Nhân vật là những con người cụ thể được nói đến, được miêu tả trong tác phẩm văn học bằng phương tiện ngôn ngữ. Nhân vật trong tác phẩm văn học chính là nơi để nhà văn thể hiện quan điểm nghệ thuật về con người, là nơi tập trung thể hiện tư tưởng nghệ thuật. Trong truyện ngắn, nhân vật được xem là linh hồn của truyện. “Đó là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng. Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực. Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì nhất định” [23, tr.126]. Nghĩa là nhà văn xây dựng nhân vật dựa trên một hình tượng cụ thể, rồi khái quát hình tượng thành nhân vật điển hình cho một loại- kiểu người nào đó để dẫn dắt độc giả vào cái thế giới của đời sống. Từ đó, nhà văn sẽ gởi gắm quan điểm tư tưởng và triết lí nhân sinh với hiện thực cuộc sống.
Tìm hiểu nhân vật trong truyện ngắn Trần Thanh Cảnh, chúng tôi nhận ra cái “không khí” của người Kinh Bắc hôm nay cũng như bao tâm tư mà nhà văn gởi gắm qua mỗi hình tượng. Đó là hình ảnh những con người phải bơi theo dòng xoáy của định mệnh và có những ngã rẽ làm thay đổi cuộc đời. Mỗi người mỗi hoàn cảnh, mỗi tính cách vì thế khi đối diện với hiện thực của cuộc sống sẽ có nhiều cách ứng xử tạo nên những bước ngoặt khác nhau cho số phận. Vấn đề này, chúng tôi không bàn thêm trong Luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến những loại nhân vật tiêu biểu trong hai tập truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, Mỹ nhân làng Ngọc.
Thật ra, việc phân loại nhân vật trong từng truyện ngắn của Trần Thanh Cảnh cũng khá phức tạp, không phải chúng tôi không xây dựng một tiêu chí để phân loại mà do sự vận động biến đổi trong chính bản thân nhân vật dẫn đến thước đo trước đó lỗi thời. Thế nhưng, chúng tôi vẫn chia nhân vật trong các sáng
tác của nhà văn thành hai nhóm đối tượng, đó là người nông dân và người trí thức.
a. Người nông dân
Với xuất phát điểm của quốc gia nông nghiệp lạc hậu đang trên đà phát triển, đa phần, người nông dân Việt Nam tự mang trong mình những đặc điểm thể hiện rõ vị thế, thân phận, tâm trạng, suy nghĩ của “một nông dân ròng”: chịu khó làm lụng, vun vén gây dựng cơ đồ, đầy ý chí và bản lĩnh nhưng lại là đối tượng mềm yếu, cô đơn và đầy những bất trắc trong cuộc sống. Hiện thực của kinh tế thị trường với những mặt tốt- xấu, được- mất đang chạm vào từng căn nhà, góc phố, xóm thôn đã biến người nông dân Việt Nam với biết bao những hi sinh thầm lặng từng được xem là nét đẹp truyền thống văn hóa dân tộc đang trên đà lung lay, chao đảo. Liệu những nét đẹp truyền thống văn hóa xưa kia của dân tộc có còn được giữ gìn và tiếp tục phát triển trong thời đại ngày nay?
Thấy được thực trạng này, Trần Thanh Cảnh viết nhiều về người nông dân nhằm góp thêm tiếng nói để cảnh tỉnh và cũng để bênh vực. Bởi người nông dân Việt Nam nói chung, nông dân Kinh Bắc nói riêng, vừa là lực lượng hùng hậu nhất của quốc gia dân tộc so với lực lượng của các thành phần kinh tế khác, vừa là đối tượng dễ bị tổn thương do mang phận “thấp cổ bé họng”. Mỗi khi thế giới và trong nước có biến động, cuộc sống và số phận của người nông dân càng trở nên nhỏ nhoi và đầy bất trắc. Không chỉ có thế, yếu tố “nhân tai” cũng không kém phần thiên tai: bệnh quan liêu hình thức, máy móc, nạn tham nhũng của những người cầm cân nảy mực đang hoành hành ở nông thôn đã và đang gây ra muôn vàn khổ ải cho nông dân. Cộng thêm, lối sống thực dụng đã làm rạn nứt nếp nghĩ truyền thống… Viết về thực trạng này, trái tim nhà văn đau một nỗi đau tựa như rỉ máu qua từng con chữ: Làm sao để người nông dân có được cuộc sống bình yên theo đúng nghĩa của nó? Làm sao để họ trở về với cội nguồn, trở về với những gì trong sáng, đẹp đẽ của buổi ấu thơ, trở về bên vùng đất bình yên nơi chôn rau cắt rốn của thuở nào?... Tất cả dường như chỉ là một câu hỏi lớn mà chưa có lời giải đáp. Với hàng loạt truyện ngắn: Gái đảm, Hoa núi, Hương đêm,
Sương đêm cuối ngõ, Giỗ hậu, Kỳ nhân làng Ngọc, Giã bạn, Rơi tự do, Đập lúa đêm trăng, Mặt ma, Vô vi, Trăng máu, Chuyện bên kè đá, Bến sông xuân, Buông…, Trần Thanh Cảnh đã phơi bày muôn mặt của hiện thực cuộc sống và số phận nông dân trên nhiều phương diện. Song, họ có điểm chung: thân cô thế cô, trình độ văn hóa thấp, càng vùng vẫy càng trở nên bất lực, quẩn quanh, bế tắc.
Mở đầu cho số phận và cuộc sống của người nông dân ở nông thôn hiện nay, đó là chuyện mất đất canh tác- sản xuất. Người dân mất đất canh tác khác nào muốn sang biển lớn mà không có tàu thuyền, muốn làm kinh doanh mà không có đồng vốn lận lưng. Thử hỏi, những người nông dân ấy sẽ ra sao trong cuộc sống?! Trong truyện ngắn Vô vi, Trần Thanh Cảnh đã để đứa con tinh thần của mình tự xoay sở làm ăn, nhờ cần mẫn mà trở nên khấm khá, thế nhưng lại rơi vào một bi kịch khác với nỗi đau còn lớn hơn gấp nhiều lần nghèo đói. Sinh (nhân vật chính trong truyện) được dân làng thuật lại “Theo như mấy thằng cha rỗi hơi chuyên hóng chuyện nhà khác nói, vợ chồng Má Giám Sinh ngủ trông bò ngoài khu đô thị mới, toàn chui vào những cái ống cống to thoát nước của công trường thi công dang dở bỏ lăn lóc bao năm nay nằm ngủ để tránh mưa rét.
Nhưng mà nằm trong lòng cái ống cống cong cong ấy thì kiểu gì cũng bị ép chặt vào nhau. Thế nên tối nào cũng sinh chuyện. Con nhiều cũng khổ, nhà xây mãi chưa xong, mới chỉ hoàn thiện tạm tầng một, còn hai tầng nữa, đợi bán mấy lứa bò rồi tính. Mấy đứa con cai sữa xong là bỏ lăn lóc ở nhà với bà, còn hai vợ chồng nay lưng với bò bê ngoài đồng. Dạo này, bọn đầu xanh đầu đỏ lảng vảng trong khu Lâm Viên Hồng nhiều. Ý chừng chúng định nhòm ngó đàn bò của vợ chồng Sinh hay sao. Nhiều khi vợ chồng phải ở ngoài ấy cả ngày lẫn đêm”.
Nghĩa là nhờ chí thú làm ăn rồi cũng có của ăn của để, tuy chưa thật giàu có. Rồi, một “tai nạn” khủng khiếp xảy ra “mẹ, vợ, ba đứa con trai nhỏ đang sùi bọt mép nằm la liệt trên nền nhà, cạnh chậu mì tôm ăn dở. Nghe tiếng gào của Sinh, hàng xóm đổ sang đưa đi cấp cứu, đưa ra ngoài A9 Bạch Mai nhưng chả cứu được ai.
Ngộ độc thuốc chuột nặng quá. Thuốc chuột Tàu chỉ ngửi đã ngất. Đằng này…
Là do hôm ấy nhà hết mì chính, mà Hoài chuyên mua mì tôm cân về ăn dần, nấu
thì nêm ít mì chính cho ngọt. Mẹ Sinh nấu mì tôm đi tìm mãi không thấy mì chính đâu, sờ được ở xó nhà gói bột trăng trắng, ngỡ đấy là mì chính con dâu mới mua, bèn cho vào nồi. Mà có biết đâu đấy là gói thuốc chuột Sinh vừa mua” về để diệt chuột. Đó là nguyên nhân của vụ tai nạn. Từ đó, “Sinh đã chết hẳn bộ não rồi, chỉ còn sống thực vật thôi. Rồi một hôm, hàng xóm nhãng ý, Sinh trèo qua cổng nhà bỏ đi đâu mất”. Rõ ràng, qua bao năm cặm cụi làm ăn, vùng thoát được phận nghèo khó, Sinh lại rơi vào một bi kịch khác đớn đau hơn: mất tất cả người thân cũng chỉ vì một phút bất cẩn ở bản thân có liên quan đến thói quen- nếp nghĩ chưa được khoa học kiểm chứng làm rõ (chuột gần người nên hiểu tiếng người ta nói chuyện với nhau, muốn bẫy được chúng phải lẳng lặng mà làm). Còn trong truyện ngắn Gái đảm, nhà văn cho thấy số phận của người con gái làng Ngọc:
sinh ra trong một gia đình đông anh em, Yến chỉ được học hết cấp hai rồi đi làm thuê. Sóng gió thương trường và tình trường đã đưa Yến trở thành một doanh nhân của doanh nghiệp thành đạt Hòa Yến. Sự thành đạt của Yến lẽ nào không có sự tác động của thời cuộc “Làng Ngọc và các làng xung quanh, bị thu hồi hết đất ruộng để làm dự án nên trai gái thất nghiệp nhiều, Yến tha hồ tuyển công nhân”… Như vậy, chuyện người nông dân mất đất canh tác, tự bương trải kiếm sống trên đường đời, mấy người được trở nên khấm khá như Sinh, như Yến?
Phần đông, họ trở nên trắng tay, phải miệt mày đêm ngày bán- cày sức lao động mới mong có được miếng cơm tấm áo.
Hiện nay, nông dân Kinh Bắc đang mang vác trên lưng rất nhiều những áp lực do có sự cộng hưởng từ những tác động của nền kinh tế thị trường. Một khi kinh tế thị trường đã thấm sâu vào tận từng tế bào của xã hội, ngoài mặt tích cực, đời sống của người nông dân càng trở nên bất trắc hơn không còn những gì là thơ là mộng như thuở trước. Bị mất đất canh tác, nghĩa là mất nguồn kinh tế cho việc nuôi sống gia đình, để tiếp tục công cuộc mưu sinh, người nông dân phải tìm đến những khía cạnh mới của nghề nghiệp, trong đó có việc đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Trong gia đình, vợ hoặc chồng có người đi xuất khẩu lao động là một thiệt thòi lớn cho cái gia đình ấy. Kẻ ở người đi đều phải trải qua những
tháng ngày căng thẳng với vô vàn những nỗi lo toan. Đường tương lai (có được một số vốn khá) còn xa vời vợi, còn hiện tại là những trống vắng, thiếu hụt. Thời chiến tranh, nhiều cuộc chia tay của vợ chồng ăm ắp những nỗi niềm do không biết được ngày sum họp; còn thời kinh tế thị trường, cũng có nhiều cuộc chia tay giữa vợ chồng không kém phần căng thẳng. Trong truyện ngắn Sương đêm cuối ngõ, nỗi đau của Phương, Quyết (nhân vật chính trong truyện) cũng chính là nỗi đau của nhà văn. Từ xưa, ông cha ta đã có câu: vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp nhằm đề cao vai trò quan trọng của người chồng và người vợ trong gia đình, không phải Phương, Quyết không biết được điều ấy. Thêm nữa, thời mở cửa xuất khẩu lao động, dân ta còn chế tác thêm: có vợ mà để đi Tây, như xe không khóa để ngay bờ Hồ, cả hai có lẽ hiểu nhưng cũng phải để vợ (Thu- vợ của Phương, Hiền- vợ của Quyết) “đi xuất khẩu lao động bên Hàn Quốc. Chả là, hai đôi ấy đều đã có một con”, nghĩa là cần đến tiền để trang trải cuộc sống gia đình. Cái sự đàn ông một mình ở nhà trông con cũng nhiều nỗi lắm. Bản thân người đàn ông để vượt qua được sức ép tâm lí của xã hội đã là rất khổ sở rồi, chưa muốn nói đến việc chăm sóc con cái mà thiếu thốn đi đôi bàn tay của người vợ. Thời gian cứ chảy trôi, hạn hợp đồng lần một đã hết, rồi gia hạn lần hai… Và kết cục của việc xuất khẩu lao động hiện lên qua cuộc đối thoại giữa hai nhân vật: “Đêm ấy, Quyết thất thiểu đi bộ ra nhà Phương ngồi hút thuốc lào. Lạ.
- Sao giờ này lại ra đây?
- Đời tôi với đời ông sao khốn nạn thế không biết. Ở nhà trông con cho vợ đi làm ăn xứ người. Nhịn thèm nhịn nhạt. thế rồi mất cả chì lẫn chài.
- Có chuyện gì vậy? Hiền nó vừa về chiều nay phải không?
- Ừ, vừa về. Nhưng sáng mai lại đi…
- ?...?...
- Lúc tối nay, hai vợ chồng vừa vào buồng. Tôi mới ôm ghì lấy cô ấy…
thì cô ấy tuột ra, bảo bây giờ cô ấy không còn là vợ tôi nữa. Cô ấy đã yêu người khác từ mấy năm nay. Cô ấy chỉ về đón con rồi mai đi với người mới vừa cùng ở bên ấy về…
Phương nhìn Quyết chả biết nói gì. Rít một điếu thuốc lào, rồi đưa cái điếu cày cho Quyết. Quyết cầm điếu, không hút nổi, chống vào cầm gục đầu yên lặng. Phương cũng ngồi yên bên cạnh, dựa lưng vào tường nhà, ngửa mặt ngắm trăng. Ánh trăng xanh xao nhợt nhạt đêm hạ tuần chiếu trên hình hài hai thằng đàn ông cô đơn, ngồi im phắc như những bức tượng”. Rõ ràng, những tưởng chuyện xuất khẩu lao động là một cuộc “cách mạng” vùng thoát khỏi thân phận đói nghèo lam lũ của người nông dân Kinh Bắc, hóa ra, những cố gắng ấy lại trở nên vô nghĩa, trở về không.
Nông dân Kinh Bắc nói riêng, nông dân cả nước nói chung, rất dễ bị tác động theo chiều hướng không hay trước những biến động của thời cuộc, những biến cố của lịch sử đất nước. Trong các truyện ngắn, Trần Thanh Cảnh đã vẽ nên một bức tranh liền mạch về nông dân Kinh Bắc từ thời Pháp thuộc, Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Mĩ, cải cách ruộng đất, thời bao cấp cho đến thời kinh tế thị trường… Mỗi giai đoạn của lịch sử đất nước, nông dân Kinh Bắc phải tự bơi theo vòng xoáy của định mệnh và có những ngã rẽ làm thay đổi cả cuộc đời. Trong truyện ngắn Hương đêm, nhà văn đã khắc họa cuộc đời, số phận của Phú, Hiền, Long là những đại diện cho người nông dân Việt Nam nói chung mang nỗi đau của bi kịch lịch sử. Cũng chỉ vì thời thế nhiễu nhương, người nông dân với trình độ dân trí thấp mà lầm đường lạc lối, có người trở thành kẻ phản quốc. Viết truyện này, có lẽ, nhà văn chỉ tập trung thể hiện một cái nhìn đầy tính nhân văn về người nông dân chứ không đi vào phán xét những việc làm của họ:
“Trong làng, đám đàn ông con trai, người thì vào du kích hay đi bộ đội Việt Minh. Kẻ thì đóng cai đóng đội làm lính trên đồn. Ông thì làm chánh tổng lý trưởng kỳ hào chức dịch theo lệnh quan Tây. Ông thì lại bôn ba theo Việt Minh cộng sản nằm vùng từ thuở trứng nước. Có ông như lý Bốn xóm cầu Chiêu, ngày làm lí trưởng, tối lại đi khai hội chủ trì nông dân cứu quốc… Tính ra, có khi nửa làng theo ta nửa làng theo Tây. Có nhà hai anh em trai, một thằng theo một phe”.
Từ việc này, tìm hiểu bi kịch cuộc đời của ba nhân vật Phú, Hiền, Long, chúng ta mới có được những cảm thông cho số phận của mỗi nhân vật. Như vậy, chỉ khi
nào mỗi người chúng ta tìm ra nguyên nhân của những nguyên nhân trong các sự kiện, thì may ra, chúng ta mới có được sự cảm thông cho người nông dân nước mình, dân tộc mình.
Hay trong truyện ngắn Kỳ nhân làng Ngọc, nhà văn khắc họa cuộc đời, số phận của kỳ nhân Bình trước biến động của lịch sử đất nước, chiến tranh chống Mĩ phá hoại nổ ra. Không chấp nhận một cuộc sống tẻ nhạt, Bình bỏ vợ, đi nhập ngũ và chiến đấu anh dũng được thưởng huân chương, nhưng khi xét lí lịch để thăng chức thì lí lịch không được trong sạch do sự kiện của thời trẻ dại- hiếp Liên Hương. Thật ra, sự đời vốn có nhiều ẩn khuất, một trong những ấn khuất ấy được nhà văn dẫn dắt thông qua cuộc đối thoại trước đó giữa Bình với Liên Hương trong một lần Bình ở Hà Nội về thăm quê: “Bình bơi về cầu ao chỗ Liên Hương ngồi tắm, định lên bờ về nhà. Liên Hương ngồi trên cầu ao, múc nước bằng cái thau đồng nhỏ, dòng nước trong thơm mát hương sen chảy từ cổ xuống dưới ngực, qua chỗ hai núm vú nhọn xinh của cô, dòng nước dội lên, tóe ra những tia trắng mơ hồ. Trong đầu Bình tự nhiên nảy ra một ý nghĩ đen tối, con chim càng căng thẳng, nó không dám lên khỏi mặt nước. Liên Hương nhìn thấy Bình dưới ao, hỏi tự nhiên như không:
- Anh Bình bao giờ lại ra Hà Nội đấy?
- Có lẽ mai anh đi.
- Ở Hà Nội chắc là vui lắm nhỉ?
- Cũng thường, không bằng quê mình.
- Anh này điêu. Không bằng mà anh đi một mạch đến mấy năm không về.
- Đâu có, anh cũng muốn về nhưng bác anh bắt trông hàng suốt không cho về, mà anh cũng nhớ em đấy.
- Anh này lại điêu thế không biết. Lúc đi bằng cái tí xíu, biết gì mà nhớ?
- Thế mà anh nhớ em đấy. Mà này. Tối nay ăn cơm xong, em ra góc vườn, chỗ cây muỗm ấy, anh bảo cái này nhé?
- Thôi, em chả ra đâu, em sợ ma lắm.
- Có anh sợ gì, ra nhé, anh đợi.