Cảm hứng ngợi ca, hoài niệm quá khứ

Một phần của tài liệu Đặc điểm truyện ngắn trần thanh cảnh (Trang 48 - 54)

Đọc truyện ngắn Trần Thanh Cảnh, chúng tôi cảm nhận một Kinh Bắc vốn là cái nôi của truyền thống văn hóa dân tộc- cái nôi của nền văn hóa lúa nước, cái nôi của nền văn minh Đại Việt. Viết về Kinh Bắc, có nhiều nhà văn nhà thơ đã đề cập đến với những cách cảm nhận riêng. Khoảng giữa thế kỉ XX, cuối năm 1959 đầu năm 1960, Hoàng Cầm đã có hẳn một tập thơ Về Kinh Bắc. Nhà thơ viết về Kinh Bắc trong trạng thái hoài cổ. Điều này được nhà thơ giãy bày ở phần “Vĩ thanh” của tập thơ: “Hồn tôi cứ chìm dần, chìm sâu, chìm và lắng thật sâu vào vùng quê tôi ngày xưa, thời tôi còn nhỏ dại, với biết bao bóng dáng, đường nét, màu sắc hương vị đã quá xa, đã không còn nữa”. Nghĩa là nhà thơ viết về Kinh Bắc trong hoài niệm, ngợi ca. Phải chăng, đây cũng là tiếng lòng thổn thức của Trần Thanh Cảnh khi nhớ về Kinh Bắc? Đất Kinh Bắc thuở xa xưa là đất của truyền thống khoa bảng, nơi Sĩ Nhiếp lần đầu dạy người Việt học chữ, nơi gắn liền với huyền thoại để minh chứng cho lịch sử hào hùng của dân tộc (lăng mộ uy

nghiêm Kinh Dương Vương, di tích đền thờ Lạc Long Quân và bà Âu Cơ- trong truyền thuyết được coi là tổ tiên của dân tộc Việt Nam…), nay vùng đất ấy đang trên đà chuyển mình, “lột xác” bởi tác động của kinh tế thị trường kéo theo những hệ lụy. Là người con của quê hương, ắt hẳn không ai không khỏi có những xót xa!

Đọc Kỳ nhân làng Ngọc, Mỹ nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh, chúng ta sẽ bắt gặp nỗi lòng của nhà văn khi viết về quê hương Kinh Bắc. Đó là nỗi lòng của con người hôm nay nhớ đến làng quê xưa thật thăng bình cổ kính đẹp tựa như những trang cổ tích. Đó là nỗi lòng của con người hôm nay khi nhắc đến vùng đất đã sinh ra biết bao “kỳ nhân”, “mỹ nhân” góp phần làm nên truyền thống của dân tộc- truyền thống vẻ vang hào hùng. Đó còn là nỗi lòng của người con quê hương khi chạm đến cái nôi của biết bao loại hình văn hóa dân gian thấm đượm tính nhân văn… Tất cả nỗi lòng ấy đều được soi rọi từ cuộc sống, đời sống hôm nay, nghĩa là nhà văn bày tỏ lòng mình thông qua sự liên tưởng, đối chiếu từ các sự kiện đang diễn ra hôm nay mà nhớ về thuở trước- Kinh Bắc xưa. Đây chính là điểm khác biệt trong việc bày tỏ tình cảm với Kinh Bắc giữa nhà văn Trần Thanh Cảnh so với bật tiền bối Hoàng Cầm. Cảm hứng của Hoàng Cầm dành cho Kinh Bắc là dòng cảm hứng tâm cảnh- nhớ và viết về cái xa xưa. Còn cảm hứng của Trần Thanh Cảnh đối với Kinh Bắc là thực cảnh- từ hiện thực liên tưởng đến quá khứ mà xúc cảm. Vì thế, đọc truyện ngắn của nhà văn, nhiều lúc, chúng ta đau một nỗi đau chân thật.

Ví như xúc cảm về quê hương Kinh Bắc xưa, nó được khởi phát từ dòng cảm xúc của thực tại vùng đất Kinh Bắc hôm nay. Trong truyện ngắn Mỹ nhân làng Ngọc, nhà văn lột tả: “Ngày xưa, thời nghèo khó, làng cũng êm đềm thơ mộng, cây xanh bóng mát như mọi làng ở vùng Kinh Bắc. Cũng lũy tre, cũng đầm sen, cũng cây đa bến nước sân đình. Thế nhưng không hiểu sao, mấy chục năm gần đây, kinh tế phát triển, nhà xây, nhà bê tông cao tầng mọc lên đến đâu, cây cối cứ trụi dần đến đó. Dọc con đường chính giữa làng- giờ có thể gọi là phố, phố làng. Chỉ còn đúng hai cây cổ thụ. Trên đầu làng xóm Bắc là cây bàng. Còn

làng xóm Đình là cây cau vua. Đấy cũng là một điều lạ lùng ở cái làng này. Bao nhiêu thứ cây quý giá, cây cho trái ngọt như xoài, mít, ổi. Cây cho hoa thơm như hoàng lan, long não. Cây cho gỗ làm nhà như xoan, tre. Đều lần lượt bị đốn tiệt cả”. Nói đúng ra, đây là sự tàn phá mà con người hôm nay đang xâm hại đến thiên nhiên, làng quê vốn rất thăng bình. Còn trong truyện ngắn Hôi làng, nhà văn như tưởng về một vùng quê xa xăm đầy ắp những kỉ niệm đẹp. Trần Thanh Cảnh mượn hình bóng của Hằng (nhân vật chính trong truyện) trong một lần trở về thăm quê để giãy bày nỗi lòng: “Nàng bước chân trên dải đê ngày xưa đi học mà như đi trên ruộng nước, thập thõm, thấp cao, thổn thức… Vẫn cây đa, bến nước, sân đình, vẫn con đường làng lát gạch nghiêng, khách thập phương về dự hội vẫn trẹo trọ bước đi run rẩy ướt át…”, “vẫn bãi sông xưa, thuở học trò hay cùng nhau lang thang tha thẩn. Vẫn dòng sông cồn cào đỏ rực phù sa. Vẫn cây chuối, cây tre, cây xoan tím ngắt, tả tơi mỗi độ xuân về. Những cánh bãi ngô non nhu nhú chuyển mình xanh mướt…” vẫn vậy mà sao thấy nhớ thấy yêu! Nỗi lòng ấy còn được thể hiện một khi con người đứng trước bức tranh quê đẹp tựa như cổ tích liền nhớ về “thời tiền sử”:

Lạnh.

Trăng suông.

Đêm đầu đông, ánh trăng buông nhợt nhạt.

Trời không mây, nhưng cũng không có ngôi sao nào”.

Những vì sao đã mờ hết sau màn sương đục như sữa tràn ngập không gian. Chỉ có mặt trăng cuối tháng héo hon, bàng bạc lơ lửng trôi trên bầu trời cuối ngõ” (Truyện ngắn Sương đêm cuối ngõ). Tất cả đã thuộc về quá khứ, còn hiện tại với nhiều sự đổi thay. Chúng tôi tạm kết lại hình ảnh bức tranh quê thông qua đoạn văn trong truyện ngắn Mặt ma: “Làng Ma này, từ ngày nghề tranh lụi đi, nghề hàng mã lên ngôi, kinh tế rất phát triển. Mấy năm nay kinh tế khủng hoảng, đổ vỡ triền miên, nhưng dân làng Ma vẫn làm ăn tấn tới. Nhà cao tầng, ô tô con nhan nhản. Đường làng tấp nập xe pháo hàng quán rộn ràng như ngoài thủ đô” thì còn đâu cái vẻ thanh bình của một làng quê truyền thống! Kí ức về làng

quê truyền thống đẹp như mơ ấy giờ chỉ còn nằm trên những trang giấy, còn trong các truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh như: Đập lúa đêm trăng, Chuyện bên kè đá, Bến sông xuân… Như vậy, hình ảnh đẹp của quê hương giờ chỉ còn trong những kí ức, song nhắc về vẻ đẹp một thời ở quê hương cũng là cách để con người hôm nay bày tỏ lòng trân trọng lịch sử của làng quê mình.

Về con người Kinh Bắc xưa, nhiều lần, nhà văn bày tỏ lòng trân trọng những người mang trong mình truyền thống văn hóa, hiếu khách, cần cù, sáng tạo, khéo léo… Hiện thực về con người Kinh Bắc hôm nay, nhiều lần, nhà văn xót xa, tấm tức. Mang danh là những “kỳ nhân”, “mỹ nhân” mà không thể vượt thoát những gì thuộc về nhu cầu bản năng, không có một đóng góp đích đáng cho quê hương xứ sở. Những “kỳ nhân”, “mỹ nhân” ấy đang làm đảo lộn những giá trị văn hóa mà cha ông đã dày công gầy dựng. Để tưởng nhớ đến người xưa, nhà văn mượn hình ảnh của người Kinh Bắc hôm nay làm cơ sở cho việc so sánh đối chiếu. Kể về cuộc đời của “kỳ nhân” Yến, trong truyện ngắn Gái đảm, nhà văn

“cảm kích” sự thành công của một doanh nhân thành đạt từ buổi đầu đi làm thuê, làm “gái”, rồi làm chủ. Nhà văn không quên lồng vào đó truyền thống của người Kinh Bắc xưa: “Gái làng Ngọc nổi tiếng khắp vùng Kinh Bắc là đảm đang, buôn bán giỏi giang, một tay nuôi chồng nuôi con. Đàn ông trong làng hầu như chỉ có việc ở nhà trông con cho vợ chạy chợ, hàng ngày đi đánh tổ tôm chắn cạ và đợi vợ mang tiền về. Thỉnh thoảng đóng vai “trụ cột” trong mấy việc giỗ chạp hiếu hỉ”. Quả rất đúng, Yến cũng là một tay nuôi chồng bằng việc “kinh doanh” đại gia, gái làng Ngọc mà! Điều này tiếp tục được khẳng định qua một truyện ngắn khác: Mỹ nhân làng Ngọc. Trong truyện ngắn, nhà văn thể hiện “niềm tự hào” về gái làng Kinh Bắc thông qua tâm tư của bọn trai hèn: “…Không lấy gái làng Ngọc về làm vợ. Gái xinh. Gái đảm. Gái giỏi. Gái đi buôn bán đảm đang tung giời từ nam chí bắc, từ đông sang tây. Chồng gái chỉ ở nhà trông con và đánh tổ tôm chắn cạ cho tiêu thời giờ, đợi vợ đi chợ mang tiền về. Gái tung tẩy chín phương, bọn trai hèn các nơi không lấy được gái xinh, gái đảm, gái giỏi làm vợ, quay ra nói xấu…”. Và như để khẳng định kì tài của các “mỹ nhân” Nhàn, Hiên,

Hiền (những nhân vật chính trong truyện), nhà văn còn gợi nhớ lịch sử xa xưa:

“Nước Việt mình, kể từ thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu đến nay, hình như luôn ở tình trạng âm thịnh dương suy. Chả thế mà các đại sử gia Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên khi chép lại chuyện xưa đã phải cảm thán thốt lên: “Đàn ông nước mình thế há chẳng hèn lắm ru?” Hồi gần đây, có một ông giáo sư cũng chuyên nghiên cứu cổ sử, nhân về khảo cổ thành Luy Lâu gần đấy, có rẽ vào trường nói chuyện với giáo viên, học sinh một buổi. Trong buổi đó, ngài giáo sư cũng đưa ra một luận thuyết cho là nước mình thuộc tính âm nhiều hơn dương. Núi thì thâm thấp. Sông thì nho nhỏ. Nhà cửa công trình cũng vài cái be bé xinh xinh. Con người thì…”.

Viết về người Kinh Bắc hôm nay, nhà văn cố tình lồng ghép hình ảnh người Kinh Bắc xưa đã làm nên truyền thống dân tộc ắt hẳn có dụng ý. Dụng ý ấy sẽ được thể hiện rõ qua cách nhà văn kết thúc câu chuyện: ba mỹ nhân Nhàn, Hiên, Hiền đều đánh mất hạnh phúc gia đình mình do những đòi hỏi thái quá của bản năng. Hay trong truyện ngắn Cỏ trời, kể chuyện Quang bản phủ bị con vác dao chém, nhà văn vẫn không quên đưa thêm nét đẹp văn hóa đã thành truyền thống của người xưa: “Làng Ngọc vốn là làng có truyền thống nền nếp cao trong vùng.

Mọi việc ma chay, cưới xin, hội hè đình đám nhất nhất đều phải theo lệ xưa đã định. Hàng tháng hai kì sóc vọng, các cụ bô lão, áo the khăn xếp ra đình, thắp hương thành hoàng, thụ lộc, rồi bàn chuyện làng. Những cuộc họp ấy do cụ thượng trong làng chủ trì. Cụ thượng là vị bô lão cao tuổi nhất, còn minh mẫn, được các bô lão suy tôn”. Thế thì tại sao Quang bản phủ- một chánh án- lại bị con vác dao chém? Câu chuyện chỉ được làm rõ qua việc đứa con nghe mẹ uất quá kể lại: có tiền, có quyền, Quang ngoại tình. Đến tuổi nghỉ hưu, lại nghiện cờ bạc, rồi hết tiền, bán nhà, ăn cắp tiền vợ; Minh, con trai cả, về nước, cầm dao chém bố. Việc đưa thêm hình ảnh người xa xưa vào câu chuyện của những con người hôm nay vừa thể hiện nỗi lòng hoài cổ vừa như muốn nhắc nhở thế hệ hôm nay đừng trét bùn đen lên tượng đài văn hóa đẹp đẽ mà cha ông thuở trước đã gây dựng.

Kinh Bắc hiện lên trong những trang viết của nhà văn còn là vùng đất mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc- nơi gắn liền với nền văn minh sông Hồng.

Trong hai tập truyện ngắn, bản sắc văn hóa dân tộc hiển hiện trên hàng loạt các phương diện. Nào là lễ hội của văn hóa dân gian, những hội hè đình đám, những điệu dân ca quan họ giàu chất trữ tình, những di tích lịch sử của một thời vẫn còn in đậm ở đâu đó trong các làng quê… Chạm đến dòng mạch của văn hóa dân tộc, trái tim Trần Thanh Cảnh như thổn thức trong nỗi niềm vừa tự hào kiêu hãnh vừa tiếc nuối âu lo. Một vùng đất của nền văn hóa lâu đời đầy tính nhân văn ấy có đứng vững trước bao tác động của thời cuộc? Điều này, có lẽ, để lịch sử sẽ phán truyền. Thế nhưng, đọc những dòng kí ức về nét đẹp ngày tết cổ truyền thể hiện trong truyện ngắn Mặt ma, đọc giả sẽ có được những phút giây ấm lòng: “Ngày chưa xa, tết đến các chợ trong vùng bày bán đầy tranh của làng. Những bức tranh vẽ gà, lợn, trâu bò, mười hai con gáp, năm nào con nấy. Những bức vẽ cảnh đám cưới chuột vui tươi ngộ nghĩnh. Cảnh đánh ghen, hứng dừa như chuyện vừa diễn ra ở làng hôm qua. Rồi những bức tứ bình tùng, cúc, trúc, mai. Những cô tố nữ gảy đàn thổi sáo… Những xanh đỏ tím vàng rộn ấm một góc chợ quê. Nhà nào cũng mua một hai bức về chơi tết. Nhà giàu thì mua bộ tứ bình về lồng khung kính treo phòng khách. Nhà nghèo cũng mua bức tranh lợn âm dương ủn ỉn bên đàn con béo tốt, hoặc bức con gà làng Hồ ngũ sắc óng ánh đem về dán lên vách.

Dường như tết vùng quê Kinh Bắc này bắt đầu từ khi những bức tranh quê được dán lên. Rộn ràng gà lợn, ấm áp cúc mai”. Đó là nét đẹp văn hóa thuở trước, còn cái tết cổ truyền của dân tộc hôm nay, có nhiều nét khác hẳn gây nên bao bức bối cho những “người hoài cổ”.

Ở khía cạnh khác, về lời ru, những làn điệu ca dao dân ca, vè… từng làm say đắm lòng người thì hiện tại hoặc không “được cất lên”, hoặc không ai đọc, hoặc bị chế biến lại nghe mà xót mà đau. Theo những gì chúng tôi tìm hiểu được, mục đích chính trong những lời ru là để đưa con (em, cháu…) vào giấc ngủ say, bình an vì được bảo bọc, che chở mà lớn lên. Thế nhưng, lời ru trong truyện ngắn Đập lúa đêm trăng nghe sao não nuột, nhà văn viết: “…Biết iết iết… Mẹ Tú dài

giọng trong đêm nghe não nề, làm cho con Bích, em Tú thức giấc khóc ré lên.

Mẹ vừa vạch vú nhé vào mồm nó, vừa ru: À ơi, cái cò cái vạc cái nông/ sao mày giẫm lúa nhà ông hỡi cò/ không không tôi đứng trên bờ/ mẹ con cái vạc đổ ngờ cho tôi…”. Hay trong truyện ngắn Chuyện bên kè đá, nhà văn viết: “Tối, trời đổ mưa to, mưa dai dẳng. Ngồi nhìn mưa nước chảy tràn sân, Mạnh Hoạt buồn tình, lấy đàn ra bập bùng, rồi soạn một bài hát rất lạ. Không ra quan họ, cũng chẳng phải nhạc mới. Nghe thê lương:

Trời mưa bong bóng phập phồng Em về nhà chồng anh thấy tim đau…”.

Hay những câu ca dao, vốn rất trữ tình, mượt mà, luyến láy… vậy mà, nhà văn lại trần tình: “Câu ca dao: Làng anh có lịch có lề/ có ao tắm mát có nghề vẽ tranh… không ai đọc” (trong truyện ngắn Mặt ma). Rồi hội hè đình đám, nhà văn nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong các truyện ngắn: Hội làng, Cỏ trời, Sương đêm cuối ngõ, Giỗ hậu, Giã bạn, Giáo sư Kê, Mỹ nhân làng Ngọc… nghe sao tấm tức, tất cả đã có phần biến tướng hoặc thương mại hóa, không còn là nét đẹp của văn hóa dân gian.

Như vậy, đề cập đến vẻ đẹp văn hóa dân gian một thời của Kinh Bắc, nhà văn như muốn lưu giữ những kí ức cổ xưa, những đặc sắc văn hóa trong các trang viết. Việc làm ấy còn thể hiện trách nhiệm của người đời nay đối với người đời sau trong việc gìn giữ “vốn văn hóa dân tộc”.

Một phần của tài liệu Đặc điểm truyện ngắn trần thanh cảnh (Trang 48 - 54)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(121 trang)