Nói về cảm hứng giễu nhại, phê phán trong truyện ngắn đương đại, có hẳn một công trình nghiên cứu quy mô và sâu sắc của Nguyễn Thị Bình. Trong Luận án Tiến sĩ Khoa học Ngữ văn “Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975”, tác giả có đưa ra nhận xét khái quát: “Ở các nhà văn trẻ, nổi bật lên là giọng giễu nhại…”, “họ đưa vào văn chương cái nhìn suồng sã, không quan trọng hóa cái gì, có khi cực đoan đến mức không coi cái gì là quan trọng”. Nhận xét này, theo chúng tôi, đã bao quát khá chính xác và đầy đủ những gì thể hiện trong hai tập truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh.
Nghiên cứu Kỳ nhân làng Ngọc và Mỹ nhân làng Ngọc, chúng tôi nhận thấy cái nhìn đầy những tinh nghịch nhưng lại thể hiện khá sâu sắc ý thức trách nhiệm xã hội của người cầm bút. Nhà văn vừa có ý thức trong sự đổi mới thể loại thể hiện qua việc truyền tải nội dung của tác phẩm, vừa tập trung chú ý đến kĩ thuật viết truyện ngắn nhằm tạo nên những hứng thú cho độc giả khám phá. Vì thế, đọc truyện ngắn Trần Thanh Cảnh, độc giả sẽ bắt gặp một cái gì đó vừa lạ mà cũng vừa quen. Từng truyện ngắn của nhà văn là từng chân trời của cuộc sống xã hội ồn ào, nhí nhố, bầu không khí trở nên “huyền ảo” bởi những cái hỗn tạp đã đưa người đọc đến với những cảnh dở khóc dở cười. Tiếng cười phê phán ấy hiện lên lúc đậm lúc nhạt, lúc sảng khoái lúc thâm trầm… buộc người đọc phải nghiền ngẫm, nghiên cứu tìm hiểu may ra mới có thể cảm nhận và nắm bắt được. Trong Luận văn này, chúng tôi chỉ bàn đến hai khía cạnh của nội dung giễu nhại, phê phán thể hiện qua các sáng tác: giễu nhại phê phán cái giả và giễu nhại phê phán bản năng thú tính con người.
Đề cập đến cái giả dối, nhà văn Trần Thanh Cảnh có mượn và sáng tạo một nguyên mẫu từng được xem là văn hóa truyền thống của người Kinh Bắc- nghề làm hàng mã thể hiện trong truyện Mặt ma. “Làng Ma có nghề làm hàng mã, đủ thứ, nào là tam phủ, tứ phủ, tiền vàng, quần áo, nhà lầu, xe hơi. Toàn bằng giấy màu. Thôi thì trần sao âm vậy. Dịp gần đây nhiều nhà gia thế nước mình, chẳng may quý ông đi trước, quý bà còn son, tối tối đi vũ trường, đêm về thỉnh thoảng áy náy thương hồn cô quạnh dưới mấy tấc đất đen, còn đặt đốt cho hình nhân cô ô sin váy ngắn gửi hầu ông dưới đó. Xưa người ta chỉ làm hình nhân đức ông, đức bà, hình cô, hình cậu. Nay thì đủ thứ hình nhân”. Nghĩa là
“sản xuất” ra sản phẩm nhằm phục vụ cho thế giới tâm linh của người đang sống dành cho người đã khuất, gọi là giả; sản phẩm ấy được đem bán khắp nơi để lấy tiền, gọi là thật. Điều này vừa thể hiện nét đẹp của văn hóa truyền thống tín ngưỡng, vừa cho thấy sự cần cù, chịu khó, khéo léo…của người dân trong làng.
Thế nhưng, xã hội thay đổi, kéo theo hàng loạt thứ thay đổi từ con người, làng quê, cuộc sống... đến văn hóa tín ngưỡng, tâm linh… mang nhiều nét khác lạ.
Cuộc chiến “thật- giả” hiện nay diễn ra quyết liệt làm đảo lộn mọi thứ khó có thể nhận ra. Nào là hàng giả hàng thật, tiền giả tiền thật, nào là bằng cấp giả bằng cấp thật, học giả bằng thật, nào là giả trí thức, giả văn hóa, giả đạo đức, giả chính danh… muôn hình vạn trạng. Trước thực tế ấy, ngòi bút Trần Thanh Cảnh hướng đến nhiều đối tượng trong những trang viết của mình, đặc biệt có sự “quan tâm”
đến tầng lớp trí thức. Bởi lẽ, vùng đất Kinh Bắc xưa kia là quê hương của những ông Trạng, ông Nghè, ông Cống đứng đầu cả nước về người đạt học vị trạng nguyên- tiến sĩ thời phong kiến; là vùng đất nổi tiếng hiếu học một thời cung cấp nhiều hiền tài cho sự nghiệp kinh bang đất nước, xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam. Và cũng vì: ngày nay đội ngũ này là “đội quân tinh nhuệ” đi tiên phong trên bước đường hội nhập nhằm rút ngắn sự tục hậu giữa Việt Nam với thế giới. Tiếc thay, đội quân tinh nhuệ này lại cho ra lò một dạng Giáo sư- Tiến sĩ mới. Trong truyện ngắn Giáo sư Kê, nhà văn khắc họa một chàng sinh viên từng học Trường đại học Nông nghiệp: Giang Đình Kế, con ông chủ tịch Giang Đình Khánh. Tốt nghiệp, chàng được phân công về “Viện nghiên cứu cây con”, rồi viện có một chỉ tiêu đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô, thế là chàng chạy vạy, xin đi.
Về nước, vì thuộc diện hạt giống, lại có bằng đỏ, chàng được cơ cấu ngay chức viện phó, mấy năm sau lên chức viện trưởng. Rồi nhà nước bỏ cái “phó tiến sĩ”, thế là chàng đỗ ngay ông nghè. Sự nghiệp “nghiên cứu” ngày càng hãnh tiến khi có thêm sự cộng tác đắc lực của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nọ về Kinh Bắc. “Giáo sư Kê gặp và đàm đạo. Hai tay trí thức lớn khá là tâm đầu ý hợp. Đặc biệt là ý tưởng phát huy giá trị văn hóa tâm linh của tục thờ “Ngài Kê” làng Ao Xá. Sau một chầu rượu nhắm với món Kê Cân, hai tay “trí thức lớn” quyết định hợp tác chặt chẽ, để khuếch trương cái giá trị văn hóa, tâm linh của “Ngài Kê” ra tầm quốc tế. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian sẽ làm “cố vấn văn hóa” cho Giáo sư Kê, chủ đề tài. Điều này thì, các em tiếp viên của nhà nghỉ Hương Nhài trên phố biết rất rõ… Sau đó, ngài giáo sư tổ chức thực hiện dự án “Công trình nghiên cứu và phát huy giá trị kinh tế, văn hóa, tâm linh của Gà Ao” rất bài bản.
Đầu tiên, ngài tổ chức vài buổi hội thảo. Mời rất nhiều chuyên gia học hàm, học vị sáng lòe quanh người về dự. Lại cho mời cơ man là phóng viên đài báo các kiểu về đưa tin, viết bài. Một số đài truyền hình còn làm hẳn vài trường thiên phóng sự, hết sức đặc sắc về “Ngài Kê”, làng Ao Xá và những truyền thuyết phi phàm của ngài… ngài thấy tự khâm phục mình thật! Mình giỏi quá!
Vụ này mình được cả danh lẫn lợi! Tối qua, ngài xem sổ sách ghi chép của mình ra đối chiếu với quyết toán mà làng vừa thông qua, thấy quỹ riêng của ngài dôi ra được dăm trăm… Có lẽ, kỳ này, xây lại cho em nó ngoài phố cái nhà, lấy chỗ đi lại cho đàng hoàng”. Đó là một trong những bậc tri thức giả. Nói về tri thức dạng này, Trần Thanh Cảnh còn khắc họa trong nhiều truyện ngắn khác như: Ngôi biệt thự bỏ hoang, Mỹ nhân làng Ngọc… Tất cả làm nên một phần của bộ mặt xã hội hiện nay.
Đề cập đến phần bản năng thú tính của con người trong cuộc sống, nhà văn Trần Thanh Cảnh đã tách- lột đến cái hạt nhân của đạo đức thể hiện qua nhiều truyện ngắn. Hiện thực xã hội càng nhiễu nhương, phần bản năng con người càng có điều kiện trổi dậy lấn át tất cả những gì được xem là thước đo nhân cách, thước đo đạo đức. Sống trong xã hội, tình người trở thành món hàng xa sĩ nhường chỗ cho cái tạp nhạp lai căng, cái xấu, cái ác… ngự trị. Với họ, phần ý thức về những giá trị cao đẹp từng được xem là thước đo nhân cách xưa kia nay chỉ còn là thứ ánh sáng hiếm hoi và xa lạ. Với họ, thỏa mãn và thỏa mãn tính hiếu kì lại trở thành thước đo chân lí cho một ngày được sống. Chả trách
“chuyện thằng Minh vác dao chém bố nó, mấy hôm nay ầm ĩ khắp cả làng Ngọc”
(truyện ngắn Cỏ trời) là một chuyện hiển nhiên. Trong chuyện này, con chém bố có phần xuất phát từ bản năng thú tính- phản xạ tự nhiên của thằng Minh khi nghe mẹ nó uất ức kể lại chuyện thì không kìm chế nổi, mất tất cả lí trí; dân làng Ngọc còn bản năng hơn: được thỏa mãn thị hiếu khi cái kho giải trí văn hóa đã cạn “được chứng kiến câu chuyện có một không hai: con chém bố, người chuyên đi xử án thì nay lại bị xử trước tòa”. Viết những dòng này, nhà văn đã cảnh tỉnh con người trước thực trạng đạo đức xã hội đang xuống cấp.
Nói về bản năng thú tính của con người trong cuộc sống, cũng cần điểm qua đôi nét về lòng tham. Tham học hỏi những điều tốt đẹp trong cuộc sống, tham làm việc, tham đóng góp sức mình để xây dựng cho quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh thuộc về lí trí, lí tưởng sống, không thuộc yếu tố bản năng của con người; còn tham lam vật chất, bất chấp đạo đức lại thuộc về bản năng. Viết về vấn đề này, nhà văn phơi bày nhiều khía cạnh của sự tham. Đó là tham tiền bạc- đục khoét tích cóp để giàu có bất chính (truyện ngắn: Sếp tổng, Cỏ trời, Ngôi biệt thự bỏ hoang, Mỹ nhân làng Ngọc…), tham tài sản đất đai- tranh giành tài sản chung chuyển thành tài sản riêng (bốn dòng họ: Trần, Đặng, Lý, Dương giành đầm sen trong truyện ngắn Trăng máu), tham danh phận chức vụ- hư danh (truyện ngắn: Ngôi biệt thự bỏ hoang, Mỹ nhân làng Ngọc…)… Tất cả làm nên bức tranh hiện thực của xã hội hôm nay, đó là việc con người sống theo bản năng sẽ làm băng hoại các giá trị đạo đức văn hóa Việt. Sống giữa gia đình, bạn bè, làng xóm, cộng đồng, tình thương yêu đồng loại, ý thức trách nhiệm công dân, lí tưởng sống dần phôi pha, mai một gợi nhiều nỗi xót xa, cay đắng.
Nói về bản năng tính dục, nhà văn Trần Thanh Cảnh khắc họa vùng đất Kinh Bắc ngày nay là vùng đất của những con người đa tình và phóng dục.
Xuyên suốt hai tập truyện ngắn, không chuyện nào là không nói đến chuyện yêu đương nam nữ và cái sự “làm việc yêu” của con người. Vì là bản năng nên việc ấy xảy ra quanh năm, bất cứ lúc nào, không phải chỉ trong thời gian làng vào hội- tức “thời gian mạnh”, nói theo cách nói của nhà nghiên cứu lịch sử tôn giáo người Rumani: Micea Eliade, mà ngay cả những khoảng thời gian của đời sống thường nhật- tức “thời gian phàm”. Người làng Ngọc hằng ngày vẫn trình ra những hình ảnh của kiểu sinh hoạt hồn nhiên đến mức phóng túng. Trong truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, truyện ngắn lấy tên cho cả tập truyện, có đoạn mô tả:
“Dân làng Ngọc từ xưa đến nay, già trẻ nam nữ thường hay ra tắm trần ngoài đầm. Trên cầu ao, các cô thôn nữ hồn nhiên cởi trần dội nước ào ào và kỳ cọ bộ ngực trinh nữ rắn chắc hồng hào. Ở bên cầu ao chỗ khác, mấy ông già làng thì lại
điềm nhiên khỏa thân tắm gội, chim cò để thỗn thện cứ như cuộc đời này chả còn gì quan tâm. Dưới đầm, bọn thanh niên bơi lội náo nhiệt, dường như những công việc đồng áng nhà nông chả ăn thua gì với sức vóc của chúng, nên chúng phải hụp lặn, hò hét, thách đố nhau để xả bớt sức trẻ đang cuồn cuộn réo gào trong những thân thể cường tráng”. Và cũng để cảm nhận rõ hơn về điều này, chúng ta nên nghe đôi câu bình luận nơi quán xá của bọn trẻ trong làng bật ra thật tếu táo, dí dỏm, ngỗ ngược nhưng lột tả được khá đầy đủ, chính xác “cái sống” của một
“kỳ nhân”: “Đôi ấy già mà yêu nhau phê lắm nhé, rên cứ ồ ồ như trâu rống”
(Bình và Liên Hương trong truyện). Hay một nhân vật khác, nhân vật Hàn Xuân trong truyện Giỗ hậu, không những sở hữu một nhan sắc quyến rũ đến mê hồn mà còn được miêu tả như một người đàn bà khát sống, khát yêu, một núi lửa luôn trong trạng thái chực chờ để được bùng lên dữ dội và thăng hoa ngây ngất trong cơn cuồng khấu yêu đương. Để rồi, kết cục của những đợt bùng cháy dữ dội ấy là cái chết của hai người chồng Việt Nam bị chứng thượng mã phong và người thứ ba (Tây thực dân) bị hội kín ở thượng du Bắc Kỳ phục kích. Ông may mắn thoát chết, nhưng lại chịu một mũi lao phóng thẳng vào bộ hạ, xén dương vật đến tận gốc, “đốc tờ Tây chịu chết, không làm gì được”. Đó còn là những Nhàn, Hiên, Hiền trong truyện ngắn Mỹ nhân làng Ngọc; đó còn là “tôi” trong truyện ngắn Buông; và còn có “hắn” trong truyện Rơi tự do… Tất cả đều không thoát nỗi những đòi hỏi của tính dục bản năng, nghĩa là chỉ nhằm vào chuyện được thỏa mãn. Cho nên, tìm hiểu kết cục sau những đòi hỏi của tính dục thể hiện trong các truyện ngắn của nhà văn, chúng tôi bắt gặp sự lặp lại của một dạng môtíp “hồng nhan đa truân” vốn khá phổ biến trong văn chương Việt Nam, mặt khác, chúng tôi cũng thấy được nhà văn có sự khuếch đại năng lượng yêu, khuếch đại cái chất
“đa tình và phóng dục” đã trở thành thuộc tính nổi bật của người làng Ngọc vốn gọi là đất “huê tình”. Dẫu biết rằng: tình yêu chỉ thật sự thăng hoa khi đi liền với sex, hạnh phúc gia đình chỉ thật sự đảm bảo khi có sự “trao nhận” của đôi vợ chồng. Viết những truyện này, phải chăng nhà văn vừa đồng tình, thừa nhận như
là một bản năng tự nhiên, bản năng sống của con người, vừa phê phán sự thái quá, buông tuồng trong bản năng tính dục?