Nhân vật trong tác phẩm văn học là những con người, loài vật hay sự vật được nhà văn xây dựng bằng các phương tiện của ngôn ngữ nghệ thuật. Trong hai tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, Mỹ nhân làng Ngọc, tất cả nhân vật trong các truyện đều là những con người cụ thể ở “làng Ngọc” được nhà văn nhào nặn sao cho đạt được những dụng ý nghệ thuật, dụng ý thẩm mĩ. Vì thế, độc giả ở Kinh Bắc khi đọc truyện ngắn Trần Thanh Cảnh thường thốt lên: “Chuyện của ông …X, chuyện của chị …Y” là do những nhân vật này rất giống với nguyên mẫu hiện có ngoài xã hội (người ở Kinh Bắc). Trong từng truyện ngắn,
mỗi nhân vật xuất hiện sẽ là một “tiếng nói” riêng của nhà văn về con người và số phận. Tất cả những điều này được nhà văn đặt vào cái không gian riêng ở
“làng Ngọc”- Kinh Bắc.
a. Đặt nhân vật vào không gian “làng Ngọc”
Như đã đề cập từ trước, “làng Ngọc” trong truyện ngắn Trần Thanh Cảnh chỉ là ngôi làng giả định. Đây là cái không gian riêng mang tính hư cấu giống như làng Vũ Đại trong sáng tác của Nam Cao, làng Đông Xá trong sáng tác của Ngô Tất Tố… Cái không gian làng quê này là một vùng đất ở Kinh Bắc, ven sông Đuống, cạnh núi Thiên Thai. “Làng Ngọc vốn là một cái làng cổ nổi tiếng ở miền Kinh Bắc. Làng rất to, cỡ đến trên hai nghìn nóc nhà, chia ra làm mười một xóm: xóm Đình, xóm Nón, xóm Ván, xóm Nam, xóm Bắc, xóm Trại… Làng nằm dựa lưng vào chân núi Thiên Thai và nhìn ra sông Đuống” (Kỳ nhân làng Ngọc). Với một địa hình như thế, những nhà phong thủy thường bảo: “đấy là thế đất linh” dựa núi nhìn sông nên đời nào làng cũng sinh ra những “trang hào kiệt”
lưu tên trong sử sách. Đến thời hiện đại, trong cơn cuồng nộ của lịch sử, làng Ngọc lại sinh ra biết bao con người mà cuộc đời của họ đã phải trải qua những đau thương của thế cuộc. Họ đã sống những cuộc đời rất kì lạ, cuộc đời mà nhà văn gọi là những “kỳ nhân”, “mỹ nhân”.
Để rõ hơn về cuộc đời của những kỳ nhân, mỹ nhân, chúng tôi thấy cần điểm thêm đôi nét về làng Ngọc xưa và nay. Xưa, nơi đây là một vùng đất vốn rất hiền hòa, thơ mộng với biết bao những hình ảnh đẹp. Nơi đó có dòng sông, con đò đưa tiễn khách “Làng Ngọc cách làng Lãng con sông Thiên Đức. Xưa, bến đò Bình nối hai làng. Có ông chèo già và con đò gỗ vẫn bồng bềnh khuya sớm qua sông, mỗi khi có tiếng gọi đò ơi…” (Giã bạn). Nơi đó còn gợi lại những kỉ niệm thuở thiếu thời “Vẫn bãi sông xưa, thuở học trò hay cùng nhau lang thang tha thẩn. Vẫn dòng sông cồn cào đỏ rực phù sa. Vẫn cây chuối, cây tre, cây xoan tím ngát, tả tơi mỗi độ xuân về. Những cánh bãi ngô non đang nhu nhú chuyển mình xanh mướt” (Hội làng) rất đẹp, rất thơ và lãng mạn. Nơi đó còn có những liền anh, liền chị quan họ “Những dịp cưới xin, hội làng người ta tổ chức
hát thâu đêm suốt sáng. Liền anh áo the khăn xếp, ô lục soạn. Liền chị nón ba tầm quai thao, áo năm thân say mê ứng đối hát xướng. Hát từ cửa đình, rồi dập dìu đến đầu làng, bến sông” (Giã bạn). Nơi đó còn là một khoảng không gian sinh hoạt cộng đồng chung đậm chất hoang sơ nguyên thủy như tranh họa đồ trong cổ tích “Dân làng Ngọc từ xưa đến nay, già trẻ nam nữ thường hay ra tắm trần ngoài đầm. Trên cầu ao, các cô thôn nữ hồn nhiên cởi trần dội nước ào ào và kỳ cọ bộ ngực trinh nữ rắn chắc hồng hào. Ở bên cầu ao chỗ khác, mấy ông già làng thì lại điềm nhiên khỏa thân tắm gội, chim cò để thỗn thện cứ như cuộc đời này chả còn gì quan tâm. Dưới đầm, bọn thanh niên bơi lội náo nhiệt, dường như những công việc đồng áng nhà nông chả ăn thua gì với sức vóc của chúng, nên chúng phải hụp lặn, hò hét, thách đố nhau để xả bớt sức trẻ đang cuồn cuộn réo gào trong những thân thể cường tráng” (Kỳ nhân làng Ngọc)… Tất cả là những gì làm nên bức tranh thơ của làng Ngọc xưa.
Nay, bức tranh thơ ấy bị tác động dữ dội bởi thời cuộc, bởi lịch sử (chống Pháp, cải cách ruộng đất, chống Mĩ, đổi mới…) nên đã biến dạng, méo mó.
Những gì là thơ, là mộng chỉ còn lại trong kí ức, trong sự tiếc nuối của người dân làng. Nào là việc: người dân xâm phạm đến lợi ích văn hóa làng “Ngày xưa, ở cái làng Ngọc này, ít có gia đình nào bề thế như gia đình ông chánh Xiêm. Bố ông chánh Xiêm là cụ cử Chi khi làm tuần phủ Thuận An, đã từng bỏ tiền túi ra lát gạch đường, lại cho xây cái cổng làng Ngọc, to đẹp nhất vùng Kinh Bắc. Có điều là, chỗ cụ cử Chi định cho xây cổng thì lại vướng cây đa cổ thụ, nghe nói rất thiêng. Cụ tuần phủ cho lính về chặt béng. Có vị cao niên trong làng ra can, nói:
“Người xưa truyền lại là cây đa đầu làng và cây gạo ngoài bến sông là nơi ở của các vị thổ thần của làng. Đã có lời nguyền cấm xâm phạm. Ai trái lời, sẽ bị diệt vong. Không nên đụng đến”. Cụ cử Chi bảo: “Dị đoan! Ta làm việc công đức, nếu có thần linh, ắt phải phù trợ! Xây xong cổng mới, ta sẽ cho trồng cây đa khác”. Rồi hô quân làm tới” (Hoa núi). Thế là một di tích văn hóa làng bị xâm hại, rồi nhiều di tích văn hóa khác. Nào là chuyện bọn Tây kéo về giầy xéo chốn thôn quê bình yên, hại dân làng “Biết là sắp có thể bị làm nhục, một chị cán bộ
phụ vận Việt Minh không chạy kịp, bị bắt lẫn vào, kêu gọi mọi người đứng lên đồng lòng đấu tranh, không cho bọn nó làm mất nhân phẩm phụ nữ mình. Bà Tí Tủn nói: “Thôi thôi, không đấu tranh đâu. Không cho, nó đánh đau lắm. Hung lên nó còn giết ấy. Thôi, chị em mình cứ thí hủi cho chúng một tí để mà yên thân”. Thế mà yên thật. Thế mà sau cũng chả có thằng Tây lai nào được đẻ ra ở làng Nghi Xá. Nhưng ở làng Ngọc, không phải trải qua trận càn quét hay hiếp chóc gì, mà bây giờ thỉnh thoảng đi đường lại gặp một ông tóc vàng mũi lõ mắt xanh, vác cày dắt trâu ra đồng…” (Hương đêm). Đó là sự thay đổi trong lối sống, sống phóng khoáng. Nào là chuyện quy hoạch đất canh tác của người dân “Xưa, xóm ấy cuối làng. Thời đổi mới, ruộng đất làng Ngọc chỗ thì thành công ty nhà máy. Chỗ thì thành khu đô thị mới. Cánh đồng cuối xóm quy hoạch thành khu công nghiệp. Làm một con đường nối ngõ đi thẳng ra phố. Thành thử dân xóm Hối Lộ chạy xe máy ra phố ra chợ thẳng tuột. Chả phải vòng vèo mất thời gian”
(Hương đêm cuối ngõ), nghĩa là không còn đất để canh tác và làng không còn là chốn bình yên… Tất cả cho thấy bức tranh thơ của làng Ngọc không còn mang vẻ đẹp hoang sơ, hư ảo. Tất cả phải đổi thay trước thời cuộc.
b. Quan tâm đến những bước ngoặt cuộc đời, những trớ trêu của số phận Từ cái không gian thơ của làng Ngọc, nhà văn cho xuất hiện lần lượt các nhân vật không bằng những nét vẽ về ngoại hình mà để mỗi người tùy theo cá tính phải tự bơi theo dòng xoáy “cơn lốc” định mệnh, “cơn lốc” lịch sử. Trong từng truyện ngắn, từng nhân vật của nhà văn sẽ là những nơi để tập trung thể hiện
“những giá trị tư tưởng nghệ thuật”. Người cố gắng vượt thoát số phận bất trắc, đói nghèo lại càng thảm bại hơn trước thời thế, ví như “tôi”- nhân vật trong truyện ngắn Bến sông xuân- từ giã quê hương ra đi, cuối cùng trở về vẫn hoàn hai bàn tay trắng; Huyền- nhân vật trong truyện ngắn Giấc mơ- học hành đỗ đạt lại trở về quê sống bám ông bà… Người sống cuộc sống hôn nhân gia đình rất kì lạ, chẳng cần biết gốc gác của nhau “bập vào nhau tức khắc” và ngày ngày cũng chẳng cần muốn tìm hiểu, ví như tay đại gia chuyên buôn bán sà lan với
Yến (Gái đảm), Vụ với Nhu (Mặt ma)… Cuộc đời, số phận những con người này rồi sẽ ra sao?
Trong truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, nhà văn khắc họa nhân vật Bình thật ấn tượng. Bình sống một cuộc sống từ trẻ đến già như làm một cuộc rong chơi giữa cuộc đời, thích thì làm cho bằng được còn không thì bỏ ngay tức khắc không chút đắn đo, không chấp nhận một sự lệ thuộc nào. Với bản tính ấy, Bình khá phóng túng trong quan hệ nam nữ dẫn đến “vết đen” trong lí lịch cá nhân.
Với bản tính ấy, đường đường là tấm gương chiến đấu diệt Mỹ điển hình được tuyên dương trước toàn quân, Bình bỏ phắt đơn vị. Về quê, Bình sống một cuộc sống tự do theo đúng ý nghĩa của hai chữ “tự do”: không giấy tờ, không hộ khẩu, không ruộng đất, không là xã viên hợp tác xã… đến bảy mươi tuổi mà vẫn “có thể uống rượu cả ngày, từ sáng tới đêm rồi lại từ đêm tới sáng”. Lúc say rượu “cứ bơi sông ùm ùm hằng ngày, hè cũng như đông, mãi không thấy chết đuối”. Có lẽ sự kiện đổi đời nhất của Bình là việc dọn về ở chung với đứa con gái năm xưa bị tố hiếp dâm (nay đã thành bà- bà Ngơ) theo đúng nghĩa nhân duyên trời định. Cái duyên số ấy được khép lại bằng sự kiện “Kỳ nhân Bình dìu cô Ngơ ra giữa dòng sông bằng một cây chuối chặt ở vườn nhà, như ngày xưa lúc còn trẻ rủ nhau đi tập bơi.
Mấy ngày sau, mấy tháng sau cả làng cũng chả nhìn thấy đôi bồ cu già ấy đâu nữa. dọc theo triền sông về mãi mạn Lục Đầu, dân làng đi tìm cũng chả thấy nói có xác người nào chết trôi dạt vào. Dân làng Ngọc bảo, có lẽ kỳ nhân Bình và cô Ngơ, nặng căn quả nên bị Hà Bá Diêm Vương dưới Lục Đầu bắt về làm quân hầu rồi”. Hay trong truyện ngắn Mỹ nhân làng Ngọc, nhà văn lí giải cuộc đời, số phận của các “mỹ nhân”. Những bóng hồng ở làng Ngọc dường như mang dáng dấp của nàng Kiều trong thơ Nguyễn Du, xinh đẹp, tài giỏi, một tay cáng đáng gia đình. Có lẽ cũng vì quá đẹp, quá giỏi giang phải chịu kiếp “hồng nhan bạc mệnh”, sống một cuộc sống khắc khoải. Để đạt được tiền tài, danh- dục vọng, Nhàn, Hiên, Hiền phải đánh đổi nhiều thứ quý giá, trong đó có hạnh phúc gia đình. Cuối cùng, lúc nhìn lại cuộc đời, số phận mình trong những tháng ngày đã
qua, từng bóng hồng đều thấm thía những nghịch cảnh mà mình đã trót mang.
Điều này được nhà văn tô đậm thông qua cái kết thúc truyện: “Thế nhưng có một điều, các bình luận viên của hai hãng thông tấn làng, đều nhất trí cao với nhau là bây giờ, tham nhũng là vấn nạn của cả thế giới, riêng gì ta. Nhưng có lẽ chỉ nên chia ra hai loại: tham nhũng có ích và tham nhũng có hại. Tham nhũng có ích là nó ăn, nhưng nó còn làm được việc gì đó, công trình gì đó có lợi cho xã hội, nên cũng còn được. Tham nhũng có hại là cái giống nó ăn, xong, nó còn bậy ra để rồi dân lại phải đi dọn cho nó… Đến đây, bỗng tất cả các bình luận viên làng đều ngẩn người ra, thế ba nàng hậu duệ của bà chúa giếng làng mình thì ở dạng nào?
Mà cũng đã lâu, không thấy ba đại mỹ nhân ấy về làng”. Rõ ràng, làng quê có thay đổi ra sao đi nữa thì tình người (chất nhân văn) vẫn không thay đổi.
Những ai không hiểu cái quy luật ấy, ắt hẳn trong cuộc sống hằng ngày không bao giờ có được cái yên thân, thanh thảnh thật sự. Viết về điều này, dường như nhà văn muốn cảnh báo tới người đọc: phải suy nghĩ thật kĩ với những hành động mà mình sắp làm. Phật dạy rằng: gieo ác gặt nghiệt, gieo thiện gặt lương, nếu không đủ tỉnh táo chúng ta sẽ thảm thương bi đát hệt như những số phận, những kiếp người ở làng Ngọc. Cách đối nhân xử thế giữa người với người trong gia đình và ngoài xã hội dù là một hành động rất nhỏ cũng có thể sai một ly đi cả dặm, hậu quả khôn lường.
c. Đào sâu vào đời sống bản năng, tính dục
Tiếp nối truyền thống văn chương nhân loại, Trần Thanh Cảnh đào sâu vào đời sống bản năng, tính dục của con người thể hiện qua nhiều nhân vật trong các truyện ngắn. Trong Kinh Thánh, tình dục được ví như một “trái cấm” đầy sức cám dỗ, mê hoặc mà Adam và Eva không sao cưỡng nổi. Bởi thế mới có việc:
Con người từ lúc sinh ra đã mang theo một thứ tội tổ tông vì vi phạm điều cấm của Đấng Tối cao. Điều này, Trần Thanh Cảnh hiểu rõ và có cách kiến giải riêng.
Đọc lại bài viết Vấn đề tình dục trong văn học Việt Nam từ và qua truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao, chúng tôi nhận thấy Trần Văn Toàn đã đi sâu vào việc phân tích các chi tiết trong tác phẩm Chí Phèo có yếu tố sex để lí giải,
nhận định giá trị của nó đối với chủ đề- tư tưởng tác phẩm. Ông cho rằng: Bản năng tính dục là nguồn gốc của sự thức tỉnh về nhân tính của Chí Phèo. Tác giả nhấn mạnh: “Sự hồi sinh ý thức giới tính và dục năng của nhân vật” ở đây đã trải qua một quá trình tương tác, biến đổi phức tạp giữa các trạng thái tâm lí- ngoại cảnh- hành động của nhân vật. Vậy trong hai tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc và Mỹ nhân làng Ngọc, Trần Thanh Cảnh sẽ có những cách kiến giải về bản năng, tính dục như thế nào?
Đọc hai tập truyện ngắn, trước tiên, chúng tôi tạm phân ra làm ba khía cạnh của nội dung mà nhà văn đã tô vẽ qua các nhân vật: Tình dục, bản năng là một phương tiện khám phá quyền bình đẳng (gồm các truyện: Gái đảm, Sương đêm cuối ngõ, Giỗ hậu, Rơi tự do, Chuyện bên kè đá, Buông, Mỹ nhân làng Ngọc); tình dục, bản năng trả lại những khao khát, ước vọng để con người được là chính mình (gồm các truyện: Hội làng, Mùa thi, Hoa núi, Hương đêm, Giấc mơ, Hoa gạo tháng ba, Kỳ nhân làng Ngọc, Giã bạn, Đập lúa đêm trăng, Vô vi, Trăng máu, Bến sông xuân) và tình dục, bản năng khi không được thỏa mản sẽ có đời sống tình dục ngoài vợ chồng (gồm các truyện: Sếp tổng, Ngay trong đêm, Cỏ trời, Ngôi biệt thự bỏ hoang, Rơi tự do, Giáo sư Kê, Mặt ma). Sau đó, điểm qua từng khía cạnh của nội dung, chúng tôi nhận ra những vấn đề tư tưởng, triết lí nhân sinh mà nhà văn muốn gởi gắm đến độc giả. Bản năng, tính dục vốn là một thuộc tính trong đời sống của loài người có sức hấp dẫn ghê gớm khó ai cưỡng lại nổi. Vậy thì tại sao người phụ nữ trong xã hội của chúng ta không được trọn quyền hưởng lạc, phải diệt dục, liệu có sự bình đẳng?! Xã hội phong kiến của chúng ta chấp nhận chuyện trai năm thê bảy thiếp sao lại buộc gái chính chuyên một chồng! Chúng ta sẽ nghĩ gì về nhân vật Yến trong truyện ngắn Gái đảm: “Thế là nghiễm nhiên Yến có hai chồng liền một lúc. Xưa nay, ở cái làng vùng Kinh Bắc này, chỉ có đàn ông năm thê bảy thiếp chứ đàn bà chưa bao giờ lấy hai chồng một lúc, thế mà Yến làm được”? Hay nhân vật Hàn Xuân trong truyện Giỗ hậu đã trải qua hai đời chồng vẫn hừng hực “khát xuân”: “Ban ngày nàng bận ruộng vườn và bao nhiêu việc không tên tối tăm hết mặt mũi thì còn đỡ.
Đêm về, trong thanh vắng u tịch của cảnh chùa. Và nhất là những đêm trăng sáng, Hàn Xuân nhớ da diết cả hai người chồng quá cố của mình. Vũ thì nhẹ nhàng êm dịu dắt nàng vào ái ân. Còn lý Khương thì bạo liệt cuồng khấu áp đặt, bắt thân thể đàn bà của nàng như phải trổ bùng hết hương sắc trong những cơn mây mưa dữ dội. Nhưng cả hai người chồng ấy đều không đương nổi với con giải cái một khi đã được đánh thức…”? Và cũng có thể kể thêm ba đại “mỹ nhân”
trong truyện ngắn Mỹ nhân làng Ngọc: “Có gì mà ghê? Nhàn vừa nói vừa vênh mặt lên- Bọn đàn ông chúng năm thê bảy thiếp, bồ bịch tùm lum. Hở ra lại còn cave gái gọi đổi món. Mình tự cho phép mình hưởng thụ tí mà các bạn đã vội nóng mắt là sao. Mà Hiên này, sao bao nhiêu năm nay bà cặp với mỗi bác chủ chốt, không chán à?
- Phải gió cái con mụ này, đàn bà con gái người ta phải chung thủy chứ…
Hiên chưa dứt lời thì cả Nhàn và Hiền đang nằm hai bên cùng quay sang vừa cấu sườn Hiên vừa cười rũ rượi: …Ôi ôi ôi, lạy thánh mớ bái cho cái sự chung thủy của mợ! Thằng Thành lúc nó còn sống sờ sờ mà bà đã kịp chén xong anh trên rồi chén sang bác chủ chốt… Ôi ôi ôi, đến chết sặc về bà mất, bà Hiên ạ.
- Hai cái mụ tốn giai này- vừa nói Hiên vừa đẩy hai cô bạn mình ra xa. Bồ bịch thì cũng phải có nguyên tắc của bồ bịch chứ? Nhất là trong chính trường…
Ai cũng chén như hai bà thì còn gì là chiến hữu cùng sống cùng chết nữa. Mà bà Hiên này, tôi nói thật đừng có mếch lòng nhé. Bà đi với ông phó phụ trách văn xã, rồi ngủ ông giám đốc sở, rồi chén cả tá chuyên viên trẻ nữa…”… Rõ ràng, viết những chuyện này, Trần Thanh Cảnh muốn độc giả cần phải có một cái nhìn khác cái nhìn đã có trong xã hội phong kiến. Chỉ có cái nhìn khác ấy mới trả lại cho con người những khát khao, những ước vọng để con người được là chính mình. Điều này, trong truyện ngắn Vô vi, nhà văn xây dựng nhân vật Hoài tựa như nàng Kiều đi tìm hạnh phúc cho bản thân để khẳng định: “Cô quyết tự mình tìm lấy hạnh phúc. Hoài nhớ ngày xưa đi học, thày Hòe bình giảng truyện Kiều, thày nói thêm: “Các em nữ cũng cần phải tự biết tìm hạnh phúc cho mình. Cách