm và triển khai các khía cạnh mới mẻ, linh hoạt đầy ấn tượng, tức sự năng động về mặt thể loại
Sự năng động của truyện ngắn còn được thể hiện ở tính nhanh nhạy, cập nhật thông tin trước những biến động trong xã hội Với đặc thù ngắn gọn, súc tích, dễ đọc, truyện ngắn thường gắn liền với hoạt động báo chí- cập nhật thông tin nhanh và truyền tải kịp thời đến độc giả Ở truyện ngắn, người viết không được phép viết dông dài, phải thâu tóm trong việc nắm bắt nhiều bức tranh hiện thực rồi truyền tải đến độc giả Độ căng của tác phẩm phải “như mũi tên mà dây cung đã bật, phải bay vụt về tới đích không thể có một phần nghìn giây trù trừ” [60, tr.162].Như vậy, về mặt sáng tác, truyện ngắn không có chuyện miêu tả dài dòng mà theo kiểu dồn nén, cô đúc hiện thực, tạo nên những hiệu quả đặc biệt Còn về mặt tiếp nhận, với tốc độ sống gấp gáp, độc giả không có nhiều thời gian
để đọc những tác phẩm dài hàng nghìn trang Nghĩa là: truyện ngắn là thể loại đã thỏa mãn được yêu cầu không mất nhiều thời gian của độc giả Đây là ưu thế của truyện ngắn Cho nên trong thời đại ngày nay, truyện ngắn trở thành sự lựa chọn hàng đầu của bạn đọc yêu thích văn học
Thứ hai, do tính chất ngắn, các vấn đề nhân sinh được nhà văn nêu ra trong tác phẩm thật súc tích để người đọc tự lí giải, nhìn nhận theo quan niệm riêng, tức là nhà văn đã có ý thức khai thác khả năng đồng sáng tạo từ phía người tiếp nhận Người đọc truyện ngắn không đơn thuần là người tiếp nhận một cách thụ động Độc giả là người tích cực chủ động tham gia cùng nhà văn trong việc nhìn nhận các vấn đề của đời sống nhân sinh, bổ sung thêm những quan niệm mới Trước vấn đề nhân sinh, độc giả phải và luôn trăn trở trong việc tìm lối đi Lối đi táo bạo, hợp lí, mới mẻ, độc đáo sẽ được nhiều người đón nhận Thật là
nghèo nàn khi đọc truyện ngắn của Nam Cao như: Lão Hạc, Chí Phèo, Tư cách
Trang 16mõ… khi đọc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp như: Sang sông, Tướng về hưu, Không có vua… mà không có thêm những tiếng nói trăn trở Điều này muốn
nói: sở dĩ hình tượng nghệ thuật nói chung và quan niệm nghệ thuật của nhà văn trong sáng tác nói riêng được trở nên phong phú, sâu sắc, hấp dẫn là từ việc khai thác khả năng đồng sáng tạo
Đề cập đến khả năng đồng sáng tạo của độc giả, chúng tôi cũng muốn nói thêm: Ở một phương diện nào đó, vì truyện ngắn súc tích, đặc biệt là những truyện cực ngắn, cũng gây nên những trở ngại đối với việc tiếp nhận cũng như khả năng đồng sáng tạo Nếu người đọc không tinh, không có nhiều kinh nghiệm nghệ thuật, kinh nghiệm cuộc sống, không có sự liên tưởng phong phú thì hiệu quả nghệ thuật mà truyện ngắn mang lại sẽ không được phát huy đến mức tối đa
Ví như, trong sáng tạo nghệ thuật, nhà văn sử dụng rất ít chi tiết, ít sự kiện, viết theo lối “tảng băng trôi” sẽ gây không ít những khó khăn cho người đọc trong việc tiếp nhận nói chi đến khả năng đồng sáng tạo Như vậy, đồng sáng tạo trong truyện ngắn vừa là ưu thế lại vừa là rào cản trong nghệ thuật văn chương
Thứ ba, về cách tiếp cận cuộc sống, truyện ngắn “khái quát cuộc sống theo chiều sâu, lấy điểm nối diện, lấy cái khoảnh khắc để nối cái vĩnh cửu” [58, tr.149] Đặc trưng này còn được Bùi Việt Thắng triển khai kỹ và sinh động hơn thông qua việc so sánh giữa hai thể loại văn học “Tiểu thuyết thường vươn tới cái toàn thể, truyện ngắn lại hay hướng về cái đơn nhất Nếu ví tiểu thuyết như một căn phòng ấm áp thì truyện ngắn có lẽ chỉ nên là một ngọn lửa nhiệt lượng tập trung thật mạnh ở nhiệt độ cao Nếu tiểu thuyết là một con người với đầy đủ phục sức, đường nét… thì truyện ngắn chỉ nên là một đôi mắt nhưng đây là cửa sổ tâm hồn hoặc thậm chí là một cái ngước mắt, một ánh mắt vừa có sức cuốn hút mà độ sâu thẳm lại không thể lường được” [60, tr.378] Do đó, viết truyện ngắn, nhà văn thường chú ý đến khoảnh khắc đích đáng cho sáng tác của mình, đặc biệt chú
ý đến chi tiết đắt giá, cũng như cách kết thúc tác phẩm để tạo nên sự hấp dẫn, kịch tính Khoảnh khắc đích đáng có giá trị như một điểm xoáy, một phút giao cắt trong đó nhân vật có thể phơi mở, bộc lộ trọn vẹn tính cách Chi tiết đắt giá
Trang 17góp phần tạo dựng cảnh trí, không khí, tình huống và khắc họa tính cách, hành động, tâm tư nhân vật Cách kết thúc, đặc biệt là lối kết thúc mở, có giá trị tạo nên dư ba, tạo nên sức ám ảnh cho người đọc Đây được xem là hiệu quả nghệ thuật mà nhà văn đã tạo ra trong sáng tác khiến tác phẩm có sức sống lâu bền cùng năm tháng Điều này, theo chúng tôi, có và chỉ có ở truyện ngắn
Thật ra, ưu thế của truyện ngắn còn thể hiện trên nhiều phương diện, nhiều khía cạnh như về mặt kết cấu, giọng điệu, nhân vật… Điều này, xin hẹn ở các bài nghiên cứu, còn trong Luận văn, chúng tôi tạm điểm qua những ưu thế trên
1.2 Vài nét về truyện ngắn Việt Nam đương đại
Từ năm 1986 đến nay, văn học Việt Nam đã là văn học của sự hội nhập toàn cầu, phát triển theo cơ chế thị trường Văn học Việt Nam giai đoạn này có nhiều điểm khác so với văn học giai đoạn trước, trong đó cần phải nhắc đến quan điểm nghệ thuật của người cầm bút: nghệ thuật chính là đời sống, là hiện sinh, và như thế, nghệ thuật luôn luôn là trò rượt đuổi của những giới hạn Điều này được đội ngũ nhà văn đương đại thể hiện một cách sinh động, hấp dẫn qua nhiều truyện ngắn
1.2.1 Sự đa dạng trong khai thác đề tài
Như đã đề cập, truyện ngắn là một thể loại văn học năng động, số lượng tác phẩm phát triển nhanh và có lịch sử phát triển lâu dài Truyện ngắn Việt Nam đương đại tiếp tục kế thừa và phát huy những đặc điểm của ưu thế này Riêng về mặt đề tài, truyện ngắn Việt Nam đương đại có những dịch chuyển rõ nét so với những gì đã có trong truyền thống Vấn đề này, về cơ bản, thể hiện trên hai phương diện
Ở tầm vĩ mô, truyện ngắn Việt Nam đương đại vẫn khai thác những đề tài
đã có trong truyền thống Tương ứng với từng đề tài khác nhau sẽ có những tên tuổi khác nhau Trước kia, với đề tài lịch sử, phải kể đến các cây bút như: Phan
Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc, Khái Hưng (Linh hồn thi sĩ), Vũ Hạnh (Bút màu,
Chất ngọc, Vàng trong cổ tháp)… Sáng tác của các văn sĩ thời bấy giờ nhằm
truyền tinh thần dân tộc, thức tỉnh lòng tự tôn của dân tộc phục vụ cho việc cứu
Trang 18nước cứu dân Còn hiện tại, các nhà văn như: Nguyễn Huy Thiệp, Sương Nguyệt
Minh (Dị hương), Trần Hạ Tháp (Cuộc cờ lều Ngộ Vân), Trần Vũ (Mùa mưa
gai sắc), Trần Thùy Mai (Thể Cúc, Nàng công chúa té giếng, Án lục người đàn
bà họ Tống), Nguyễn Thúy Ái (Trở về Lệ Chi Viên)… lại đưa ra những tình tiết
đa dạng, có những tình huống bi hài đầy kịch tính, mâu thuẫn được đẩy lên đến đỉnh điểm và kết thúc bất ngờ nhằm vào mục đích thế sự- cái nhìn của con người hôm nay trước bao vấn đề của lịch sử dân tộc
Về đề tài nông thôn, chúng tôi cũng nhắc lại những tên tuổi đã gây nên tiếng vang một thời cho truyện ngắn Việt Nam như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Kim Lân, Hồ Phương… Đưa ngòi bút của mình đến với đề tài này, mỗi nhà văn, trong tâm thức sâu xa của mình, mong muốn được trở về với cội nguồn; trở về với những gì trong sáng, đẹp đẽ, nhân văn… mà họ đã từng thụ hưởng Thế nhưng thời thế đã thay đổi, đất nước từ trong chiến tranh đã chuyển sang thời kì hòa bình, từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường với những biến động phức tạp trong đời sống xã hội, cho nên bộ mặt nông thôn đã thay đổi, lột xác gây nên những hiệu ứng: tích cực cũng có mà bi hài kịch cũng không thiếu Các nhà văn đương đại như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy
Thiệp (Những bài học nông thôn, Thương nhớ đồng quê), Tạ Duy Anh (Bước
qua lời nguyền), Lưu Sơn Minh (Bến trần gian), Sương Nguyệt Minh (Nỗi đau dòng họ) Nguyễn Ngọc Tư (Cánh đồng bất tận)… đã “trình làng” chủ đề này
với nhiều góc nhìn khác nhau tạo nên một bức tranh nông thôn thời kì mới vừa quen thuộc lại vừa lạ lẫm, đơn giản mà phức tạp với bao thăng trầm, biến cải, nông thôn Việt Nam trong thời đổi mới và hội nhập, giàu bản sắc truyền thống
mà hiện đại
Ở các đề tài khác: tình yêu, tình dục, hôn nhân, giới tính, chiến tranh, tâm linh, vô thức, sự phản tỉnh, các giá trị của cuộc sống con người trong bối cảnh mới… cũng được lớp nhà văn đương đại đưa ngòi bút của mình đến để mổ xẻ gây nên những hiệu ứng trái chiều Điều này đem đến cho độc giả có thêm cơ hội
để tìm hiểu, nhận diện, thấy được thông điệp ẩn chứa sau mỗi con chữ của nhà
Trang 19văn Mỗi tín hiệu trong tác phẩm văn chương nghệ thuật về cơ bản là không đơn nhất, song để thoát ra khỏi một định kiến, một tư tưởng nào đó đã trở thành “nếp văn hóa” dân tộc là vấn đề không hề đơn giản Nhưng, với lương tâm và trách nhiệm của người cầm bút, đội ngũ nhà văn đương đại Việt Nam vẫn nói lên tiếng nói của mình để độc giả có thêm tiêu chí mà nhận diện, tìm tòi, trải nghiệm với những giá trị mới
Ở tầm vi mô, việc khai thác đề tài của các cây bút truyện ngắn Việt Nam đương đại đã đem đến cho công chúng một cái nhìn mới Đọc truyện ngắn Việt Nam đương đại, nếu không tĩnh tâm, độc giả sẽ bị sốc- một “cú sốc” văn hóa Trong văn hóa Mỹ, người Mỹ có thể xây dựng một bộ phim nói về tổng thống đương nhiệm bị ám sát Tất cả anh hùng hào kiệt, vị chính khách, nhà văn hóa- tư tưởng, thậm chí cả bậc vĩ nhân đều có thể bị nhìn nhận dưới cặp mắt hài hước, ngớ ngẩn, tệ hơn là trò lố bịch Thế nhưng ở Việt Nam, văn hóa Việt Nam chưa
có thói quen này Ngày nay, nhà văn hiện đại lại đưa ra những cách cảm nhận
“Tây hóa” này khiến cho độc giả nhiều phen phải “giận dữ”, phải “cãi lại” và phải nghi ngờ Vì nghi ngờ, độc giả phải tìm hiểu, phải lí giải và lục tung những hiểu biết tri thức về các lĩnh vực có liên quan để xác minh và thẩm định Nghĩa là sáng tác văn học của nhà văn đương đại đã đứng trên một tiêu chí mới: quan niệm bình đẳng trong các mối quan hệ: hiện thực- nhà văn- công chúng Tiếng nói của văn sĩ thể hiện trong tác phẩm văn học ngày nay không xây dựng theo kiểu của tiếng nói “quyền uy”, “biết tuốt” mà chỉ là một cách cảm để từ đó độc giả có thêm cơ sở mà suy tư theo nhiều hướng khác nhau Điều này vừa thể hiện
sự đa dạng trong khai thác đề tài vừa khai thác khả năng đồng sáng tạo ở bạn đọc (vấn đề này đã được đề cập trong phần trước của Luận văn)
Cụ thể, viết về lịch sử, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đem đến cho độc giả nhiều truyện ngắn thật trần trụi và gai góc Nhà văn cố lần ngược lên cho đến ngọn nguồn của sự việc, gợi ra những căn nguyên tiềm ẩn sâu xa bên trong Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng những hình tượng trong sáng tác của mình hoàn toàn khác- lạ với những gì mà tên tuổi của họ đã hằn sâu trong tâm trí của nhiều
Trang 20người Đó là Nguyễn Trãi, Quang Trung, Gia Long, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn
Du, Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương…được nhìn ở góc độ rất thực và rất đời
Ví như nói về Quang Trung, nhà văn không xây dựng hình ảnh Quang Trung ở tư thế bách chiến bách thắng trong bốn năm làm vua với hai lần đại thắng quân xâm lược Xiêm la và Mãn Thanh Nguyễn Huy Thiệp chọn thời điểm đen tối nhất của triều đình Tây Sơn để viết: ngay sau khi Nguyễn Huệ mất, triều đình Tây Sơn trở nên hỗn loạn, chia bè kéo cánh, các đại thần giết hại lẫn nhau Vua mới: Cảnh Thịnh, mới mười tuổi, lên ngôi không lo nổi việc triều chính, chẳng bấy lâu cơ
nghiệp nhà Tây Sơn đổ nát (Kiếm sắc) Trong tác phẩm khác viết về Quang Trung, Phẩm tiết, Nguyễn Huy Thiệp xây dựng một hình ảnh Quang Trung hết
sức đời thường trước phút giây gặp Vinh Hoa Vua Quang Trung “rùng mình, hoa mắt, đánh rơi cốc rượu quý cầm tay…” và cho rằng: “được Vinh Hoa như được báo vật, một Vinh Hoa bằng ba vạn người” thì còn đâu cái uy của một đấng minh vương! Tương tự, những nhân vật lịch sử khác mà nhà văn dựng nên trong các sáng tác, thật sự rất người và rất đời! Có lẽ, nhà văn đang đặt lại “điểm nhìn” nhân vật trong trường nhìn mới: mỹ nhân, thi nhân, danh tướng… tất thảy đều rất con người và thật cô đơn, bất hạnh
Việc lạ hóa đề tài lịch sử trong truyện ngắn Việt Nam đương đại còn được thể hiện ở nhiều nhà văn khác Mỗi người mỗi vẻ nhằm phá vỡ những gì được xem là thước đo trước kia để dựng lên một thế giới đa phương, nhiều chiều Làm được điều này, chứng tỏ, người cầm bút thật sự tài năng Đó còn là yêu cầu của sáng tác văn chương hôm nay
Viết về nông thôn, các cây bút đương đại quan tâm đến những vấn đề mới
mà bình diện trung tâm là khám phá số phận con người cá nhân trên nhiều góc độ xoay quanh các mối quan hệ: con người cá nhân với dòng họ, làng xóm và con người cá nhân với chính mình; đồng thời đặc biệt quan tâm đến hiện thực của
nông thôn thời mở của Ở vấn đề dòng họ, các cây bút như: Tạ Duy Anh (Bước
qua lời nguyền), Sương Nguyệt Minh (Nỗi đau dòng họ, Đi trên đồng năn)… đã
gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh, đòi hỏi xóa bỏ tận gốc những vết thương
Trang 21đang âm ỉ cháy trong các làng quê tưởng chừng như bình lặng, hiền hòa Họ đang quan tâm đến thân phận của lớp người “thấp cổ bé họng” chẳng may xảy ra những biến động xã hội sẽ thật sự trở nên “nhỏ bé” và yếu ớt hơn Về số phận
người nông dân, các cây bút như: Tạ Duy Anh (Lũ vịt trời), Sương Nguyệt Minh (Trần gian biến cải), Nguyễn Ngọc Tư (Cánh đồng bất tận), Đoàn Lê (Xóm
Chùa Ông)… tiếp tục cho thấy một phần thực trạng cuộc sống và số phận của
những người nông dân hôm nay Họ vẫn tiếp tục với cuộc sống đói nghèo bởi công cuộc mưu sinh, bởi thiên tai dịch bệnh, bởi sự nhỏ nhen hận thù, bởi căn bệnh quan liêu, máy móc và cả bởi nạn tham nhũng của những người cầm cân nảy mực đang hoành hành ở nông thôn đã và đang nhấn chìm họ vào đời sống khốn cùng Về đô thị hóa ở nông thôn, các văn sĩ đương đại cho thấy từ một vùng quê bình lặng, chất phác với hình ảnh người nông dân cần mẫn trên đồng ruộng bỗng chộn rộn lên sự đổi thay Làng xóm có khang trang hiện đại hơn nhưng đi liền với nó là những hệ lụy đáng buồn Những bi kịch xảy ra đã nhấn chìm bao thuần phong mĩ tục đẹp đẽ, nghĩa tình tự bao đời Viết về sự biến đổi của nông thôn trong nền kinh tế thị trường, mỗi văn sĩ đương đại đều thổi cả vào đó những nỗi đau nhức nhối, day dứt Họ viết với tất cả tình yêu và nỗi lòng đau đáu về vùng đất quê hương mình Dẫu biết quá trình đô thị hóa diễn ra là một quy luật tất yếu, nhưng niềm mong mỏi đặt ra trong các sáng tác của họ vẫn không thể thiếu: Làm sao để con người hôm nay trân trọng, gìn giữ bao giá trị tốt đẹp, những truyền thống tương thân tương ái đã có từ bao đời nay? Làm gì để con người hôm nay trở về những nét đẹp xưa? Đọc các truyện ngắn của Dương Duy Ngữ, Tạ Duy Anh, Sương Nguyệt Minh, Đỗ Bích Thúy, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Ngọc Tư…, chúng ta sẽ có được những cảm nhận mới mẻ
Tương tự với các đề tài khác, mỗi nhà văn đương đại sẽ cho ra những giá trị, những ý nghĩ, cảm xúc, khát vọng, trăn trở và có thể là cả sự tuyệt vọng, sự đau đớn… để độc giả nhận diện, trải nghiệm, tìm tòi
Trang 221.2.2 Những đổi mới trong cách viết
Sáng tác văn chương là một hoạt động sáng tạo từ việc khai thác đề tài đến quá trình đổi mới trong cách viết Điều này, có lần, nhà văn Nam Cao đã phát
biểu thông qua truyện ngắn luận đề Đời thừa: “Văn chương không cần đến
những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp cho những ai biết đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” Đọc các sáng tác văn học của nhà văn, chúng ta hiểu được cái tâm của một người làm nghệ thuật nghiêm túc, công phu Các truyện
ngắn: Chí Phèo, Lão Hạc, Đời thừa, Trăng sáng… là một minh chứng đầy tính
Giai đoạn đầu, Nguyễn Huy Thiệp có thể được xem là một cây bút sáng giá trong việc đổi mới cách viết Sáng tác văn học của nhà văn đem đến cho độc giả nhiều ấn tượng bởi cách viết sinh động và có sức ảnh hưởng lớn đối với thế
hệ đến sau Văn phong Nguyễn Huy Thiệp rất sắc bén; ngôn ngữ phong phú, cô động; cách dẫn truyện đầy hài hước mà có nhiều ma lực… Ví như viết về lịch sử, khi đề cập đến các biến cố trong cuộc đời nhân vật, nhà văn thường kể bằng một
giả thuyết thiếu tính chắc chắn Trong Kiếm sắc, kể về sự kiện Nguyễn Phúc Ánh
sai đao phủ dùng kiếm gia truyền của Lân để chém đầu Lân, nhà văn đưa ngay vào đó cụm từ “Nghe nói” tạo giả thuyết về độ thiếu chính xác mà đầy “ma thuật” Hoặc, thậm chí, người kể còn nói rõ là mình đã can thiệp vào việc dựng truyện như thế nào: “Khi viết tôi có tự ý thay đổi một vài chi tiết phụ và sắp xếp,
Trang 23chỉnh lý lại các dữ liệu để hợp với việc kể chuyện” nhằm đánh lừa sự chú ý của
độc giả Hoặc ở phần kết truyện ngắn Vàng lửa, tác giả cũng nói rõ: “Không có
tài liệu gì và cũng không ai biết gì về thung lũng Quạ hoặc truyện của những người châu Âu thời vua Gia Long… Tôi xin hiến bạn đọc ba đoạn kết cho câu chuyện này để bạn đọc tùy ý lựa chọn”… Cứ như thế, nhà văn không cho độc giả
có cơ hội chìm đắm vào những diễn biến xảy ra trong truyện Đây là một lối viết độc đáo, sáng tạo, trình bày hiện thực khác hẳn với những gì đã có đương thời Cách viết lạ hóa này còn được nhiều nhà văn khác đương thời thể hiện trong những trang viết như: Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương, Lê Lựu…
Giai đoạn hai, chúng tôi quan tâm nhiều hơn đến phong cách viết văn của
Tạ Duy Anh Anh viết theo lối cấu trúc mở, đưa người đọc vào những mê hoặc đầy bí ẩn, không lối thoát Dường như bao trùm lên các sáng tác của anh là những khía cạnh tối tăm của con người mặt nạ, sống trong một xã hội luôn luôn
bị theo dõi, hoặc chính mình đi theo dõi người khác Sáng tác của anh là những trang hiện thực được giấu kín dưới một thứ bút pháp biến hóa, khiến độc giả phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới mong tìm ra được manh mối Với cách viết này, chúng tôi có thể kể thêm nhiều nhà văn khác như: Nguyễn Bình Phương, Bùi Hoằng Vị, Nguyễn Việt Hà…
Giai đoạn hiện nay, các cây bút truyện ngắn đương đại chú ý khai thác mọi chất liệu của hiện thực Tác phẩm của họ có cả “thanh” và “tục” trong một cấu trúc vừa là nghệ thuật, vừa là ngôn ngữ và tư tưởng Kinh nghiệm sáng tác cho thấy: tất cả những chuyện tiếu lâm dân gian được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, cũng bởi có sự pha trộn giữa hai yếu tố hài và tục như một cặp phạm trù không thể tách rời Hầu hết các tác giả kiệt xuất trong văn chương xưa nay đều biết sử dụng tiếng cười như một lợi thế hàng đầu của nghệ thuật để đả kích, châm biếm Nhà văn ngày nay cũng dùng tiếng cười để giễu nhại những gì
mà họ xem là lỗi thời, xấu xa
Một đặc điểm nữa của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn này, đó là có nhiều tác phẩm viết về sex, những màn sex “táo bạo” Nét nổi bật và khác biệt với giai
Trang 24đoạn trước là ở chỗ: hầu như gần hết các truyện ngắn viết về khía cạnh này đều
do các văn sĩ nữ Họ là những cây bút vừa can đảm vừa có nghệ thuật trình bày hiện thực Họ chú ý nhiều khía cạnh khác nhau của hiện thực xã hội đương thời
và trình bày chúng một cách “trần trụi” khiến độc giả nhiều phen nghi ngờ: Có phải đây là một tác phẩm văn chương? Họ đã và đang viết những tác phẩm vượt
ra ngoài khuôn sáo cũ, không sợ sức ép của tư tưởng bảo thủ Họ đang đem đến những đổi mới trong sáng tác cho văn học Việt Nam Họ là những: Ly Hoàng Ly,
Vi Thùy Linh, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư…
Giới thiệu một số cây bút truyện ngắn trong những năm gần đây có sự đổi mới trong cách viết, chúng tôi muốn đề cập đến một diện mạo mới của văn học Việt Nam hôm nay Một số trang viết mà văn sĩ thể hiện dù còn lạ lẫm với độc giả, nhưng xét ở một phương diện nào đó vẫn là những suy tư, trăn trở rất đáng trân trọng
1.2.3 Các xu hướng chính
a Xu hướng bám sát hiện thực
Văn học là một hình thái ý thức xã hội, nghĩa là nhờ có cuộc sống xã hội
mà văn học ra đời và cũng vì cuộc sống xã hội mà văn học phát triển Do đó, nhắc đến truyện ngắn là nhắc đến một thể loại văn học “thoát thai” từ hiện thực cuộc sống khách quan Thế nhưng, chúng ta cũng cần thống nhất: nhà văn sáng tác truyện ngắn không phải chỉ việc sao chép nguyên xi, photocopy cuộc sống mà
là phản ánh câu chuyện cuộc sống thông qua lăng kính chủ quan dựa trên quy luật của sự sáng tạo Hiện thực của cuộc sống qua quan sát, nghiền ngẫm, suy tư, trăn trở của nhà văn; qua việc nhà văn mở rộng tấm lòng để đón nhận những cung bậc cảm xúc, những nỗi lòng buồn vui, những suy tư đau đáu… đã trở thành thứ hiện thực thứ hai trong trí tưởng tượng của người cầm bút Lúc ấy, nhà văn tái hiện lại cái hiện thực cuộc sống ngoài kia qua lăng kính chủ quan của mình rồi truyền đến độc giả Vì thế, đọc tác phẩm truyện ngắn, người đọc dễ dàng nhận ra những nét đặc trưng về thế giới quan, về nhân sinh quan, về nhân
Trang 25cách, tấm lòng của nhà văn trước hiện thực xã hội là điều không cần phải tranh luận, bàn cãi
Tìm hiểu truyện ngắn Việt Nam đương đại, độc giả còn nhận thấy một bức tranh hiện thực cuộc sống phong phú, đa dạng, thậm chí rất phức tạp với nhiều mảng màu Giao lưu với thế giới, hiện thực cuộc sống phát sinh thêm nhiều vấn
đề, bởi thế trong các trang viết, từng văn sĩ đều cố xoáy vào làm rõ cặp trạm trù được- mất mà cuộc sống xã hội đã và đang đặt ra Những hiện trạng nhân sinh rối ren như: bạo lực, lối sống vô cảm, phi đạo đức, bản năng thú vật, những trạng huống hỗn mang… là nguồn tư liệu thiết yếu để nhà văn đương đại lột tả qua từng trang viết Phải khẳng định: đó không còn là thứ hiện thực “dâng sẵn, đón chờ” mà là thứ hiện thực đa dạng, nhiều chiều, ẩn chứa biết bao điều phức tạp đòi hỏi người cầm bút viết văn phải “suy ngẫm”, “nghiền ngẫm”, phải đi sâu khám phá thứ hiện thực “chưa hoàn kết”
Hiện thực đời sống không chỉ thu gọn trong những biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà rộng hơn, sâu hơn, “đời” hơn là cái thường nhật của con người với bao quan hệ chằng chịt, chìm ẩn trong những thứ quan hệ xã hội, cộng đồng và cá nhân Bởi thế, chính cái nhìn thế sự- đời tư của văn sĩ trong việc xác lập cặp phạm trù được- mất diễn ra ở đời sống đương đại càng làm cho các mối quan hệ xã hội trở nên rối rắm, đưa người đọc vào những trang giá trị mới Con người trong cuộc sống hiện nay cũng là một “tiểu vũ trụ” đầy bí ẩn với những đột biến tâm lí, tính cách; những hành động bất ngờ khó có thể định đoán trước Nhà văn đương đại viết truyện ngắn nói về con người luôn khám phá, lột tả trên nhiều bình diện: con người xã hội, con người tự nhiên (bản năng), con người tâm linh… Trong xu hướng khai thác cảm hứng đời tư, thế sự của văn chương hôm nay, truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn nữ, có một “đất diễn” rất rộng về mảng
đề tài tình yêu, tình dục, hôn nhân và gia đình Dường như được trở về “đúng nghĩa trái tim em” (thơ Xuân Quỳnh), các cây bút nữ đã “tung hoành” khai phá muôn mặt phức tạp của cái “tầng vỉa” hiện thực rất đa đoan, đa sự, đầy cái “lỉnh khỉnh dở dang” của đời sống thường nhật này Trong những trang đời đó, dư âm
Trang 26niềm vui ít hơn nỗi buồn, bi kịch nhiều hơn là hạnh phúc Nhà văn đặt con người trong những hoàn cảnh cụ thể, soi chiếu vào thế giới nội tâm để thấy con người trong các mối quan hệ chằng chịt, trong sự chi phối nhiều chiều của hoàn cảnh từ
đó độc giả có thêm sự lựa chọn đánh giá Đây là điểm khác biệt trong việc phản ánh hiện thực của các cây bút truyện ngắn đương đại hôm nay so với các cây bút truyện ngắn trước đó, trong đó phải kể đến nhà văn Trần Thanh Cảnh
b Xu hướng kỳ ảo
Ngoài xu hướng bám sát hiện thực, truyện ngắn Việt Nam đương đại còn hướng đến khai thác xu hướng kỳ ảo, bởi đó là sự thể hiện một quan niệm mới của nhà văn về thế giới, là sự chiếm lĩnh hiện thực hết sức sinh động Trong sáng tác, nhà văn đương đại không chỉ dừng lại ở việc phản ánh hiện thực cuộc sống một cách khách quan mà còn đi sâu hơn, xa hơn sang địa hạt của tâm linh, của những trăn trở ẩn khuất đang diễn ra quyết liệt trong tâm hồn con người Những diễn biến tâm linh khó nắm bắt, những hiện tượng mà con người không tự lí giải được bằng sự suy lý, không gì hay hơn, nhà văn tìm đến yếu tố kì ảo, huyền thoại
để giải mã cho độc giả Sự thâm nhập của yếu tố kì ảo, huyền thoại vào truyện ngắn Việt Nam đương đại là một hiện tượng lạ trong đời sống văn chương Truyện ngắn thời hiện đại mà đầy những yếu tố lung linh, hư ảo với những cổ mẫu, những huyền thoại được xem như đã nằm sâu dưới bao lớp trầm tích văn hóa nay lại trỗi dậy mạnh mẽ Trong mối tương tác này, huyền thoại không còn
là cái gì đó xa lạ, mà quý thay, nó đến với hiện đại từ truyền thống, đến với hiện đại từ nội lực của văn hóa dân tộc Điều này có thể xem là những hồi ức của văn học- hồi ức trong truyện ngắn
Đọc truyện ngắn của các cây bút: Hòa Vang, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Lưu Minh Sơn, Trần Hạ Tháp, Y Ban, Nguyễn Văn Phú… chúng ta bắt gặp nhiều biểu tượng huyền thoại của văn hóa truyền thống nằm sâu trong kí ức nội tâm con người Việt Nam đã được tái- hồi sinh một cách huyền
diệu trong các trang viết Huyền thoại Thánh Gióng trong Gióng; huyền thoại Tấm Cám trong Ngày xưa, cô Tấm của Lê Minh Hà Huyền thoại mẹ Âu Cơ
Trang 27trong Bức thư gửi mẹ Âu Cơ của Y Ban Huyền thoại Sơn Tinh- Thủy Tinh trong
Sự tích những ngày đẹp trời của Hòa Vang… Sử dụng huyền thoại trong sáng tác
là một hình thức đắc dụng giúp nhà văn đi sâu vào khám phá thế giới tinh thần hết sức trừu tượng trong con người hôm nay Thêm nữa, âm hưởng huyền thoại trong truyện dân gian truyền thống còn được dội lên từ các môtíp: hóa kiếp, sự hiển linh của linh hồn người chết, môtíp luân hồi, môtíp “ở hiền gặp lành”… cũng được khai thác triệt để nhằm đạt đến chủ đề tư tưởng mà nhà văn muốn phát biểu, đó là làm sao để trả lại sự thanh sạch trong tâm hồn con người hướng đến các bậc thang của giá trị Chân- Thiện- Mĩ?
Huyền thoại trở về trong truyện ngắn đương đại với những biểu hiện đa dạng, đầy ma thuật và lắm vẻ Hòa Vang thì nhại lại cổ tích với sự mở đầu bằng
“ngày xửa ngày xưa”, “vào những dịp ấy”… đầy tính chất phiếm chỉ Tạ Duy
Anh thì đậm chất huyền thoại với: Người thắng trận, Ngũ gia truyện, Truyền
thuyết viết lại, Tội tổ tông… đầy ấn ý Võ Thị Hảo thì lại gợi nhớ thế giới của
huyền thoại thuở sơ khai với: Nàng tiên xanh xao, Hành trang của người đàn bà
Âu Lạc, Nữ hoàng cô đơn, Đêm bướm ma, Lãnh cung, Nghiệp chướng… Đoàn
Lê, Y Ban lại đầy âm hưởng ma mị của sự đi về giữa hai thế giới cõi âm với cõi
trần trong các truyện ngắn Nghĩa địa xóm chùa, Chợ rằm ở góc cây cổ thụ… Lí
giải cho việc đưa yếu tố huyền thoại vào truyện ngắn, chúng tôi cho rằng: đó là cách tốt nhất để nhà văn thể hiện những phương diện sâu kín nhất, những khát khao đời nhất, người nhất của con người hiện đại
Như vậy, có thể nói, xu hướng kì ảo trong truyện ngắn đương đại là một
xu hướng mới có cả sự phong phú lẫn độ kết tinh Xu hướng này đã trở thành dòng chảy cho truyện ngắn ngày nay
c Xu hướng giễu nhại, trào lộng
Đọc truyện ngắn Việt Nam đương đại, chúng ta còn bắt gặp thêm xu hướng giễu nhại, trào lộng Giễu nhại, trào lộng đã trở thành “mỏ vàng” có sức hút với nhiều cây bút viết truyện ngắn Tìm hiểu cách giễu nhại, trào lộng của các cây bút truyện ngắn Việt Nam đương đại, chúng ta có thể tìm hiểu trên nhiều
Trang 28phương diện, nhiều khía cạnh của bút pháp như: thủ pháp giễu nhại, cảm hứng giễu nhại, chất giễu nhại, giọng điệu giễu nhại… Tuy nhiên, trong Luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến việc phân loại giễu nhại, trào lộng để từ đó suy luận ra một vài vấn đề
Khái niệm “giễu nhại”, “trào lộng”, cho đến ngày nay, có nhiều cách kiến giải Theo cách hiểu thông thường, hiểu một cách đơn giản nhất, giễu nhại có nghĩa là sự bắt chước, bắt chước để châm biếm; còn trào lộng là việc sử dụng lời nói, tiếng cười bỡn cợt, bông đùa nhằm vào việc chế nhạo răn đời Như vậy, giễu nhại và trào lộng là hai phạm trù khác nhau, tuy nhiên giữa chúng lại có điểm chung, đó là cùng có chung mục đích châm biếm, phê phán những cái lạc hậu, lỗi thời, những tật xấu, kệch cỡm trong đời sống Theo M.Bakhtin, giễu nhại là “nói bằng giọng của kẻ khác” nhưng đưa thêm vào đó một khuynh hướng nghĩa đối lập Chính cái “giọng thứ hai” này đã khắc họa những xung đột thù nghịch với chủ nhân của chính nó, làm đảo lộn những gì được coi là nghiêm túc, lột trần cái
vỏ hào nhoáng, trơ ra cái lố bịch, giả dối, đáng cười Vì thế, sáng tác văn học nói chung, viết truyện ngắn nói riêng, giễu nhại và trào lộng được coi là một trong những thủ pháp nghệ thuật để phản ánh cuộc sống một cách tinh tế và sâu sắc
Đó là hình thức phê bình châm biếm, là hình thức chế giễu khôi hài bằng cách bắt chước để nhấn mạnh đến sự non yếu, đến những cái kệch cỡm của đối tượng
Dựa trên chức năng cải tạo xã hội của văn học, chúng tôi tạm chia xu hướng giễu nhại, trào lộng trong các truyện ngắn Việt Nam đương đại ra làm hai loại Đó là nhại quan điểm tư tưởng sáng tác và nhại thói hư tật xấu trong cuộc sống con người Trong từng đối tượng nhại, truyện ngắn Việt Nam đương đại có nhiều cách để lột tả tạo nên sự phong phú, sâu sắc và tinh tế
Bàn về nhại quan điểm tư tưởng sáng tác, các cây bút truyện ngắn đương đại Việt Nam đã khắc họa tường tận, tỉ mĩ những quan điểm tư tưởng lỗi thời, lệch lạc thậm chí là lố bịch khi đối sánh hiện thực cuộc sống hiện nay Những quan điểm tư tưởng một thời được xem là mẫu mực, là thước đo của thuở trước, qua thời gian đã trở nên lỗi thời, lạc hậu vậy mà vẫn còn một bộ phận trong xã
Trang 29hội cố bám lấy nó để làm thước đo, làm “kim chỉ nam”, thật không thể chấp nhận! Vả lại sáng tác văn chương, luôn đòi hỏi “khơi những nguồn chưa ai khơi
và sáng tạo những gì chưa ai có” (nói theo cách nói Nam Cao) Người cầm bút viết văn phải thật sự là người “tự do”, không theo đơn đặt hàng của ai đó, có như thế, mới thật sự thỏa sức tung hoành trên những trang viết và viết ra được những điều anh ta nghĩ, viết được những gì anh ta chiêm nghiệm, còn không những trang viết ấy sẽ trở nên vô hồn vô cảm Vấn đề này được các “cây bút trẻ” hôm nay bàn kĩ trong các sáng tác, họ giễu nhại- trào lộng qua từng mẫu truyện nhằm mục đích thức tỉnh, cảnh tỉnh, giục thay đổi để đưa văn học Việt Nam theo kịp đà phát triển của văn học thế giới Tiếng cười giễu cợt trong trường hợp này thoát ra trên nhiều khía cạnh, nhiều cấp độ đậm nhạt khác nhau nhằm phơi bày sự non yếu hoặc những quy ước đã bị lạm dụng Tiếng cười giễu cợt ấy, về cơ bản, thoát
ra từ các hình thức: giễu nhại ý thức dân gian, ý thức đại chúng; giễu nhại ý thức lãng mạn đương thời và giễu nhại ý thức cá nhân Đứng ở phương diện nào, xét
đến cùng, nó cũng nhằm đến mục đích cao cả của văn chương: mới, lạ, độc và
đưa văn học Việt Nam trở lại quỹ đạo của văn học thế giới
Bàn về giễu nhại cái xấu, hủ bại, giả dối…trong đời sống con người, các cây bút truyện ngắn đương đại phô bày tiếng cười trào lộng đến tận những ngõ ngách của cuộc sống Người Việt Nam xưa nay vốn luôn luôn coi trọng các giá trị đạo đức, tình cảm cộng đồng, tình cảm gia đình huyết thống Các giá trị đạo đức này đã trở thành mối tương quan gắn bó sâu nặng bền vững giữa con người
cá nhân với cộng đồng xã hội, đã trở thành tinh thần nhân văn có tính nhân loại Thế nhưng, thực tế của xã hội hiện nay, trước vòng xoáy cơn lốc nền kinh tế thị trường, các giá trị nhân bản xưa kia bị chao đảo Quan hệ đạo đức bị phá vỡ từ ngay trong gia đình, mỗi người đều sống với triết lí của riêng mình Đó là cái triết lí dung tục tầm thường, cái triết lí trục lợi đã làm con người trở thành kẻ táng tận lương tâm dám làm những điều phi nhân bất nghĩa Sống trong gia đình, sống giữa làng xóm, bạn bè, cộng đồng nhưng con người không hề có sự quan tâm đến đồng loại Loại người này đã trở thành những kiểu người cá nhân nhỏ
Trang 30bé, ti tiện, không lí tưởng Đưa tiếng cười giễu nhại vào những góc khuất ấy, các cây bút truyện ngắn đương đại đã làm được một “việc lớn” (cần nhìn lại thực tại
để tiếp tục phát triển) và cũng đã thể hiện được một “tâm hồn lớn” (xót xa trước hiện thực đau lòng) Truyện ngắn Việt Nam đương đại đã phơi bày một thực trạng báo động về mối quan hệ giữa người với người trong cuộc sống, chỉ ra những cạm bẫy, những nguy cơ làm băng hoại những gì tốt đẹp mà cha ông thuở trước đã gầy công xây dựng Điều này chúng tôi sẽ tiếp tục làm rõ trong Chương hai của Luận văn
1.3 Trần Thanh Cảnh – cây bút “vào nghề trễ nhƣng chín sớm”
1.3.1 Vài nét về tác giả và quan điểm sáng tác
a Vài nét về tác giả
Trần Thanh Cảnh- sinh năm 1961- hơn 50 tuổi mới bắt đầu viết văn và nhận ngay Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam Ông sinh ra và lớn lên ở Thuận Thành- Bắc Ninh Bản thân ông từng là một người lính- đi bộ đội Ông theo học ngành dược và tốt nghiệp Trường Đại học Dược Hà Nội Trong đời, nghề dược đã gắn bó với ông và cho ông mọi thứ để bản thân không phải quá lo đến vấn đề cơm áo gạo tiền thường nhật Thế nhưng trong ông vẫn có một khát vọng, một sự thôi thúc nội tâm, bởi những bức xúc trong lòng cần được giải tỏa,
đó là việc muốn kể cho bạn đọc nghe về làng quê Kinh Bắc, đặc biệt là cái “hồn
làng” Thật quý giá, ngay từ tập truyện ngắn Kỳ nhân Làng Ngọc, ông đã để lại
dấu ấn với bạn đọc và giới nghiên cứu văn học trong việc thưởng thức, tìm hiểu, nhận định, nghiên cứu tác phẩm
b Quan điểm sáng tác
Không ồn ào với những tuyên ngôn nghệ thuật đầy tính triết lí, không tranh luận sôi nổi bằng các bài bút chiến như những bậc tiền bối thuở trước từng làm, Trần Thanh Cảnh đến với nghề viết văn một cách lặng lẽ nhưng vẫn gây được ấn tượng
Là một dược sĩ, hơn 50 tuổi mới bắt đầu viết văn, ông thổ lộ: “khi cầm bút viết văn, là tôi bị thôi thúc bởi nội tâm, bởi những bức xúc trong lòng cần phải
Trang 31giải tỏa” về “Làng Ngọc”- về Kinh Bắc (nhà văn trò chuyện với phóng viên Báo Văn nghệ Công an năm 2016 nhân dịp đầu xuân) Nơi ấy, xưa kia rất đẹp: quanh chân núi Thiên Thai, cạnh dòng sông Đuống, những rặng tre xanh quanh làng, những đầm sen thơm ngát trưa hè, nhiều người nổi tiếng với rất nhiều điều hay… Nay, ngôi làng đó đang trong quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa và ít nhiều
đã bị biến dạng, méo mó Hiện thực ấy đã lôi kéo ông “đến với văn chương như một cứu cánh” (theo lời nhận xét của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp) Ông viết về những câu chuyện xảy ra ở làng Ngọc theo cách nhận diện, khám phá của riêng mình để từ đó độc giả có thêm cách nhìn nhận trước khi tiếp tục quay lại vòng
xoáy của quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước Đọc Kỳ nhân làng
Ngọc, Mỹ nhân làng Ngọc, độc giả cứ ngỡ có một làng Ngọc của Kinh Bắc (thật
ra đó chỉ là một phép ẩn dụ, không có thật, quê tác giả là làng Ngọ- làng Ngọ Xá), còn nhân vật trong từng câu chuyện là những con người có thật ngoài đời (theo lời nhà văn) Cụ thể, đọc câu chuyện được lấy làm tiêu đề cho tập truyện
ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, dù không nói rõ là ai- đã thay bằng tên gọi khác, dân
trong làng đều nhận ra là người làng mình- người trong lịch sử của Sư đoàn quân tiên phong- Sư đoàn 308 của Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh trận Khe Sanh Như vậy, từ những mẫu chuyện có thật ở làng quê, Trần Thanh Cảnh muốn suy
tư về một hiện thực đang biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, đang đổ vỡ Từ đó, nhà văn xót xa trước cái đẹp đang dần bị mai một
Thêm nữa, ngay từ tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, độc giả đã có cảm
tình với lối phơi bày hiện thực một cách cuồn cuộn và trần trụi, tập truyện ngắn
được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng Đến tập truyện Mỹ nhân làng
Ngọc, hiện thực cuộc sống tiếp tục được nhà văn dung nạp sau đó cho vỡ ra theo
dòng chảy của cảm xúc trên từng trang chữ viết Tập truyện được Đoàn Lê Giang cho rằng: những cuốn sách của Trần Thanh Cảnh càng để lâu càng có giá trị vì mỗi câu chuyện, mỗi nhân vật mang tính điển hình rõ nét, khắc họa được sự chuyển hóa của cuộc sống trong thời kì đổi mới và hội nhập (Dẫn theo N.Quang đăng trên báo Giáo dục online, mục Thời sự, thứ bảy, 7/5/2016)
Trang 32Như vậy, có thể nói, quan điểm sáng tác văn học của Trần Thanh Cảnh là
sự thật về con người và xã hội trước “cơn lốc” hội nhập sâu- hội nhập toàn cầu
1.3.2 Cây bút truyện ngắn đang được dư luận chú ý
a Giải thưởng Hội Nhà văn năm 2015
Sáng ngày 02 tháng 02 năm 2016, tại Bảo tàng Văn học- Hà Nội- đã diễn
ra lễ trao Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cho hoạt động sáng tác văn học năm 2015 Thật bất ngờ, về văn xuôi, một cây bút không chuyên- một dược sĩ- đã
vinh dự nhận được giải thưởng cao quý cho tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc
Tập truyện ngắn đã thể hiện cái nhìn của nhà văn về số phận những con người nhỏ bé và bình dị ở một vùng nông thôn- một cái nhìn cận cảnh nhưng lại chứa đựng một thông điệp sâu sắc về những biến động của văn hóa làng Việt Nam qua nhiều giai đoạn lịch sử đất nước như đang chờ người tham dự vào một dự báo về nông thôn Việt Nam trong tương lai
b Sáng tác mang đậm dấu ấn văn hóa Kinh Bắc
Nhắc đến Kinh Bắc là nhắc đến vùng đất khai mở nền văn minh Đại Việt
Đó là một làng quê nổi tiếng có nhiều truyền thống đặc biệt gắn với chiều dài lịch sử của đất nước Kinh Bắc là nơi đậm đặc những di tích gắn liền với huyền thoại lịch sử và cũng là nơi có nhiều lễ hội dân gian nhất so với các nơi khác trên đất nước Nơi đây sản sinh ra những làn điệu dân ca Quan họ đã được Tổ chức Khoa học và Giáo dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại Vì thế, là một người con của quê hương Kinh Bắc, ai cũng hết sức tự hào và hãnh diện về những truyền thống tốt đẹp ấy Đọc truyện ngắn Trần Thanh Cảnh, chúng ta cảm nhận được điều này
Viết về văn hóa Kinh Bắc, văn học Việt Nam xưa nay có nhiều cách kiến giải Nhà thơ Hoàng Cầm kiến giải về Kinh Bắc giúp mỗi người có thể dựng lên trong hình dung của mình một Kinh Bắc mờ mờ những sự đan quyện giữa huyền thoại với lịch sử, một Kinh Bắc vừa thâm trầm cổ kính vừa lả lơi tình tứ, một Kinh Bắc của những câu Quan họ quyến luyến níu giữ hồn người, một Kinh Bắc của hội hè đình đám miên man suốt mấy tháng xuân, một Kinh Bắc của những
Trang 33người con gái đẹp mặn mà với những mối tình uất kết chỉ chực chờ để bung tỏa… Như vậy, Kinh Bắc trong kiến giải của Hoàng Cầm là Kinh Bắc của tâm cảnh
Đến Trần Thanh Cảnh, nhà văn nhận ra Kinh Bắc là nơi có thế đất linh dựa núi nhìn sông nên sinh ra nhiều kỳ nhân, gái đẹp Nết đất, tính người làng Ngọc là hiện thể cho một “chất sống” ngồn ngộn- một sức sống mạnh mẽ, căng tràn, sục sôi tựa như dòng nham thạch mà khi đã tuôn trào thì không gì có thể ngăn cản Chạm vào dòng mạch ấy, dù nhà văn cố đẩy Kinh Bắc về phía quá khứ
xa, nhưng vẫn hiện ra những nhân vật khá ấn tượng với nhiều chuyện bi, hài kịch, thậm chí chính kịch về những việc hào hùng mà cũng lắm bi thương đang cựa mình chuyển động trong thời kì đổi mới Chuyện về làng Ngọc, về Kinh Bắc
là chuyện của thực tại những con người đa tình và phóng dục sống một đời sống hồn nhiên như không cần phải để ý đến bất cứ một ràng buộc hình thức nào trong những nguyên tắc lễ giáo Thời khắc xã hội đã thay đổi, bộ mặt làng quê với nhiều đổi thay, con người thôn xóm giờ đây gắn thêm nhiều bi kịch: bi kịch tình yêu, bi kịch thời kinh tế thị trường, bi kịch trong những biến động lịch sử, bi kịch gắn với phong tục, nếp sống của quê hương… Viết về những điều ấy, trái tim nhà văn quặn thắt trước bao điều trăn trở, day dứt những mong mỗii người cần nhìn lại, sống chậm lại trước khi bước tiếp cuộc hành trình của sự phát triển Như vậy, Kinh Bắc trong sáng tác của Trần Thanh Cảnh là Kinh Bắc của thực cảnh, khác
xa hoàn toàn những gì mà bậc tiến bối thuở trước đã khắc họa Có đặt trong mối quan hệ đối sánh này, chúng ta mới thấy hết được cái thực tại khắc nghiệt mà nhà văn đang phải đối mặt- muốn lưu giữ những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cha ông
Tiểu kết chương 1: Truyện ngắn là một thể loại văn học có thế mạnh
trong việc phản ánh hiện thực Truyện ngắn Việt Nam đương đại phản ánh hiện thực thật sắc bén, mổ xẻ được nhiều khía cạnh, nhiều góc khuất của cuộc sống xã hội, con người Truyện ngắn Trần Thanh Cảnh góp phần tô đậm thêm bức tranh hiện thực ấy
Trang 34Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN TRẦN THANH CẢNH
TRÊN PHƯƠNG DIỆN ĐỀ TÀI, CẢM HỨNG VÀ NHÂN VẬT
2.1 Hệ đề tài
Đề tài là khái niệm có nội hàm rất rộng Trong sáng tác văn học, đề tài được dùng để chỉ lĩnh vực của đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá một cách khách quan Điều này cũng được nhóm tác giả của quyển
Từ điển thuật ngữ văn học có cùng nhận định, đó là “khái niệm chỉ các loại hiện
tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học… là phương tiện khách quan của nội dung tác phẩm” [29, tr.110]
Từ những nhận định trên, vận dụng vào việc tìm hiểu đề tài trong hai tập
truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc và Mỹ nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh,
chúng tôi tạm chia ra làm ba mảng đề tài chính: Đề tài về nông thôn, làng quê trong cơn biến động xã hội; đề tài về vẻ đẹp và những mất mát của truyền thống văn hóa, lễ hội và đề tài tình yêu
2.1.1 Nông thôn, làng quê trong cơn biến động xã hội
Viết về nông thôn, làng quê trong cơn biến động xã hội, nhà văn Trần Thanh Cảnh phơi bày khá sắc nét bộ mặt quê hương Kinh Bắc hôm nay Thuở trước, Kinh Bắc- Bắc Ninh là một trong những cái nôi của nền văn minh lúa nước, nơi hình thành nền văn minh Đại Việt Nói đến Kinh Bắc là nói đến một vùng đất đã để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trong kí ức mỗi người dân Việt nói chung
và người Kinh Bắc nói riêng Kinh Bắc từ xưa đã mang trong mình chất thơ của một xứ sở cổ kính bậc nhất đất nước, một vùng quê với những con người không chỉ mang trong mình truyền thống yêu nước đánh giặc mà còn hiển hiện những đặc tính tốt đẹp khác đã thành truyền thống như: cần cù, chịu khó, hay lam hay làm… một vùng đất giàu truyền thống khoa bảng… Dưới tác động của nền kinh
tế thị trường, đô thị hóa diễn ra nhanh, mạnh, một mặt góp phần đem lại sự phồn thịnh cho vùng đất vốn rất thanh bình, yên ấm đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội,
Trang 35nâng cao đời sống cho người dân; mặt khác cũng đem đến không ít những hệ lụy cần được nhìn nhận, mổ xẻ trước khi tiếp tục bước tiếp trên con đường phát triển Nông thôn, làng quê đã thay đổi, con người cũng phải thay đổi Rặng tre làng phải nhường chỗ cho những công trình kiến trúc, tình làng nghĩa xóm mờ nhạt dần, văn hóa tinh thần xuống cấp… khiến những người hoài niệm càng thêm xót
xa, đau đớn không yên Đề cập đến vấn đề này, ngòi bút Trần Thanh Cảnh tựa như rỉ máu trên từng hàng chữ viết
Trong tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, mỗi truyện ngắn là mỗi phần
của làng quê Kinh Bắc đã bị biến dạng, méo mó so với những gì vốn có của thuở trước Thời buổi kinh tế thị trường, một bộ phận người dân nghèo Kinh Bắc “ra sức làm ăn” và chẳng mấy chốc đã trở nên giàu có Họ đúng là những người “tài”
trong việc làm ăn do gặp được thời Doanh nhân Hòa Yến, trong truyện ngắn Gái
đảm, sinh ra trong một gia đình đông anh em Yến chỉ học đến hết cấp hai rồi đi
làm thuê Cuộc đời lận đận từ khi đi làm thuê cho đến khi cập với lão chồng đại gia, những tưởng cuộc chạm trán giữa hai người chồng làm cho Yến mất đi tất
cả, vậy mà, hóa ra Yến lại trở thành giám đốc của một doanh nghiệp Hòa Yến Thời thế đã đến, “Làng Ngọc và các làng xung quanh, bị thu hồi hết đất ruộng để làm dự án nên trai gái thất nghiệp nhiều, Yến tha hồ tuyển công nhân Gặp dịp các nước Âu Mỹ nhập hàng nhiều, công ty ăn nên làm ra, rất khí thế” Dịp may hiếm có này, Yến tận dụng và có thêm “những khát vọng được mang sức mình xây dựng quê hương, được làm “trách nhiệm xã hội” của một doanh nhân” Còn
sếp Tiến, trong truyện ngắn Sếp tổng, có hẳn một quy tắc làm ăn gian dối để có
được thật nhiều tiền nhờ vào cái ghế tổng giám đốc Sếp Tiến kinh doanh cả “dịp giỗ cha” và dĩ nhiên thu được một món lợi thật đáng nể Sau đây là một đoạn văn trong truyện để minh chứng cho điều ấy: “Gần mười hai giờ trưa, đoàn khách VIP do chánh văn phòng bộ dẫn đầu mới về đến nơi Trong đoàn có cả chủ tịch hội đồng quản trị tổng công ty Hà Lạng và vụ trưởng hai vụ chủ chốt của bộ: vụ
Kế hoạch và vụ Tài chánh Chánh văn phòng trước khi thắp hương, ghé vào tai Tiến thân tình: “Các anh lãnh đạo bộ bận cả, ủy quyền em về thắp hương ông”
Trang 36Quả thật, nhờ tài kinh doanh này, sếp Tiến đã sở hữu một gia sản khổng lồ Còn
trong truyện ngắn Ngôi biệt thự bỏ hoang, thật buồn cười hơn, kể về một gia đình
gia giáo trong ngành giáo dục, nhờ “tài” đục khoét làm hỏng nền giáo dục mà trở nên giàu có Vấn đề chỉ được sáng tỏ qua lời tuyên bố thẳng thừng của hai đứa con gái, con của Vi- giám đốc sở giáo dục: “trong nhà con xin nói thật, chúng con thừa biết cách kiếm tiền của bố mẹ Chúng con không muốn đi theo con đường ấy nữa”… Rõ ràng, mỗi câu chuyện ở đề tài này là mỗi khía cạnh của cuộc sống nông thôn, làng quê, tất cả đều có điểm giống nhau: họ giàu lên trông thấy nhờ “tài” chạy- chộp cơ hội béo bở bằng tất cả thủ đoạn
Trước những biến động của lịch sử, đa phần số phận người dân Kinh Bắc càng trở nên nhỏ bé Gia đình ông chánh Xiêm là gia đình giàu có nhất làng Ngọc Ông có năm người con trai: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Cải cách ruộng đất diễn ra, ông bị đấu tố, bị bắn chết rồi đạp xác xuống sông Đuống Bà Xiêm vì quá đau lòng nên cũng tự tử theo chồng Gia đình tan tác, rồi cũng chết hết không
còn một ai (Truyện ngắn Hoa núi) Hay trong truyện Kỳ nhân làng Ngọc, kỳ
nhân Bình là một người con trai đất Kinh Bắc Lịch sử của dân tộc đã làm biến đổi bao số phận của con người nơi đây và kỳ nhân Bình cũng nằm trong vòng xoáy ấy Bình là con trai ông Ba Be ở làng Ngọc, nhưng từ nhỏ đã ở nhà bác ngoài Hà Nội trên phố Khâm Thiên làm nghề sửa xe đạp Tại đây, anh được “bà chị phố Khâm Thiên” đưa “vào đời” Trong một lần về thăm quê, Bình hiếp Liên Hương, người hàng xóm bên cạnh, và bị đưa lên công trường xây dựng đường sắt miền núi cải tạo Ở đấy, Bình gặp và lấy cô Thinh, cuộc sống bấy giờ của anh trôi qua trong lặng lẽ, tẻ nhạt Chiến tranh chống Mĩ phá hoại nổ ra, Bình bỏ vợ, nhập ngũ và chiến đấu anh dũng Anh được thưởng huân chương, nhưng khi xét
lí lịch để thăng chức thì không được trong sạch Uất ức, anh bỏ về làng Ngọc cưới vợ và có được năm người con gái Không hiểu sao, cuối đời, ông lại chuyển đến ở với Thiên Hương, người mà ông hiếp thời trẻ Hai vợ chồng ra ngoài bờ sông tắm và từ đó không ai trong làng thấy họ trở về… Quả thật, mỗi nhân vật trong từng sáng tác của nhà văn sẽ mang mỗi số phận và hoàn cảnh rất khác
Trang 37nhau, song đều nhỏ bé, lạc lõng trước thời cuộc Nông thôn, làng quê càng biến động, những con người quê hương càng trở nên nhỏ bé
Đến tập truyện ngắn Mỹ nhân làng Ngọc, nhà văn tiếp tục khắc họa bộ
mặt của nông thôn, làng quê trong tiến trình hội nhập sâu với thế giới Làng quê vốn đang thanh bình bỗng nhiên thay đổi đột ngột khiến người dân từ những con người chân chất sa vào thói xấu, không tự chủ được bản thân mình Nhà văn bóc tách những lỗ hổng nhân cách của người dân Ai dám tưởng tượng kẻ mà cả đời chỉ biết bán mặt cho đất bán lưng cho trời lại có khi bê tha, hủ lậu và khốn nạn
(truyện ngắn Trăng máu) Ai tưởng tượng nổi một Giáo sư Tiến sĩ hẳn hoi mà
ngày ngày đều góp phần lừa mị người dân trên các báo trong nước (truyện ngắn
Giáo sư Kê) Ai không khỏi chạnh lòng quặn thắc trước bi kịch của một gia đình
nông dân không thể có con trai Lời ra tiếng vào đã bức tử, dồn kẻ tội nghiệp tới
bước đường cùng (truyện ngắn Chuyện bên kè đá)… Mỗi người mỗi cảnh, từ kẻ
tứ cố vô thân không danh phận cho đến những ông tiến sĩ đầu bạc, quyền cao vọng trọng, đều chịu ảnh hưởng to lớn bởi thời cuộc, nhất là thời kì sau đổi mới
Viết về đề tài này, dường như nhà văn muốn cảnh báo với mọi người rằng: phải suy nghĩ thật kĩ trước những hành động mà mình sắp làm Làng quê thay đổi, có thể bị suy đồi, nhưng tình người bao đời nay vẫn không thể thay đổi
2.1.2 Vẻ đẹp và những mất mát của truyền thống văn hóa, lễ hội cổ
truyền
Kỳ nhân làng Ngọc, Mỹ nhân làng Ngọc có thể được xem là nơi lưu giữ
những truyền thống của văn hóa Kinh Bắc- Bắc Ninh Trong hai tập truyện ngắn, nhà văn đã khắc họa nhiều khía cạnh của vẻ đẹp văn hóa truyền thống, văn hóa lễ hội ở địa phương Đất Kinh Bắc là nơi có dày đặc các di tích: chùa, tháp, đền, đài, lăng tẩm được xây dựng từ thời xa xưa (thời các triều đại phong kiến) đến nay đã trở thành những danh thắng lịch sử có giá trị Đất Kinh Bắc cũng là nơi có nhiều lễ hội dân gian, nhiều làng nghề thủ công, làng nghệ thuật dân gian truyền thống như: làng tranh Đông Hồ, làng ca trù Thanh Tương, múa rối nước Bùi Xá… và là quê hương của những làn điệu dân ca Quan họ đã được Tổ chức Khoa
Trang 38học và Giáo dục Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Vì thế, để cảm nhận một nét đẹp của văn hóa Kinh Bắc: văn
hóa lễ hội- hội làng, chúng ta có thể tìm đọc các truyện ngắn: Hội làng, Sương
đêm cuối ngõ Thật ấn tượng, cả hai truyện ngắn đều nói về đêm hội ở làng Ngọc,
thế nhưng nét đẹp văn hóa được nhà văn khắc họa trong mỗi tác phẩm có sức cuốn hút, lan tỏa riêng Ở “Hội làng”, hằng năm cứ đến “Mùng mười tháng hai
âm lịch Làng Ngọc, quê Hằng, vào đám, mở hội”… “Làng Ngọc, quê Hằng, thờ
Bà Cái và vật thiêng sinh thực khí của bà, cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh, con đàn cháu đống… Làng có lệ, đêm hội làng làm lễ trút xiêm y cho bà, mở khán lấy sinh thực khí, hai trai chưa vợ cầm chắc trong
tay, theo nhịp hô của cụ từ: Tình xòe tình phập, tình xòe tình phập Mỗi lần phập
lại đưa sinh thực khí vào nường bà Cứ thế ba lần, sau đó, tắt đèn đuốc “tháo khoán” Nam nữ, trai gái tha hồ mò mẫm tình tự đến sáng thì thôi” Đây là một nét đẹp trong văn hóa lễ hội Chính đêm hội làng năm ấy, hai trái tim trẻ nồng nàn Hằng- Tuấn đã thuộc về nhau Thế nhưng, đường tình duyên trắc trở, mỗi người phải mỗi hướng đi Gặp lại nhau sau mấy chục năm xa cách, “chả biết họ trao nhau những gì sau bao mùa hội làng không gặp” Chỉ thấy hai người vào sáng hôm sau, một thì “mắt đỏ hoe sưng mọng”, một thì “lái xe về Hà Nội, qua cổng làng Dừng lại, gục đầu vào vô lăng hồi lâu”… “Rồi làng bảo: Sang năm lại
về chơi hội nhé, vui lắm” Rõ ràng, trong truyện, nhà văn không chỉ nói về vẻ đẹp của văn hóa lễ hội mà còn thổi thêm vào tác phẩm vẻ đẹp của tư tưởng nhân
văn Còn trong Sương đêm cuối ngõ, hội làng cũng là dịp để những trái tim trẻ
trao cho nhau cái chất “huê tình” nhưng hội làng lại không giữ được cái chất huê tình nồng nàn ấy Quyết, Phương đều để vợ đi làm ăn xa cũng chỉ vì cuộc sống mưu sinh, không hẹn được ngày sum họp; người thì chết, còn người thì đờ đẫn linh hồn do mòn mõi trong những tháng ngày chờ đợi Cho nên, đọc truyện ngắn này, người đọc có cảm giác mất mát, hẫng hụt, nuối tiếc vì cái đẹp bị đánh mất
Như vậy, hội làng vừa là thời khắc để lưu giữ những nét đẹp văn hóa lễ hội, vừa là dịp để nam nữ, trai gái gặp giỡ, tán tỉnh, hẹn hò… khi công việc đồng
Trang 39áng đã xong Là một người con làng Ngọc, khi viết về quê hương, nhà văn Trần Thanh Cảnh tỏ ra rất am hiểu mảnh đất nơi chôn rau cắt rốn của mình Hình ảnh
lễ hội, văn hóa truyền thống, con người nơi đây được nhà văn tái hiện thật sống động trên những hàng chữ viết
Truyền thống văn hóa Kinh Bắc còn được thể hiện qua nét đẹp sinh hoạt văn hóa trong những di tích danh thắng: đình, chùa, miếu, đền… Để góp phần hiểu rõ hơn về phương diện văn hóa này, chúng tôi lược thuật đôi nét về cấu trúc văn hóa làng ở Kinh Bắc Làng Kinh Bắc có tính biệt lập, được bao bọc bởi lũy tre làng Lũy tre làng vừa được xem là một nét đẹp về văn hóa vừa là một thành trì kiên cố bảo vệ dân làng Việc trao đổi với thế giới bên ngoài của người dân trong làng đều thông qua cổng làng Gần cổng làng thường có một cây đa, khói hương nghi ngút, đó là nơi hội tụ của thánh thần Bên trong làng có đình làng, đình làng được xem là biểu tượng của làng về mọi phương diện Đình làng khi khởi dựng nhằm đến nhiều mục đích từ thờ tự, tế lễ… đến vui chơi, sinh hoạt văn hóa, học tập, xử kiện, nộp sưu thuế… và cũng là nơi nghỉ ngơi cho khách lỡ bộ đường Vì thế, giữ gìn giá trị văn hóa đình làng cũng là để kế thừa, phát huy dòng chảy văn hóa dân tộc
Đọc hai tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, Mỹ nhân làng Ngọc, không
phải ngẫu nhiên nhà văn Trần Thanh Cảnh nhiều lần đề cập đến phương diện văn
hóa này Chúng tôi nhận ra có ít nhất tám truyện ngắn đã đề cập đến, ví như: Cỏ
trời, Gái đảm, Hương đêm, Giỗ lậu, Giã bạn, Đập lúa đêm trăng, Giáo sư Kê, Chuyện bên kè đá… Giải thích cho tầng số xuất hiện nhiều về nét đẹp của văn
hóa làng, ắt có nhiều, song, theo chúng tôi còn có một nguyên nhân từ phía nhà văn: muốn níu giữ nét đẹp văn hóa đang trên đà bị mai một Điều này, đã có lần, một nhà tư tưởng phương Tây nhận xét: “Một dân tộc không có quá khứ là một dân tộc bất hạnh” Là người con làng Ngọc, Trần Thanh Cảnh đã lưu giữ và truyền bá những nét đẹp văn hóa quê hương Điều này hợp với lẽ tự nhiên
Không chỉ có thế, nhắc đến văn hóa Kinh Bắc còn nhắc đến loại hình nghệ thuật đặc sắc: Dân ca Quan họ Từ lâu, dân ca quan họ đã được đánh giá là một
Trang 40loại hình nghệ thuật đạt đến trình độ cao về nghệ thuật diễn xướng, nghệ thuật lời
ca và nghệ thuật âm nhạc Người “chơi quan họ” tuy là lối chơi dân dã, nhưng đòi hỏi cũng lắm công phu Đó là lối chơi có quy củ, nề nếp, buộc người chơi phải tuân thủ theo luật chơi gồm nhiều thể loại: hát đối, hát giao duyên, hát canh, hát kết chạ, hát lễ hội, hát mời nước, mời trầu… Nét đẹp văn hóa truyền thống
này được nhà văn Trần Thanh Cảnh tái hiện lại trong truyện ngắn Giã bạn Nhà
văn viết: “Vùng Kinh Bắc có tục hát quan họ giao duyên Những dịp cưới xin, hội làng người ta tổ chức hát thâu đêm suốt sáng Liền anh áo the khăn xếp, ô lục soạn Liền chị nón ba tầm quai thao, áo năm thân say mê ứng đối hát xướng Hát
từ cửa đình, rồi dập dìu đến đầu làng, bến sông Anh hai hát với chị hai, anh ba hát với chị ba Hát một đêm, hát một mùa hội xuân, hát một năm, rồi hát cả một đời Vẫn cứ sau mê, tình tứ những nhớ thương da diết, lả lơi Bởi bao tình để cả vào câu hát Chỉ là câu hát thôi Chỉ là ánh mắt tình tứ trao nhau Chỉ là cái nắm tay, cái vạt áo, cái quai thao Sớm mai, anh hai lại về nhà lo việc đồng áng đỡ đần
vợ con Chị hai lại ngược xuôi chợ Giàu, chợ Núi, chợ Chờ đảm đang buôn bán nuôi chồng con Để đêm hội, anh hai chồng lại đi hát với chị hai làng bên Chị ba
vợ lại đánh mắt dao cau với anh ba bạn mình mà buông câu hát:
Lóng lánh là lóng lánh ơi Mắt người lóng lánh như sao trên giời…
Anh ba cất giọng đối:
Lúng liếng là lúng liếng ơi Miệng cười lúng liếng có đôi đồng tiền…
Người quan họ đã kết bạn hát với nhau là suốt đời và không bao giờ lấy nhau Chồng có bạn hát riêng, vợ cũng có bạn hát riêng Chỉ hát mà thôi” Như vậy, người tham gia hát quan họ là để kết tình, kết nghĩa, gặp nhau là để chơi, để
tình cảm thêm gắn bó Đó là nét đẹp của văn hóa Quan họ Đến truyện ngắn Gái
đảm, nhà văn như thể khẳng định: hát quan họ là món ăn tinh thần không thể
thiếu của người dân Kinh Bắc, đặc biệt là nam nữ thanh niên “Mỗi dịp xuân về, các làng đua nhau mở hội, làng nào cũng chỉ mong được đón gái làng Ngọc về