Viết về tình yêu, nhà văn Trần Thanh Cảnh như gởi cả tiếng lòng (trái tim nhà văn) theo nhịp đập của từng con tim (nỗi lòng nhân vật) trên từng trang chữ viết; gắn bó hết mình với cuộc sống hằng ngày; trân trọng, nâng niu chi chút những gì thuộc về hạnh phúc bình dị đời thường. Bởi vì, tình yêu là một hiện tượng tâm lí khác thường, đầy những bất ngờ và bí ẩn, không tài nào giải thích nổi theo những lí lẽ thông thường. Điều này khác nào được tiêm thứ thuốc kích thích cho nhà văn Trần Thanh Cảnh trong việc “cày xới” đến tận các góc khuất của tình yêu. Khi tình yêu đến, trái tim yêu trở nên xôn xao, rạo rực, cồn cào, da diết, nhiều khát vọng… Khi xa cách, trái tim yêu biến thành trái tim đau, quằn quại trong nỗi nhớ… Một khi tình yêu tan vỡ, đất trời bỗng trở nên đảo lộn… Tất cả những điều ấy làm nên tính muôn màu cho đề tài tình yêu trong sáng tác của nhà văn.
Đọc hai tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc và Mỹ nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh, về đề tài tình yêu, chúng tôi tạm phân ra làm ba mảng của đề
tài thể hiện qua các sáng tác. Mảng đề tài một, gồm các truyện ngắn: Hội làng, Gái đảm, Mùa thi, Hương đêm, Hoa núi, Sương đêm cuối ngõ, Giấc mơ, Đập lúa đêm trăng, Buông… kể về những câu chuyện tình buồn trong tình yêu- một khi đã yêu nhau tha thiết mà vẫn không đến được bến bờ hạnh phúc. Viết về những mối tình buồn này, nhân vật trong truyện ngắn Trần Thanh Cảnh có điểm giống nàng Kiều trong thơ Nguyễn Du: xinh đẹp, tài giỏi, tháo vát, và cũng có lẽ
“những bóng hồng” ở làng Ngọc vì quá xinh đẹp và giỏi giang mà phải chịu kiếp hồng nhan bạc mệnh, sống khắc khoải, khổ sở đến tận khi nhắm mắt xuôi tay.
Truyện ngắn Hội làng kể về mối tình giữa Hằng- một cô gái nổi tiếng xinh đẹp của làng Ngọc với Tuấn- một chàng trai hàng xóm thông minh, học giỏi. Họ yêu nhau với tất cả sự trong sáng, ngây thơ của tuổi học trò hồn nhiên. Thế rồi, trong cái đêm hội làng “xòe tình phập” linh thiêng ấy, họ đã trao cho nhau tất cả.
Những tưởng vị thần tình yêu sẽ vun đắp cho đôi trẻ đến được bến bờ hạnh phúc, nào ngờ… Liền sau đó, nàng phải có chồng và theo chồng vào Nam, còn chàng học đại học rồi lấy vợ ngoài Hà Nội. Nhưng số phận chưa an bày, lại một lần nữa đưa họ trở về bên nhau làm cho vết thương lòng năm cũ có dịp bộc phát. Trong chuyến du lịch vịnh Pattaya, gia đình Hằng gặp lại gia đình Tuấn, chàng và nàng đã thì thầm vào tai nhau, hẹn gặp lại nhau trong mùa hội làng. Mùa hội làng trên miền đất huê tình ấy luôn trở đi trở lại trong tâm trí đôi trai gái làng Ngọc. Họ cùng trở về làng Ngọc sau bao năm xa quê, hai con người ấy chẳng biết nói với nhau điều gì, đã trao cho nhau những gì để rồi sớm ngày mai Hằng lại trở vào Nam với gia đình, Tuấn lái xe về Hà Nội. Số phận một lần nữa đẩy họ ra xa mãi mãi. Hay trong truyện ngắn Gái đảm, cũng là chuyện tình buồn giữa cô con gái làng Ngọc- Yến với Vịnh- con chủ lò gạch. Tình yêu chớm nở, cũng là lúc cả hai cùng nhau nhảy xuống giếng nước linh thiêng tự tử nhưng bất thành, do giếng làng rộng nhưng nông. Sự việc trở thành trò cười của cả làng về đôi tình nhân ấy.
Vịnh ra Hà Nội học rồi lấy Ngân, gia đình hòa thuận, êm ấm. Yến ở lại làng cay cú, trở thành “gái” lúc nào không hay. Cuộc đời lẫn tình duyên lận đận: lấy đại gia ngành than, rồi lấy anh chồng hiền lành trên mạn Tiến Dũng, cặp bồ với đại
gia và trở thành giám đốc doanh nghiệp Hòa Yến nhưng vẫn cô đơn đến suốt cuộc đời… Rõ ràng, tình yêu đầu đời bao giờ cũng đẹp và thơ mộng; thế nhưng đứng trước vòng đời, tình yêu ấy thật rất mong manh.
Sang mảng đề tài hai, gồm các truyện ngắn: Giỗ hậu, Giã bạn… lại kể về một phương diện khác trong tình yêu. Cuộc sống vốn ẩn chứa nhiều điều bất trắc, những “Kỳ nhân”, “Mỹ nhân” đã vượt thoát những tai ương của cuộc đời để đến với nhau đẹp như một thiên tình sử. Vòng đời, một lần nữa, lại “mỉm cười”.
Trong truyện ngắn Giỗ hậu, nhà văn thuật lại đôi lần “lên xe hoa” của Hàn Xuân cập bến bờ hạnh phúc, mà lắm vị xót xa. Lần đầu, mới mười ba tuổi, về với anh hàng xóm Vũ bằng tất cả sự trong trắng của một cô gái mới lớn. Hạnh phúc đã mỉm cười cùng nàng bằng sự kiện tắm ao sen ở chùa cùng chồng “…ngắm nàng khỏa thân tắm trong rời rợi ánh trăng, thân thể đàn bà nảy nở rực rỡ phô bày trong trăng nước còn đẹp hơn nhiều lần hình ảnh của cô trinh nữ tắm trăng năm ngoái. Vũ trườn xuống ao sen cùng với vợ. chàng quấn lấy Hàn Xuân, vũ điệu ái tình mê đắm của đôi giải thần truyền thuyết vẫn quấn nhau đêm trăng trên sông Thiên Đức. Nước ao sen tràn trề hương thơm thân thể đôi trai gái, quyện với mùi hương của những bông sen vừa hé, nồng nàn trong đêm. Vũ xiết chặt tấm thân vừa nóng bỏng, vừa mát lạnh của Hàn xuân, cong người rít lên một tiếng lạ lùng.
Đột nhiên, Vũ rời tay khỏi thân thể nàng, từ từ gục xuống ao”. Thật đau đớn, đương nồng nàn hạnh phúc lãnh ngay án tang thương! Lần thứ hai, về làm vợ tư lý Khương, những tưởng những đau đớn khổ hạnh tưởng chừng như đã là cùng cực đã chịu buông tha cho số kiếp của nàng, vậy mà “Khương trợn mắt, sùi bọt mép lúc đang giao hoan”. Cơ duyên tiếp tục đeo đuổi đưa nàng đến với ngài Phin (quan Tây Công sứ Bắc Kỳ), hai người đã có với nhau bốn đứa con, hai trai hai gái, thì tai nạn ập đến với chồng nàng, rồi tới lượt nàng và cuối cùng là cái chết tức tưởi do bị làm nhục. Viết những dòng ấy, ai hiểu hết trái tim một nhà văn có cái nhìn đầy tính nhân văn! Trái tim ấy tiếp tục trở nên thổn thức trong truyện ngắn Giã bạn. Lệ làng có tục: kết bạn hát với nhau thì không được lấy nhau. Vậy mà anh Hiệp chị Lan, anh Hoạt chị Miên lại “một hai đòi sống chết lấy nhau”, để
rồi: một đôi phải ra đi do tai nạn giao thông, còn một đôi phải nằm dưới lòng sông lạnh. Thuật lại chuyện tình buồn này, có lẽ nhà văn muốn cảnh tỉnh: cuộc sống vốn đầy những trắc trở rồi, người lớn đừng tạo thêm những oan trái cho đôi trẻ. Nhà văn viết: “…Dân ca quan họ, bản chất là một điệu hát huê tình. Nhiều người cho rằng do có tục lệ kết bạn hát với nhau suốt đời, không lấy nhau. Chồng đi hát với bạn hát nữ của mình. Vợ cũng chỉ đi hát với bạn hát nam. Thậm chí, bạn hát của vợ (hay chồng) đến chơi nhà, thì người chồng sẽ cũng làm cơm rượu tiếp khánh rồi lánh đi để vợ (hoặc chồng) mình tiếp rượu và hát với khách. Có lẽ, cái chất huê tình ở đấy mà ra. Nó sinh ra từ cảm giác, từ cái ấn ức của tình cảm bị dồn nén, không được thỏa mãn. Ở vùng Kinh Bắc, chả ai lại đi hát với vợ hoặc chồng mình. Mà ngay cả thế gian này, người ta cũng đã thế: một khi hai người đã lấy nhau, đã thành vợ thành chồng, thì thường người ta chỉ hét lên với nhau nhiều hơn, chứ mấy đôi mà lại hát đối nhớ nhớ thương thương với nhau mãi được?”.
Oan nghiệt do con người mà ra, đổ lên đầu những đôi trẻ.
Mảng đề tài ba, gồm các truyện ngắn: Rơi tự do, Mặt ma, Buông, Mỹ nhân làng Ngọc… lại lật trái chủ đề tình yêu- chuyện ngoại tình. Viết về vấn đề này, đã có nhiều luồng tư tưởng. Nhà văn, và cả chúng ta, nghĩ gì trước hiện thực được phơi bày: “Chiều nay, thứ sáu cuối tháng, cả hai công ty đều nghỉ sớm hai tiếng. Hắn và cô nàng tầng sáu đèo nhau lao vút vào cái nhà nghỉ trong ngõ trên phố sung sướng. Gần hai tiếng thi đấu môn thể thao đối kháng cổ điển nhất của loài người, cả hắn và cô nàng đều mệt nhoài nhưng mãn nguyện. Hắn cặp tay cô nàng đi bộ từ tầng hai xuống, nhà nghỉ không có thang máy. Đến chiếu nghỉ, một cặp đôi vừa vào nhà nghỉ cũng âu yếm cắp nhau đi lên, hai cặp chạm nhau. Cả bốn đôi mắt cùng nhìn lướt qua với một vẻ phớt đời ngầm quy ước ở những chỗ ấy… Bỗng hắn giật nảy mình, buông tay cô nàng tầng sáu ra: Người phụ nữ đang âu yếm nép vào tay người tình đi lên cầu thang chính là Minh Châu, vợ hắn!
Nàng cũng nhận ra chồng mình tức khắc, khuôn mặt nàng cũng trắng bệch ra như mặt ma.” (Truyện ngắn Rơi tự do). Hay ở đoạn kết trong truyện ngắn Mặt ma, nhà văn viết: “Cũng chả ai rõ là ba ông với một bà, nói gì, làm gì nhau trong
xưởng hình nhân mà tự dưng bốc cháy đùng đùng. Dân làng Ma đoán rằng chú hút thuốc, vất tàn vào đống mã, bốc cháy. Lửa bùng lên nhanh quá. Xưởng khóa trái kỹ quá. Không ra kịp. Sặc khói rồi chết cháy cả bốn. Bốn cái xác quấn chặt vào nhau. Gỡ mãi mới ra.
Mà không phải bốn, phải tính là năm mạng. Cả cái thai trong bụng nữa”.
Hay đoạn văn sau nhằm để giải đáp một “bài toán” được nhà văn viết truyện ngắn Buông: “…Tôi phải giả vờ nhiều lần đến chơi, ở lại ăn cơm tối rồi lừa lúc nó vừa tắm xong, tôi lẻn vào toa lét, nhặt mấy sợi vương trên cái khăn nó vừa lau khô tóc đầu, cho vào túi, đánh dấu là D. Tôi mang cả bốn túi đến bệnh viện của ông bạn đề nghị xét nghiệm bốn mẫu này xem có quan hệ huyết thống với nhau không.
Một tuần sau có kết quả. Tôi trực tiếp đến lấy, mang về văn phòng mình, đóng của lại, bóc phong bì đựng kết quả xét nghiệm. Kết luận như sau:
- A có quan hệ huyết thống với B, D.
- B có quan hệ huyết thống với cả A, C, D.
- C có quan hệ huyết thống với B.
- D có quan hệ huyết thống với A, B.
Tôi ngồi một mình cả buổi trong văn phòng mới hiểu hết được ý nghĩa kết luận của phòng thí nghiệm là gì…”. Đó là lối sống của một bộ phận người một khi có của ăn của để. Để minh chứng thêm cho vấn đề này, chúng ta thử đọc lời bình luận rất khoa học của nhân vật “thành đạt” trong truyện ngắn Mỹ nhân làng Ngọc: “Số giời đã ấn định cho bọn mình thế, thôi cố mà hưởng! Lão Thanh nhà tôi ấy, lão ấy bảo ba đứa chúng mình có lượng nội tiết tố nữ, estrogen trong máu, cao hơn người bình thường. Những người đàn bà như thế thì một người đàn ông là không đủ, phải có nhiều người. Dân gian gọi đấy là những người có máu Võ Tắc Thiên. Bà Võ hoàng đế này, năm bảy mươi tuổi mà đêm nào cũng phải có một đội nam cung nhân phục vụ đấy…”, tuy vậy khi kết chuyện, nhà văn viết:
“…Đến đây, bỗng tất cả các bình luận viên làng đều ngẩn người ra, thế ba nàng hậu duệ của bà chúa giếng làng mình thì ở dạng nào?
Mà cũng đã lâu, không thấy ba đại mỹ nhân ấy về làng”. Rõ ràng, ở mảng đề tài này, từng nhân vật trong truyện ngắn Trần Thanh Cảnh hiện lên thật “đa tình và phóng dục” thế nhưng chưa bao giờ họ có được một niềm vui thật sự hay một sự thanh thản chất chứa trong tâm hồn. Họ sống và chết, đối mặt với số phận như đất trời định đoạt.