Từ vốn kiến thức về khái niệm “giọng điệu”, chúng tôi vận dụng vào việc tìm hiểu hai tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc và Mỹ nhân làng Ngọc của Trần Thanh Cảnh, nhận ra sự phong phú về sắc thái giọng điệu thể hiện qua các sáng tác. Xuyên suốt hai tập truyện, về cơ bản, có ba sắc thái giọng điệu chính đã thể hiện cách nhìn, cách cảm, cách đánh giá… của nhà văn đối với xã hội, con người và cuộc sống: Giọng trữ tình, đằm thắm; giọng suy tư, triết lý; giọng hài hước, giễu nhại.
a. Giọng trữ tình, đằm thắm
Đọc truyện ngắn Trần Thanh Cảnh, người đọc nhận ra cái chất trữ tình tích chứa với một giọng văn nhẹ nhàng đằm thắm làm nên nét khu biệt trong sáng tác của nhà văn. Trong nhiều truyện ngắn của ông, từng dòng xúc cảm của nhân vật cũng là dòng nội cảm của một con người ưa hoài niệm, ưu tư, cô đơn, thích lần về quá khứ vàng son Kinh Bắc. Đất và người nơi đây vốn tràn đầy lai láng cái chất thơ của “một thời oanh liệt” mà nay đang hứng chịu biết bao tác động của thời cuộc, như đang đứng trước vòng xoáy của “cơn lốc” nền kinh tế thị trường. Viết về làng Ngọc, trái tim nhà văn luôn tuôn trào những dòng xúc cảm về những kí ức đẹp đẽ của một thời đã qua. Trong truyện ngắn Hội làng, bằng cái giọng điệu ấy, nhà văn đã khắc họa được bao kỉ niệm đẹp đẽ chỉ còn trong kí ức giữa Hằng với Tuấn trong những đêm hội xa xưa thời ở quê. “Nàng và Tuấn cứ nắm tay nhau đi dọc con đường làng. Trong cái đêm xuân tình thần thánh, hai trái
tim non trẻ đập như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Cả hai, chả ai nói được lời nào. Chỉ có hai bàn tay trong nhau xoắn xuýt không rời và đôi chân thì cứ ngập ngừng muốn đi, muốn rẽ, muốn về”. Thật là dịu dàng, nồng cháy và ấm áp từ những gì trong đêm hội cứ thế ùa về! Giờ đây, đó chỉ là những kí ức đẹp. Hay một đoạn văn khác trong truyện Sương đêm cuối ngõ cũng đề cập đến đêm hội làng: “Đêm hội làng, cả ba ra đình xem diễn xướng trò “Sinh thực khí”. Người đông, chen chúc nhau. Thu và Phương đứng đằng trước, Quyết cao hơn đứng sau, ôm vai cả hai cho ấm. Đêm xuân năm ấy, rét lộc mà lạnh tê người. Ôm nhau đứng xem một lúc, thân thể trai gái mới lớn va chạm vào nhau nóng râm ran.
Nhất là lúc cụ từ hô: “Tình xòe tình phập”. Hai trai làng cầm cái “sinh thực khí”
bằng gỗ, sơn đỏ chót, đưa thẳng vào “nường bà Cái”… Thu nóng ran người.
Quyết đứng đằng sau, quàng tay qua cổ. Chả biết vô tình hay cố ý mà bàn tay buông đúng vào chỗ đầu vú Thu. Nhồn nhột. Lúc cụ từ hô: “Tắt đăng, tháo khoán”. Cả ba cầm tay nhau chạy biến về xóm Cầu Chiêu…”. Rõ ràng, đó chỉ còn là những dòng kí ức đẹp được kể lại bằng cái giọng điệu trữ tình, thiết tha và chậm rãi như níu kéo cả người đọc về với cái không khí của đêm hội làng, trở về cái không khí hồn nhiên của tuổi mới lớn.
Chuyển sang một khía cạnh khác, cũng với giọng văn trữ tình, nhà văn lại đưa người đọc trở về với nét đẹp văn hóa đã thành truyền thống của người Kinh Bắc: dân ca quan họ. Trong truyện ngắn Giã bạn, nhà văn viết: “Những dịp cưới xin, hội làng người ta tổ chức hát thâu đêm suốt sáng. Liền anh áo the khăn xếp, ô lục soạn. Liền chị nón ba tầm quai thao, áo năm thân say mê ứng đối hát xướng. Hát từ cửa đình, rồi dập dìu đến đầu làng, bến sông. Anh hai hát với chị hai, anh ba hát với chị ba. Hát một đêm, hát một mùa hội xuân, hát một năm, rồi hát cả một đời. Vẫn cứ say mê, tình tứ những nhớ thương da diết, lả lơi. Bởi bao nhiêu tình để cả vào câu hát. Chỉ là câu hát thế thôi. Chỉ là ánh mắt tình tứ trao nhau. Chỉ là cái nắm tay, cái vạt áo, cái quai thao. Sớm mai, anh hai lại về nhà lo việc đồng áng đỡ đần vợ con. Chị hai lại ngược xuôi chợ Giàu, chợ Núi, chợ Chờ đảm đang buôn bán nuôi chồng, nuôi con. Để đêm hội, anh hai chồng lại đi hát
với chị hai làng bên. Chị ba vợ lại đánh mắt dao cau với anh ba bạn mình mà buông câu hát:
Lóng lánh là lóng lánh ơi
Mắt người lóng lánh như sao trên giời…
Anh ba cất giọng đối:
Lúng liếng là lúng liếng ơi
Miệng cười lúng liếng có đôi đồng tiền…”
Đó là cái nét đẹp của quan họ thuở xưa tràn đầy giá trị nhân văn, giàu bản sắc văn hóa truyền thống mà nhà văn đã chắt chiu gìn giữ trong từng trang viết.
Còn kể về người Kinh Bắc, đặc biệt trong việc chạm khắc chuyện tình yêu đôi lứa, mỗi trang viết của nhà văn tựa như những trang thơ trữ tình giọt ngào đằm thắm. Vấn đề này được thể hiện qua nhiều truyện ngắn như: Giấc mơ, Hoa gạo tháng ba, Đập lúa đêm trăng… Mỗi truyện ngắn là mỗi dòng kí ức đẹp của một thời. Ví như, những ai đã bỏ lỡ niềm hạnh phúc bình dị với người cùng thôn xóm mà chạy theo những phù phiếm viển vong, ắt hẳn sẽ rất xót xa khi đọc đến những hàng chữ viết: “Mãi về sau này, khi đã nếm trải hết mùi đời cay đắng chát ngọt ra sao, cả Tú và Hà mới thấy nhớ da diết, thấy tiếc nuối những kỉ niệm xưa với bạn học cùng ngõ. Và cái đêm trăng cuối cùng đi bên nhau trong miên man hư ảo của làng quê tĩnh lặng, luôn là một cái gì êm dịu nằm sâu, rất sâu trong tâm hồn cả hai” (Đập lúa đêm trăng). Và cũng rất miên man hư ảo cho những ai rơi vào
“viển cảnh” của tình yêu đầy tham vọng: “Nhưng cả hai, đều rất đinh ninh là chỉ có mình xứng đáng với My, mà không ai định hỏi xem nàng lựa chọn người nào.
Thật sự là My hết sức bối rối. Nàng đã thân thiết với hai người con trai hàng xóm từ lúc còn bé. Một người đã cầm tay nàng tập cho viết những nét chữ đầu tiên. Một người thì đã khai mở cho nàng một thế giới đầy những câu chuyện tình lãng mạn, hấp dẫn đến từ một đất nước xa xăm. Rồi khi nàng lớn lên, cả hai người con trai ấy đều bày tỏ tình cảm với nàng, nhưng nàng không biết chọn lựa ai. Là vì, không hiểu sao, nàng thấy yêu cả hai người”. Rõ ràng, với giọng điệu trữ tình ngọt ngào ấy, nhà văn đã phơi bày nhiều khía cạnh của xã hội, con người
và cuộc sống ở vùng đất Kinh Bắc trong cái nỗi lòng khắc khoải, ưu tư, hoài niệm về những gì giờ chỉ còn là một “vang bóng”. Đó là một trong những đặc trưng về giọng điệu thể hiện qua các sáng tác của Trần Thanh Cảnh.
b. Giọng suy tư, triết lý
Tìm hiểu hai tập truyện ngắn Trần Thanh Cảnh, chúng tôi nhận ra trong sáng tác của nhà văn còn có kiểu giọng điệu suy tư, triết lí. Với sắc thái giọng điệu này, nhà văn đã thâu tóm một cách tinh tế bao vấn đề của đời sống xã hội, của con người đang diễn ra ở “làng Ngọc” thành những tư tưởng triết lí nhân sinh. Điều này chứng tỏ nhà văn đang “sống” cùng thời cuộc nên đã có được một cái nhìn sâu sắc, nóng hổi và đúng hiện thực. Ví như việc kinh doanh làm ăn, ngoài việc sở hữu máy móc, vốn liếng, cũng cần lắm những thủ đoạn may ra mới thành đạt, trụ vững trong thời buổi thị trường. Các truyện ngắn: Gái đảm, Sếp tổng, Vô vi, Mỹ nhân làng Ngọc… phần nào đã lột tả được điều này. Trong truyện ngắn Gái đảm, doanh nhân thành đạt Hòa Yến đã trải qua những tháng ngày sóng gió mà đỉnh cao của sóng gió thương trường thể hiện qua đoạn văn sau: “Nghe dân Dũng Tiến nói lại, có một màn bi hài kịch diễn ra trên sân nhà chồng “chính thức” của Yến. Nhưng mà, cả hai ông chồng đều biết mình là kẻ bị lừa nên không có màn huyết chiến nào nổ ra như mong đợi của khán giả làng.
Kết cục, hai tay chồng chia tay trên tinh thần ngán ngẩm. Chả tay nào đoái hoài đến cô vợ hiếm có nữa.
Những tưởng lần này Yến mất hết. Nhưng không, Yến bế thẳng hai đứa con về làng Ngọc, mua đất làm nhà dựng xưởng may. Dịp vừa rồi, làm xuất khẩu lao động kiếm ăn cũng khá, chả cần đến ông chồng già thì nay Yến cũng một mình dựng được cơ đồ”. Nghĩa là nhờ lấy thêm lão đại gia “lão luyện mọi mặt”
nên Yến học được những thủ đoạn để từ đó trụ vững trước tình thế của ngày hôm nay. Vả lại, trong đoạn văn, sự việc được kể lại qua lời của người khác (ngôi ba) sẽ tăng thêm sức thuyết phục, thể hiện được chiều sâu tư tưởng triết lí nhân sinh.
Hay trong truyện ngắn Sếp tổng, cũng từ những thủ đoạn, Tiến đã móc tiền các doanh nghiệp nhà nước để trở nên giàu có. Vấn đề này được thể hiện qua câu văn
giàu chất đúc kết: “mặc dù ghét cay ghét đắng thằng cha Thán, vừa ngu vừa gian vừa tham, nhưng Tiến vẫn phải cưng chiều nịnh bợ nó hết nước…”. Vậy đâu là nguyên nhân của sự cưng chiều nịnh bợ ấy? Chắc chắn không nằm ngoài yếu tố lợi ích của bản thân. Với một người không có kinh nghiệm thương trường, liệu có lối hành xử giống như sếp Tiến! Đọc câu văn nghe có vẻ lạnh lùng mà thấm đẫm tư tưởng triết lí nhân sinh.
Hay ở khía cạnh khác: chuyện tình yêu, cũng bằng chất giọng này, nhà văn đã đúc kết muôn mặt đời sống tình yêu của con người trong xã hội. Trong truyện Mỹ nhân làng Ngọc, với nghệ thuật xây dựng những đối thoại mà lời thoại của nhân vật được dẫn từ các công trình nghiên cứu khoa học nhằm tăng thêm
“tính đúng đắn”, nhà văn đã khái quát được đặc điểm của kiểu người có nhu cầu tính dục cao. Điều này được thể hiện thông qua lời thoại: “Số giời đã ấn định cho bọn mình thế, thôi cố mà hưởng! Lão Thanh nhà tôi ấy, lão ấy bảo ba đứa chúng mình có lượng nội tiết tố nữ, estrogen trong máu, cao hơn người bình thường.
Những người đàn bà như thế thì một người đàn ông là không đủ, phải có nhiều người. Dân gian gọi đấy là những người có máu Võ Tắc Thiên”. Qua đoạn văn, chúng ta nhận thấy nhà văn đã dùng đến một “kết luận khoa học”, có cả điển tích để thuyết phục bạn đọc về một khía cạnh của đời sống tình dục đầy tính chân xác. Đó là một trong muôn mặt của đời sống tình yêu con người. Hoặc một đoạn văn khác trong truyện Giỗ hậu luận bàn về nhân vật Hàn Xuân: “Dù Hàn Xuân chả còn chăm sóc xống áo và trong con người nàng, mọi ý nghĩ ái ân đôi lứa như đã chết cùng chồng, nhưng nàng vẫn còn trẻ quá. Nàng mới mười tám tuổi. Cái tuổi ấy thì dù không trang điểm, nhan sắc của người con gái đương thì vẫn lồ lộ, bông hoa đến thì hoa vẫn cứ phải nở, dù là đông giá hay hè oi nắng lửa. Hàn Xuân không còn để ý đến sắc đẹp của mình, nhưng lý Khương, đương chức lý trưởng làng Ngọc, ra chùa ngắm cảnh để ý đến nàng…”. Rõ ràng, trong đoạn văn, giọng suy tư triết lí thể hiện rõ qua chi tiết “bông hoa đến thì hoa vẫn cứ phải nở, dù là đông giá hay hè oi nắng lửa”. Chi tiết này ngầm thể hiện: trong cuộc sống của con người, nhu cầu về tình yêu, tình dục là những đòi hỏi có thật
giống như cái quy luật tự nhiên, mà đã là quy luật của tự nhiên của tạo hóa thì không thể làm khác. Hay việc ngoại tình trong đời sống tình yêu hôn nhân gia đình, ở truyện ngắn Rơi tự do, nhân vật “hắn” sở dĩ rất dễ rơi vào cảnh bướm ong là do “rất hay ngắm nhìn, nhất là những chỗ mà chị em cố tình show ra. Ánh mắt của hắn cứ như bị hút vào những chỗ ấy, không dứt ra được. Để không bị cám dỗ nữa, từ giờ trở đi hắn sẽ không nhìn ngắm chị em như bấy lâu nay. Hắn tự ra quyết định cho mình rằng, chỉ ngắm hai người phụ nữ quan trọng nhất của đời mình bây giờ là đủ…”. Và cuộc sống có bao giờ chiều ý hắn, số hắn đã vậy, một hôm “Thang máy chạy từ tầng số ba mươi sáu xuống đến tầng thứ sáu bỗng dừng lại. Cửa mở ra, một đôi giày nữ xinh xinh đỏ chói với một bông sen cách điệu ở mũi bước vào. Hắn giật nảy mình. Buổi sáng hắn vừa ngắm mũi đôi giày màu đỏ chói có gắn một bông sen cách điệu ở trong thang máy nhà mình K3. Tò mò là một phẩm chất có sẵn trong gien của loài người. Thế nên khi nhìn thấy mũi giày đỏ quen thuộc ở một chỗ mới, cái phản xạ có điều kiện mà hắn tự rèn thành bấy lâu nay bị cái bản năng tò mò lấn át trong chớp mắt, hắn ngửng đầu lên… Một nụ cười tươi tắn cởi mở trên một khuôn mặt phụ nữ trẻ đẹp: “Xin chào đồng cư nhà K3…”
Chiều hôm ấy hắn về muộn”. Với đoạn văn này, giọng suy tư, triết lí được thể hiện trên nhiều phương diện, trong đó không thể không nhắc đến cấu trúc của một phán đoán lôgíc: “Tò mò là một phẩm chất có sẵn trong gien của loài người”. Đây là câu văn vừa mang tính “khoa học” vừa lí giải cho bản tính trăng hoa của hắn. Hay khi tình yêu đã chín, người con gái bao giờ cũng mong muốn được ở bên người yêu: “nàng đã thầm thốt lên trong lòng, Giang ơi, nếu anh yêu em đến thế, sao anh không mang em đi cùng ngay tức khắc. Nhưng Giang vẫn nói với em hãy chờ anh, hãy chờ, hãy chờ. Nhưng mùa xuân thì có chờ ai đâu, cuối tháng ba là hoa gạo rụng hết” (Hoa gạo tháng ba). Một khi tình yêu trắc trở, những người đang yêu hay có những hành động thiếu sự kìm chế và sau hành động ấy thì “Hạnh (tên cô gái) lại không bao giờ nghĩ đến cái chết nữa. Những người tự tử được cứu thoát, thường thì sẽ không bao giờ tự tử lại, bởi khi sắp
chết, chập chờn trong ranh giới giữa sự sống và cái chết, bản năng bảo tồn sự sống bùng lên dữ dội. Cái bản năng sống sót của mọi sinh vật sống khi lâm nguy được đánh thức, làm cho con người ta lúc đó lại thấy bừng lên một ham muốn sống. Rồi những trải nghiệm kinh hoàng của tột cùng đau đớn, tối tăm, lạnh lẽo… sẽ là những kí ức mà không ai muốn nếm trải lại. Đặc biệt là những kẻ tự tử vì tình. Hạnh là một cô gái bị tình nhân phụ bạc với cái thai trong bụng…”
(Sếp tổng). Hay để xoa dịu nỗi đau thực tại mà hai người vừa có với nhau những phút giây đẹp, đọc tin nhắn mà Hoàng đã gửi cho Thúy, người đọc sẽ có những lí giải riêng cho bản thân: “Em hãy về vui với gia đình và quên tất cả đi. Có một dòng sông đã trôi qua trong cuộc đời của hai ta rồi và không bao giờ trở lại nữa”
(Mùa thi)… Rõ ràng, trong chuyện tình yêu, bằng giọng điệu suy tư, triết lí, nhà văn đã nêu lên được nhiều vấn đề của cuộc sống nhân sinh, vấn đề mang tính thời sự xã hội.
Ngoài ra, nhà văn còn đề cập đến nhiều khía cạnh khác của cuộc sống đương đại ở Kinh Bắc cũng bằng cái giọng điệu này. Ví như quan niệm lỗi thời:
gia đình phải có con trai nối dỗi thờ phụng tông đường, vấn đề này được nhắc đến qua các truyện ngắn: Chuyện bên kè đá, Ngôi biệt thự bỏ hoang, Cỏ trời…
Hay chuyện người dân rất dễ lầm đường lạc lối trước hiện thực lịch sử rối ren, họ trở thành những kẻ phản nghịch của quê hương. Điều này được nhắc đến qua các truyện ngắn: Hương đêm, Trăng máu… Như vậy, có thể nói: ngẫm, suy, triết lí chính là một trong những yếu tố đậm đặc làm nên giọng điệu chủ đạo trong hai tập truyện ngắn Trần Thanh Cảnh. Đó còn là những đóng góp của nhà văn về giọng điệu nhằm tạo sự phong phú cho việc biểu hiện nội dung tư tưởng, nghệ thuật cần được nhìn nhận.
c. Giọng hài hước, giễu nhại
Cần phải nhắc lại, sáng tác văn học nói chung, viết truyện ngắn nói riêng, giọng điệu là một trong những yếu tố quan trọng để khu biệt làm nên phong cách tác giả, “là một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác phẩm” [56, tr.142]. Tìm hiểu hai tập truyện ngắn Trần Thanh Cảnh, chúng tôi nhận ra nhà