Để phân loại tình huống trong truyện ngắn, chúng ta cần điểm qua đôi nét về nguồn gốc phát sinh của sự kiện. Tình huống truyện có nguồn gốc phát sinh từ một sự kiện, hoặc một mâu thuẫn nào đó trong cuộc sống, cũng có thể do nhà văn tự tạo ra. Cho nên trong sáng tác, nhà văn “chợp” hoặc tạo được một “khoảnh khắc” tiêu biểu, điển hình ắt hẳn khi viết tác phẩm ấy sẽ tạo được tiếng vang.
Đây chính là thuộc tính và cũng là yêu cầu đối với người sáng tạo. Còn ở người tiếp nhận, độc giả nắm được tình huống truyện coi như đã nắm được chiếc chìa khóa mầu nhiệm để mở cánh cửa đi vào thế giới đầy bí ẩn mà nhà văn tạo ra.
Điều này muốn nói: việc xác định tình huống trong truyện ngắn không phải là một việc làm đơn giản. Ở đó đòi hỏi người sáng tác lẫn người tiếp nhận phải trải qua quá trình tìm tòi, phân tích, đối chiếu hiện thực để tạo tác hoặc nhận thức.
Riêng với nhà nghiên cứu, còn có thêm một yêu cầu cao hơn, đó là phải phân loại được tình huống truyện giúp cho việc tìm hiểu số phận, tính cách nhân vật cũng như tư tưởng tình cảm mà nhà văn gởi gắm trong tác phẩm được nhận thức một cách đầy đủ và sáng rõ.
Về việc phân loại tình huống truyện, chúng tôi nhận thấy tương đối phức tạp, nếu không mổ xẻ sự kiện một cách thấu đáo sẽ có những tranh luận không cần thiết xảy ra. Do đó, dựa vào tính chất sự kiện bao trùm trong tác phẩm, chúng tôi tạm chia tình huống truyện làm ba loại: Tình huống hành động, tình huống tâm trạng, tình huống nhận thức.
a. Tình huống hành động
Tình huống hành động là loại tình huống phát sinh từ sự kiện đặc biệt mà trong đó nhân vật bị đẩy đến một tình thế, thường là tình thế éo le, chỉ có thể giải quyết bằng hành động. Hành động của nhân vật lúc này sẽ làm thay đổi cảnh ngộ, nếp sống, nếp nghĩ của cả đoạn đời sau đó. Vì vậy trong sáng tác văn học, nhà văn dựng nên tình huống hành động cho cho đứa con tinh thần của mình của mình thường định hình thêm một kiểu nhân vật, nhân vật hành động. Kiểu nhân
vật này chủ yếu được tạo tác bằng một hệ thống của hành vi còn các bình diện khác ít được nhà văn chú ý.
Tìm hiểu hai tập truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh, chúng tôi nhận ra một số tác phẩm được nhà văn sáng tác theo kiểu tình huống hành động, như: Hội làng, Gái đảm, Cỏ trời, Hương đêm, Giã bạn, Đập lúa đêm trăng, Mặt ma, Trăng máu, Bến sông xuân… Trong từng truyện ngắn, nhà văn đã có cách dồn đẩy nhân vật đi vào những bước ngoặt, những ngã rẽ trên bước đường đời thật khác lạ. Ở truyện ngắn Hội làng, đứng trước cái không khí đặc quánh chất “huê tình” như đêm nay, bắt đầu từ khi “Cụ từ hô: Tắt đăng!
Màn đêm đặc quánh, nồng ẩm, thơm nức hương xuân chợt trùm xuống như vừa có cái chăn khổng lồ chụp lên cả làng Ngọc. Tiếng chân người chạy cuống quýt. Tiếng gọi nhau âu yếm của bạn tình. Tiếng gắt yêu của những bàn tay nhầm chỗ… Rồi dần dần những âm thanh rạo rực huê tình tản ra khắp ngõ xóm, đầu sông, bến bãi”, Hằng với Tuấn đương trong tình ý yêu thương đầu đời khó có thể cưỡng được những xúc cảm đam mê cháy bỏng. Cũng chính từ cái đêm “định mệnh” ấy, duyên số đã đẩy đôi trẻ đi trên hai đường thẳng song song gây nên biết bao xót xa, đau đớn không chỉ với chính họ mà còn cho cả làng Ngọc. “Cả làng Ngọc đều bảo họ đẹp đôi nhất làng, mà sao không lấy nhau”.
Hay trong truyện Bến sông xuân, khi bị dồn đẩy trở về quê hương sau bao năm phấn đấu học, rồi tốt nghiệp đại học, không có việc làm, đói, khao khát được làm việc, được thử sức, được khẳng định mình, được đổi đời… con người khi ấy sẽ có những bức phá ra đi tìm cơ hội là một tất yếu. Bởi thế, đọc những dòng suy nghĩ này trong truyện “Bỗng anh Vũ vùng dậy, nói: “Này, tao với mày hai thằng ta làm một chuyến trở lại Long Sơn, trèo lên đỉnh Mã Tử đi. Có khi bọn mình kiếm được viên ngọc trời là đổi đời đấy”.
Tôi cũng nhỏm dậy, nhìn anh Vũ, mắt anh ấy sáng rực long lanh trong bóng tối. Ừ, tại sao chúng tôi, hai thằng trai trẻ trung tràn trề sinh lực lại nằm khàn chịu đói ở bến sông âm u này nhỉ? Có một đỉnh núi thiêng, có một điều hứa hẹn đổi đời đang đợi. Tại sao chúng tôi không dám thử vận mệnh mình?”, người
đọc như bị thuyết phục hoàn toàn bởi cái tình thế mà nhà văn đã đặt ra. Qua tình huống này, chúng ta thấy được phần nào trong tính cách nhân vật- kiểu người không chịu đầu hàng số phận. Tóm lại, tình huống hành động là nhân tố để nhà văn xây dựng nhân vật hành động. Tìm hiểu nhân vật hành động, thông thường, không quá phức tạp nếu đem so sánh với nhân vật tâm trạng, nhân vật nhận thức.
b. Tình huống tâm trạng
Tình huống tâm trạng là loại tình huống nảy sinh từ sự kiện đặc biệt của đời sống gây nên những dông bão trong cảm xúc. Khi ấy, con người bị rơi vào
“cái tình thế” bộc lộ những biến động, diễn biến tâm lí trong thế giới phức hợp của tâm hồn. Với tình huống này, nhà văn sẽ xây dựng nên một kiểu nhân vật trong sáng tác là nhân vật tình cảm, nghĩa là hình tượng nhân vật hiện lên trên trang viết chủ yếu dựa vào dòng nội cảm của thế giới xúc cảm phức hợp. Nhà văn tập trung khắc họa hình tượng nhằm thể hiện rõ những trạng thái cảm xúc phức hợp còn các khía cạnh khác như ngoại hình, hành động lí tính ít được chú ý.
Đọc truyện ngắn Hoa gạo tháng ba, người đọc bắt gặp và đồng cảm với những dòng xúc cảm của nhân vật My, kiểu người sống nội tâm. Là con gái khi yêu, My không đòi hỏi người yêu phải có một giang sơn hay sự nghiệp vĩ đại mới bằng lòng, thỏa tấm thân ngọc ngà của mình. Người con gái ấy chỉ cần người yêu của mình hiểu cuộc đời của người phụ nữ một khi đã qua tuổi xuân coi như mất tất cả, như đã tàn lụi thì lấy gì để dâng hiến "khát xuân" cùng người yêu.
Vì thế, đọc những dòng xúc cảm này: “Chiều nay, Giang vừa nói với nàng là hãy đợi. Ngồi bên Giang trên bến sông, nhìn nghiêng qua gương mặt thanh tú đẹp đẽ của Giang, nàng đã thầm thốt lên trong lòng, Giang ơi, nếu anh yêu em đến thế, sao anh không mang em đi cùng ngay tức khắc. Nhưng Giang vẫn nói em hãy chờ anh, hãy chờ, hãy chờ. Nhưng mùa xuân thì có chờ ai đâu, cuối tháng ba là hoa gạo rụng hết. Nàng buồn bã, đứng dậy ra về”, người đọc không thể không có những dòng xúc cảm, bởi vì họ đang yêu nhau tha thiết nhưng lí tưởng sống của hai người lại rơi vào hai phía lệch pha (chàng đặt công danh, sự nghiệp lên trên tình yêu, còn nàng lại sợ thời gian sẽ làm phai tàn tất cả) từ đó mà đau khổ. Hay
trong truyện ngắn Mùa thi, với biết bao cái xui rủi đã xảy ra trước đó, cuối cùng Hoàng và Thúy cũng có diễm phúc gặp lại nhau trong một mùa thi. Đó là một mùa thi đáng nhớ cho cả hai người trong suốt quãng đời, họ đã “đi quá xa” của giới hạn cho phép trên nhiều phương diện từ nhiệm vụ được giao trong mùa thi đến Luật Hôn nhân gia đình. Thế nhưng “Thúy âm thầm nức nở trong tâm tưởng, lên xe về Hà Nội. Nàng đâu có biết rằng Hoàng đang phải bật to bài hát yêu thích của hai người lên cho Thúy nghe, như là lời tạm biệt. Hoàng không còn đủ cả sức ra chào Thúy lần cuối cùng. Cả đêm qua, ở phòng Thúy về, Hoàng không ngủ nổi. Hoàng có một gia đình hạnh phúc. Thúy cũng có một gia đình viên mãn. Sao họ vẫn đến với nhau trong niềm khao khát điên cuồng. Hoàng không hiểu nổi”, nghĩa là Thúy vẫn muốn đốt cháy tất cả những gì mình đang có để dâng hiến cho người hôm nay, để bù đắp những thiếu hụt của ngày trước ở bên nhau nhưng mình chưa kịp hiểu; còn Hoàng, lí trí của người đàn ông, muốn giữ lại gia đình cho cả hai nên phải làm thế. Rõ ràng, trong đoạn văn, hành động của nhân vật được nảy sinh từ những gì của xúc cảm nội tâm, của khao khát tình yêu cháy bỏng với mong muốn tiếp tục được dâng hiến; do không thuộc kiểu người hành động, họ chỉ thể hiện bởi những dòng tâm tư. Và cũng từ chuyện này, chúng tôi còn nhận ra, trong tình yêu, nam nữ sẽ có những biểu hiện khác nhau khi lao vào cái “biển tình”. Phụ nữ khi yêu giống như con thiêu thân lao vào bể ái để được đốt cháy tất cả, bởi thế khi tình yêu tan vỡ, họ đau khổ tột cùng; còn nam giới, phần lí tính có vẻ đứng trên, họ đặt công danh, sự nghiệp… làm trọng rồi mới đến tình yêu nên không đau theo kiểu phụ nữ. Hiểu được điều này, chúng ta mới có thể cảm thông, cùng thấu hiểu và chia sẻ trước những bi kịch trong tình yêu nam nữ.
Như vậy, trong sáng tác văn học, tình huống tâm trạng thường gắn với những truyện trữ tình, đậm yếu tố lãng mạn. Khắc họa hình tượng trong tác phẩm, nhà văn chủ yếu khai thác ở mạch diễn biến tâm lí, đó là hạt nhân cốt lõi làm nên cấu trúc của tác phẩm. Cho nên khi tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của tác phẩm hay nhận định, phân tích, đánh giá nhân vật trong sáng tác, chúng ta thấy
có phần khó khăn hơn nếu so sánh, đối chiếu với những sáng tác viết theo tình huống hành động.
c. Tình huống nhận thức
Tình huống nhận thức là tình huống chủ yếu xoay quanh “cái tình thế”
chứa đựng giây phút “giác ngộ” chân lí về một vấn đề, một sự kiện nhân sinh hay nghệ thuật. Với tình huống này, nhà văn sẽ dựng lên trong sáng tác của mình một kiểu nhân vật: nhân vật tư tưởng, nghĩa là hình tượng nhân vật được nhà văn khai thác chủ yếu ở nhận thức lí tính. Nhà văn khắc họa nhân vật dựa trên những gì đã đúc kết được từ sự quan sát, phân tích, suy luận, kiểm nghiệm... Cho nên trong truyện ngắn, với tình huống nhận thức, nhà văn sẽ trao đổi với độc giả về những tư tưởng triết luận, những vấn đề triết lí nhân sinh được gởi gắm thông qua những hình tượng.
Tìm hiểu truyện ngắn Sếp tổng của Trần Thanh Cảnh, chúng tôi nhận ra nhà văn đang đối thoại với người đọc về bao vấn đề thuộc về triết lí nhân sinh.
Nào là tình nghĩa vợ chồng, tình cha con; nào là cung cách làm ăn- làm ăn dối trá cốt để móc tiền các doanh nghiệp nhà nước; nào là luật nhân quả trong đời sống con người… Mỗi khía cạnh mà nhà văn đặt ra như một hồi chuông cảnh tỉnh cho con người sống trong xã hội hôm nay, cần phải suy nghĩ cẩn trọng trong từng hành động, việc làm. Ví như khi đã có tiền, có quyền, lại có nhan sắc, Tiến ra sức cày kiếm thêm nhiều nhân tình, trong đó có Hạnh, cô sơn nữ mười bảy tuổi, dẫn đến chuyện có mang. Vợ Tiến phát hiện và đưa cho Tiến quyền quyết định: “cho anh lựa chọn, giữa em, con cái, gia đình, sự nghiệp và cô ấy. Ở với em, thì anh có tất cả, anh sẽ làm tổng giám đốc của Hà Lạng. Còn anh muốn ra đi với cô ấy, em không cản. Có điều anh sẽ ra đi tay trắng”. Đứng trước sự lựa chọn này, Tiến buộc phải xin lỗi vợ mà phụ tình tình nhân. Hạnh đau khổ tột đỉnh nên cô tự tử ở Hồ Tây, may mắn được một người đàn ông cứu vớt, mang đi. Gặp lại Hạnh trong hôm đến nhà bố đẻ để thể hiện trách nhiệm của một người con với cha già và cả cái hôm giỗ đầu của bố, Tiến đều “lên cơn cao huyết áp đột ngột, mạch máu não đứt đánh phựt, máu tràn ngập, hôn mê ngay. Mổ cấp cứu kịp thời nên không chết.
Có điều, giờ đây Tiến nằm liệt một chỗ không đi lại, không nói, không tự chăm sóc bản thân được. Nhưng mà đầu óc hình như dần hồi phục. Bằng chứng là khi vợ con và người quen vào thăm, đôi mắt Tiến cứ rực lên đảo lia lịa như muốn nói điều gì”. Những chi tiết này, phải chăng, Tiến muốn nói với mọi người về những lỗi lầm mà mình đã gây ra cho Hạnh là rất nghiêm trọng, không có gì có thể xoa dịu được. Cho nên, Tiến không mong nhận được sự tha thứ từ Hạnh. Điều mà Tiến muốn nói là bản thân luôn bị cắn rứt trong suốt những tháng năm qua. Hay trong truyện ngắn Mỹ nhân làng Ngọc, nhà văn cũng đã đặt ra nhiều vấn đề nan giải để gởi gắm tâm tư đến bạn đọc. Bởi thế, ngay từ đầu truyện, nhà văn đã khắc họa ba “Tiểu Long Nữ” (Nhàn, Hiên, Hiền) sau tiếng khóc đăng kí vào cõi đời này đã “nằm im mắt vẫn nhắm nghiền, không thèm nhìn vào cái thế giới mà chúng vừa là thành viên”. Phải chăng, đây cũng là cách bộc lộ sự bất mãn của phận nữ nhi từ khi mới chào đời ném về phái mạnh, phái được gọi là bậc nam nhi đại trượng phu! Cho nên, xuyên suốt tác phẩm, chúng ta vẫn thấy ba cô Nhàn, Hiên, Hiền luôn đứng ở chí tuyến đầu, chủ động, nổi trội hơn rất nhiều so với bậc nam nhi của họ từ học tập, tình yêu hôn nhân gia đình đến cả “vị thế” ngoài xã hội. Chả trách, khi viết những dòng này “Nước Việt mình, kể từ thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến nay, hình như luôn ở tình trạng âm thịnh dương suy. Chả thế mà các đại sử gia Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên khi chép lại chuyện xưa cũng đã phải cảm thán thốt lên “Đàn ông nước mình thế há chẳng hèn lắm ru?”. Hồi gần đây, có một ông giáo sư cũng chuyên nghiên cứu cổ sử, nhân về khảo cổ thành Luy Lâu gần đấy, có rẽ vào trường nói chuyện với giáo viên, học sinh một buổi.
Trong buổi đó, ngài giáo sư cũng đưa ra một luận thuyết cho là nước mình thuộc tính âm nhiều hơn dương…”, viết những dòng này, nhà văn đã gởi gắm vào đó biết bao nỗi lòng thổn thức. Nỗi lòng ấy chỉ được lí giải thông qua những dòng đối thoại giữa Hùng và Thanh trong hôm kỉ niệm sau năm mươi năm trở về thăm trường “Hôm hội trường, Hùng và Thanh không về dự, mặc dù nhà trường đã mời tất cả học sinh cũ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hùng đã đeo lon hàm tướng. Nhưng từ ngày ấy, tuyệt nhiên Hùng không về làng. Hùng đến đón
Thanh, bắt phải đóng cửa phòng khám, hai thằng xách rượu ra thẳng mộ Thành ngồi uống. Cứ uống một chén, lại tưới một chén xuống mộ.
Say rồi, Hùng lè nhè bảo Thanh:
- Mày biết không, tao mang tiếng là lên tướng mà đéo dám cả về đình làng làm lễ trình. Bây giờ hội trường năm mươi năm cũng đéo dám vào. Tao là cái thằng tướng không quân, chui từ váy đàn bà ra. Nhục lắm mày ơi.
- Thì tao cũng có hơn gì mày. Suốt ngày chúi mũi vào khâu khâu vá vá, kiếm tiền. Thế rồi của vợ thì nó đem đãi cả huyện cả tỉnh. Chúng mình cũng giống nhau cả thôi. Chỉ có thằng Thành là yên ổn. Chết là hết mọi thị phi. Còn sống còn nhục. Tao cũng thấy nhục lắm Hùng ơi”. Rõ ràng, mang thân phận
“nam nhi” nhưng một khi thế và lực đã không đủ mạnh thì cuộc sống trở nên vô nghĩa, bằng không; phái được xem là “yếu” trở nên càn lướt, toàn quyền định đoạt.
Như vậy, với tình huống này, nhà văn đã đặt nhân vật vào những hoàn cảnh thật éo le, nhiều bất ngờ và đầy nghịch lí để người đọc vỡ lẽ ra nhiều vấn đề mà trước đó họ chưa kịp hiểu hoặc hiểu chưa đầy đủ, từ đó mà gợi ý cho họ những suy tư về lẽ sống, tình đời.