1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm truyện ngắn nguyễn thị thụy vũ

114 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 14,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm góp tiếng nói thẩm định sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ để thấy đóng góp của nhà văn cho văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975, trong phạm vi hiểu biết và năng lực có hạn của

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

HOÀNG THỊ THU TRANG

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THỤY VŨ

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 8220121

LUÂ ̣N VĂN THẠC SĨ

BÌNH DƯƠNG – 2021

Trang 2

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THỤY VŨ

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Kha.Các trích dẫn cũng như tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn chưa được công bố

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Học viên

Hoàng Thị Thu Trang

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Bộ phận sau Đại học, Khoa văn học, trường Đại học Thủ Dầu Một, đã tạo các điều kiện cho chúng tôi được học tập và làm luận văn một cách thuận lợi

Chúng tôi cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô đã truyền đạt cho chúng tôinguồn tri thức mới, trang bị cho chúng tôi những kiến thức để có thể áp dụng trong quá trình làm luận văn để quá trình làm luận văn có thể diễn ra thuận lợi, không bỡ ngỡ, lo lắng

Tiếp đến, chúng tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể lớp CH16VH02

đã cùng chia sẻ và tạo cho chúng tôi những động lực quý báu trong suốt thời gian học tập và đặc biệt trong khi thực hiện luận văn này

Trân trọng cảm ơn!

Học viên

Hoàng Thị Thu Trang

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN……… i

LỜI CẢM ƠN……… ii

MỞ ĐẦU……… 1

1.Lí do chọn đề tài……… 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 1

2.1 Giai đoạn trước 1975……… 1

2.2 Giai đoạn sau 1975……… 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 7

4 Lý thuyết tiếp cận và phương pháp nghiên cứu……… 7

4.1 Hướng tiếp cận chủ yếu của đề tài là lý thuyết thi pháp……… 7

4.2 Phương pháp nghiên cứu……… 7

5 Đóng góp của đề tài luận văn……… 8

6 Cấu trúc luận văn……… 8

Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ 10 1.1 Truyền thống văn học Nam Bộ: phản ánh đời sống hiện thực đang diễn ra, đáp ứng nhu cầu của công chúng độc giả 10

1.2 Đời sống xã hội, văn hóa miền Nam ở đô thị Sài Gòn giai đoạn 1954 - 1975 14

1.3 Truyền thống gia đình và sự “dấn thân” vào văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ 21

1.3.1 Đôi nét về tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ 21

1.3.2 Quá trình sáng tác văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ 25

Chương 2 : ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THỤY VŨ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG……… 29

2.1 Con người với thân phận bất hạnh, nổi trôi, vô định 29

2.2 Con người mang tâm trạng cô đơn, u uẩn 39

2.3 Con người nổi loạn 43

2.4 Tính cách giang hồ, sống liều lĩnh và bất chấp……… 46

Trang 6

2.5 Con người dám sống thật với bản năng, với những khát khao về tình yêu và tình

dục 49

2.6 Con người nhiều mơ ước,có ý thức về danh dự và bảo vệ danh dự 57

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THỤY VŨ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT……… 65

3.1 Điểm nhìn trần thuật……… 65

3.1.1 Nghệ thuật kể chuyện từ điểm nhìn bên trong……… 65

3.1.2.Nghệ thuật kể chuyện từ điểm nhìn bên ngoài……… 67

3.2 Kết cấu……… 69

3.2.1.Kết cấu đan xen giữa hiện tại và quá khứ……… 70

3.2.2.Kết cấu có kết thúc mở……… 72

3.3 Ngôn ngữ 74

3.3.1 Ngôn ngữ đậm sắc thái Nam Bộ 74

3.3.2 Ngôn ngữ thông tục của dân giang hồ, chợ búa 78

3.4 Giọng điệu 81

3.4.1 Giọng điệu trữ tình, thương cảm……… 82

3.4.2 Giọng điệu dửng dưng, lạnh lùng……… 84

Tiểu kết chương 3……… 87

KẾT LUẬN……… 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 89

PHỤ LỤC……… Error!

Bookmark not defined

Trang 7

Văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ mang màu sắc rất khác so với các nhà văn đương thời Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ chưa thật sự nhiều, đơn thuần chỉ là những bài giới thiệu thay cho lời tựa các

tập truyện ngắn, những bài điểm sách, những bài phỏng vấn rải rác trên các báo

Nhằm góp tiếng nói thẩm định sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ để thấy đóng góp của nhà văn cho văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975, trong phạm vi hiểu biết và năng lực có hạn của mình, với sự quý mến và trân trọng nhà văn nữ Nam

Bộ trải qua năm tháng thăng trầm vẫn giữ được ngọn lửa của tình yêu văn chương, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy Vũ” làm đề tài luận văn cao học

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ nguồn tư liệu có được, để hình dung ý kiến đánh giá của giới nghiên cứu về truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ, phần trình bày lịch sử vấn đề nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy Vũ chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trước 1975 và giai đoạn sau 1975

2.1 Giai đoạn trước 1975

Vào những năm 60 của thế kỷ XX, sự xuất hiện của nhà văn Nguyễn Thị Thụy

Vũ cùng với những khuôn mặt nữ lưu khác như Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương… đã tạo được tiếng vang trên văn đàn miền Nam Ngòi bút của

Trang 8

Thụy Vũ miêu tả táo bạo, phơi mở nhiều cảnh huống, dõi theo nhiều số phận, chạm khắc nhiều tâm trạng, tung hứng nhiều lời thoại dí dỏm… Chính vì vậy, Thụy Vũ trở thành một hiện tượng lạ trong văn xuôi đô thị miền Nam lúc đó Khi nhắc đến sự xuất hiện của Thụy Vũ trên văn đàn, nhà văn Võ Phiến đã nhận định: “Đầu thập kỷ 60 – tôi không nhớ rõ năm nào – tòa soạn Bách Khoa bắt đầu nhận, thỉnh thoảng một thiên truyện ngắn của một người viết mới, thuộc phái nữ, ký tên Nguyễn Băng Lĩnh Lúc bấy giờ các cây bút nữ giới hãy còn hiếm Tòa soạn có ý tò mò… Người ấy về sau mang

bút danh Nguyễn Thị Thụy Vũ, là tác giả cuốn sách có tên là Mèo Đêm, Lao Vào Lửa,

Cho Trận Gió Kinh Thiên… Tức là thứ sách mà các thế hệ phụ nữ nước ta trước đó

không mấy kẻ dám đọc, đừng nói đến chuyện viết!” (Dẫn theo Vương Trùng Dương, 2016)

Trong Tạp chí Bách Khoa số 248, ra ngày 1/7/1967, Ngọc Minh, tác giả bài viết

Mười hoa trổ sắc, đã xếp Thụy Vũ bên cạnh những nhà văn nữ nổi tiếng như Nguyễn

Thị Vinh, Minh Quân, Linh Bảo, Phương Khanh, Trúc Liên, Trùng Dương, Vân Trang

- Minh Đức, Hoài Trinh, Hoàng Hương Trang Tác giả nhận định: “Qua các truyện ngắn chọn lọc của các nhà văn nữ hôm nay, người đọc thấy bàng bạc một tình thương: thương người thân, thương thân phận người con gái bị sa ngã, thương những kiếp người bị đói dốt, bị rủi ro, bị giặc giã cướp phần tươi sáng ấm êm…” (Ngọc Minh, 1967)

Uyên Thao trong tác phẩm: Các nhà văn nữ Việt Nam 1900 – 1970, dành những

lời khen cho nhà văn Thụy Vũ về cách viết táo bạo, sống động, gây xôn xao dư luận nhưng cũng nhận định: “Nguyễn Thị Thụy Vũ là một cây bút khá sắc bén và tinh tế, nhưng vẫn những sơ hở, nặng nề của một tinh thần tùy hứng” (Uyên Thao, 1991)

Với Tạ Tỵ, khi chọn ra mười khuôn mặt văn nghệ, ông đã dành vị trí cho nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ bên cạnh các gương mặt văn học tiêu biểu khác như: Túy Hồng, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Nhật Tiến, Thế Uyên, Thế Phong,

Bùi Giáng, Võ Hồng Trong tác phẩm Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Tạ Tỵ nhận

định: “Nguyễn Thị Thụy Vũ, nhà văn phái nữ, hiện diện giữa khung trời văn nghệ với sắc thái đặc thù Những ý nghĩ bỏng cháy và rẫy rụa về thân xác trong mỗi tác phẩm,

Trang 9

đôi khi vượt qua ý nghĩ của nhiều người” (Tạ Tỵ, 1971) Riêng về truyện ngắn của Thụy Vũ, Tạ Tỵ nhận xét: “Thụy Vũ viết truyện ngắn với nhiều thể tài, mỗi thể tài được hàm chứa sự cuồng nhiệt của tuổi trẻ trong vấn đề tình yêu, cũng như nỗi nhức mỏi về thân phận, thân phận người con gái với những ước mơ táo bạo về dục tình” (Tạ

Võ Phiến trong Văn học miền Nam tổng quan đã có những nhận xét rất xác đáng

về bà: “Đàn bà cầm bút đa số viết chuyện tình ái hoặc lâm ly hoặc éo le, chuyện vui, chuyện buồn loanh quanh trong gia đình, giữa các chàng trai với các nàng… Bà Nguyễn xông vào cơn gió bụi, phanh phui những cảnh đời lầm than, làm lắm kẻ sững

sờ, nhăn mặt Ở nước ta từ trước tới nay chuyện bà Nguyễn làm là chuyện của đàn ông.Nam phái vẫn xông xáo hơn nữ phái Chuyện kéo xe, người ngựa ngựa người, chuyện lục xì, móc túi, đánh cướp, buôn lậu… thường do các ông tìm hiểu và kể cho nhau nghe Các bà, các cô không tiện tìm, không tiện kể mà cũng không mấy thích nghe Bà là người đàn bà khác thường… Tình cờ, vì lí do sinh kế, mà bà Nguyễn làm cây bút tả chân đầu tiên ở xứ ta, về phía nữ phái, mạnh dạn phơi bày một phương diện của thực trạng xã hội ta vào một thời điểm đặc biệt Bà có vị trí riêng trong thời kỳ văn học bấy giờ” (dẫn theo Tuyển tập Hồ Trường An - Tổng quan văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ)

Các ý kiến của giới nghiên cứu, phê bình giai đoạn trước 1975 về truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy Vũ đã chỉ ra sự táo bạo trong hướng tiếp cận hiện thực đời sống, như cách nói củaVõ Phiến: truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ là “thứ sách mà các thế hệ

Trang 10

phụ nữ nước ta trước đó không mấy kẻ dám đọc, đừng nói đến chuyện viết”; “Bà Nguyễn xông vào cơn gió bụi, phanh phui những cảnh đời lầm than, làm lắm kẻ sững

sờ, nhăn mặt” Từ sự trích dẫn một số ý kiến đánh giá hoặc nói về sự tiếp nhận của độc giả đương thời về truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ để thấy cái mới trong sáng tác của nhà văn: “Đó là thứ văn chương hiện thực xã hội pha trộn một chút bóng dáng văn chương nổi loạn vốn là tàn dư sót muộn của văn chương hiện sinh” (dẫn theo Tuyển tập Hồ Trường An - Tổng quan văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ)

2.2 Giai đoạn sau 1975

Ngay sau ngày cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, đất nước độc lập, thống nhất, người nghiên cứu, phê bình nhìn nhận về văn hóa văn nghệ miền Nam với quan điểm “sách báo của địch xuất bản và lưu hành trong thời kỳ chúng còn chiếm đóng, phân loại những tác phẩm phản động, đồi trụy, trước hết là loại sách dâm ô, để có thái

độ xử lí” (Trần Trọng Đăng Đàn, 2000) Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội IV, năm 1976 đã đánh giá về lĩnh vực văn hóa tư tưởng miền Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa như sau: “ở miền Nam, chủ nghĩa thực dân cũ và mới cùng với ba mươi năm chiến tranh, đã để lại những hậu quả nặng nề trên lĩnh vực văn hóa và tư tưởng Bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, bọn Mỹ - ngụy cố tạo ra một thứ văn hóa nô dịch, đồi trụy, lai căng, cực kỳ phản động” Tác giả

Trần Trọng Đăng Đàn trong tác phẩm Văn học thực dân mới Mỹ ở miền Nam những

năm 1954- 1975 đã xếp Nguyễn Thị Thụy Vũ vào những cây bút “viết văn dâm ô, đồi

trụy, sa đọa” Ông từng nhận xét: “Trong số những cây bút nữ viết văn dâm ô, đồi

trụy, sa đọa, vô luân, lấy cuộc sống của đĩ điếm, me Mỹ làm đối tượng mô tả thì Thụy

Vũ là cây bút thuộc loại xông xáo và trắng trợn nhất… Bằng ngòi bút suồng sã của mình, Thụy Vũ dẫn dắt bạn đọc vào “thế giới mèo đêm”, cái thế giới mà trong đó mục đích sống của người phụ nữ rút lại chỉ còn mỗi một việc hết sức ô nhục là: khai thác thân xác của mình thật triệt để, để rút cho được thật nhiều tiền Ở đây có sự kích dâm được thể hiện qua nhiều thủ thuật khác nhau: khi thì bằng sự mô tả một lũ con gái trẻ bịa chuyện rình bắt kẻ trộm để nhìn trộm người đàn ông đang tắm, khi thì bằng cách

mô tả thân thể lõa lồ của mụ đĩ già Mi – sen, khi thì bằng sự phơi bày những màn

Trang 11

chung đụng trống mái hùng hục, những đoạn đối thoại tục tĩu để mặc cả mua bán ái tình…” (Trần Trọng Đăng Đàn, 1988)

Với độ lùi của thời gian, từ năm 1982, Đảng đã bỏ khẩu hiệu “văn nghệ phục vụ chính trị”, việc nhìn nhận, đánh giá văn học miền Nam trong đó có bộ phận văn học đô thị có sự đổi mới Trong hoàn cảnh đất nước đổi mới, hội nhập với thế giới, việc nghiên cứu, đánh giá các sáng tác của các nhà văn thuộc bộ phận văn học đô thị miền Nam một cách khách quan, có cơ sở khoa học là yêu cầu cấp thiết Theo tinh thần đó, cùng với việc xuất bản các sáng tác của một số nhà văn dưới thời Việt Nam Cộng Hòa như trường hợp Dương Nghiễm Mậu,… sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã được trở lại với bạn đọc trên cả nước

Trên báo Người lao động, Nguyễn Thị Thanh Xuân có bài viết Nguyễn Thị Thụy

Vũ đã trở lại Tác giả đã nhận xét Nguyễn Thị Thụy Vũ là “nhà văn bẩm sinh” Đồng

thời, khi nhận xét về cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Thị Thụy Vũ, tác giả bài viết

có sự so sánh rất sâu sắc: “Cũng như Hồ Biểu Chánh, chất liệu Nam Bộ đầy ắp trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ Tùy hứng, linh hoạt, tràn đầy nữ tính, trang viết của bà bất ngờ hơn, sắc sảo hơn, nghịch ngợm hơn Những đối thoại kỳ tình; những miêu tả về tâm lý, sinh hoạt, món ăn… thật hấp dẫn Trên phương diện này, cũng như Hồ Biểu Chánh, tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ hứa hẹn cung cấp những kịch bản hay cho điện ảnh và sân khấu, cũng như là đối tượng mời gọi nhiều cách đọc mới: nữ quyền, xã hội học, hậu thực dân” (Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2017)

Báo Thanh Niên đăng ngày 26/032017, tác giả Mỹ Lệ nhận xét: “Nhân vật nổi bật trong các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ phần lớn là phụ nữ với đời sống tinh thần phức tạp, phải gánh chịu nhiều mâu thuẫn nội tâm, cả bên ngoài lẫn bên trong cánh cửa Lễ giáo phong kiến và những tập quán xưa cũ vẫn đang cố gò người đàn bà vào cái khung “tam tòng tứ đức, công dung ngôn hạnh” Không dễ gì chống lại một sức mạnh văn hóa đã thống trị xã hội hàng trăm năm Chỉ qua câu chuyện của các cô gái

bán quán bar, lấy Mỹ trong tập truyện ngắn Lao vào lửa, đã thấy ngay một góc nhỏ của

đô thành Sài Gòn trước 1975 Nơi đó có những người đàn bà buôn phấn bán hương với nhiều hoàn cảnh khác nhau, sống đời nổi trôi vô định” (Mỹ Lệ, 2017)

Trang 12

Trên báo Việt Nam.net, khi giới thiệu về các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy

Vũ, tác giả Gia Bảo đã nhận xét: “Khác những cây bút nữ “thời thượng” của thập niên

1970, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã chọn một lối đi khác hẳn Bà khai thác câu chuyện của nhân vật đến từ nhiều tầng lớp khác nhau… Tất cả họ, dù là ai, thuộc tầng lớp nào, kẹt

ở đâu trong khúc mắc cuộc đời, đều dường như hiện lên thật sống động, tươi mới trong từng trang viết Bà không phẩm bình rằng họ đáng thương hay đáng trách, bà chỉ lẳng lặng vẽ lại chân dung từng người, hợp lại thành chân dung của cả “nhóm người” mà thời kỳ nào cũng phải hứng chịu những phê phán nặng nề của búa rìu dư luận Dễ thấy nhân vật nổi bật trong các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ hầu hết là phụ nữ và thường có một đời sống tinh thần không đơn giản Trong khi bên ngoài làm như vẫn tuân thủ những ràng buộc đã thành nền thành nếp trong cả gia đình lẫn xã hội, thì bên trong họ vẫn sục sôi một nhu cầu chống đối, nổi loạn, bộc lộ thành hành động và mức

độ khác nhau tùy điều kiện và sự gan góc của từng người” (Gia Bảo, 2018)

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy có một số luận văn, khoá luận tốt nghiệp của học viên, sinh viên Trường Đại học Sư phạm Huế, Đại học Sư phạm Hà Nội 2, tìm hiểu về phong cách văn chương, các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ từ góc độ nữ quyền, đặc điểm văn xuôi, đặc điểm sáng tác,… Cụ thể là Luận văn thạc sĩ chuyên

ngành Văn học Việt Nam của Phạm Thị Thu Nhung với đề tài: Đặc điểm văn xuôi

Nguyễn Thị Thụy Vũ (2018), Khóa luận tốt nghiệp đại học của Nguyễn Thị Bích Ngọc

viết về đề tài: Vấn đề nữ quyền trong truyện ngắn tiêu biểu của Nguyễn Thị Thụy

Vũ(2019) Cả luận văn và khóa luận đều đưa ra những quan niệm của Nguyễn Thị

Thụy Vũ về văn chương, con người và sự chi phối những quan niệm đó tới sáng tác của bà Thêm vào đó, luận văn và khóa luận còn khảo sát một số kiểu nhân vật và những đặc điểm trong sáng tác văn xuôi của Thụy Vũ Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu kĩ lưỡng, hệ thống về vấn đề “Đặc điểm truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ” xét về cả mặt nội dung và nghệ thuật

Những ý kiến của người nghiên cứu đã nêu trên đây từ những góc nhìn khác nhau, chẳng hạn: Nguyễn Thị Thanh Xuân đánh giá “chất liệu Nam Bộ đầy ắp trong văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ”; Gia Bảo thì cho rằng, nét riêng của Nguyễn Thị Thụy

Trang 13

Vũ là viết về “chuyện của nhân vật đến từ nhiều tầng lớp khác nhau (…), sục sôi một nhu cầu chống đối, nổi loạn”; Mỹ Lệ chú ý các truyện ngắnviết về thân phận những người đàn bà buôn phấn bán hương với nhiều hoàn cảnh khác nhau “sống đời nổi trôi

vô định”,… Những ý kiến trên đây còn khá chung chung, nhận định sáng tác Nguyễn Thị Thụy Vũ trong tương quan với văn xuôi Nam Bộ hay một khía cạnh trong sáng tác của tác giả Tuy nhiên, chính những bài phỏng vấn của các nhà báo với tác giả và ý kiến của một số nhà văn cùng thời đã giúp chúng tôi phần nào tiếp cận các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ một cách dễ dàng hơn, khơi gợi suy nghĩ để đặt vấn đề nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn của nhà văn trong đề tài luận văn của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu về đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy Vũ qua việc khảo sát 3 tập truyện ngắn:

- Lao vào lửa( Nxb Hội Nhà văn, 2017)

- Mèo đêm (Nxb Hội Nhà văn, 2017)

- Chiều mênh mông (Nxb Hội Nhà văn, 2017)

Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ

qua ba truyện ngắn: Bóng mát trên đường, Cô giáo mới, Đàn kiến lửa

4 Lý thuyết tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Hướng tiếp cận chủ yếu của đề tài là lý thuyết thi pháp

Vận dụng lý thuyết thi pháp để tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy Vũ thông qua các yếu tố như: hình tượng nhân vật, cốt truyện, chi tiết nghệ thuật,…làm toát lên chủ đề, cảm hứng chủ đạo được tác giả thể hiện trong truyện ngắn

Hướng tiếp cận thi pháp truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng giúp người nghiên cứu làm sáng tỏ hiệu quả của các thủ pháp nghệ thuật mà nhà văn sử dụng Qua

đó làm nổi bật nét đặc thù trong việc phản ánh hiện thực theo dụng ý nghệ thuật của nhà văn

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội

Trang 14

Cùng với hướng tiếp cận lý thuyết thi pháp, phương pháp nghiên cứu chính của luận văn là phương pháp lịch sử - xã hội Xem xét truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy Vũ gắn với môi trường lịch sử - xã hội miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 trong trường ảnh hưởng của các yếu tố như sự biến động về chính trị, xã hội; sinh hoạt của các tầng lớp

cư dân ở đô thị miền Nam mà trung tâm là thành phố Sài Gòn; đời sống văn hóa, văn học,… để có những đánh giá về nội dung và nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy

Vũ có cơ sở lý luận và thực tiễn

Các phương pháp như: phương pháp nghiên cứu loại hình, phương pháp cấu trúc hệ thống, các thao tác như phân tích, tổng hợp, so sánh cũng được vận dụng trong quá trình triển khai nghiên cứu để làm sáng tỏ vấn đề: đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy Vũ

5 Đóng góp của đề tài luận văn

Từ góc nhìn chủ quan, chúng tôi nhận thấy đề tài nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ nhằm cung cấp cái nhìn có tính hệ thống về nội dung

và nghệ thuật của truyện ngắn của nhà văn Với yêu cầu đặt ra từ đề tài nghiên cứu, luận văn có những đóng góp sau đây:

- Chỉ ra được những nét đặc trưng trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ

cả về mặt nội dung và nghệ thuật

- Khẳng định được những đóng góp của Nguyễn Thị Thụy Vũ trong dòng văn học đô thị miền Nam và văn chương Nam Bộ giai đoạn 1954 - 1975

6 Cấu trúc luận văn

Luận văn ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Những tiền đề sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ

Chương 2: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy Vũ – nhìn từ phương diện nội dung

Chương 3: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thị Thụy Vũ – nhìn từ phương diện nghệ thuật

Trang 15

Ngoài ra, còn có những phần phụ khác như phần mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo

Trang 16

Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN THỊ THỤY VŨ

Không phải ngẫu nhiên truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình và độc giả từ khi những sáng tác đầu tay của nhà văn xuất hiện trên văn đàn miền Nam những năm 60 của thế kỷ trước Và cho đến hôm nay, sự trở lại của Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng gây được sự chú ý của độc giả Để làm sáng tỏ những đặc điểm làm nên dấu ấn sáng tác Nguyễn Thị Thụy Vũ trong truyện ngắn, cần thấy ba yếu tố sau đây làm tiền đề cho sáng tác của nhà văn

1.1 Truyền thống văn học Nam Bộ: phản ánh đời sống hiện thực đang diễn

ra, đáp ứng nhu cầu của công chúng độc giả

Văn học Nam Bộ giai đoạn 1954 - 1975 là một bộ phận máu thịt của văn học dân tộc Trong khoảng hơn hai mươi năm, vùng văn học này đã có một đời sống rất sôi nổi với hàng trăm cây bút và hàng nghìn tác phẩm, cuốn hút hàng triệu độc giả, và đã

để lại những vết son không phai mờ trong ký ức của nhiều người Nhắc đến văn học Nam Bộ giai đoạn 1954 - 1975, chúng ta nghĩ đến một thế hệ nhà văn tiên phong cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX mang những đặc điểm mới mẻ, khác với những nhà văn lớp trước trên nhiều phương diện, làm thay đổi diện mạo văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX

Nam Bộ vốn là vùng đất mới của tổ quốc Khác với các vùng miền khác trong

cả nước, thực dân Pháp đã áp đặt sự cai trị nhằm biến vùng đất phía Nam của tổ quốc thành thuộc địa hải ngoại của Pháp Với quy chế thuộc địa của người Pháp áp dụng ở cho Nam Kì thì tự do dân chủ được mở rộng hơn so với chính sách cai trị của thực dân Pháp ở miền Bắc và miền Trung Thêm vào đó, cư dân Nam Bộ với điều kiện tự nhiên thuận lợi, sông ngòi chằng chịt, thiên nhiên ưu đãi đã hình thành nên tính cách cởi mở,

dễ học hỏi, tiếp thu cái mới từ phương Tây Chính điều đó cũng góp phần hình thành nên một đội ngũ trí thức ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây, có tư duy mới mẻ không chỉ ở phương diện chính trị mà còn trên lĩnh vực văn hóa, văn học

Cùng với chữ quốc ngữ, sự ra đời của các tờ báo, tạp chí, nhà xuất bản cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà văn Nam Bộ có sự đổi mới mạnh mẽ cả về phương diện nội dung và nghệ thuật Ngay từ năm 1865 Nam Bộ đã có tờ báo quốc ngữ đầu tiên là

Trang 17

tờ Gia Định báo Đến giai đoạn 1954 – 1975, báo chí ở Nam Bộ nở rộ Cùng với báo chí, sự ra đời của nhiều nhà xuất bản, phát hành ở miền Nam cũng đã góp phần tạo nên

sự phát triển cho đời sống văn hóa, văn học ở khu vực này Sự ra đời của các tờ báo là phương tiện để các nhà văn thể hiện tư tưởng, suy nghĩ, tình cảm, cách đánh giá, thông qua các tác phẩm của mình

“Khi người Bắc di cư vào Nam năm 1954, họ ngạc nhiên thấy những người phu

xe xích lô Sàigòn, buổi trưa, tìm chỗ mát nghỉ ngơi, ngồi gác chân đọc nhật trình, việc không thể có ở ngoài Bắc Sở dĩ có hiện tượng này bởi vì miền Nam có truyền thống đọc sách báo của người bình dân mà ở ngoài Bắc không có; bởi miền Nam đã là vùng đất của quốc ngữ và báo chí, tiểu thuyết, ngay từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khiến nền văn chương bình dân phát triển mạnh ở trong Nam, trong khi ngoài Bắc, sách vở, báo chí phần lớn chỉ dành cho người có học” (Thụy Khuê, 2007)

Trong suốt mười thế kỉ văn học trung đại, văn học Việt Nam nói chung và về sau là văn học Nam Bộ nói riêng chịu ảnh hưởng từ văn học Trung Quốc một cách sâu sắc cả về nội dung và nghệ thuật Văn học đồng thời cũng mang những đặc trưng nổi bật của văn chương Trung Quốc như “thi ngôn chí”, “văn dĩ tải đạo” Về phương diện nội dung, văn học là để giáo huấn, để treo gương, khuyến thiện trừng ác, di dưỡng tính

tình Nguyễn Bỉnh Khiêm trong Bài tựa Bạch Vân am thi tập từng viết: “Mỗi khi nhàn

rỗi giây lát, cao hứng ngâm vịnh hoặc ca ngợi thắng cảnh núi sông, hoặc tán dương vẻ đẹp của hoa trúc, hoặc tức cảnh mà ngụ ý, hoặc cảm việc mà tự thuật, đều ghi lấy cái

chí của mình” (Nguyễn Khuê, 1997) Nguyễn Dữ trong tác phẩm Truyền kì mạn lục đã

kể cho chúng ta nghe nhiều câu chuyện về người, về yêu quái, về cõi dương, cõi âm, về những câu chuyện tình yêu… Mỗi câu chuyện đều có lời bình ở cuối truyện để nêu

gương, khuyến khích cái thiện, để đấu tranh chống lại cái ác Kể xong Chuyện chức

phán sự đền Tản Viên, ông nhắc nhở: “Than ôi! Người ta thường nói: "Cứng quá thì

gãy" Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gãy hay không là việc của trời Sao lại đoán trước là sẽ gãy mà chịu đổi cứng ra mềm? Ngô Tử Văn là một anh chàng áo vải.Vì cứng cỏi mà dám đốt cháy đền tà, chống lại yêu ma, làm một việc hơn cả thần

và người Bởi thế được nổi tiếng và được giữ chức vị ở Minh ti, thật là xứng đáng.Vậy

Trang 18

kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi” Hay trong Chuyện yêu quái ở Xương Giang,

Nguyễn Dữ cũng đưa ra lời bình: “Thế thì câu chuyện Xương Giang, chẳng phải là quái Phương chi xem thấy yêu nữ mê người sẽ biết răn sợ trước sắc đẹp, xem thấy linh

từ xử án, sẽ biết kính tránh trước thần thiêng Nghi để truyền nghi, chẳng có gì là quá đáng” (Nguyễn Dữ, 1988) Về phương diện nghệ thuật, văn học trung đại thường có tính quy phạm, niêm luật chặt chẽ, dùng nhiều biện pháp nghệ thuật như ước lệ tượng trưng, điển cố, điển tích… Vì vậy để đọc, để hiểu được văn học phải là người trí thức,

am hiểu đạo Nho, am hiểu về Hán học

Trong văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, quan niệm về văn chương của các nhà văn hoàn toàn khác biệt Văn chương hướng vào đông đảo quần chúng Chẳng hạn, trong văn học dịch, các nhà văn Nam Bộ đã chú ý đến việc chuyển đổi các tác phẩm văn học phương Tây và Trung Quốc sang chữ quốc ngữ dưới các hình thức của các thể thơ dân tộc hay truyện ngắn để phù hợp với thẩm mĩ hay tập quán của người Việt Ngôn ngữ trong các tác phẩm dịch ấy thường mộc mạc, gần gũi với tầng lớp bình dân Thậm chí tên gọi của các nhân vật trong các tác phẩm ấy cũng được Việt hóa để phù hợp với văn hóa Việt Các dẫn chứng trên cho thấy đối tượng mà nhà văn Nam Bộ hướng tới là độc giả bình dân, những người không biết, không thông thạo ngoại ngữ

Đối tượng phản ánh của văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX thể hiện sự cách tân, khác hẳn văn học trung đại Nhân vật không mang tính ước lệ, tượng trưng, lí tưởng hóa như văn học trung đại mà là những con người rất đời thường,

họ sống, đi lại, buồn, vui gắn với mọi sinh hoạt của con người trong xã hội hiện tại Nguyễn Trọng Quản chủ trương viết về những “truyện đời này là sự thường có trước

mặt ta luôn” Điều này thể hiện ý thức dân chủ của nhà văn.Truyện thầy Lazaro Phiền

kể về cuộc đời thăng trầm của kẻ có đạo Trong truyện, Nguyễn Trọng Quản không xây dựng nhân vật thầy Phiền theo hướng lí tưởng hóa, mang cái đẹp cao cả để giáo huấn,

để nêu gương mà thầy Phiền hiện lên với những nét tính cách rất đời thường Nhân vật thầy Phiền mang trong mình cả những cái cao cả và cái thấp hèn, con người lương thiện lẫn tàn ác, con người điềm đạm lẫn quyết liệt, dứt khoát, con người giàu lòng yêu

Trang 19

thương lẫn nhẫn tâm Bản tính thầy là một người lương thiện dù được sinh ra trong hoàn cảnh éo le, khốn khó: mẹ chết khi lên ba, bố chết khi thầy được 14 tuổi, chưa có một sự khổ cực nào mà thầy chưa phải trải qua để tồn tại Tuy nhiên những hành động của thầy Phiền như: giết chết người bạn thân nhất của mình - thầy Liễu - vì cho rằng thầy ta có tư tình với vợ mình, sau đó chuốc thuốc độc cho vợ chết dần…cho ta thấy

ghen tuông đã làm cho phần con thắng thế phần người trong thầy - đây cũng là một đặc điểm rất đời của nhân vật thầy Phiền Hay truyện một thầy giáo trường tư siêng năng,

thương vợ thương con nhưng vì ham vui mà bỏ bê vợ con dẫn đến cái chết đầy thương

tâm của vợ (Ôi! Ái tình – Công Bình)… Những chuyện đời thường, gần gũi đã trở

thành đề tài chính trong các sáng tác bằng văn xuôi của các nhà văn Nam Bộ như Nguyễn Trọng Quản, Trần Quang Nghiệp, Sơn Vương, Bửu Đình,v.v

Những tác phẩm văn học Nam Bộ trong thời kỳ này cũng hướng vào đề tài rất mới là đời sống cá nhân con người Dù viết về bất cứ đề tài nào dù là tình yêu đôi lứa, tình nghĩa bạn bè, chuyện đời hay chuyện đạo… thì đời sống cá nhân, nhân phẩm, khát khao tự do hay hạnh phúc… cũng luôn được nhắc đến

Đồng thời, con người Nam Bộ với tính cách cởi mở, dễ tiếp cận cái mới, cách sống, lối cảm, lối nghĩ ảnh hưởng của phương Tây nên dễ dàng tiếp thu kỹ thuật viết truyện của phương Tây nhưng vẫn lưu giữ được truyền thống đạo lý phương Đông

Hướng khai thác đề tài gắn với đời sống con người Nam Bộ, “đưa tiểu thuyết về với cuộc đời thực và viết bằng lời văn thông tục” (Nguyễn Huệ Chi, 2004) như đã nói trở thành nét riêng, đặc trưng cho đường hướng tiếp cận hiện thực được các nhà văn thuộc thế hệ tiên phong như Nguyễn Trọng Quản, Lê Hoàng Mưu, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt,v.v khởi xướng Đến Hồ Biểu Chánh, sự cách tân văn học đã lan rộng ra miền Trung, rồi miền Bắc nhưng độc giả Nam Bộ vẫn ưa đọc Hồ Biểu Chánh Thực tế sáng tác và tiếp nhận văn học của độc giả Nam Bộ cho thấy: Văn học quốc ngữ Nam Bộ là nơi khởi đầu nền văn học hiện đại Việt Nam đồng thời là vùng văn học được định hình với quan niệm văn học hướng về cuộc sống hàng ngày, viết về những

“truyện đời này là sự thường có trước mặt ta luôn” (Nguyễn Trọng Quản), sáng tác của nhà văn hướng về công chúng độc giả

Trang 20

Thế hệ nhà văn Nam Bộ giai đoạn 1954- 1975, họ sống và hoạt động trong hoàn cảnh xã hội miền Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng đã đổi khác Môi trường văn hóa, văn học chịu ảnh hưởng của yếu tố nước ngoài nhưng hướng tiếp cận hiện thực đã định hình thành nét riêng của văn học Nam Bộ được các cây bút tiếp nối mà Nguyễn Thị Thụy Vũ là nhà văn tiêu biểu cho sự kế tục truyền thống Nam Bộ trong giai đoạn 1954-1975

1.2 Đời sống xã hội, văn hóa miền Nam ở đô thị Sài Gòn giai đoạn 1954 -

1975

Với những điều khoản được quy định trong Hiệp định Genève 1954, đất nước ta tạm chia cắt thành hai miền với ranh giới là vĩ tuyến 17, tại sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị Từ đây, miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, từng bước hàn gắn vết thương chiến tranh và trở thành hậu phương vững chắc cho miền Nam, góp phần giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Trong khi đó, miền Nam vẫn phải tiếp tục sống trong bom đạn chiến tranh dưới sự cai trị của chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ và chính quyền Sài Gòn Chính vì vậy, tình hình chính trị xã hội ở miền Nam luôn luôn bất ổn, không khí căng thẳng và đau thương của chiến tranh luôn bao trùm khắp mọi nơi Chiến tranh kéo dài suốt hai mươi năm đã gây ra những hậu quả rất nặng nề

Để tiến hành cai trị miền Nam, Mỹ đã ủng hộ việc thành lập chính quyền Ngô Đình Diệm và tiến hành nhiều chính sách cai trị cả về chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa tại Nam Bộ Đó là những chính sách cai trị rất tàn bạo Sau khi nắm chính quyền, chính phủ Ngô Đình Diệm đã ra tay tiêu diệt các thế lực đối lập, tận diệt phong trào cách mạng, đàn áp các cuộc biểu tình chống áp bức và đòi thi hành đúng các điều khoản của Hiệp định Genève, chính quyền Ngô Đình Diệm còn dùng bạo lực thẳng tay đàn áp các tôn giáo Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên…Chính vì những chính sách cai trị

ấy mà phong trào đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ngày càng sục sôi, làn sóng đấu tranh chống Mỹ và chính quyền tay sai lan rộng từ nông thôn cho đến thành thị

Sau một thời gian cầm quyền, chính quyền Ngô Đình Diệm ngày càng tàn bạo, đồng thời cũng bộc lộ rõ bản chất độc tài, gia đình trị Chính điều này đã thắp lên ngọn

Trang 21

lửa căm thù và quyết tâm tiêu diệt đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai của nhân dân ta

Từ phong trào đấu tranh của Phật giáo năm 1963, nhiều cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra Thêm vào đó, chính quyền Ngô Đình Diệm không giải quyết được những mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền tay sai chính vì vậy Mỹ đã ủng hộ một nhóm tướng lĩnh do Dương Văn Minh chỉ huy để lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm

Sau cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam, nhiều cuộc đảo chính khác liên tiếp xảy ra Chiến tranh ngày càng khốc liệt hơn, miền Nam sống trong những điều kiện khó khăn: “Tình hình chính trị rất bất ổn, kinh tế suy sụp, vật giá tăng cao, bất công xã hội thêm trầm trọng Chiến tranh mỗi ngày mỗi ác liệt, gây thiệt hại lớn lao, gây hoang mang trong dân chúng Quân đội Mỹ tham chiến đông đảo làm đảo lộn nếp sống nhân dân, làm tổn thương tự ái dân tộc… chia rẽ chính trị, chia rẽ tôn giáo,… Sự hoạt động mạnh mẽ của những người Cộng sản làm cho miền Nam sống những ngày hết sức hỗn loạn Các tướng tá đảo chánh, phản đảo chánh, chỉnh lí liên tiếp.Chỉ trong vòng hai năm đã có đến mười ba cuộc chính biến” (Võ Văn Nhơn, 2016) Vì vậy để ổn định lại cục diện ở miền Nam Việt Nam một cách nhanh chóng,

Mỹ đã ồ ạt đổ quân lính vào miền Nam với số lượng nhiều chưa từng thấy Miền Nam trở thành một nơi chứa lính khổng lồ, số lượng quân Mỹ tăng nhanh với tốc độ chóng mặt Số lượng quân Mỹ vào miền Nam “quá nửa triệu người, ngoài ra còn có những nhân viên ngoại giao, kinh tế, nhà thầu xây cất, làm đường sá cầu cống… Người Mỹ đem theo tiền Mỹ, lối sống Mỹ, văn hóa phẩm Mỹ… đó là đầu mối cho nhiều thay đổi sâu xa trong xã hội miền Nam” (Võ Phiến, 2014) Theo bước chân xâm lược của người

Mỹ, đặc biệt là lính Mỹ đã làm xuất hiện nhiều tụ điểm ăn chơi, nhiều quán bar, nhiều

tệ nạn xã hội; xuất hiện những tầng lớp mới phù hợp với lối sống Mỹ như gái bán bar, gái nhảy, các cô gái “ăn sương”, các me Mỹ, viên chức làm việc cho các sở Mỹ Trong

xã hội miền Nam bị Mỹ chiếm đóng lúc bấy giờ, với nhiều người, được làm ở sở Tây,

sở Mỹ, được qua Tây, qua Mỹ đã trở thành khát vọng lớn lao Xã hội bị cỗ máy chiến tranh chiến tranh chi phối, sống bám vào Mỹ, phụ thuộc hoàn toàn vào Mỹ Trên phương diện văn hóa, tư tưởng, lối sống phương Tây du nhập ồ ạt đã có tác động không nhỏ đến đời sống văn hóa, xã hội ở miền Nam Trong bối cảnh phức tạp ấy, tâm

Trang 22

trạng chung của con người là lo âu, bất an, thiếu niềm tin, thiếu hy vọng về thực tại Từ

đó, xã hội miền Nam càng bất ổn, nhiều mâu thuẫn nảy sinh trong lòng xã hội miền Nam không thể giải quyết

Lịch sử của dân tộc ta là lịch sử của các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược

từ bao đời nay, nhưng dường như cuộc chiến tranh kéo dài trong suốt hai mươi năm ở miền Nam Việt Nam là cuộc chiến quy mô, tàn bạo và ác liệt nhất Trong ký ức của những người tham chiến, chiến tranh không chỉ có những khúc khải hoàn, những chiến thắng oanh liệt, vẻ vang, những mốc son rực rỡ chói lọi mà còn là sự mất mát, đau thương không tả xiết Chiến tranh buộc những người trai trẻ phải lìa xa gia đình, chiến tranh cũng khiến cho mẹ già mất con, vợ trẻ mất chồng, con thơ mất cha “Cuộc chiến tranh tái phát tại miền Nam Việt Nam từ năm 1958 đã không còn giới hạn vào những miền thôn quê, rừng rậm xa cách đô thị và cũng không còn là tai họa cho những người dân sống ở miền này trên thế giới Đám cháy đã lan rộng khắp cả hai miền Việt Nam

và đe dọa toàn thể các quốc gia vùng Đông Nam Á (…) Và lạ lùng hơn, dựa vào những phương tiện quân sự hiện đại, người ta đã lấy làm kiêu hãnh khi đưa ra nhận xét

là không còn một vùng nào ở Việt Nam có thể coi là an toàn nữa” (Thế Nguyên, 1970)

“Hai mươi năm chiến tranh đã tàn phá bao làng mạc, ruộng vườn, phố thị trên đất nước ta, giết hại hàng triệu người Việt Nam ở cả hai miền, để lại những bi kịch sâu sắc trong lòng dân tộc, gây chia cách nhiều gia đình và nỗi đau trong lòng người.Trong khi một bộ phận nông dân bị đốt cháy nhà cửa, mất ruộng mất vườn phải trôi dạt sống tạm bợ ở phố thị để bảo toàn mạng sống, thì chính ở thành thị diễn ra tình trạng nghèo khổ, thất nghiệp của người lao động” (Huỳnh Như Phương, 2016)

Chiến tranh trước đó thường diễn ra ở những nơi xa như biên cương, cửa ải nhưng cuộc chiến tranh do Mỹ tiến hành lại hiện diện trong mỗi ngôi nhà, mỗi đường thôn, ngõ xóm Người nông dân từ bao đời nay vốn quen với công việc đồng áng, với việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, quen với con trâu, cái cày, họ sống quẩn quanh trong lũy tre làng, chỉ mong sao cho chân cứng đá mềm, cho trời yên bể lặng đất nước thanh bình Nhưng chiến tranh kéo dài và ác liệt đã buộc họ phải lìa bỏ ruộng đồng, đất đai, lìa bỏ con trâu, cái cày đã gắn bó lâu đời Chiến tranh còn phá hủy nếp sống bình

Trang 23

yên của mỗi gia đình, buộc người dân quê phải tản cư và sống lạc lõng giữa thành phố đông đúc, xa hoa Chiến tranh kéo dài còn kéo theo nhiều hệ lụy khác: khung cảnh bình yên của xóm làng với đồng lúa chín, lũy tre xanh, hàng cau, dây trầu được thay thế bằng những trại lính, trại định cư, những đoàn người tản cư,…

Bom đạn chiến tranh không chỉ cướp đi tính mạng của con người mà dường như

nó đang từng ngày hủy diệt tâm hồn, tinh thần của cả người đang sống Tại thành thị, mối quan hệ tương thân, tương ái giữa người với người trong thời chiến đã hoàn toàn thay đổi: “họ luôn thấy chông chênh trong cuộc sống, họ sống không niềm tin, không

lý tưởng, không hoài bão và ước mơ Họ hoài nghi trước nhiều vấn đề của đời sống xã hội trên các lĩnh vực chính trị, xã hội, văn hóa… và ngay cả trong đời sống vụn vặt hàng ngày” (Trần Hoài Anh, 2009)

Cùng với sự xuất hiện ồ ạt của quân đội Mỹ, văn hóa Mỹ, lối sống Mỹ, xã hội miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hoá: văn hóa Trung Hoa còn sót lại, văn hóa phương Tây còn ảnh hưởng mạnh, văn hóa Mỹ mới bắt đầu xuất hiện Nhưng ảnh hưởng rõ rệt nhất đến xã hội miền Nam là văn hoá phương Tây và văn hoá Mỹ Theo sự du nhập của nhiều nền văn hóa thì nhiều trường phái triết học, mĩ học, lí luận phê bình văn học cùng tràn vào đô thị miền Nam, cùng tồn tại, tạo nên một diện mạo văn hoá hết sức đa dạng, đời sống văn hoá vô cùng sôi động

Văn hóa miền Nam giai đoạn 1954- 1975 phát triển đa dạng, sôi động do nhiều yếu tố Đầu tiên, chúng ta phải kể đến đội ngũ sáng tác di cư từ miền Bắc vào miền Nam Chính sự di cư này đã làm cho đội ngũ viết văn, làm báo của miền Nam đa dạng hơn, phong phú hơn Hiệp ước Genève 1954 ngoài việc chia đôi đất nước còn kéo theo

sự xáo trộn, thay đổi về dân cư Trong số những người từ miền Bắc di cư vào Nam, có các nhà văn, nhà thơ như Nhất Linh, Vũ Bằng, Vi Huyền Đắc, Thanh Nam, Dương Nghiễm Mậu, Y Uyên… Chính hoạt động sôi nổi trên văn đàn của họ đã tạo nên những ảnh hưởng không nhỏ, có tác dụng kích thích bầu không khí sáng tác chung, tạo điều kiện thuận lợi cho văn học phát triển

Thêm vào đó, môi trường giáo dục cũng góp phần tạo nên một đội ngũ nhà văn

và độc giả có trình độ, góp phần thúc đẩy văn hóa phát triển Trong suốt thời gian chia

Trang 24

đôi đất nước, mặc dù chiến tranh mang đến đau thương, mất mát, chia lìa nhưng với ảnh hưởng của văn hóa Pháp, miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đúng đắn Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dạy đầy đủ, không sai lệch hay chịu sự chi phối của chính phủ Ở bậc đại học, nhờ sự tự trị của đại học, sinh viên được tiếp thu một nền giáo dục tự do, không chịu sự chi phối của chính trị, sinh viên có dịp tiếp xúc với những trào lưu tư tưởng từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam, đồng thời tìm hiểu được các tác phẩm văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật với các dịch giả đáng tin cậy Chính điều kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả có trình độ chuyên môn Đáng kể là những trí thức văn nghệ sĩ tài năng trong như Cung Trầm Tưởng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Trịnh Công Sơn

Bên cạnh đó, từ 1954 với Hiệp định Genève, Mỹ đã có mặt ở miền Nam để thay thế cho quân đội Pháp Người Mỹcan thiệp vào miền Nam Việt Nam không chỉ giới hạn ở chiến lược chính trị, quân sự mà còn được thể hiện trong những mưu đồ về văn hóa Mỹ tiến hành tuyên truyền cho văn hóa Mỹ dưới nhiều hình thức khác nhau như tài trợ cho một số tờ báo, một số tạp chí để phát ngôn theo ý đồ của Mỹ… Thêm vào

đó, Mỹ còn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà in, các nhà xuất bản, phát hành, các tờ báo, các nhóm văn chương phát triển Đây cũng là một trong những lí do thúc đẩy sự phát triển về văn hóa, văn nghệ ở miền Nam Việt Nam

Đây là thời kì phát triển mạnh mẽ của nhà in, nhà xuất bản Theo thống kê của

Võ Phiến trong cuốn Văn học miền Nam thì thời kì này ở đô thị Sài Gòn đã có tới cả

nghìn nhà in, hơn một trăm nhà xuất bản Chính vì vậy việc phổ biến tác phẩm văn học nghệ thuật trở nên vô cùng thuận lợi.Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của các nhà xuất bản, phát hành thì các tác phẩm văn học mới đến tay độc giả dễ dàng Người đọc thời bấy giờ không chỉ được tiếp xúc với các tác phẩm văn học trong nước: từ các tác phẩm của các tác giả đương thời đến các tác phẩm của các tác giả thời kì trước kia như Xuân Diệu, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan mà còn được tiếp xúc với các tác phẩm văn học nước ngoài như văn học Nga, Mỹ, Pháp, Anh…

Trang 25

Với việc giới thiệu rộng rãi các tác phẩm văn học nước ngoài thì dịch thuật cũng phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn này.Việc dịch thuật lúc bấy giờ giúp cho các dịch giả có lựa chọn từng câu, từng chữ để có thể diễn đạt đúng ý của tác giả Đồng thời, việc dịch thuật này cũng giúp ta được học tập về tư tưởng, về bút pháp của các nhà văn nổi tiếng trên thế giới Qua việc dịch thuật, người đọc được tiếp xúc với những tác phẩm, tác giả nổi tiếng trên thế giới.Chính điều này cũng khiến cho đời sống văn học thêm phần phong phú.“Thị phần sách dịch theo Võ Phiến đã có một thời vào năm 1970 chiếm đến 60% và đến năm 1972 đã lên đến 80% toàn bộ đầu sách xuất bản ở miền Nam Theo kết quả điều tra tiến hành vào tháng 7/1976, số sách dịch của miền Nam trong 20 năm bao gồm: Đức 57 đầu sách, Ý 58, Nhật 71, Anh 97, Mỹ 273, Pháp 499, Đài Loan và Hương Cảng 358, Nga 120, còn lại những nước khác 381” (Theo Nguyễn Văn Lục, 2014) Đội ngũ dịch thuật cũng rất đông đảo bao gồm: Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Châu, Vũ Anh Tuấn, Vi Huyền Đắc, Quốc Dũng, Vũ Ký, Đặng Trần Huân, Phong Nhã, Bùi Giáng, Phùng Thăng, Trần Phong Giao, Hoàng Thiện Nguyễn, Mai Vi Phúc, Phạm Bích Thủy, Trần Thiện Đạo, Võ Văn Dung,…

Cùng với việc xuất bản sách, báo chí thời kì này cũng phát triển rực rỡ.Nhiều tờ báo ra đời và khẳng định được vai trò, khẳng định được chỗ đứng của mình.Nếu như trước 1954, miền Nam được biết đến với những tờ báo quốc ngữ đầu tiên đó là Gia Định báo, Nông Cổ Mín Đàm, Phụ Nữ Tân Văn, Đuốc Nhà Nam, nhật báo Thần Chung, Tiếng Chuông… Thì sau 1954, chúng ta phải kể đến các tờ báo như: Tuần báo Văn nghệ, Tin Văn, Bách Khoa… Có thể nói, sự ra đời của báo chí giúp cho các nhà văn có cơ hội để đăng tải các tác phẩm của mình Đồng thời, đội ngũ báo chí hùng hậu

ấy đã đóng góp khá đáng kể cho sự phát triển đa dạng của văn hóa, văn nghệ miền Nam

Trong bối cảnh văn hoá đa dạng và sôi động ấy, nổi bật lên sự ảnh hưởng của văn hoá phương Tây và văn hoá Mỹ vào xã hội đô thị miền Nam, đặc biệt là ảnh hưởng của triết học và văn học hiện sinh trên tất cả mọi mặt của đời sống văn học… Trong lĩnh vực triết học, với việc phát triển của đội ngũ dịch thuật và các nhà in, thì xã hội miền Nam giai đoạn này đón nhận nhiều trào lưu, trường phái triết học nhưng nổi bật

Trang 26

nhất, ảnh hưởng nhiều nhất đến tư tưởng của xã hội lúc bấy giờ là triết học hiện sinh

Từ năm 1955, triết học hiện sinh đã có mặt ở đô thị miền Nam và chủ yếu được giảng dạy ở bậc đại học Do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh lúc bấy giờ, con người không

có nơi để nương tựa nên thường mang tâm trạng hoang mang, mất phương hướng, lạc loài nên thường tìm an ủi trong những triết thuyết Chính vì vậy, triết học hiện sinh có

cơ hội nảy nở trong xã hội miền Nam.Tuy nhiên, giai đoạn này, triết học hiện sinh mới xuất hiện chủ yếu hiện diện ở trường học là chủ yếu Từ 1961, chủ nghĩa hiện sinh được giới thiệu nhiều trên sách báo Chính điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện, lan rộng và phổ biến mạnh mẽ ở miền Nam Việt Nam Bên cạnh đó, chiến tranh ngày càng ác liệt, kéo theo đó là sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm Trong nước nhiều cuộc đảo chính liên tiếp đã khiến xảy ra khiến cho cuộc sống của con người ở xã hội miền Nam chẳng chút bình yên Chính điều này cũng góp phần tạo điều kiện cho chủ nghĩa hiện sinh có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn trong xã hội

Với sự phát triển của các nhà xuất bản, phát hành, các dịch giả và triết học hiện sinh thì nhiều trường phái lí luận phê bình phương Tây được giới thiệu vào miền Nam Việt Nam như chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học, mỹ học tiếp nhận, cấu trúc luận, hiện tượng luận… Tất cả những trường phái này đều song song tồn tại khiến cho đời sống văn hoá ở miền Nam Việt Nam vô cùng sôi động Đặt biệt, cùng với triết học hiện sinh, văn học hiện sinh cũng được giới thiệu khá nhiều ở đô thị miền Nam 1954 – 1975 và

có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn hóa, văn học giai trong giai đoạn này Ngay

từ những năm 1955, cùng với việc các triết gia hiện sinh tiêu biểu được giới thiệu trên báo chí thì những tác phẩm văn học chuyển tải tư tưởng triết học của họ cũng xuất hiện tại đô thị miền Nam Thời gian đầu, các tác phẩm văn học hiện sinh chủ yếu được giới thiệu trên báo, tạp chí, và thể loại truyện ngắn được chọn để thể hiện tư tưởng hiện sinh của các nhà văn, nhà thơ do dung lượng phù hợp với khuôn khổ báo chí Từ 1961, các tác phẩm văn học hiện sinh như tiểu thuyết được dịch và xuất bản Các tác phẩm văn học của các nhà văn, nhà thơ hiện sinh không chỉ được dịch, được giới thiệu với đông đảo bạn đọc, những tác phẩm văn học hiện sinh còn thu hút sự chú ý của giới nghiên

Trang 27

cứu phê bình ở đô thị miền Nam Chính những nghiên cứu này đã góp phần tạo nền móng cho văn học hiện sinh phát triển mạnh mẽ và lan truyền rộng rãi trong xã hội miền Nam giai đoạn 1954- 1975

Thế hệ nhà văn như Nguyễn Thị Thụy Vũ sống trong hoàn cảnh đời sống văn hóa, văn nghệ đa dạng và phong phú thêm vào đó với sự nở rộ của các nhà xuất bản, phát hành, các tờ báo đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà văn như Thụy Vũ sống và viết bằng chính ngòi bút của mình Bên cạnh đó, ảnh hưởng của triết học và văn học hiện sinh cũng tác động không nhỏ đến thế hệ nhà văn lúc bấy giờ, trong đó có Nguyễn Thị Thụy Vũ, các tác phẩm của bà ít nhiều vẫn mang dấu ấn của văn học hiện sinh Đặc biệt, trong truyện ngắn của bà, hình ảnh con người cô đơn, nổi loạn hay bản năng cũng được thể hiện rất rõ nét

1.3 Truyền thống gia đình và sự “dấn thân” vào văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ

1.3.1 Đôi nét về tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ

Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ tên thật là Nguyễn Thị Băng Lĩnh, sinh năm

1937 tại Vĩnh Long Đây là vùng đất nổi tiếng với khí hậu ôn hòa, thiên nhiên ưu đãi, với sông ngòi chằng chịt, vườn chim, chợ nổi đã góp phần nuôi dưỡng tính cách tự do

và nguồn cảm hứng văn chương dồi dào của Thụy Vũ Thêm vào đó, Thụy Vũ xuất thân trong một gia đình giàu truyền thống văn chương Cha của bà là nhà thơ Mặc

Khải, tác giả của những tập thơ nổi tiếng như Sông nước Cổ Chiên, Phấn nội hương

đồng , cô của bà là thi sĩ Phương Đài, một trong những nữ sĩ nổi tiếng với những tập

thơ như Đất mẹ, Hiến Lễ mùa thơ, Đi giữa mùa thơ, Nắng hoàng hôn Chính truyền

thống gia đình ấy đã giúp Thụy Vũ có điều kiện tiếp xúc với văn chương từ rất sớm và góp phần nuôi dưỡng tâm hồn nghệ sĩ trong bà Gia đình bà chỉ có hai chị em nhưng cả hai đều là nhà văn tài hoa: Nguyễn Thị Thụy Vũ và Hồ Trường An

Vùng đất Vĩnh Long đã nuôi dưỡng trong lòng nó một nhà văn độc đáo nhưng không thể dung chứa nổi tài năng ấy Cảm giác về sự chật chội của cuộc đời tỉnh lẻ đã đưa Nguyễn Thị Thụy Vũ đến với Sài Gòn Năm 1961 khi mới hai mươi tám tuổi, với tính cách phóng khoáng, không muốn làm cô giáo làng, không chịu nổi không khí ngột

Trang 28

ngạt, tù túng ở nơi tỉnh nhỏ, Thụy Vũ đã bỏ Vĩnh Long tìm lên Sài Gòn để sống và viết Tại Sài Gòn, Thụy Vũ học tiếng Pháp ở Trung tâm Văn hóa Pháp và tiếng Anh ở Hội Việt Mỹ Trong hai năm vừa học vừa làm, Thụy Vũ đã thuê một căn nhà mái tôn, vách ván, nằm trong một xóm lao động nghèo ở phía đối diện với chợ Đũi, quận 3, gần Tòa đại sứ Campuchia ở chỗ ngã tư Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng, dạy tiếng Anh cho những cô gái bán bar và tập viết truyện Tại đây, khi dạy tiếng Anh cho các cô gái làm snack bar, những phụ nữ Việt Nam cặp kè binh lính, sĩ quan Mỹ Nguyễn Thị Thụy Vũ đã có dịp tiếp xúc, tìm hiểu về cuộc sống của họ.Nhiều người trong số đó đem tâm sự tỉ tê với bà Chính những tâm sự, những cuộc đời ấy đã trở thành đề tài trong các sáng tác của Thụy Vũ

Khởi nghiệp từ năm 1965, Thụy Vũ viết truyện ngắn gửi đăng trên các tạp chí văn nghệ và nhanh chóng được chú ý nhờ lối viết sắc sảo, mạnh bạo, có duyên, nhất là với các đề tài riêng biệt khác hẳn các cây viết nữ cùng thời lúc đó Theo Hồ Trường

An, từ 1962 Thụy Vũ bắt đầu viết nhật kí, bản thảo những truyện ngắn đầu tay rút ra từ nhật kí của mình Tác phẩm đầu tiên Một buổi chiều được đăng trên Bách Khoa số 162

(1/10/1963) Ngoài việc cộng tác với các tạp chí văn nghệ như Bách Khoa, Văn, Tiểu thuyết Thứ Năm, Vấn Đề, Khởi Hành , Thụy Vũ còn viết truyện dài kỳ cho báo hàng ngày và chủ trương sáng lập nhà xuất bản Năm 1966, nhà văn cùng Nguyễn Thị Nhiên thành lập nhà xuất bản Kim Anh, ưu tiên xuất bản sách của các nhà văn phái nữ.Năm

1968, bà cùng Tô Thùy Yên chủ trương thành lập nhà xuất bản Hồng Đức sau đổi thành Kẻ Sĩ

Nguyễn Thị Thụy Vũ tuy sôi động trong sự nghiệp văn chương chữ nghĩa nhưng trong cuộc sống đời thường lại mang bao điều trăn trở, bất hạnh trải dài với thời gian

Về cuộc sống riêng tư, thời con gái ở Vĩnh Long, Thụy Vũ đã yêu một người lính hải quân, sinh con gái đầu lòng Nguyễn Huân Hương, nhưng cuộc tình sớm tan vỡ Sau đó, Thụy Vũ gặp Tô Thùy Yên, ái mộ tài thơ của ông, Thụy Vũ đã có với nhà thơ ba người con là: Khôi Hạo, Khôi Hạnh và Khôi Thụy Hai người chia tay năm 1975, một mình Thụy Vũ phải nuôi bốn người con Trước 1975, Thụy Vũ nuôi bốn con bằng ngòi bút,

Trang 29

hàng ngày bà đến từ ba đến sáu tòa báo viết truyện dài kì, mỗi nơi mấy trang, đời sống

ổn định

Sau 1975, do dư luận đánh giá chưa đúng giá trị tác phẩm của Thụy Vũ nên những sáng tác của bà bị thu hồi, không được xuất bản Thụy Vũ phải ngưng viết, không còn phương tiện nuôi con, Thụy Vũ sống cuộc sống vất vả bằng nhiều nghề như buôn bán nhỏ, làm lơ xe đò, làm rẫy, chăn dê, trồng cà phê…, những công việc mà trước đó không ai hình dung nhà văn nữ này có thể kham được Chính những điều mà Thụy Vũ đã trải qua càng chứng tỏ được ý chí, nghị lực và đời sống tinh thần mạnh mẽ cùng với tư tưởng viết văn táo bạo, độc đáo mà Thụy Vũ thể hiện trong các sáng tác của mình Từ năm 2017, niềm vui đã trở lại với bà, tất cả các tác phẩm của Thụy Vũ trước 1975 bị cấm nay đã được xuất bản trở lại Hiện nay, Thụy Vũ sống tại Bình Phước cùng với gia đình người con trai, đời sống khá ổn định Đầu năm 2018, Thụy

Vũ phải đối mặt với căn bệnh ung thư nhưng dù bị bệnh, bà vẫn giữ được tinh thần lạc quan, bản lĩnh để chống chọi với bệnh tật Thái độ lạc quan ấy đã góp phần tạo nên một cây bút nữ trên văn đàn văn học hiện đại Việt Nam với cá tính, táo bạo, mạnh mẽ, đầy bản lĩnh trong văn chương

Nguyễn Thị Thụy Vũ sáng tác trước năm 1975 với hàng loạt tác phẩm độc đáo, gây được ấn tượng mạnh trong độc giả Các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ xoay quanh số phận, thân phận của các cô gái bán bar, các cô gái “ăn sương”, các cô gái làm

vũ nữmà qua đó cũng tái hiện được một phần nhỏ của đô thị Sài Gòn trước năm 1975 Đây là những thân phận người thường gặp, thường xuất hiện khá nhiều khi đế quốc Mỹ

đổ quân vào miền Nam Việt Nam Bên cạnh đó, nhà văn còn khai thác cuộc sống đời thường của những con người ở vùng tỉnh lẻ mà không gian là quê nhà Vĩnh Long Ở các truyện ngắn này, nhà văn thể hiện những cảnh đời với biết bao biến động xảy ra trong cuộc sống gia đình, trong tình yêu, và dù ở thân phận nào, hoàn cảnh nào con người vẫn mơ ước được thay đổi, được sống trong một cảnh đời tốt hơn Họ khát khao vượt thoát nhưng lại chẳng thể tìm thấy lối thoát, họ rơi vào cô đơn, lạc lõng, bơ vơ, chưa tìm thấy được niềm vui sống

Trang 30

Khi sáng tác văn chương, Nguyễn Thị Thụy Vũ không hề viết sách, hay tiểu luận, không trực tiếp đưa ra quan điểm về nghệ thuật Nhưng khi tìm hiểu, khi đọc các tác phẩm của bà thì chúng ta vẫn hiểu được quan niệm sáng tác văn học nghệ thuật của

bà Với Thụy Vũ, trước hết, văn chương phải xuất phát từ hiện thực, gắn liền với hiện thực Hiện thực trong các tác phẩm của Thụy Vũ không phải là hiện thực ở trên bề mặt,

bề nổi mà hiện thực hiện lên một cách gai góc, chân thực Văn xuôi Nguyễn Thị Thụy

Vũ không ngần ngại trước những vấn đề kiêng kị của xã hội như: con người bản năng

mà cụ thể nhất là con người bản năng tính dục, các tệ nạn xã hội như gái bán bar, gái

“ăn sương” cặp kè với binh lính Mỹ, gái bán bar bị lính Mỹ đánh đập, hành hạ thể xác, hay hậu quả của những đêm hành lạc, những cuộc truy hoan là gái bán bar đi phá thai,

bị bệnh hoa liễu…

Văn chương không chỉ phản ánh hiện thực mà theo Thụy Vũ, người viết văn cũng cần phải tìm tòi, sáng tạo, phải mạnh dạn táo bạo trong việc chọn lựa, thể hiện đề tài Theo dõi các sáng tác của Thụy Vũ chúng ta thấy sáng tác của bà thể hiện rõ ở hai

đề tài: đề tài về cuộc sống của người nông dân và đề tài về cuộc sống của các cô gái bán snack bar Ở đề tài cuộc sống của bà con nông dân, đây là đề tài đã được các nhà văn khai thác rất nhiều Trước bà, ta có thể bắt gặp đề tài này trong các tác phẩm của

Tự Lực văn đoàn, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… Nhưng với Thụy Vũ, bà không chọn cách viết về tình yêu đôi lứa để chống lại lễ giáo phong kiến, bà cũng không viết về cuộc sống khổ cực của người nông dân với sưu cao, thuế nặng mà Thụy Vũ chọn cho mình một cách thể hiện rất mới mẻ Đó là cuộc sống đời thường của những người nông dân với những bi kịch về hôn nhân, gia đình, hay cuộc sống của những người đàn bà góa chồng, những cô gái quá lứa, lỡ thì với nỗi lo

về tuổi tác ngày một tăng mà tương lai vẫn mù mịt Tất cả các nhân vật của Thụy Vũ không tìm được lối thoát, họ nổi loạn, họ chờ đợi một nguồn sinh khí mới, họ khát khao thay đổi nhưng họ chẳng thể tìm được lối thoát bởi họ ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến và bởi những tập quán xưa cũ

Ở đề tài cuộc sống của những cô gái bar, đây là đề tài mà các nhà văn trước đó ít khi chọn thể hiện hoặc đề cập đến.Một nhà văn cầm bút để khai thác, để lựa chọn, để

Trang 31

viết về vấn đề này cũng không hề dễ, thậm chí các nhà văn nam còn hạn chế đụng chạm đến vấn đề này Nhưng với Thụy Vũ, viết văn là phải sáng tạo, phải “khơi những nguồn chưa ai khơi”, chính vì vậy chúng ta thấy hầu hết các truyện ngắn của bà đều phản ánh cuộc đời những cô gái bar, những cô gái “ăn sương”, những cô gái cặp kè với lính Mỹ Khi viết về đề tài này, Thụy Vũ miêu tả chân thực, thậm chí có lúc trần trụi, không hề che giấu Hầu hết các cô gái bán bar đều là những con người có số phận buồn thương Họ xuất thân từ những vùng quê tỉnh lẻ, vì hoàn cảnh xã hội, vì hoàn cảnh gia đình, họ không có cách nuôi thân nào khác ngoài việc sống phụ thuộcvào lính Mỹ, người Mỹ Điểm đặc biệt trong các sáng tác của bà là ở chỗ, Thụy Vũ không phê phán hay chê bai gì họ, khi tiếp xúc với họ, Thụy Vũ luônnhìn họ bằng đôi mắt sẻ chia, cảm thông và đầy thương xót cho thân phận bất hạnh bị khinh rẻ, bị gạt ra ngoài lề xã hội của những người phụ nữ bán bar trong xã hội miền Nam giai đoạn 1954-1975 Thụy

Vũ phát hiện đằng sau lối sống bất chấp của các cô gái bán bar là những khát vọng mơ

hồ, là sự cô đơn, là nỗi ngậm ngùi, xót xa của Thụy Vũ dành cho thân phận của họ.Bởi

“khách tìm hoa thường cạn cợt, thích làm xoa dịu cơn nổi loạn của tế bào, chớ mấy ai

đi tìm được cái đẹp huyền nhiệm ẩn trong người đàn bà” (Nguyễn Thị Thụy Vũ, 2017) Nhà văn không cổ vũ, không khuyến khích nhưng qua cách nhìn, cách viết, cách tả, chúng ta thấy bà rất thương cảm cho những người phụ nữ dấn thân vào kiếp “bụi hồng” kia và nhìn nhận hiện thực đó bằng góc nhìn đầy nhân văn Những tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ, nhất là truyện ngắn của bà đã cho chúng ta thấy rõ bóng tối của cuộc đời nhưng dẫu rằng ở giữa bóng tối ấy, chúng ta vẫn có thể cảm nhận đượctia sáng của tình thương, tia sáng của tình người

1.3.2 Quá trình sáng tác văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ

Văn học miền Nam giai đoạn 1954- 1975 đã ghi được dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc Đó là một nền văn học nổi bật với một đội ngũ sáng tác hùng hậu, với số lượng tác phẩm đồ sộ và rất nhiều khuynh hướng sáng tác khác nhau Trong giai đoạn văn học này, điều đặc biệt mà chúng ta có thể nhận thấy đó chính là là sự xuất hiện của rất nhiều cây bút nữ Đọc các tác phẩm của các cây bút nữ, người ta nhận thấy sự sáng tạo, sự đổi mới trong văn chương Sáng tác của các cây bút nữmiền Nam không chỉ

Trang 32

khai thác các khía cạnh đời tư của con người như con người cô đơn, con người lo âu, con người tính dục, hay bản năng mà còn có sự cách tân rõ nét trong cách lựa chọn về ngôn ngữ, về giọng điệu Trong giai đoạn văn học này, chúng ta phải kể đến những tên tuổi như: Tùng Long, Nguyễn Thị Vinh, Ái Lan, Linh Bảo, Vân Trang, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trần Thị Ng.H Văn học nữ đã góp thêm một thanh âm để làm nên sự đa dạng của một bản nhạc văn chương hiện đại Việt Nam

So với các cây bút nữ cùng thời, Nguyễn Thị Thụy Vũ xuất hiện muộn màng nhưng vẫn chiếm cho mình một chỗ đứng trong danh sách những nhà văn nữ nổi tiếng như Túy Hồng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Hoàng Và quá trình sáng tác của Nguyễn Thị Thụy Vũ có thể chia thành ba giai đoạn

Giai đoạn khởi đầu bước vào nghề viết văn Đây là giai đoạn Nguyễn Thị Thụy

Vũ viết truyện ngắn gửi đăng trên các tạp chí văn nghệ Truyện ngắn đầu tiên là

truyệnMột buổi chiều (Bách Khoa số 162, 1/10/63) được rút từ nhật ký.Truyện ngắn

này mang màu sắc tự truyện, kể lại hành trình của một cô gái rời vùng quê tỉnh lẻ, rời

Long Xuyên lên Sài Gòn lập nghệp Tiếp sau đó, xuất hiện truyện Bóng mát trên

đường(Bách Khoa số 168 (1/1/1964) Tác phẩm này khắc họa không gian ở Lộc Ninh,

quê mẹcủa Thụy Vũ Truyện thứ ba Trường hợp của Mãnh, (Bách Khoa số 190, 1/12/1964) và truyện thứ tư Mèo đêm in trên Bách Khoa số 214 (1/12/1965) Hơn một năm sau, Thụy Vũ gửi truyện Tiếng hát (Bách Khoa số 250, 1/6/1967) và sang đầu năm 1968, thêm Cô giáo mới (Bách Khoa số 285, 15/1/1968), rồi ngừng hẳn Như vậy

trong khoảng thời gian từ tháng 10/1963 đến tháng 1/1968, Thụy Vũ có tất cả sáu truyện ngắn in trên Bách Khoa, các tác phẩm này đều được in đều đặn và trung bình mỗi năm là một truyện

Giai đoạn thứ hai trong hành trình văn chương Nguyễn Thị Thụy Vũ được đánh

dấu bằng sự ra đời của tập truyện đầu tayMèo đêm Đây là tập truyện được coi là tiêu

biểu cho thời kỳ thăm dò, tìm hiểu, khai khẩn, đặt nền móng cho văn chương của Thụy

Vũ Chính tập truyện ngắn này là tiền đề để Thụy Vũ xác định đề tài mà tác giả thể hiện sau này: đó là cuộc sống của những người nông dân nơi tỉnh lẻ và cuộc sống của các cô gái bán snack bar nơi đô thị Sài Gòn Cả bốn truyện đều khắc họa được số phận

Trang 33

của các cô gái bán phấn buôn hương, các cô gái vũ nữ, các cô gái cặp kè với lính Mỹ

và những chuyện phá thai, câu chuyện chống Sai gon tea của lính Mỹ… Những đề tài này đã được nhắc đến khá nhiều trong các sáng tác của các tác giả phái nam nhưng Thụy Vũ-một cây bút nữ, một cây bút trẻthời bấy giờ đề cập đến đó là chuyện lạ.Cả bốn truyện của Thụy Vũ đều đánh thẳng vào các mục tiêu tình dục chẳng mà chẳng hề

có ý định hề giấu giếm hay che đậy

So với các cây bút nữ cùng thời, Nguyễn Thị Thụy Vũ tuy xuất hiện muộn hơn

nhưng nhanh chóng khẳng định được chỗ đứng của mình Và với Mèo đêm, Thụy Vũ

cũng đã chochúng ta thấy “móng vuốt” sắc nhọn, táo bạo của mình.Nối tiếp thành công

đó, hàng loạt truyện ngắn và truyện dài được ra đời như Lao vào lửa, Chiều mênh

mông, Khung rêu, Thú hoang, Ngọn pháo bông, Như thiên đường lạnh, Chiều xuống

êm đềm, Cho trận gió kinh thiên

Giai đoạn thứ ba là giai đoạn Nguyễn Thị Thụy Vũ khẳng định tên tuổi đồng

thời có sự chuyển hướng về suy nghĩ, cách viết, tư tưởng qua truyện ngắn Lòng trần

Lúc đầu, Thụy Vũ chọn đề tài viết về những cảnh đời thiếu may mắn của các cô gái“trôi sông lạc chợ”để bước vào nghề viết thì sau này Thụy Vũ lại khai thác một khía

cạnh hoàn toàn khác, hoàn toàn trái ngược Với Lòng trần, Thụy Vũ đã khai thác khía

cạnh là tôn giáo, là tâm linh mà cụ thể là triết lý Phật giáo

Tác phẩm đã in: Truyện ngắn:Mèo đêm (Kim Anh, 1966), Lao vào lửa (Kim

Anh, 1967), Chiều mênh mông (Kim Anh, 1968) Truyện dài:Ngọn pháo bông (Hiện Đại, 1968), Thú Hoang (Hồng Đức, 1968), Khung Rêu (Kẻ Sĩ, 1969), Như thiên đường

lạnh (1972), Nhang tàn thắp khuya (1972), Chiều xuống êm đềm (1972), Cho trận gió kinh thiên (1973)

Tiểu kết chương 1: Trở lên trên, chương 1 đã khái quát về hoàn cảnh xã hội,

văn hóa, văn học và tiểu sử, quá trình sáng tác văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ được coi như tiền đề, lý giải sự hình thành sáng tác của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ gia nhập đời sống đô thị Sài Gòn đầu năm những 1960, khi xã hội miền Nam du nhập văn hóa phương Tây Chứng kiến cuộc sống của đô thị miền Nam mà trung tâm là Sài Gòn trong hoàn cảnh chiến tranh, vừa tiếp thu được kỹ thuật viết truyện của phương

Trang 34

Tây, Nguyễn Thị Thụy Vũ với vốn sống và vốn ngoại ngữ mở ra cánh cửa để nhà văn đến với văn đàn với cách thể hiện đề tài rất riêng, để lại dấu ấn của cây bút nữ trên văn

đàn

Trang 35

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THỤY VŨ - NHÌN TỪ

PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Con người với thân phận bất hạnh, nổi trôi, vô định

Trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ, mỗi nhân vật dường như đều mang một thân phận bất hạnh Đọc truyện ngắn của bà, không khó để người đọc bắt gặp những kiếp người nổi trôi, vô định, những thân phận lạc loài Ngòi bút của Nguyễn Thị Thụy Vũ hướng đến những con người dưới đáy của xã hội Đó là cuộc sống của

những người như Linh, bà Điếc (Đêm tối bao la), Lão Tư, cô đào hát bội hết thời Kim Quít (Trôi sông), như người đàn bà góa Mai Lí hay Nga (Mãnh)…

Văn chương thường được khơi nguồn từ hiện thực cuộc sống Chính vì vậy, dù muốn dù không, dù cố ý hay không có dụng ý, nhà văn cũng ít nhiều đưa trải nghiệm của mình vào tác phẩm Đến với những trang văn của Nguyễn Thị Thụy Vũ, chúng ta

dễ dàng nhận ra không gian của vùng đất Vĩnh Long Đây là nơi Thụy Vũ đã sinh ra và lớn lên, là nơi gắn bó với biết bao kí ức tuổi thơ, là nơi có bạn bè và những người thân yêu Chính vì vậy, khi viết về vùng đất Vĩnh Long, Thụy Vũ thường tái hiện lại một xã hội xưa cũ Đó là xã hội tàn dư của thời phong kiến và thời Pháp thuộc Một xã hội mà

ở đó có sự phân chia giai cấp rất rõ rệt Và trong những trang văn của mình, Thụy Vũ quan tâm đến những số phận, thân phận của những con người dưới đáy xã hội, những

người không có ruộng vườn, phải chịu sự áp bức của giới phú hộ quyền thế

Trong truyện ngắn Trôi sông, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã tái hiện cuộc sống bất

hạnh, nổi trôi, vô định của lão Tư và cô Kim Quýt Đây là những con người tiêu biểu cho hạng cùng đinh dưới đáy của xã hội Nàng Kim Quýt trước kia từng là cô đào chánh của gánh hát, là một người có tài sắc nhưng khi danh vọng tuột dốc, nàng về làm

vợ bé cho thầy Cai Tổng và khi ông ta chết đi, nàng phải ra thân bán bưng, phải sống cuộc đời bị lãng quên Còn lão Tư từng làm phu quét dọn sau đổi đời nhờ quan tri phủ lấy con gái của ông làm vợ thứ tám Nhưng chẳng bao lâu sau quan tri phủ chết, lão bỏ vựa lúa của ông phủ về cất chòi dưới tán cây mít xum xuê Tại đây, lão chẳng có ruộng vườn, lão sống bằng công việc làm thuê cho tất cả mọi người ở trong xóm Lão là một

Trang 36

thứ thợ xà bần, và cuộc sống của lão đầy khó khăn bởi người ta trả công cho lão bằng vài ba xị rượu đế hay ăn một bữa giỗ, một bữa thôi nôi Những tưởng cuộc đời bất hạnh của Kim Quýt và lão Tư cứ thế lặng lẽ trôi qua nhưng không, trong một buổi đi xem hát tuồng, Kim Quýt lần mò vào sân nhà lão Tư Lão Tư xông tới bế nàng vào nhà Kết thúc câu chuyện là cái chết của lão Tư còn Kim Quýt thì trở nên điên loạn Và

ở đây, khi cả nàng Kim Quýt và lão Tư đã vượt qua định kiến của xã hội, họ tìm đến với nhau để khỏa lấp những cô đơn chất chứa trong cõi lòng thì bất hạnh thay hiện thực cuộc sống phũ phàng chằng để cho họ kết nối với nhau

Trong các sáng tác của mình, Nguyễn Thị Thụy Vũ không chỉ quan tâm đến số phận của con người trong xã hội xưa cũ mà bà còn chú ý đến thân phận của con người khi có sự xuất hiện của đồng tiền Mỹ, lối sống Mỹ, văn hóa Mỹ Chính sự xuất hiện của những yếu tố này đã làm cho cuộc sống của những con người Nam Bộ có những xáo trộn, thay đổi Họ sống khổ cực, thiếu thốn về mặt vật chất và bất hạnh cả về mặt tinh thần

Trong các trang viết của mình, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã khắc họa rõ nét các kiểu nhân vật có cuộc đời lận đận, không may mắn, không suôn sẻ Một phần trong số

họ có cuộc sống bất hạnh vì vật chất nghèo khổ, tương lai mù mịt mà số tuổi lại tăng

dần theo năm tháng Điển hình như nhân vật tôi trong truyện ngắn Một buổi

chiều.Nhân vật tôi được giới thiệu trong truyện là một giảng tập viên, lương thì ít, cực

thì nhiều sống ở vùng quê Vĩnh Long Sau đó, cô nghỉ việc lên thành phố lại vừa cắc ca cắc củm từng đồng với tình cảnh không lấy gì sáng sủa của “một cô gái già vô nghề nghiệp, sống nhờ đứa em gái, giữ con cho nó như một vú em” (Nguyễn Thị Thụy Vũ, 2017)

Bước sang Một chuyến đi xa, thế giới phụ nữ ở đó không một ai có những dấu

hiệu hứa hẹn cho một tương lai rộng mở Chị chủ nhà là người phụ nữ góa chồng, một mình phải gồng gánh nuôi cả đàn con, chị dạy ở trường nữ công vừa kiếm tiền thêm bằng cách nấu cơm tháng Bốn cô gái ở trọ ăn cơm tháng của chị cũng có số phận buồn thương: cô Ba gần bốn chục tuổi, đã an phận gái già và sống bằng ảo mộng, bằng những bức thư tình viết cho người yêu cũ của cô khi anh này đã có vợ và sắp làm sui

Trang 37

Rồi đến Hương, một trong những học trò của chị Tám, cô học nữ công nữ hạnh để làm vừa lòng bà mẹ chồng tương lai có tiếng là ưa chú ý đến tài tiểu xảo của con dâu Còn

Mỹ là một vũ nữ, nàng chỉ ước có người hào hiệp nhận làm bố của đứa con trong bụng nàng Cuối cùng là tôi, một người con gái qua lứa lỡ thì và đang có một mối tình không còn say mê hào hứng nữa Cả bốn cô gái được khắc họa là những cô gái có nhan sắc

mờ nhạt, tuổi không còn trẻ, công việc lại nhiều bấp bênh Các cô sống trong môi trường mà “Mỗi người sống với một thế giới riêng, một ảo tưởng riêng” (Nguyễn Thị Thụy Vũ, 2017).Vì vậy, kết thúc truyện, nhân vật tôi- một trong bốn cô gái nơi phòng trọ của chị Tám đã quyết định chuyển chỗ ở để có thể thay đổi cuộc đời Cô đã tâm sự với người yêu không bao giờ cưới rằng: “Em đã rời nhà chị Tám dọn về gần chùa Long Vân Lánh xa bầu không khí hiu quạnh đó, em đi vào cái hiu quạnh khác Cuộc đời em

là một lối vắng vẻ kéo dài mãi không thôi” (Nguyễn Thị Thụy Vũ, 2017) Nhưng sự thay đổi ấy cũng chẳng hứa hẹn một tương lai tốt đẹp hơn cho nhân vật tôi

Liên và bà Mai Lý ở Mãnh cũng có số phận và cuộc đời thật buồn tẻ Bà Mai Lý

là một người đàn bà góa bụa, sống trong căn nhà cạnh trường trung học, một thân một bóng của bà, sau mỗi buổi học chiều, càng hoang vắng Bà mưu sinh bằng nghề đan thuê khâu mướn, nấu ăn thuê Với bà Mai Lý, cái khổ của bà không xuất phát từ việc thiếu thốn về vật chất mà đó là sự cô đơn xuất phát từ chính tâm hồn: “cuộc sống ầm ĩ chung quanh chưa làm cho bà quên được nỗi cô độc Tuy quen chịu đựng đã lâu, nhưng đôi lúc, bà vẫn hoảng hốt trước một viễn cảnh trống trải” (Nguyễn Thị Thụy Vũ, 2017) Như vậy, hiện tại đối với bà thật buồn nhưng tương lai với bà cũng chẳng có gì tươi sáng hơn: “bàcòn bấu víu gì để nghĩ đến ngày mai? Không chồng, không con, lại ngại ngùng chuyện tái giá, lại nhút nhát không dám sống bừa bãi, bà gần như mòn mỏi trong sự trong sạch khô khan” (Nguyễn Thị Thụy Vũ, 2017) Liên lại là cô gái không

an phận, sinh ra tại vùng quê tỉnh lẻ nhưng Liên dám bứt phá, dám thay đổi, dám thoát khỏi không gian chật hẹp nơi quê nhà để lên Sài Gòn lập nghiệp Liên rời Vĩnh Long vì muốn có cuộc đời khác với bà Mai Lý hay khác với người bạn thuở nhỏ là Nga Nhưng trong quá trình theo đuổi giấc mơ của mình, Liên thấy như kiệt sức, lạc loài, cô đơn không có đích đến và tương lai thì mù mịt: “Tôi lạc loài, tìm kiếm, nhưng chẳng thấy

Trang 38

một ai Sau lưng tôi quá khứ rã rời, hết cả màu sắc.Trước mặt tôi, một con đường dài mút mắt gieo nhiều sợ hãi” (Nguyễn Thị Thụy Vũ, 2017) Như vậy, với Liên, tương lai nào phía trước đang chờ nàng? Kết chuyện, khi nhìn lại cuộc đời mình, Liên thấy mình sắp thành bà Mai Lý thứ hai, một bà Mai Lý cô đơn, nhiều mơ ước nhưng khó thỏa mãn

Trong truyện ngắn Đêm tối bao la, Linh là cô gái gặp nhiều trắc trở trên con

đường tình duyên Vì thiếu đi một chút nhan sắc để có thể níu giữ đàn ông, Linh lỡ làng với nhiều cuộc tình phất phơ Thời điểm câu chuyện được kể lại, nàng đang có một tình nhân là Duy, một gã trai mà nàng không yêu thắm thiết.“Sau vài cuộc tình ái phất phơ, bây giờ tôi mệt mỏi thật sự Tôi bất chấp dư luận để sống, mà rồi vẫn cô đơn Tìm được kẻ mà mình đắc ý, tính cho chàng ta đắc cử vào giấy hôn thú thì tôi gặp cảnh hụt đõi luôn luôn Bây giờ, tôi bám vào Duy để lấp vào những ngày trống rỗng Chàng nhạt nhẽo quá Tôi lại mơ cao để rồi số tuổi càng ngày càng chồng chất theo nỗi chán chường” (Nguyễn Thị Thụy Vũ, 2017)

Cũng trong truyện ngắn này, nhân vật bà Điếc là người đi ở cho gia đình Linh

Bà mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ Bà không có một lai lịch rõ ràng, cũng không có cả một cái tên gọi Tứ cố vô thân, không nhà, không cửa, không người thân thích, bà lại còn bị khuyết tật về thính giác Bà trải qua nhiều mối tình, sống nửa tỉnh, nửa mê Chồng bà chết sớm, đứa con gái nhỏ cũng bỏ bà mà đi “Ngày bà còn trẻ, nhiều trai tráng hàng xóm thường lui tới với bà Trong số những người đi qua đời bà, chỉ có ông Tư chăn dê kiêm người tài xế của ông nội tôi, là mối tình chánh Đứa con gái của hai người khi được hai tuổi thì chết vì bị chứng ban đen và chẳng bao lâu ông Tư mắc phải bịnh dịch

tả cũng qua đời” (Nguyễn Thị Thụy Vũ, 2017) Cuối cùng bà cũng chết trong đau đớn

vì bệnh tật

Trong tác phẩm Đàn kiến lửa, không khó để người đọc bắt gặp những thân phận

bất hạnh như bà Cam, mẹ của Châu và Ngọc Thời trẻ bà cũng “ngọt mắt” chẳng kém

ai nhưng bà bị câm điếc và hai lần bị hãm hiếp sinh ra Châu và Ngọc Về già sống cuộc

đời nghèo khổ: “Bà ở miệt Hòa Hưng, suốt ngày chỉ tới các chùa lân cận, làm công quả

để kiếm chác hai bữa cơm chay”… “Nghe nói hồi xưa, lúc hai mươi tuổi bà Cam coi

Trang 39

cũng ngọt mắt, sắc lẻm lắm chớ Bả đi nấu cơm cho một tiệm sắt nguội trong Chợ Lớn Tối, trời nực bả kê ghế bố ngoài hàng ba hóng mát Bọn du thủ du thực nửa đêm đi coi hát về, làm bậy vài phát là bả ôm trống chầu, đẻ ra con mẹ Châu”

Văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ không chỉ chạm đến mọi tầng lớp người lao động có thân phận bất hạnh mà ngòi bút của Thụy Vũ còn đi sâu vào vùng đất ít được nhắc đến của xã hội qua việc tái hiện lại cuộc sống của những cô gái bán bar làm việc trong các snack bar Qua từng câu chuyện, chúng ta không khỏi đồng cảm, xót thương cho số phận của những con người đang sống yên lành nhưng vì hoàn cảnh gia đình mà phải trở thành gái bán bar, hay một người mẹ, một người vợ lỡ sa chân vào con đường đó nên chẳng thể tìm được lối thoát để trở về với cuộc sống lương thiện trước kia Đó là những thân phận bèo bọt nổi trôi, những kiếp phù du vô định, là những Michele, Dorothy, Tina, Juliette, Lina, Jackie…

Trong cái nhìn của người đời, nghề bán bar là một nghề bị cả xã hội khinh rẻ, xem thường Đây là nghề mà người phụ nữ dùng thân xác của mình để mua bán, trao đổi, để mặc cả không khác gì một món hàng Người bỏ tiền thì tìm mọi cách để xoa dịu cơn nổi loạn của tế bào, tìm mọi cách để sử dụng cho đáng đồng tiền mà họ đã bỏ ra

mà không hề quan tâm đến những gì sau đó Chỉ có những cô gái bán bar, khi cuộc vui kết thúc, khi những ánh đèn đỏ sẫm trong quán rượu vụt tắt thì cuộc đời của họ vẫn tiếp diễn Sau những đêm hành lạc, thân xác của họ ngày càng tàn phai và hậu quả của những cuộc truy hoan ấy là họ phải đối mặt với bệnh tật, không cẩn thận có thai, họ sẵn sàng đi phá thai, họ mất đi thiên chức làm mẹ Khi đối diện với tuổi tác, khi những đường cong quyến rũ của cơ thể mất đi thì họ bị ám ảnh về số phận, họ sống bấp bênh, liều lĩnh, bất chấp chẳng biết đến ngày mai Và tất cả những mảnh đời bi đát, cơ cực ấy

đã được Nguyễn Thị Thụy Vũ tái hiện lại một cách chân thật qua tập truyện ngắn Lao

vào lửa, Mèo đêm

Truyện ngắn Lao vào lửa kề về Tú- một cô gái hiền lành, lương thiện, mang biết

bao khát khao, hoài bão, hi vọng vào tương lai nhưng do hoàn cảnh gia đình mà phải dấn thân vào con đường bán bar Tú xuất thân từ một gia đình đông con, cả gia đình gồm tám chị em chỉ trông cậy vào ba với nghề đạp xích lô nhưng không may ông lại bị

Trang 40

bệnh bại, đi lại khó khăn nên là chị cả trong gia đình, Tú đành gác lại việc học để đi làm kiếm tiền phụ giúp gia đình Nhưng hiện thực cuộc sống lúc bấy giờ muốn kiếm việc đâu dễ dàng gì Để có việc, Tú phải có tiền “đút lót” cho ông thầu trưởng phòng tuyển dụng thì mới mong có việc Nhưng hoàn cảnh gia đình Tú lại khó khăn chính vì vậy không có tiền cho Tú đút lót hay có vốn cho con mở nghề Và với Tú, nghề duy nhất không cần tiền, không cần vốn, ngoài cái vốn sẵn có, vốn trời cho đó là trở thành gái bán bar Nhưng mỗi cái bar như mộtvực sâu không đáy khi đã liều mình nhắm mắt đưa chân thì sẽ bị cuốn vào vực sâu ấy chẳng thể thoát ra được Tú đổi tên thành Tina

và bắt đầu dấn thân vào nghề Lúc đầu, khi mới vào nghề, khi bị đụng chạm thân thể,

Tú có sự phản ứng mãnh liệt “tiếng kêu của tôi gần như là lời cầu cứu Mí mắt của tôi nóng và ẩm ướt Kinh sợ làm cổ họng tôi khô Tôi muốn trốn tránh ánh đèn và quầy rượu Đầu óc tôi cuộn tròn trong sự ngỡ ngàng, tủi nhục Tôi khóc” (Nguyễn Thị Thụy

Vũ, 2017) Nhưng Tina gặp Tommy- một tên Mỹ say mê cô, mỗi ngày hắn trở lại với

bó hồng đỏ thắm trên tay, những li nước trà thay rượu được gọi liên miên Tommy còn mua tặng nàng cả nhẫn hột xoàn và trả tiền vé để được đi chơi với cô Thế nhưng với

Tú, niềm an ủi ấy không được bao lâu, hắn đã bỏ rơi cô ngay khi cô trao cái “ngàn vàng” cho hắn Và kể từ đó, chiếc áo dài thiên thanh trong sáng của tuổi học trò đã được thay thế bằng bộ đùi trắng xanh lộ ra với chiếc mông tròn bó chặt trong chiếc jupe, hai cánh tay nõn nà để hở đên nách, “nét mày hách dịch, chuôi mắt bén ngót, cặp

má đỏ hừng hực và vành môi loang lổ vết son” (Nguyễn Thị Thụy Vũ, 2017) Tú đã trở thành Tina, trở thành gái bán bar lành nghề.Như vậy, mỗi cái bar giống như một cái mê cung mà con người chẳng thể tìm được lối thoát Và ở đây, Tú như cánh thiêu thân lao vào lửa dục vọng để được làm lại cuộc đời nhưng ngọn lửa quá nóng, nó đã thiêu rụi cả cuộc đời lương thiện của Tú

Nếu nhân vật Tú trong truyện ngắn Lao vào lửa vì hoàn cảnh gia đình mà trở thành gái bán bar thì Loan trong truyện ngắn Mèo đêm cũng có hoàn cảnh như vậy Truyện Mèo đêm kể về Loan - một người vợ, một người mẹ hết lòng thương yêu con

Kể từ khi Hùng, con trai của Loan đau nặng, lại gặp lúc thiếu tiền, thất nghiệp, Loan đã trở thành gái bán bar để kiếm tiền chạy chữa cho con Sau cái chết của con nàng, Loan

Ngày đăng: 28/10/2021, 18:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w