Do đó việc nghiên cứu các tác phẩm của ông là điều cần thiết, hy vọng rằng khóa luận với đề tài Người kể chuyện và nhân vật trong truyện ngắn Trần Kim Trắc sẽ góp một phần nhỏ trong việ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu độc lập của
tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS TS Huỳnh Như Phương Các nội dung, kết
quả nghiên cứu trong Khóa luận này là trung thực, nếu phát hiện có bất kỳ gian lận
nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng
TP.HCM, ngày 5 tháng 6 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Vương Lê Mỹ Hạnh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc của khóa luận 4
CHƯƠNG 1: TRẦN KIM TRẮC VÀ THỂ TRUYỆN NGẮN 6
1.1 Cuộc đời, sự nghiệp và quan niệm văn chương của Trần Kim Trắc 6
1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp Trần Kim Trắc 6
1.1.2 Quan niệm văn chương Trần Kim Trắc 9
1.2 Đặc điểm truyện ngắn và tổng quan truyện ngắn Trần Kim Trắc 14
1.2.1 Đặc điểm truyện ngắn 14
1.2.2 Tổng quan truyện ngắn Trần Kim Trắc 22
CHƯƠNG 2: NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN KIM TRẮC 28
2.1 Người kể chuyện trong văn học 30
2.1.1 Người kể chuyện (story-teller) 30
2.1.2 Người kể chuyện trong văn học (narrator) 32
2.1.3 Chức năng của người kể chuyện 34
2.1.4 Các kiểu người kể chuyện 35
2.1.5 Sự thay đổi người kể chuyện từ văn học dân gian đến văn học viết 37
2.1.6 Người kể chuyện và điểm nhìn nghệ thuật (point of view) 39
Trang 52.2 Người kể chuyện trong truyện ngắn Trần Kim Trắc 40
2.2.1 Cách lựa chọn điểm nhìn 41
2.2.2 Sự linh hoạt điểm nhìn 52
2.2.3 Mối quan hệ giữa người kể chuyện và nhân vật 65
CHƯƠNG 3: NHÂN VẬT VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN KIM TRẮC 68
3.1 Nhân vật trong văn học và trong truyện ngắn Trần Kim Trắc 68
3.1.1 Nhân vật trong văn học 68
3.1.2 Nhân vật trong truyện ngắn Trần Kim Trắc 73
3.2 Loại hình nhân vật trong truyện ngắn Trần Kim Trắc 86
3.2.1 Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện 86
3.2.2 Nhân vật chính, nhân vật phụ và nhân vật trung tâm 89
3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Trần Kim Trắc 90
3.3.1 Xây dựng hình tượng nhân vật 91
3.3.2 Một số biện pháp tu từ nghệ thuật 104
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 121
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong đời sống văn học, tuy thể truyện ngắn không đồ sộ và có sức vóc như tiểu thuyết nhưng nó luôn hiện diện và thu hút sự chú ý của bạn đọc Có nhiều tiểu thuyết gia thành công trên thế giới nhưng không có nghĩa là những nhà văn viết truyện ngắn không nổi tiếng Nhiều tên tuổi tác giả viết truyện ngắn trên thế giới đã đạt đến đỉnh cao như A P Chekhov, O Henry, Lỗ Tấn, G Maupassant, và ở Việt Nam như Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Minh Châu, Văn học Việt Nam sau thời kỳ Đổi mới có nhiều truyện ngắn gây được tiếng vang của thế hệ nhà văn sung sức như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Ngọc Tư, có những cả những nhà văn cao niên như Bùi Ngọc Tấn, Trần Kim Trắc, Ngô Phan Lưu, Trong đó nhà văn Trần Kim Trắc có
số phận đặc biệt do đời văn gián đoạn, sự nghiệp của ông chỉ thực sự được “hồi sinh” sau một thời gian dài vắng bóng Trần Kim Trắc viết cả tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, tản văn, nhưng ông được biết đến nhiều nhất với thể truyện ngắn Các sáng tác của ông đóng góp một phần quan trọng trong văn đàn Việt Nam, là một nét riêng mang phong cách Nam Bộ nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu về ông Do đó việc nghiên cứu các tác phẩm của ông là điều cần thiết, hy vọng rằng khóa luận với đề tài
Người kể chuyện và nhân vật trong truyện ngắn Trần Kim Trắc sẽ góp một phần nhỏ
trong việc nghiên cứu truyện ngắn Trần Kim Trắc trên phương diện người kể chuyện
và nhân vật, từ đó thấy được những đóng góp của nhà văn đối với văn học dân tộc cũng như nhìn nhận vị trí của ông trên văn đàn Việt Nam Khóa luận này cũng xin là một nén tâm hương kính cẩn dâng lên hương hồn nhà văn đã quá cố
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình tìm hiểu về đề tài nghiên cứu, chúng tôi thống kê sơ bộ được một số tài liệu có liên quan đến nhà văn Trần Kim Trắc chủ yếu ở ba nhóm sau:
Về công trình nghiên cứu, chúng tôi chỉ tìm thấy một Luận văn tốt nghiệp Cao
học với đề tài Thành ngữ, tục ngữ trong truyện ngắn Trần Kim Trắc do Nguyễn Kiều
Trang 7Diễm thực hiện năm 2017 Ngoài ra không tìm thấy bất cứ công trình nghiên cứu nào khác về nhà văn Trần Kim Trắc và tác phẩm của ông
Về các bài viết, chúng tôi thống kê sơ bộ có 10 bài viết trong đó một bài viết được xuất bản, ba bài viết được đăng trên Tạp chí và sáu bài viết đăng trên các trang web, blog cá nhân Cụ thể:
- Bài viết “Nhà văn Trần Kim Trắc: Viết bằng kí ức trong cuộc chiến” của
tác giả Nguyễn Tý, in trong Tản mạn cùng văn nghệ sĩ miền Nam (Tiểu luận phê bình)
do nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2006 Bài viết đã khái quát cuộc đời nhà văn Trần Kim Trắc và một số câu hỏi trò chuyện với nhà văn xoay quanh vấn đề văn chương
- Ba bài viết đăng trên các tạp chí kể đến như: Bài viết “Nhà văn Trần Kim Trắc: Những trang văn nồng ấm lẽ đời, tình người” của tác giả Cỏ May, đăng trên Tạp chí Văn nghệ Tiền Giang số 25 (1/2008); Bài viết “Điểm nhìn và lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn “Ông Thiềm Thừ” của Trần Kim Trắc dưới góc nhìn văn hóa” của tác giả Đỗ Thị Hiên, đăng trên Tạp chí Giáo dục số 108, tr.24-26 (2/2005); Bài viết
“Nhà văn Trần Kim Trắc: Sống thật và cảm xúc thật” của tác giả Hà Đình Nguyên, đăng trên trang Văn nghệ Tiền Giang Online (3/2010)
- Sáu bài viết đăng trên các trang web và blog cá nhân, kể đến như:
Bài viết của tác giả Lê Thiếu Nhơn “Trần Kim Trắc và Sài Gòn đắc địa”, đăng trên lethieunhon.vn (2/2013);
Bài viết “Nhà văn Trần Kim Trắc chỉ viết để tự cười”, đăng trên vanchuongphuongnam.vn (1/2019);
Bài viết “Nhà văn Trần Kim Trắc - Người “chọc ngứa tâm hồn bạn đọc” của tác giả Lê Minh Quốc, đăng trên leminhquoc.vn (1/2019);
Bài viết “Những lời bình về truyện ngắn Trần Kim Trắc” của tác giả Huỳnh Như Phương, đăng trên khoavanhoc-ngonngu.edu.vn (1/2019),
Trang 8Bài viết “Nhà văn hiện đại Việt Nam Trần Kim Trắc”, đăng trên nguoinoitieng.tv (không rõ thời điểm đăng);
Bài viết “Nhà văn Trần Kim Trắc: Ở ẩn thị thành” của tác giả Ngô Kinh Luân, đăng trên lethieunhon.vn (không rõ thời điểm đăng)
Bên cạnh đó, nhiều nhất phải kể đến hơn 40 bài báo viết về nhà văn Trần Kim Trắc hoặc có liên quan đến ông của nhiều tác giả, kể đến như Hồ Sơn, Lê Công Sơn, Nguyễn Thiện, Bích Ngân, Mai Nhật, Nguyễn Đông Thức, Anh Lưu, chủ yếu là các bài báo giới thiệu sách, trò chuyện với nhà văn và bày tỏ sự tiếc nuối trước sự ra đi của ông
Nhìn chung, cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về các tác phẩm của nhà văn Trần Kim Trắc, chỉ có một công trình nghiên cứu về truyện ngắn của ông nhưng không chuyên sâu về các đặc trưng văn học mà là về đặc trưng ngôn ngữ Các bài viết có liên quan đến nhà văn Trần Kim Trắc phần lớn cũng chỉ đề cập đến con người và quan niệm văn chương của nhà văn hay giới thiệu các tác phẩm chứ chưa đi sâu nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào Duy chỉ có bài viết của Đỗ Thị Hiên “Điểm nhìn và lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn “Ông Thiềm Thừ” của Trần Kim Trắc dưới góc nhìn văn hóa” là có đi sâu vào một vấn đề cụ thể trong một tác phẩm truyện ngắn cụ thể của Trần Kim Trắc, song bài viết lại mới chỉ tiếp cận tác phẩm của ông dưới góc nhìn văn hóa
3 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận trình bày một cách toàn diện về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Trần Kim Trắc cũng như quan niệm về văn học và quan niệm về truyện ngắn của ông Tiếp nữa là đi sâu phân tích một số truyện ngắn của ông để làm nổi bật vấn đề người kể chuyện và nhân vật Từ đó cho thấy vai trò và vị trí của nhà văn Trần Kim Trắc trong văn đàn Việt Nam
Trang 94 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các truyện ngắn của nhà văn Trần Kim Trắc, trong đó tập trung vào 77 truyện ngắn xuất bản gần đây trên phương diện người kể chuyện và nhân vật Đồng thời đề tài cũng có sự liên hệ, so sánh với một số truyện ngắn của nhà văn Trang Thế Hy để làm rõ một số sự tương đồng và khác biệt giữa hai nhà văn
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: Đặt sự nghiệp và các tác phẩm truyện ngắn của nhà văn Trần Kim Trắc trong bối cảnh lịch sử nói chung, cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954 nói riêng để thấy được sự chi phối của bối cảnh lịch sử đến các sáng tác của ông, đặc biệt là truyện ngắn
- Phương pháp tiểu sử: Nghiên cứu các truyện ngắn của Trần Kim Trắc trong mối quan hệ với cuộc đời, tiểu sử của nhà văn từ thuở niên thiếu đến khi tham gia kháng chiến chống Pháp, quãng thời gian ông tập kết ra Bắc năm 1954 và giai đoạn sau
đó
- Phương pháp hệ thống: Đặt các tác phẩm truyện ngắn của Trần Kim Trắc trong một hệ thống với các loại hình khác để thấy mối quan hệ và tác động qua lại giữa các loại hình Đồng thời xem mỗi truyện ngắn là một hệ thống riêng biệt để tìm hiểu cấu trúc của chúng
- Phương pháp so sánh: Liên hệ và so sánh truyện ngắn Trần Kim Trắc với một số truyện ngắn của Trang Thế Hy để thấy sự tương đồng và khác biệt của hai nhà văn Nam Bộ cùng thời ở một số phương diện nhất định
6 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính
của khóa luận được triển khai trên ba chương:
Trang 10Chương 1: Trần Kim Trắc và thể truyện ngắn Ở chương này, chúng tôi giới thiệu một cách gần như đầy đủ về cuộc đời, sự nghiệp và quan niệm văn chương của nhà văn Trần Kim Trắc Bên cạnh đó cũng tìm hiểu về thể truyện ngắn và tổng quan truyện ngắn Trần Kim Trắc
Chương 2: Người kể chuyện trong truyện ngắn Trần Kim Trắc Ở chương này, chúng tôi đi sâu vào vấn đề người kể chuyện trong văn học và trong truyện ngắn Trần Kim Trắc Trong đó tập trung vào vấn đề người kể chuyện trong truyện ngắn Trần Kim Trắc trên ba phương diện: cách lựa chọn điểm nhìn, sự linh hoạt điểm nhìn và mối quan hệ giữa người kể chuyện và nhân vật qua việc phân tích một số truyện ngắn của ông
Chương 3: Nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Trần Kim Trắc Vấn đề trọng yếu của chương này là nhân vật, chúng tôi khai thác những đặc điểm cũng như loại hình của các nhân vật xuất hiện trong truyện ngắn Trần Kim Trắc
Từ đó làm nổi bật lên nghệ thuật trong cách xây dựng nhân vật của nhà văn
Trang 11CHƯƠNG 1 TRẦN KIM TRẮC VÀ THỂ TRUYỆN NGẮN
1.1 Cuộc đời, sự nghiệp và quan niệm văn chương của Trần Kim Trắc
1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp Trần Kim Trắc
1.1.1.1 Cuộc đời nhà văn Trần Kim Trắc
Ngày 14 tháng 6 năm 1929, Trần Kim Trắc - người con của mảnh đất Nam Bộ
ra đời tại xã Lương Hòa Lạc (huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho – nay là tỉnh Tiền Giang) Người con ấy sau này còn được biết đến với tên “người chọc ngứa tâm hồn bạn đọc” hay “Ông Thiềm Thừ Trần Kim Trắc”
Mồ côi mẹ từ năm 12 tuổi, cha đi bước nữa, sự thiếu vắng tình mẫu tử thắt lại trong lòng cậu thiếu niên những cảm xúc da diết nhất, để rồi sau này tuôn trên đầu bút thành trang văn: “đêm đêm nằm nghe ông sư tụng kinh, giật mình thức giấc, mắt nhòe
lệ, gối thấm ướt, mới hay mình đã khóc mẹ cả trong giấc chiêm bao” Cha ông đặt tên
là Trắc tức cây trắc bá diệp, còn chữ Kim là vàng nhưng sau vì mâu thuẫn mẹ ghẻ con
chồng, cha ông hối hận, ngẫm lại mới thấy vì đặt con là Trắc nên cuộc đời cũng lắm trắc trở, chông gai
Cha là thầy giáo nên ngay từ nhỏ ông đã được dạy bảo nghiêm khắc, kết hợp giữa học văn hóa và lao động, từ nấu nước, sửa điện, sửa máy đến đi lưới cá, săn mồi, Đặc biệt cha dạy ông không được tách rời nông thôn
Năm 16 tuổi khi đang học năm thứ nhất trường Collège Mỹ Tho, ông tham gia hoạt động bí mật cùng các anh em ban Văn nghệ Tiền Giang, sau làm liên lạc và bị địch bắt Án tù ba tháng, được cha bảo lãnh, một tuần sau ông liền trốn vào chiến khu Thời gian trong chiến khu ông làm ở Ban tuyên truyền lưu động khu VIII, bấy giờ do nhà thơ Bảo Định Giang làm trưởng ban
Năm 17 tuổi ông tham gia kháng chiến trong tiểu đoàn 307, “hành trang là một thằng choai choai mới lớn có chút văn hóa trường lớp nhưng thiếu sự dạy dỗ của mẹ”,
Trang 12nhờ có học nên ông được làm trưởng ban Tuyên truyền, vừa biên tập bài vở cộng tác vừa sáng tác phục vụ lính trong tiểu đoàn
Cái lu là truyện ngắn đầu tay của Trần Kim Trắc năm ông 25 tuổi, được đăng trên tờ Thông tin văn nghệ, phát hành hằng tháng Nhanh chóng chiếm được sự yêu thích của độc giả, Cái lu còn được anh em bộ đội diễn thành kịch và không lâu sau đó, truyện ngắn Cái lu đoạt giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1945-1954 (đồng giải Ba với Vượt Côn Đảo của Phùng Quán)
Cùng năm 1954, ông rời tiểu đoàn 307 theo đoàn người tập kết ra Bắc và công tác tại phòng Văn nghệ Quân đội Ít lâu sau, ông bị kỷ luật vì một chuyện liên quan đến tác phong quân đội, từ đó rời chốn chữ nghĩa quân đội ra làm dân thường, “phiêu bạt lãng tử” làm đủ mọi nghề kiếm sống từ thợ sơn tràng, phu bốc vác, làm ruộng, nấu rượu đến làm nước chấm, nuôi ong Chính sự giáo dục của cha từ nhỏ giúp ông thích nghi được với cuộc đời nhiều biến chuyển Số phận trúc trắc chông chênh là thế nhưng chính những khó khăn của cuộc sống đã làm giàu thêm kinh nghiệm và tinh thần vượt khổ của người con Nam Bộ phiêu bạt nơi xứ người, rằng: “Bể khổ ta không qua ai qua” Vốn sống quý báu mà ông đã trải qua đã trở thành chất liệu cho văn chương sau này mà khó có thể lẫn lộn với ai
Sau khi thành “vua nuôi ong” ở vùng đồi núi Tây Bắc, tháng 7 năm 1975, ông cùng vợ rời Tuyên Quang, đưa mấy chục đàn ong vào Long Khánh - Đồng Nai, lấy nghề nuôi ong lấy mật để nuôi con cái thành đạt nên người Khi đã qua tuổi sáu mươi, ông mới thu hẹp số lượng đàn ong, chuyển về Sài Gòn sinh sống hẳn, căn nhà trên đường Nguyễn Thị Minh Khai lúc đó vẫn còn đề dòng chữ: “Có bán mật ong dinh dưỡng”
“Ông già Nam Bộ” từ giã cõi dương gian trong nhẹ nhàng và thầm lặng như chính những đóng góp văn chương của mình, không rình rang, không phô trương mà
cứ thế khắc trong lòng người đọc một nỗi xúc động, nghẹn ngào Ông chấm dứt duyên
nợ với cuộc đời vào chiều ngày 17 tháng 11 năm 2018 ở tuổi chín mươi khi căn bệnh
Trang 13suy hô hấp trở nặng Gia đình thuận theo ý nguyện không làm rầm rộ sự ra đi của ông, thêm việc đang chuẩn bị đám cưới cháu ngoại vào ngày hôm sau nên không phát tang Mãi đến khi ông mất 49 ngày thì công chúng mới hay tin
Sự ra đi của ông để lại cho giới cầm bút nói riêng và bạn đọc nói chung nỗi bàng hoàng xúc động, bởi một trong những cây bút của văn chương Nam Bộ lại chọn cho mình cách ra đi âm thầm như thế, khi sống thì “ở ẩn thị thành” đến lúc thác xuống lại ẩn mình xuôi tay
1.1.1.2 Sự nghiệp của nhà văn Trần Kim Trắc
Sinh thời, Trần Kim Trắc viết gần 200 tác phẩm bao gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn và truyện vừa (danh mục các tác phẩm của ông mà chúng tôi tìm được xin giới thiệu chi tiết ở phần Phụ lục của Khóa luận) Trần Kim Trắc vừa là tên vừa là bút danh của ông, ngoài ra ông còn dùng hai bút danh khác là NT và Trần Kim Tác
phẩm đầu tay của ông là truyện ngắn Cái lu viết về đề tài tình quân dân thắm thiết giữa
người lính cụ Hồ và đồng bào thời kháng chiến chống Pháp Bắt đầu nghiệp văn chương từ năm 1954 song với truyện ngắn đầu tay này đã tạo được tiếng vang cho nhà văn khi ngay sau đó đoạt giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt Nam 1945-1954 Đây cũng là một bước đệm để sau đó ba năm, ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam
Sau thành công của truyện ngắn Cái lu, Trần Kim Trắc “bặt tăm” suốt 35 năm, mãi đến khi ông cho xuất bản truyện ngắn Cái bớt (in chung - 1989) và Con cá bặt tăm (in chung - 1990) thì đến 1994, ông mới thực sự trở lại văn đàn với truyện ngắn Ông Thiềm Thừ do nhà xuất bản Văn nghệ TP.HCM ấn hành Truyện ngắn Ông Thiềm Thừ
đánh dấu giải thưởng văn học thứ hai mà ông nhận được, đó là Tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995 Và cũng kể từ giai đoạn này, văn nghiệp của ông trở nên bền bỉ và sung sức hơn
Ở tuổi 82, “ông già Nam Bộ” còn tham gia cuộc thi Con người và cuộc sống hôm nay do Báo Sài Gòn Giải Phóng phát động (từ 1/8/2011 đến hết tháng 12/2012) và đoạt giải nhì đồng hạng (không có giải nhất) bằng truyện ngắn Sài Gòn đắc địa
Trang 14Sáng 4/11/2015, Nhà xuất bản Trẻ đã kí hợp đồng mua bản quyền trọn đời tác phẩm của ông (Trần Kim Trắc là nhà văn Nam Bộ thứ ba được Nhà xuất bản Trẻ kí tác quyền trọn đời, sau nhà văn Sơn Nam và nhà văn Trang Thế Hy) Theo đó từ tháng 11/2015, Nhà xuất bản Trẻ độc quyền sử dụng 19 tác phẩm của nhà văn (đa số là truyện ngắn) trên cả mảng sách điện tử Sau khi nhà văn Trần Kim Trắc qua đời, gia đình vẫn được hưởng nhuận bút các tác phẩm của ông do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành
Truyện vừa Một khúc cầm chơi từng được chuyển thể thành phim truyền hình cùng tên do Hồ Nhân làm đạo diễn Truyện ngắn Ừ đi! Ừ! của ông cũng từng được sân khấu Hoàng Thái Thanh tại thành phố Hồ Chí Minh dựng thành kịch dưới tên Sài Gòn
có một ngã tư, trình diễn vào dịp Tết 2018
1.1.2 Quan niệm văn chương
Mỗi người nghệ sĩ bằng cách nào đó luôn có cho riêng mình một số quan niệm
về nghệ thuật dù là trực tiếp phát ngôn hay gián tiếp thể hiện qua tác phẩm Điều đó phần nào định hình phong cách sáng tác của người nghệ sĩ Với Trần Kim Trắc, điều độc giả nhớ đến ông trước hết là nhớ đến câu nói “người chọc ngứa tâm hồn bạn đọc” Cách nói dí dỏm này cũng xuất phát từ phong cách “lí lắc” của ông
Cầm bút sáng tác từ tuổi 25 song sau một thời gian dài “bặt tăm” trên văn đàn thì đến tận khi quá nửa cuộc đời, sự nghiệp văn chương của ông mới “hồi sinh” Nhiều bạn đọc yêu thích ông đều thắc mắc về nguyên nhân ông không sáng tác trong khoảng thời gian đằng đẵng đó, ông mới lý giải bằng quan điểm rằng: “Tôi sống tức là tôi đã viết” Thoạt mới nghe, quan điểm này của ông gây nhiều thắc mắc, bởi ngược hoàn toàn với quan điểm của một số nhà văn thời bấy giờ: “Tôi viết tức là tôi đã sống” Ngẫm lại cuộc đời Trần Kim Trắc, người ta mới thấu được ý nghĩa câu nói của ông Khoảng thời gian mà ông tạm gác bút mực là thời gian mưu sinh bằng đủ thứ công việc, trải qua bao nhiêu khó khăn, bao câu chuyện trong cuộc sống mà không giấy bút nào kể xiết Với đôi mắt và tâm hồn của người nghệ sĩ thì sống như thế đã là làm văn
Trang 15học rồi, cũng như ông từng viết: “Cuộc đời mỗi người ít ra cũng bằng một quyển tiểu thuyết”
Tuy vậy, việc nhà văn gác bút trong một thời gian dài, lại trải qua một cuộc sống thăng trầm mà không được giải tỏa suy nghĩ, cảm xúc ra trang giấy dễ khiến sản sinh ra trong lòng những ức chế và khi có cơ hội sáng tác thì nhu cầu bày tỏ càng được thể hiện mạnh mẽ hơn Có thể lấy đây làm nguyên nhân lý giải lý do tại sao văn nghiệp Trần Kim Trắc lại sung sức hơn rất nhiều sau hơn 30 năm vắng bóng Nói đến đây gợi liên tưởng đến nhà văn Nguyễn Văn Thọ khi ngay từ đầu Nguyễn Văn Thọ không có ý định theo con đường cầm bút Mãi đến tuổi năm mươi, ông đến với văn chương như là
sự sẻ chia những chìm nổi của bản thân, để “giải tỏa những ẩn ức trong đời sống, giải tỏa nỗi cô đơn”, viết như là một “sự trả nợ đời” Trần Kim Trắc và Nguyễn Văn Thọ, hai nhà văn với tư tưởng và quan điểm khác nhau nhưng họ đều giống nhau ở chỗ khi
đã lăn lộn với cuộc đời, tích lũy vốn kinh nghiệm cho riêng mình, họ mới giãi bày, sẻ chia cùng văn chương, dùng chính vốn sống mà mình đã có để làm chất liệu cho văn chương
Trong một lần trả lời phỏng vấn, Trần Kim Trắc chia sẻ: “Văn học không dắt ai
đi mà chỉ lóe sáng để ta tự đi Lấy sự thật ngoài đời rọi vào tâm hồn để người ta sống thiện, sống đẹp hơn, tự hoàn thiện bản thân”, bởi ông quan niệm “Cuộc sống luôn tồn tại những mặt tốt xấu, thiện ác, bên trong, bên ngoài Văn học có trách nhiệm khơi dậy hai mặt đó”
Như khi ông nói về điều quý giá của nghề viết: “Văn học có hai mục đích, viết làm cho người ta vui và viết làm cho người ta cảm động Bản lĩnh của nhà văn là bằng cách chấp bút của mình giúp người ta thấy được văn học rất thiết thực với cuộc sống, giúp con người hiểu và yêu nhau hơn”
Chia sẻ về nghề viết, ông coi “Viết văn là công việc tìm ngọc trong đời, ngọc là
vẻ đẹp ẩn bên trong mỗi người” bởi cuộc sống luôn có hai mặt tốt xấu, thiện ác nên khi đánh giá một con người mình không thể nhìn vào vẻ bề ngoài mà phán xét họ, nhà văn
Trang 16lại càng không “Chẳng hạn, một cô gái nhuộm mái tóc của mình đỏ rực, đó là do cô còn quá trẻ nên chưa định hình tính cách Nhưng trong cuộc sống cô biết quan tâm đến mọi người, nhà văn vẫn phải khai thác chi tiết “biết quan tâm đến mọi người” chứ đừng xoáy vào mái tóc đỏ hoe của cô” Bạn đọc có thể thấy rõ quan niệm này trong các sáng tác của ông, nhân vật trong các tác phẩm mà ông xây dựng có khi là những người lao động nghèo, phận người dưới đáy xã hội nhưng ở họ luôn có một “viên ngọc” bị che lấp đi, đó là tính thiện, mà nhiệm vụ của nhà văn là đi tìm và đánh bóng nó lên
Ông đánh giá rất cao tính cảm xúc trong văn chương: “Theo tôi, sáng tác chỉ đơn giản thế này: Sống thật và cảm xúc thật!”, “văn học cần cái cảm xúc thật, nhất là tình cảm yêu thương dễ đi vào lòng công chúng” hay như “những xúc cảm thực tế trước mắt và cả từ ký ức, tất tật những cái đó chính là văn học” Về cảm xúc với nhà văn, ông cho rằng: “Nên có cảm xúc trước khi viết sẽ hay hơn Đừng cố “rặn” theo kiểu ý thức đi trước, tình cảm đi sau, nó sẽ đi ngược lại với tự nhiên và khó thấm vào lòng người đọc.”
Trong truyện Bánh bông lan, nhà văn mượn câu nói của Lê Thương - tác giả
“Hòn Vọng Phu” như một yêu cầu đối với người nghệ sĩ “Đối diện với nghệ thuật lúc nào cũng phải nghiêm túc”, và coi đó như “lời nói thánh thiện, tôi mang theo suốt đời tôi trên đường vạn dặm”
Về phẩm chất đối với một nhà văn, Trần Kim Trắc đề cao trí tưởng tượng: “Trí tưởng tượng như vùng đất chưa vỡ hoang và nhà văn “xông” vào đó sẽ khai thác vô số
kể
Tuy vậy nhưng khi viết về người thật việc thật, ông quan niệm một cách gián tiếp trong tác phẩm rằng “người chấp bút phải sáng suốt phân rõ”, như trong đoạn đối
thoại giữa nhà báo họ Phạm và thầy giáo Nhẫn trong truyện Hai người:
- Có lẽ cần bổ sung cho cái đầu của tác giả hơn là bổ sung cho kịch Ý anh muốn viết cái gì để gọi là mục đích tác giả?
- Dạ cháu muốn đề cao lập trường chiến đấu
Trang 17Ông già nạt ngang:
- Lập trường cái quái quỷ gì vậy, lập trường nào cái gốc của nó cũng là nhân tính, là tình người chứ.[ ]
- Ôi! Thưa bác, cháu muốn viết người thật việc thật, nên hồi còn làm việc được phân công đi lấy tư liệu viết lịch sử xã Hòa Long, cháu nghe dân
họ kể lại chuyện này, lại muốn gây cho bác bất ngờ nên không có hỏi kỹ
- Nên tính đề cao không ngờ lại hạ thấp phải không? Hồi ấy nghe tin chiến thắng, người ta lạc quan quá mức, người ta truyền miệng, tha hồ chế
ra cho ly kỳ, rồi cho đó là thật Mình là người chấp bút phải sáng suốt phân rõ chứ!
Nói chú đừng giận nghe! Viết người thật việc thật khó lắm nghe Vì sao khó chú biết không? Vì nó phải thật Không được tự ý chế ra được như sáng tạo
ra một tác phẩm
(Truyện Hai người)
Bên cạnh đó, ông khuyến khích người nghệ sĩ phải thâm nhập thực tế để có vốn cho mình vì nếu xài vốn sẵn có hoài thì sẽ vốn sẽ cụt, sẽ hết Bởi vậy ông tâm niệm:
“Muốn viết văn tốt, nhà văn cần phải đi nhiều, môi trường tiếp xúc rộng rãi, chịu khó xông xáo tìm tòi ngay từ những điều nhỏ nhặt trong đời sống”, “mỗi sự cố trên trường đời đều là những đề tài rất bổ ích cho “nghiệp” văn sau này, mà cái đó mình chỉ là thư
ký nhìn rồi ghi lại”, có như vậy thì mới cho người đọc những cảm xúc chân thật nhất
Vì đề cao những rung động trong văn chương nên Trần Kim Trắc quan niệm người cầm bút phải đặt tình cảm vào trang văn: “Nhà văn nói chung, làm việc bằng trái tim chứ không chỉ bằng cái đầu Muốn viết phải có cảm hứng, cảm hứng dồi dào cộng với kinh nghiệm và thực tế phong phú thì viết dễ hay chứ không có bí quyết gì cả!”
Nói về tài năng của nhà văn trong việc quan sát hiện tượng đời sống, ông gián
tiếp thể hiện quan điểm trong truyện Tivi không màn hình, đó là sự li kiến trong nghệ
Trang 18thuật, nhà văn dùng đôi mắt nghệ thuật của mình để quan sát các hiện tượng xung quanh:
Thông thường ra đường thấy hai người nào đó to tiếng cãi nhau, mọi người có ý thức tốt sẽ xông đến can ngăn khuyên nhủ để lập lại trật tự Nhưng nhà văn chứng kiến cảnh ấy thì không Ông ta đứng ngoài ở vị trí thứ ba để quan sát lắng nghe thu thập tài liệu Thử xem sự kiện mâu thuẫn gì xảy ra với
họ Xem ông A trợn mắt phùng mang múa tay múa chân gào thét thế nào cái đã, xem bà B dùng những ngôn từ mỉa mai đả kích sâu xa cỡ nào để thu thập tất cả chi tiết làm tài liệu còn gọi là vốn sống sáng tác sau này Cho đến khi nào họ xông vào bằng quả đấm hoặc gậy gộc dao búa lúc ấy nhà văn mới trở lại làm nghĩa vụ công dân xông vào can ngăn không cho họ phạm tội hình sự
(Truyện Tivi không màn hình)
Chính từ óc quan sát đó, nhà văn sử dụng nghệ thuật ngôn từ để cấu trúc nên tác phẩm bằng tài năng của mình, ông nói: “Viết văn cũng như chơi hoa Có nhiều hoa, nhiều màu sắc không đủ, mà phải biết nghệ thuật cắm hoa mới cho ra một bình hoa đẹp Muốn đạt đến nghệ thuật thì phải có thời gian” Nghệ thuật ấy ám chỉ tài năng của người nghệ sĩ, đó là tài năng cấu trúc nên tác phẩm ra sao, dùng ngôn từ như thế nào để tạo ra một “bình hoa đẹp” tức một tác phẩm vừa ý
Mặc dù đưa ra nhiều suy nghĩ về văn chương và trách nhiệm của người nghệ sĩ nhưng sau cùng, Trần Kim Trắc chỉ nhận: “Tôi chỉ dám chọc ngứa để người ta phải gãi sột soạt, và phải tắm bằng xà bông sát trùng để trị ghẻ ngứa tâm hồn thôi”
Trang 191.2 Đặc điểm truyện ngắn và tổng quan truyện ngắn Trần Kim Trắc
1.2.1 Đặc điểm truyện ngắn
Trước khi đi sâu vào những đặc điểm của truyện ngắn nói chung, cần làm rõ khái niệm truyện ngắn
Từ điển thuật ngữ văn học 1 ở mục Truyện ngắn có định nghĩa như sau:
“Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ
Tuy nhiên mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác Trong văn học hiện đại có nhiều tác phẩm rất ngắn nhưng thực chất là truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắn thời trung đại cũng ngắn nhưng cũng rất gần với truyện vừa Các hình thức truyện kể
về dân gian rất ngắn gọn như cổ tích, truyện cười, giai thoại, lại càng không phải là truyện ngắn.”
Trong Từ điển văn học 2 có viết:
“Hình thức tự sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn
Trang 20tạp Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ, nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn Để thể hiện nổi bật tư tưởng chủ đề, khắc họa nét tính cách nhân vật đòi hỏi nhà văn viết truyện ngắn phải có trình độ điêu luyện, biết mạnh dạn gọt tỉa và dồn nén Do đó trong khuôn khổ ngắn gọn, những truyện ngắn thành công có thể biểu hiện được những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn”
150 Thuật ngữ văn học 3 do Lại Nguyên Ân biên soạn có định nghĩa truyện ngắn như sau:
“Thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ”
Trong Lí luận văn học (tập 2) 4 do Trần Đình Sử chủ biên có viết:
“Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, chủ yếu phát triển trong khoảng
150 năm gần đây [ ] Nội dung thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời
tư, thế sự, hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó lại là ngắn Truyện ngắn có thể
kể về cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời”
Các định nghĩa đã nêu ở trên đều nhấn mạnh truyện ngắn là “hình thức tự sự cỡ nhỏ”, với nội dung đề cập đến hầu hết các phương diện của đời sống, nét đặc trưng để phân biệt nó với các thể truyện khác là ở dung lượng (không có quy định rõ ràng về giới hạn dung lượng) và thích hợp để bạn đọc đọc một mạch không nghỉ
Trong Truyện ngắn - Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại 5, Bùi Việt
Thắng cho rằng: “Truyện ngắn có gốc từ tiếng Italia, novella, ý nghĩa căn bản của từ
3 Lại Nguyên Ân (biên soạn) (2017) 150 thuật ngữ văn học Hà Nội: Văn học, tr.437-438
4 Trần Đình Sử (chủ biên), La Khắc Hòa, Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Xuân Nam (2017) Lí luận văn học (tập 2)
- Tác phẩm và thể loại văn học Hà Nội: Đại học Sư phạm
Trang 21này không căn cứ và khối lượng (hay dung lượng) mà là vào nội dung câu chuyện được
kể, nouvelle, novella (tiếng Pháp, Italia) trong nghĩa gốc là một cái tin mới, một chuyện
mới” Như vậy theo Bùi Việt Thắng, thuật ngữ truyện ngắn tự thân nó đã mang đặc điểm để phân biệt với các thể khác ở nội dung mà nó đưa đến, là một điều gì đó mới
mẻ, tức quan tâm đến phần nội dung mà nó thể hiện chứ không phải ở dung lượng dài
hay ngắn (Khác với short story trong tiếng Anh, “short” là ngắn còn “story” là câu chuyện, như vậy short story hàm ý đến độ ngắn dài của truyện; hay như cách gọi đoản thiên tiểu thuyết (truyện ngắn) để phân biệt với trung thiên tiểu thuyết (truyện vừa) và trường thiên tiểu thuyết (truyện dài) trong văn học Trung Quốc) Cũng như Goethe
từng quan niệm truyện ngắn là “một câu chuyện lạ đang xảy ra có thể làm ta kinh ngạc” hay như nhà văn Nga Paustovsky nói: “Thực chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó, cái không bình thường hiện ra như một cái gì bình thường, và cái gì bình thường hiện ra như một cái gì không bình thường”6
Ở một cách nhìn khác, Nguyễn Công Hoan định nghĩa: “Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu dùng tiếng có cân nhắc Muốn truyện là truyện ngắn, chỉ nên lấy một ý chính làm chủ đề cho truyện” Với quan niệm này, Nguyễn Công Hoan chú trọng ở cách xây dựng nên một truyện ngắn, đó là vấn đề, bố cục và cái tài chơi chữ nơi nhà văn Nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng từng hơn một lần nhắc đến bố cục trong truyện ngắn: “Viết truyện ngắn tức là chơi bố cục, thú lắm” hay như “Theo tôi quan niệm truyện ngắn phải có “chuyện” tức có thể kể lại cho người khác nghe được
Mà muốn kể, câu chuyện phải chặt chẽ, hấp dẫn Yêu cầu bố cục đặt ra từ đấy Học các nhà văn nước ngoài, truyện ngắn nước ngoài, cũng trông vào bố cục”
Nói tóm lại, khái niệm truyện ngắn, theo chúng tôi hiểu và trình bày trong khóa luận này, đó là một hình thức tự sự cỡ nhỏ với nội dung có thể là bất cứ phương diện
5 Bùi Việt Thắng (2000) Truyện ngắn - Những vấn đề lý luận và thực tiễn thể loại Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà
Nội
6 Vương Trí Nhàn (2001) Sổ tay truyện ngắn TP.HCM: Văn nghệ
Trang 22nào của đời sống, có thể là câu chuyện của cả đời người hay một khoảnh khắc đời người nhưng chú trọng ở tính ngắn gọn, thích hợp để đọc một hơi không ngơi nghỉ
Khi nói đến các đặc điểm của truyện ngắn, thứ nhất phải kể đến là dung lượng truyện ngắn “Dung lượng (được hiểu là kích cỡ, sức chứa, lớn nhỏ) là khả năng ôm trùm bao quát hiện thực, là sức chứa chất liệu đời sống, dung lượng được hiểu theo nghĩa khả năng của nội dung phản ánh hiện thực của thể loại”7 Dung lượng ở đây được hiểu là sức phản ánh hiện thực đời sống chứ không đơn thuần là khuôn khổ ngắn hay dài Để hiểu về dung lượng truyện ngắn, cần đặt truyện ngắn trong tương quan thể loại với tiểu thuyết Nếu nói truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ thì tiểu thuyết là trường hợp của hình thức tự sự cỡ lớn với thế giới nhân vật đa dạng và cấu trúc phức
tạp Có những bộ tiểu thuyết đồ sộ trên thế giới như Chiến tranh và hòa bình, Sông Đông êm đềm, Tam quốc diễn nghĩa, lên tới hàng ngàn trang giấy, hàng ngàn nhân
vật Sở dĩ những bộ tiểu thuyết này đồ sộ như vậy là vì sức chứa đựng của chúng lớn, tác giả quan tâm tới quá trình của hành động, tính cách nhân vật, chăm chút cho thế giới nhân vật, sự kiện của mình, thậm chí có lan man vài trang cũng không gây ảnh hưởng gì nhiều Còn ở truyện ngắn, dưới sự chi phối của đặc trưng thể loại, “mỗi truyện chỉ được phép gây một ấn tượng duy nhất trong trí óc độc giả” (E Poe) nên tác giả chú trọng tính ngắn gọn, như nhà văn Nga Chekhov quan niệm: “Ngắn gọn là chị của tài năng”, đòi hỏi ở tác giả phải sắp xếp bố cục sao cho rành mạch, tinh lọc những điều rườm rà không cần thiết tạo độ nén cho tác phẩm
Có những truyện ngắn được đánh giá có tầm cỡ như tiểu thuyết, chẳng hạn AQ chính truyện của Lỗ Tấn được chia thành chín phần, đánh số từ I đến IX, nhà văn Anh
Đức nhận xét: “Đọc truyện ngắn Lỗ Tấn, tôi nhận thấy chẳng có tình tiết, chi tiết nào gọi là nhỏ mà không lớn lên được, gọi là khu biệt mà không phổ quát được Tất cả những gì ngỡ là nhỏ bé, là lẻ tẻ ấy, đều được điển hình hóa cẩn thận, đều được nhằm
7 Bùi Việt Thắng (2000) Truyện ngắn - Những vấn đề lý luận và thực tiễn thể loại, sđd, tr.71
Trang 23chỉ tới cái đông đảo, cái toàn cục mang tính khái quát xã hội” Romain Rolland cũng cho rằng: “AQ chính truyện là một tác phẩm thế giới”8
Truyện ngắn Người đàn bà và con chó nhỏ của Chekhov cũng từng được ví như
một tiểu thuyết bởi chỉ với một số ít trang nhưng Chekhov đã gửi gắm vào đó những xung đột trong cuộc sống gia đình, quan niệm hạnh phúc và quá trình đi tìm hạnh phúc của hai nhân vật Gurov và Anna, đó không chỉ là một chốc lát của cuộc đời mà còn quyết định cả số phận của nhân vật Chekhov được biết tới như một nhà văn chuyên viết truyện ngắn nhưng với nhận xét của Gorki: “Chekhov là người nghệ sĩ duy nhất của thời đại chúng ta nắm vững đến mức cao nhất cái nghệ thuật viết làm sao cho lời chật mà ý rộng” đã công nhận tầm tiểu thuyết của truyện ngắn Chekhov
Trong văn học hiện đại Việt Nam, ta thấy một số tác giả như Nam Cao với Chí Phèo, Nguyễn Huy Thiệp với Tướng về hưu, Nguyễn Minh Châu với Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Khách ở quê ra được cho là viết truyện ngắn nhưng nếu xét
về sức phản ánh hiện thực thì những truyện ngắn của họ cũng không thua gì tiểu thuyết
Nói như nhà văn đương đại Trung Quốc Trương Hiền Lượng: “Truyện ngắn giống như nước hoa quả cô đặc, pha thêm một chút nước, ít nhất cũng biến thành truyện vừa, lại cho thêm ít gia vị thành truyện dài cũng không khó” Do vậy khi đặt truyện ngắn và tiểu thuyết lên bàn cân về sức chứa thì truyện ngắn cũng không hề chịu kém cạnh
Đặc điểm thứ hai của truyện ngắn đó là kết cấu truyện Chính vì chú trọng đến tính ngắn gọn mà tác giả viết truyện ngắn phải có sự sắp xếp tình tiết, sự kiện và hành động của nhân vật một cách tinh tế nhất sao cho thể hiện được hết vấn đề mà người viết muốn chuyển tải mà không rườm rà, lan man
150 Thuật ngữ văn học 9 do Lại Nguyên Ân biên soạn có khái niệm kết cấu:
8 Lỗ Tấn - Tác phẩm và tư liệu (1997) Hà Nội: Giáo dục, tr.358
9 Lại Nguyên Ân (2017) 150 thuật ngữ văn học, sđd, tr.209
Trang 24“Kết cấu tác phẩm văn học bao gồm việc phân bố các nhân vật (tức là hệ thống các hình tượng), các sự kiện và hành động (kết cấu cốt truyện), các phương thức trần thuật (kết cấu trần thuật như là sự thay đổi các điểm nhìn đối với cái được miêu tả), chi tiết hóa các khung cảnh, hành vi, cảm xúc (kết cấu chi tiết), các thủ pháp văn phong (kết cấu ngôn từ), các truyện kể xen kẽ hoặc các đoạn ngoại đề trữ tình (kết cấu các yếu tố ngoài cốt truyện)”
Nói một cách đơn giản, kết cấu là sự cấu tạo tác phẩm Nó là một yếu tố của hình thức nhưng liên quan chặt chẽ với tư tưởng, chủ đề của tác phẩm Đối với truyện ngắn, kết cấu lại càng quan trọng, đó là cách tổ chức truyện sao cho mạch lạc, trở thành
kỹ thuật của người lành nghề Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã nhắc đến vấn đề kết cấu như sau: “Nếu tiểu thuyết là một đoạn của dòng đời thì truyện ngắn là cái mặt cắt của dòng đời Vì thế mà cũng như kịch ngắn, truyện ngắn đòi hỏi ở người viết một công việc tổ chức và cấu trúc truyện hết sức nghiêm ngặt Quả thực có một thứ kỹ thuật tinh xảo - kỹ thuật viết truyện ngắn Nó cũng giống như kỹ thuật của người làm pháo, dồn nén tư tưởng vào trong một cốt truyện thật ngắn gọn, tự nhiên.”
Nhà văn Vũ Thị Thường trong một lần trả lời phỏng vấn, được hỏi khi nào thì cảm thấy viết được, bà trả lời: “Với tôi, lúc sung sướng nhất là lúc cảm xúc đến Tôi ngồi vào bàn Nhưng không phải để viết chính cái truyện phải viết mà là làm đề cương Chia đôi một tờ giấy có sẵn, tôi dành một bên để ghi ý, một bên để ghi những chi tiết vừa đến trong đầu” Như vậy có thể coi kết cấu như là định hướng cho nhà văn
để hình dung đường đi cho tác phẩm “Nhiệm vụ của kết cấu là tổ chức bố cục của cốt truyện thành các phần, chương, đoạn, sắp xếp các chi tiết, các sự kiện thành những bộ phận hữu cơ của một quá trình phát triển mà cái đích cuối cùng là thể hiện chủ đề tư tưởng và bộc lộ tính cách nhân vật”.10
Các kiểu kết cấu thường gặp trong truyện ngắn kể đến như kết cấu tuyến tính, kết cấu lắp ghép, kết cấu đa tầng, kết cấu liên hoàn,
10Bùi Việt Thắng (2000) Truyện ngắn - Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, sđd, tr.103
Trang 25Kết cấu tuyến tính là kiểu kết cấu thường gặp nhất trong truyện ngắn, đó là lối viết theo “một đường thẳng”, các sự việc và hành động xảy ra theo trình tự thời gian, phát triển theo quan hệ nhân quả Các truyện viết theo kết cấu này thường tuân theo một diễn biến nhất định như: mở đầu - thắt nút - phát triển - cao trào - mở nút - kết thúc, việc phát triển các tình tiết đến cao trào sau đó giải quyết tạo nên sự hồi hộp, hứng thú cho người đọc
Kết cấu lắp ghép hay như kết cấu phân mảnh là kiểu kết cấu mà tác giả sắp xếp các sự việc, nhân vật tưởng như rời rạc nhưng lại liên quan với nhau Các sự việc có thể xảy ra ở những không gian, thời gian khác nhau thậm chí với nhân vật khác nhau, tồn tại độc lập như một câu chuyện riêng biệt song lại có liên hệ và bổ sung cho nhau
để tạo nên tính chỉnh thể cho tác phẩm
Kết cấu đa tầng là kiểu kết cấu mà câu chuyện này có thể nằm trong câu chuyện khác, tạo ra kiểu truyện lồng trong truyện Điểm nhìn trần thuật, không gian và thời gian trong kiểu kết cấu này có thể có sự dịch chuyển
Kết cấu liên hoàn xuất hiện giữa các truyện có cùng một hoặc một số nhân vật, bối cảnh và có sự liên quan với nhau về nội dung thể hiện Về mặt chỉnh thể, mỗi truyện vẫn là một tác phẩm độc lập nhưng nếu đặt các truyện ngắn này lại gần nhau, bạn đọc sẽ thấy sự quen thuộc bởi kết cấu liên hoàn
Đặc điểm thứ ba không thể bỏ sót là nhân vật trong truyện ngắn, như Tô Hoài quan niệm: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” Nếu nhân vật trong tiểu thuyết được miêu tả tỉ mỉ từ ngoại hình, tính cách, hành động đến số phận thì ở truyện ngắn ngược lại Tác giả truyện ngắn đôi khi khắc họa một vấn đề, một hiện tượng trong quan hệ nhân sinh, “một chốc lát” trong đời sống tâm hồn con người, thế nên thế giới nhân vật trong truyện ngắn ít phong phú hơn so với trong tiểu thuyết Tuy vậy các tác giả truyện ngắn cũng đã tạo ra những nhân vật điển
hình như AQ trong AQ chính truyện của Lỗ Tấn, cụ Behrman trong Chiếc lá cuối cùng của O Henry, Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao, tướng Thuấn trong
Trang 26Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, Đặc điểm đầu tiên để nhận biết và phân biệt
nhân vật là tên gọi, tuy vậy ở một số truyện ngắn nhân vật có thể không có danh xưng, tác giả gọi tên nhân vật bằng nghề nghiệp, chức vụ hoặc một biệt danh nào đó Nhân vật trong truyện ngắn ít được chú trọng về vẻ bề ngoài nên điều để lại ấn tượng với độc giả đó là ở tính cách nhân vật Ngoại hình nhân vật có thể được miêu tả kỹ lưỡng, tỉ mỉ cũng có thể chỉ với vài nét phác họa đơn giản nhưng cho dù vẻ bề ngoài của nhân vật hiện ra như thế nào thì cũng góp một phần lớn trong việc định hình tính cách Nhiều nhà văn viết truyện ngắn hiện nay chú trọng vào hành động và ngôn ngữ của nhân vật hơn là miêu tả ngoại hình Đồng thời, tâm lý nhân vật trong truyện ngắn ngày càng được quan tâm nhiều hơn, thể hiện qua các lời đối thoại và độc thoại khiến chiều sâu tính cách nhân vật được bộc lộ rõ hơn
Cái kết của tác phẩm văn học luôn là đòn cuối cùng đánh vào tâm lý của độc giả, một kết thúc hay sẽ đọng lại trong lòng người đọc dư vị tuyệt vời, một cái kết hợp
lý sẽ làm thỏa lòng mong muốn của độc giả, một cái kết bất thường sẽ thúc giục bạn đọc đi tìm lời giải đáp, còn một cái kết bỏ ngỏ sẽ khiến độc giả cùng tham gia sáng tạo với nhà văn Có nhà văn Nga từng nhận xét rằng: “Sức mạnh của cú đấm (nghệ thuật)
là thuộc về đoạn cuối”, còn Chekhov cho rằng: “Theo tôi, viết truyện ngắn, cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và cái kết luận”, quả thực đoạn kết trong truyện ngắn nói riêng
và văn học nói chung đã trở thành một thách thức đánh giá tài năng của người viết
Trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của nhà văn O Henry, ở đoạn kết, Sue đã bật mí
về chiếc lá thường xuân cuối cùng: “Em hãy nhìn chiếc lá thường xuân cuối cùng ở trên tường Em có tự hỏi tại sao chẳng bao giờ nó rung rinh hoặc lay động khi gió thổi không? Ồ, em thân yêu, đó chính là tác phẩm kiệt xuất của cụ Behrman đấy, cụ vẽ nó vào cái đêm mà chiếc lá cuối cùng đã rụng” Một tình tiết nữa hé mở là cái chết của cụ Behrman - người họa sĩ già ấy đã chết vào cái đêm gió rét ấy, sau khi vẽ xong chiếc lá thường xuân cuối cùng Tiết lộ cuối truyện khiến bạn đọc đầy bất ngờ, người họa sĩ luôn nung nấu vẽ được một kiệt tác nghệ thuật ấy đến cuối cùng đã có cho mình một tác phẩm đặc sắc - tác phẩm của cụ lại càng đẹp hơn nữa khi mang đến niềm lạc quan
Trang 27và sự sống cho Johnsy Đoạn kết của O Henry gợi cho người đọc nhiều xúc cảm về
niềm lạc quan, lòng nhân đạo, ý nghĩa của cuộc sống và của nghệ thuật Với Chí Phèo
của nhà văn Nam Cao, đoạn kết của tác phẩm cũng gợi cho người đọc nhiều suy tư và liên tưởng Chí Phèo chết nhưng câu chuyện chưa dừng lại ở đó mà “thị nhìn trộm bà
cô, rồi nhìn nhanh xuống bụng[ ] Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người qua lại…” Cái kết mà Nam Cao đưa ra gợi cho người đọc liên tưởng đến một Chí Phèo con, rồi một cuộc đời như hắn sẽ lại bắt đầu từ
“cái lò gạch cũ” khiến người đọc không khỏi xót xa Hay như trường hợp truyện ngắn
Cô dâu hay con hổ của F Stockton, cái kết bỏ ngỏ của tác giả sẽ bắt buộc người đọc
phải tự đi tìm câu trả lời cho mình, chàng trai sẽ gặp phải điều gì sau cánh cửa đó? Cô dâu hay con hổ? Câu trả lời cho truyện, tác giả dành riêng cho bạn đọc tự quyết định
lấy Ở truyện Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp, tác giả hiến tặng cho độc giả ba đoạn
kết (I, II và III) để người đọc tự chọn một cho mình “Tôi hiến bạn đọc ba đoạn kết cho câu chuyện này để bạn đọc tùy ý lựa chọn” Dù kết thúc bằng cách nào đi nữa, truyện ngắn vẫn là “lát cắt” của đời sống, điều quan trọng là sau mỗi kết thúc đó, người đọc nhận thức được điều gì
1.2.2 Tổng quan truyện ngắn Trần Kim Trắc
Cả sự nghiệp cầm bút của mình, Trần Kim Trắc có gần 200 tác phẩm, trong đó truyện ngắn chiếm phần lớn Tính đến nay, có 25 sách của ông được xuất bản riêng (21 sách trong đó là tập truyện ngắn) và 6 sách in chung với nhiều tác giả khác Trong số tác phẩm được xuất bản có nhiều truyện ngắn được in nhiều lần, nhiều nhất có thể kể
đến như Trăng đẹp mình trăng, Mấy sông cũng lội (những lần đầu được in với tên Ngậm mà nghe) được in năm lần; Bố dượng, Nhà chim, Cảm hứng, Chuyện riêng tư chốn sơn tràng, Đi ba về bốn, Ừ đi! Ừ! đều được in bốn lần
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Trần Kim Trắc viết nhiều nhất ở thể truyện ngắn, sở dĩ ông trung thành với thể truyện ngắn như vậy vì sợ hao chất liệu: “Tôi viết truyện ngắn chứ truyện dài thì hao chất liệu, viết xong gởi đi rồi thì không còn gì để viết, xài của đầu tư rất lãng phí”
Trang 28Tham gia cách mạng chống Pháp từ lúc tuổi đời còn rất trẻ, lại là người có học thức và vốn sống giàu có, Trần Kim Trắc đem hết cả cuộc đời mình vào trong trang viết Chính nhờ những điều từng trải đó của tác giả mà khi hòa mình vào truyện, bạn đọc cảm nhận được hơi thở của cuộc sống, dù là những năm tháng kháng chiến đầy máu lửa hay khi hòa bình lập lại, dù nhà văn viết lúc tuổi còn trẻ hay lúc đã xế chiều vẫn tìm thấy ở tác phẩm của ông sự dung dị, tự nhiên mà không khỏi khiến người đọc suy tư, trăn trở Truyện của ông tuy ngắn nhưng chất chứa cả đời người trong đó, những điều mà mắt đã thấy tai đã nghe còn tay chân thì lao động mòn mỏi, ông mang vào trang viết như một sự giãi bày những tâm tư đã nén bấy lâu trong lòng, mà nhất là trong lòng người nghệ sĩ, điều ấy càng giá trị
Nhà văn dù muốn hay không thì vẫn luôn sống trong một thời đại nhất định và chịu sự ảnh hưởng từ thời đại Với Trần Kim Trắc, ông đã có một khoảng thời gian phục vụ cho cách mạng, sống trong những năm tháng đất nước đấu tranh chống giặc ngoại xâm Từng là một người lính trong Tiểu đoàn 307, tinh thần cách mạng càng dâng cao Các sáng tác của ông cũng chịu ảnh hưởng từ quãng thời gian này, thể hiện đầu tiên ở bối cảnh của truyện, đó là khoảng thời gian chín năm (1945-1954) chống thực dân Pháp xuất hiện khá nhiều trong các truyện ngắn của ông Điều thứ hai ảnh hưởng từ những ngày tháng chiến đấu gian lao này là hình ảnh người lính Trần Kim Trắc không viết về người lính “Gục lên súng mũ bỏ quên đời” cũng không phải “nỗi buồn chiến tranh” của anh chiến sĩ, mà ông viết về người lính với một vẻ “dễ thương” vốn có của họ, về những câu chuyện vui trong sinh hoạt quân đội, về tính thật thà của anh lính nhà binh, rằng “viết làm sao để người ta thương anh bộ đội hơn” Ông dựa vào chuyện có thật trong tiểu đoàn để viết những truyện về đời lính nên dễ gợi cho người đọc những nét quen thuộc của anh bộ đội cụ Hồ và lay động những cảm xúc chân thật nhất nơi bạn đọc Đọc Trần Kim Trắc, ta dễ dàng cảm và thương những anh lính như
vậy trong Mấy sông cũng lội, Â bờ ấp, Dầu Hồng Lạc, Tạ Văn Bang,
Bên cạnh đề tài người lính, nhà văn còn viết khá nhiều về tình cảm gia đình
Đọc Bố dượng, Ghế trống, Cái mất đi tìm lại như đọc cả tâm tư tác giả Ông nén trong
Trang 29trang viết những cảm xúc của riêng mình, tình cảnh mồ côi, mẹ ghẻ con chồng khiến
cho người đọc dễ dàng thấu hiểu và cảm thông Đọc Bởi vì là vợ ổng, Con của chồng, Sầu riêng, Cám treo, mới thấy tình nghĩa gia đình khăng khít đậm sâu, dù trải qua
biến cố nhưng cái nghĩa vợ chồng vẫn cao hơn cả, đồng thời nổi bật lên cách hành xử đáng khen ngợi và thông minh của người phụ nữ với trách nhiệm “xây tổ ấm” trong gia đình
Viết về tình yêu, Trần Kim Trắc như một “chuyên gia tư vấn tình cảm” với giọng điệu khi tâm tình khi hóm hỉnh, khi lại triết lý sâu xa Ông như người đứng ngoài nhưng lúc nào cũng lắng nghe, đưa lời khuyên, làm “nhà thuật ngữ trị liệu” cho người
trong cuộc Đó là tình yêu không hồi đáp của anh Bao Công trong Mối tình anh Bao Công, là tình yêu thầm kín của Hảo dành cho cô Út nhưng không dám tỏ bày vì mặc cảm người lính mù lòa trong Cô Út Ngọt Phước Long, là lời khuyên chân tình mà đầy triết lý tình yêu của y sĩ Long với cô y tá Bích Thủy trong Nhà thuật ngữ trị liệu Trần
Kim Trắc viết về tình yêu với đầy đủ cung bậc cảm xúc, có buồn có vui, có khổ đau có viên mãn Không chỉ viết ra cho thỏa cảm xúc, giũa tài văn mà ông quan niệm “văn chương, một mặt nào đó phải giúp họ gỡ rối tơ lòng, hướng họ đến lối sống và tình yêu lành mạnh”
Trần Kim Trắc còn hướng ngòi bút của mình đến những thân phận thấp hèn trong xã hội: những cô gái bán phấn buôn hương như nàng Mimô, cô Hội, cô Lý; những người lầm lỗi muốn trở về con đường hoàn lương; hay những con người nhỏ bé
như bác xe ôm, ông lão nhặt rác, bà lão vô gia cư, mà bạn đọc bắt gặp trong Chuyện nàng Mimô, Ừ đi! Ừ!, Xoài muộn, Sài Gòn đắc địa, Nhân hậu, Trần Kim Trắc viết về
họ vì ông tin ở họ vẫn tồn tại cái đẹp, cái thiện và nhiệm vụ của nhà văn là phải khơi gợi lên hạt ngọc trong tâm hồn đó, đánh bóng nó lên để giữ cái đẹp, cái thiện mãi sáng Nhà văn không đứng ngoài thời cuộc, ngay cả những sự việc xảy ra trước nhà cũng được ông đưa vào làm đề tài trong trang văn, vì ông cho rằng những vấn đề tệ nạn mà
“xã hội lên tiếng không được hay không tiện thì văn chương lại có thể chạm đến, vì văn học theo tôi là sự giáo dục gián tiếp”
Trang 30Một điểm giúp truyện ngắn Trần Kim Trắc khó nhầm lẫn được với ai là nhờ những kinh nghiệm về nông nghiệp mà ông tích lũy Ông từng trải qua nhiều nghề trước khi rẽ sang nghiệp văn chương thế nên vốn kiến thức về đời sống của ông đã trở thành chất liệu riêng biệt cho tác phẩm mà khó có ai vượt qua, đặc biệt là kinh nghiệm nuôi ong Kiến thức nuôi ong mà ông đưa vào truyện ngắn được đánh giá “không hề
thua kém bất kì chuyên gia đầu ngành nào” Chẳng hạn trong truyện ngắn Ông Thiềm Thừ, nhà văn trình bày kiến thức về loài ong lỗ và thứ nọc độc “có mùi cay hắc” gây
đau nhức, liều cao có thể gây tử vong, thứ nọc độc này còn khơi dậy bản năng hung dữ
và tự vệ của chúng Cũng như trong truyện ngắn Nhà chim, có đoạn ông viết về đặc
tính của ong thợ và ong chúa, dựa vào đó khai thác được gần hai mươi đàn ong Trần Kim Trắc còn viết về câu chuyện của những người thợ sơn tràng (thợ khai thác gỗ)
trong Chuyện riêng tư chốn sơn tràng hay kinh nghiệm nuôi lươn, cách khắc phục tình trạng lươn bố mẹ ăn thịt lươn con trong truyện ngắn Con lươn Với trường hợp nhà văn
Trần Kim Trắc, bạn đọc hoàn toàn có thể tin rằng kinh nghiệm sống cũng làm nên nét riêng cho tác giả
Đọc Trần Kim Trắc, bạn đọc nhìn thấy ở đó phong cách “lí lắc”, nụ cười hóm hỉnh với lối kể chuyện chân chất, nhẹ nhàng của người Nam Bộ Như Nguyễn Văn Trung từng có nhận xét: “Người miền Nam sống văn chương hơn là làm văn học”, tác phẩm của Trần Kim Trắc có một nét gì rất tự nhiên như con người nơi đây, không câu
nệ, không rườm rà mà chân tình, ấm áp với cái nhìn tươi sáng về đời người Nói về sự
“lí lắc” của mình, ông bảo văn ông có chất tếu và sự lí lắc của người Nam Bộ, ông còn đọc bài thơ thời còn đi lính cho cái sự tếu, sự lí lắc này:
Đi đâu chẳng biết đi đâu
Rề lên rề xuống lâu lâu lại về
Hễ về thì lại hề hề
Rề lên rề xuống hề hề lại đi
Trang 31Ông là người Nam Bộ sống lạc quan không chỉ bởi sự “lí lắc” này mà còn vì ông là nhà văn “tìm ngọc trong đời” Ở mỗi con người, dù cho họ có thấp kém hay nghèo hèn song ông không nhìn vào thân phận họ chỉ để cảm thông, xót xa mà luôn tìm thấy nơi họ cái thiện, cái đẹp của một viên ngọc mà đã bị hiện thực xã hội vùi lấp đi, tìm cho họ “đất mới để gieo trồng” Cũng có thể vì lý do này mà hầu như những sáng tác của ông đều có kết thúc có hậu Như nhà văn Nguyễn Khải từng viết về Trần Kim Trắc: “Một đời người không may mắn mà không có một truyện nào hàm chứa sự bất bình, nỗi oán hận hoặc những nhận xét chua chát, cay nghiệt Câu văn thật nhẹ, thật thanh thoát và tươi tắn Và rất vui” Còn nếu như kết thúc câu chuyện chưa thật sự có
hậu, ông lại viết tiếp một câu chuyện khác để tiếp nối Chẳng hạn như truyện ngắn Ông
và nước mắt (sáng tác 4/1/2003) kết thúc bằng những giọt nước mắt của người ông vì
thương cháu, sợ cháu phải chịu cảnh cha dượng mẹ kế nhưng người ông không làm
được gì hơn Liền sau đó, nhà văn viết Chồng mượn (sáng tác 27/1/2003) kể về cô
Hương - nguyên nhân gián tiếp khiến câu chuyện trước kết thúc không có hậu Có phải
vì nhà văn không đành lòng để câu chuyện của mình kết thúc bằng nước mắt, không đành để cảm xúc đọng lại trong độc giả là nỗi u buồn?
Viết truyện bằng cả cuộc đời của mình, thế nên trong một số truyện ngắn của ông, nhất là những truyện mà nhân vật mang đích danh tác giả (“bác Ba”, “Ba Trắc”,
“thằng Trắc”) như Mấy sông cũng lội, Con lươn, Cây đắng hay Cái mất đi tìm lại,
người đọc có thể sẽ nhầm lẫn những truyện ngắn này với thể tự truyện Tuy vậy ở một khía cạnh nhất định nào đó, người kể chuyện trong tác phẩm không hoàn toàn đồng nhất với tác giả mà chỉ mang phong cách và chất liệu cuộc sống từ tác giả, ít nhiều vẫn
có sự hư cấu từ người viết Như vậy những tác phẩm của Trần Kim Trắc chỉ mang hơi hướm của thể tự truyện, nếu không tác giả đã hoàn toàn gọi nó là tự truyện, chứ không gọi là truyện ngắn
Tiểu kết:
Trải qua tuổi thơ không may mắn nhưng nhìn chung các sáng tác của Trần Kim Trắc không vì thế mà bi lụy, đặc biệt ở các truyện ngắn của ông, người đọc luôn có lý
Trang 32do để tin vào một điều tươi sáng hơn cho nhân vật Các định hướng trong sáng tác văn chương mà Trần Kim Trắc quan niệm không chỉ là định hướng sáng tác của riêng nhà văn mà còn là yêu cầu nghệ thuật với bất kì người nghệ sĩ nào Thể truyện ngắn tuy không có sức vóc như tiểu thuyết nhưng luôn nắm vị trí và vai trò nhất định trong văn học Với Trần Kim Trắc, ông viết truyện ngắn như trải lòng mình, mỗi truyện đều ít nhiều liên quan đến một mảnh kí ức của cuộc đời ông Vì vậy khi tìm hiểu truyện ngắn Trần Kim Trắc cần gắn với cuộc đời nhà văn để hiểu câu chuyện rõ hơn song cũng không vì thế mà đồng nhất hoàn toàn câu chuyện với cuộc đời tác giả Các đề tài trong truyện ngắn của ông khá đa dạng bao gồm tình yêu, tình thân, tình quân dân, đạo thầy trò, và trong mỗi câu chuyện đều khéo léo ẩn chứa những bài học sâu sắc về cuộc đời Các truyện ngắn của Trần Kim Trắc cũng thể hiện vốn kiến thức sâu rộng về nông nghiệp cùng với lối kể nhẹ nhàng và giọng văn tự nhiên, lí lắc tạo nên đặc trưng riêng trong phong cách sáng tác của nhà văn
Trang 33CHƯƠNG 2 NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN KIM TRẮC
Thuật ngữ narratology, narratologie xuất hiện lần đầu năm 1969 do T Todorov (nhà nghiên cứu người Pháp gốc Bulgaria) đề xuất trong sách Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày”, “ngữ pháp” mà Todorov nhắc tới ở đây là kết cấu tự sự Từ sự khai sinh
này, ngành tự sự học đã có một tên gọi chính thức và vươn ra tầm quốc tế với nhiều tên tuổi nổi bật khác như B Tomashevski, V Shklovski, G Genette, R Barthes, G Prince,
Ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ narratology hay narratologie vẫn còn chưa thống nhất trong cách dịch, một bên dịch là tự sự học và một bên là trần thuật học Một
số nhà nghiên cứu sử dụng cách dịch trần thuật học như Lại Nguyên Ân, Đỗ Hải
Phong, vì họ cho rằng để phân biệt với ba thể loại lớn của văn học là tự sự, trữ tình
và kịch Một số nhà nghiên cứu khác như Trần Đình Sử, Phương Lựu, nghiêng về
cách dịch tự sự học, họ cho rằng cách hiểu trần thuật học là “khuynh hướng ngữ học hóa”, vấn đề nghiên cứu của tự sự học thực chất rộng hơn trần thuật rất nhiều và tự sự
không chỉ chỉ riêng một loại hình của văn học mà còn “là một phương thức biểu đạt mà báo chí, thông tấn, lịch sử đều sử dụng”
R Barthes từng có nhận xét: “Đã có bản thân lịch sử loài người, thì đã có tự sự” Quả thật tự sự đã có từ rất lâu, những ký hiệu đơn giản ghi lại mặt trời, mặt trăng, con sông, dãy núi hay những lời kể chuyện dân gian, những nét vẽ đơn giản mục tiêu săn bắn như con hươu, con bò hay điêu khắc tượng, tất cả đều là những ví dụ cho sự mô phỏng của con người thời xưa Đây cũng là một dạng của tự sự, được gọi là tự sự mô phỏng, giúp con người nhận biết được sự vật và thế giới xung quanh Người ta cũng biết phân biệt tự sự lịch sử và tự sự nghệ thuật từ thời Platon, Aristote; đầu thế kỉ V, phân biệt giữa tự sự mô phỏng, tự sự giải thích và tự sự hỗn hợp “Tuy vậy, trong các
Trang 34hình thức tự sự, chỉ có tự sự văn học là phức tạp nhất, đáng để nghiên cứu nhất, làm thành đối tượng chủ yếu của tự sự học”.11
Tự sự học được chia thành ba thời kỳ với mốc phân định là chủ nghĩa cấu trúc, tương ứng với ba thời kỳ: tự sự học trước cấu trúc chủ nghĩa, tự sự học cấu trúc chủ nghĩa và tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa
Giai đoạn mở đầu cho tự sự học hiện đại là giai đoạn tự sự học trước cấu trúc chủ nghĩa Các đại diện của giai đoạn này kể đến như B Tomashevski, V Shklovski,
V Propp, nghiên cứu về các thành phần và chức năng của tự sự
Giai đoạn tự sự học cấu trúc chủ nghĩa đi tìm mô hình cho hình thức tự sự Đặc điểm của giai đoạn này là “lấy ngôn ngữ học làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học”
Giai đoạn tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa gắn với bộ môn ký hiệu học, lấy văn bản làm cơ sở
Suy cho cùng, nội dung trung tâm của tự sự học là nghiên cứu cấu trúc văn bản
tự sự và những vấn đề liên quan Cấu trúc văn bản tự sự lại có nhiều cách phân loại: V
Shklovski với khuynh hướng lưỡng phân chia truyện thành hai lớp là fabula và Xiuzhet
(hay như là chất liệu và hình thức) Đến G Genette, M Bal bổ sung thêm lớp “tự sự” (kể chuyện) vì theo Genette nếu chỉ có cốt truyện mà không có sự kể chuyện là không được Trần Đình Sử cho rằng ngày nay có xu hướng phân chia theo cách khác: histoire/récit (chuyện/ kể, bản kể); story/discours (chuyện/lời kể), récit/narration (bản kể/hành vi kể) Dựa vào các cách phân chia trên, ta cũng có thể nhận thấy việc “kể như thế nào” cũng không kém phần quan trọng so với “kể cái gì”, tức là hành động kể đóng một vai trò trọng yếu, làm nổi bật chủ thể của hành động này là người kể chuyện trong trần thuật
11Trần Đình Sử (chủ biên) (2017) Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử Hà Nội: Đại học Sư phạm.
Trang 352.1 Người kể chuyện trong văn học
2.1.1 Người kể chuyện (story-teller)
Trước hết, chúng tôi xin cân nhắc về chữ người kể chuyện sắp dùng dưới đây Hiểu một cách nôm na, người kể chuyện là người tái hiện một câu chuyện, sự kiện
bằng lời nói của mình Trong đời sống sinh hoạt, chúng ta nhìn thấy một sự việc, hiện tượng và thuật lại cho người khác cùng nghe tức là đã có hành động kể và chủ thể của
hành động đó là người kể Còn trong văn học, người kể chuyện có thể là một nhân vật
trong hay ngoài câu chuyện, cũng có thể là đồ vật, con vật miễn là đồ vật hay con vật
ấy là chủ thể thuật lại câu chuyện và có ngôn ngữ, thái độ của nó Một cách đơn giản
để phân biệt, người kể chuyện (story-teller) trong đời sống sinh hoạt là người thực còn người kể chuyện (narrator) trong văn học chỉ là một sinh thể trên giấy, có thể là người
thực hoặc có thể là một nhân vật hư cấu hoàn toàn Trong các ví dụ ở phần dưới đây sẽ
minh họa cho thuật ngữ người kể chuyện (story-teller)
Nếu nói trong đời sống hằng ngày, người kể chuyện (story-teller) có thể là bất
cứ ai trong bất cứ hoàn cảnh nào Có thể là một cô bé học sinh kể cho cha mẹ nghe những sự việc xảy ra ở trường học, một anh chàng kể lại câu chuyện ở những nơi mà mình đã du lịch với bạn bè, một ông lão kể chuyện đi kháng chiến thời xưa cho con cháu, cũng có thể là một anh A nào đó kể lại những chuyện không phải của mình nhưng đã mắt thấy tai nghe,
Nếu đặt người kể chuyện trong không gian diễn xướng (có thể là không gian đình làng, buôn bản hay chỉ đơn giản là người ông người bà kể chuyện cho con cháu trong gia đình), lúc này người kể chuyện là người biết rõ mồn một về câu chuyện mà
họ sắp kể lại bằng lời cho mọi người nghe Chính bởi không gian kể chuyện này mà sức hấp dẫn của câu chuyện không chỉ nằm trong bản thân câu chuyện nữa mà phụ thuộc một phần lớn vào chủ thể của buổi diễn xướng kia Người kể chuyện càng có tài hoạt ngôn và sự nhạy bén, biết ngắt nghỉ đúng lúc giữa mạch truyện sẽ tạo sự hồi hộp, kích thích sự tò mò nơi người nghe, và làm cho người nghe háo hức trông chờ vào
Trang 36những diễn biến sắp xảy đến Với truyện cổ tích, người kể chuyện thường là các mẹ, các bà và “thính giả” sẽ là các cô cậu tinh nghịch Các bà các mẹ sẽ kể câu chuyện cổ tích với giọng nhẹ nhàng dẫn người nghe vào thế giới cổ tích tưởng tượng, và khi kết thúc mỗi câu chuyện sẽ rút ra một vài lời khuyên răn bổ ích với mục đích giáo dục con cháu Hay như với sử thi, người kể chuyện là nghệ nhân có tài hát kể sử thi, tùy vào không gian diễn xướng, nếu là không gian lễ hội thì lễ hội diễn ra trong bao nhiêu ngày, có bấy nhiêu đêm kể sử thi Người nghe vẫn luôn im lặng say sưa ngồi quanh bếp lửa và ché rượu cần nghe chuyện suốt đêm thâu chính nhờ cái tài của người kể
Người kể chuyện trong các ví dụ trên là con người bằng xương bằng thịt xuất hiện trực tiếp và kể lại câu chuyện, đồng thời tạo với “thính giả” thành một cặp, một bên kể một bên nghe, nếu không có người nghe sẽ không có người kể Chính vì đặc tính truyền miệng của văn học dân gian mà việc tạo ra nhiều dị bản là điều không thể tránh khỏi, điều này một phần phụ thuộc vào đặc trưng vùng miền, phần khác phụ thuộc chủ thể kể chuyện, mỗi lần kể lại là một lần hoặc thiếu chi tiết này thừa chi tiết
nọ hoặc “thêm mắm dặm muối” tùy theo cảm xúc chủ quan của người kể, mỗi lần như vậy lại tạo ra một dị bản Nguyên nhân là các truyện kể trong văn học dân gian có kết cấu tự sự theo dòng thời gian (kết cấu tuyến tính), cốt truyện dễ nhớ, nhân vật gần gũi với đời sống hằng ngày, và thông thường người ta chỉ quan tâm đến nhân vật, bám vào hành động của nhân vật để ghép nối thành chuỗi sự kiện cho câu chuyện Vì vậy các yếu tố của tự sự lúc này chưa được đề cao Trong một tác phẩm văn học dân gian, thường không có nhân vật nào đứng ra kể lại câu chuyện mà người kể thường không lộ diện, có lúc mờ nhạt thậm chí vô hình trong tác phẩm
Các ví dụ trên đây minh họa cho vấn đề người kể chuyện trong đời sống hằng
ngày (story-teller) Đặc trưng của loại người kể chuyện này là có thể kết hợp và điều
chỉnh cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, để phù hợp với cảm xúc và thái độ của người nghe đồng thời bổ sung thêm cho lời kể chuyện
Trang 372.1.2 Người kể chuyện trong văn học (narrator)
Khác với người kể chuyện ở trên, người kể chuyện (narrator) trong văn học là
chủ thể độc lập, xuất hiện trên trang giấy và giữ một vai trò quan trọng trong tự sự học
Trước đây, khái niệm người kể chuyện hầu như bị bỏ quên khi nghiên cứu một tác phẩm văn học, bằng chứng là mốc thời gian xuất hiện khá trễ của tự sự học Người ta
khi bước đầu tiếp xúc với một tác phẩm văn học, hầu như trước nhất sẽ quan tâm đến nhân vật, ngôn ngữ, cốt truyện hay biện pháp nghệ thuật được sử dụng mà ít khi nào nhắc đến yếu tố người kể chuyện, thậm chí yếu tố này còn trở nên vô hình thành thử sự tồn tại của nó càng khó có cơ hội phổ biến rộng rãi Mãi về sau, khi một bộ phận độc giả dần trở nên khó tính, có những yêu cầu “cao cấp” hơn về văn học, điều này đòi hỏi tác phẩm văn học phải mới hơn, “lạ” hơn Thêm vào đó, từ khi văn học trở thành một loại hàng hóa kéo theo sức cạnh tranh của người làm văn học ngày càng lớn, tác giả vì muốn gây ấn tượng nên họ không ngại làm mới cách viết của mình sao cho thật cuốn hút với độc giả Người viết bắt đầu chú trọng đến những yếu tố tác động trực tiếp đến cảm quan của người đọc như tên, bìa tác phẩm, lời tựa, bên cạnh đó cách kể chuyện cũng được làm mới, độc đáo hơn để khi tiếp cận với những dòng đầu tiên của tác phẩm, độc giả sẽ lập tức bị cuốn vào câu chuyện đó
Người ta có thể xem một bức tranh và cảm nhận được nội dung bức tranh đó (có thể qua cách nhìn của mỗi người mỗi khác) mà không cần người họa sĩ phải giải thích rằng ông ta vẽ điều gì Người ta cũng có thể làm điều tương tự với các tác phẩm điêu khắc và những giai điệu của bài nhạc nhưng một khi bước vào thế giới của văn học, khi những con chữ lần lượt chuyển động trước mắt độc giả, câu chuyện dần dần được hé lộ song dưới sự dẫn dắt của một người - đó là người kể chuyện
Tuy là nhân vật xuất hiện trong thế giới hư cấu nhưng người kể chuyện lại là người chỉ đường dẫn lối cho độc giả đến với tác phẩm, “vấn đề người kể chuyện là một trong những vấn đề trung tâm của thi pháp văn xuôi hiện đại”12
12 Trần Đình Sử (chủ biên) (2017) Tự sự học – Một số vấn đề lí luận và lịch sử, sđd
Trang 38Từ điển Văn học (bộ mới)13 ở mục người kể chuyện, có nhắc: “Thuật ngữ chỉ
nhân vật đóng vai trò chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng ra kể trong tác phẩm văn học”
Trong Từ điển thuật ngữ văn học14, ở mục người kể chuyện, có viết “hình tượng
ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác
giả (ví dụ: “tôi” trong Đôi mắt), dĩ nhiên không nên đồng nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời; có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra (ví dụ người điên trong Nhật kí người điên của Lỗ Tấn); có thể là một người biết một câu chuyện nào đó Một
tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện.”
Cũng trong Từ điển thuật ngữ văn học có viết về người trần thuật “là một nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành Trong khi kể miệng, người trần thuật là một người sống sinh động Trong trần thuật viết phi văn học (như báo chí, lịch sử), người trần thuật nói chung đồng nhất với tác giả Nhưng trong tác phẩm trần thuật mang tính chất văn học thì người trần thuật lại khác, nó bị trừu tượng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn hoặc hiện trong tác phẩm
13 Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu &Trần Hữu Tá (chủ biên) (2004) Từ điển Văn học (Bộ mới)
Hà Nội: Thế giới, tr.1239-1240
14 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử & Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007) Từ điển thuật ngữ văn học, sđd, tr.221
Trang 39Vấn đề tranh cãi trong cách dịch thuật ngữ narratology thành tự sự học hay trần thuật học cũng gây ra sự nhập nhằng trong cách dịch thuật ngữ narrator là người kể chuyện hay người trần thuật Cho tới nay trong giới nghiên cứu ở Việt Nam vẫn chưa
thống nhất trong cách định nghĩa và sử dụng thuật ngữ này
Trong Dẫn luận nghiên cứu văn học, tập 215 có viết: “Những người trần thuật cũng hoàn toàn có thể xuất hiện trong tác phẩm dưới hình thức cái “tôi” nào đó Những người trần thuật được nhân vật hóa như vậy, kể câu chuyện từ ngôi “thứ nhất” của chính mình có thể gọi một cách tự nhiên là người kể chuyện” Dưới đó cũng có dòng chú thích: “Sự phân biệt các khái niệm đề xuất ở đây chưa được chấp nhận phổ biến
Các từ người trần thuật và người kể chuyện cũng thường được dùng như là đồng
nghĩa.”
2.1.3 Chức năng của người kể chuyện
Nguyễn Hải Hà trong Thi pháp tiểu thuyết L Tônxtôi, có nhận xét: “Người kể
chuyện, dù có mặt ở bất cứ hình thức nào, đều là thành tố quan trọng tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm tự sự”
Không chỉ là người dẫn dắt độc giả vào câu chuyện trong thế giới nghệ thuật hư cấu, người kể chuyện còn là đại diện cho tác giả về mặt lập trường xã hội, “cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lí, nghề nghiệp” “Người kể chuyện là một trong những hình thức thể hiện quan điểm tác giả trong tác phẩm, thái độ của người kể với thế giới câu chuyện được kể có thể trùng với thái độ của tác giả nhưng không bao giờ trùng khít hoàn toàn”16, người kể chuyện đóng vai trò trung gian giữa tác giả với người đọc, vì vậy không thể đồng nhất tác giả với người kể chuyện Khi câu chuyện được hiển hiện trên giấy, lúc này xuất hiện sự giả định của một tác giả hàm ẩn (implied author) Nói như Cao Kim Lan: “Tác giả hàm ẩn chính là kẻ sáng tạo giấu mặt, người điều khiển, chi phối mọi hoạt động, từng nhân tố nhỏ nhất trong văn bản tác phẩm và
15 G N Pospelov (1998) Dẫn luận nghiên cứu văn học, tập 2 Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà và Nguyễn Nghĩa Trọng dịch Hà Nội: Giáo dục, tr,66-67
16 Trần Đình Sử (2017) Tự sự học – Một số vấn đề lí luận và lịch sử, sđd
Trang 40cũng là người hướng dẫn giải mã văn bản tác phẩm”17 Cũng không thể nhầm lẫn tác giả hàm ẩn với tác giả thực bởi tác giả thực chỉ như người ghi chép lại câu chuyện còn tác giả hàm ẩn được lí giải như một “cái tôi thứ hai” của tác giả, “không có tiếng nói, không có phương tiện giao tiếp, nó chỉ có một “nguyên tắc” tổ chức mọi phương tiện trần thuật bao gồm cả người kể chuyện”
Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi
đồng chủ biên có đề cập đến năm chức năng của người kể chuyện như sau:
1) chức năng kể chuyện, trần thuật;
2) chức năng truyền đạt, đóng vai một yếu tố của tổ chức tự sự;
3) chức năng chỉ dẫn, thuộc phương pháp trần thuật;
4) chức năng bình luận;
5) chức năng nhân vật hóa
2.1.4 Các kiểu người kể chuyện
Ngôi kể thường là yếu tố đầu tiên để phân biệt các kiểu người kể chuyện, để xác định tác phẩm văn học được kể theo ngôi nào, người ta thường căn cứ vào danh xưng của chủ thể hành động kể trong câu chuyện Ba ngôi kể thường được biết đến là ngôi
kể thứ nhất, (người kể xưng “tôi”, “chúng tôi”, ), ngôi kể thứ hai (người kể ở ngôi này đặt vị trí vào người trực tiếp nghe chuyện, người kể chuyện sử dụng những danh xưng như “bạn”, “cậu”, “mi”, “mày”, “chúng mày”, khi người đọc tiếp cận tác phẩm, họ sẽ đặt mình vào vị trí danh xưng mà người viết sử dụng) và ngôi kể thứ ba (thường được hiểu là người kể chuyện giấu mình) Trong ba ngôi kể này, thông dụng nhất là ngôi thứ
ba, trong khi đó ngôi thứ hai hiếm thấy xuất hiện
Một số tác phẩm văn học lấy làm ví dụ cho ngôi kể thứ nhất như: Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài, Thiếu nữ đánh cờ vây của Sơn Táp, Forrest Gump của Winston Groom, Trà hoa nữ của Alexandre Dumas (con),
17 Cao Kim Lan (2015) Tác giả hàm ẩn trong tu từ học tiểu thuyết Hà Nội: Văn học, tr.193