Nghệ thuật kết thúc câu chuyện

Một phần của tài liệu Đặc điểm truyện ngắn trần kim trắc (Trang 110 - 116)

Chương 3. NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN TRẦN KIM TRẮC

3.1. Nghệ thuật kể chuyện

3.1.3. Nghệ thuật kết thúc câu chuyện

Truyện ngắn, do có sự giới hạn về dung lượng nên tính chặt chẽ của các thành tố trong kết cấu cốt truyện luôn được chú trọng, trong đó có nghệ thuật kết thúc truyện. Nhà văn Shêkhôp từng viết: “cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và cái kết thúc” [43, 75]. Nhiều nhà văn chú ý tạo ra những chuyển đoạn đột ngột trong giới thiệu, bố cục và đặc biệt là trong cách kết thúc câu chuyện.

Bởi lẽ, đoạn kết chính là nơi nhà văn vừa khép lại câu chuyện lại vừa tạo ra những dư ba, những vang hưởng. Nó để lại trong lòng người đọc những cảm xúc bền lâu, trở thành “vết hằn trong tâm trí” khó phai mờ.

Trong văn chương tự sự: “Lời kết - đó là tình tiết kết thúc hoặc lời miêu tả pha cuối trong triển khai cốt truyện (chủ đề) của tác phẩm. Nói cách khác, lời kết - đó là một “dấu chấm” đặc biệt của văn bản” [14, 270]. Ở mỗi tác phẩm, Trần Kim Trắc cũng có những kết thúc truyện độc đáo và đầy ấn tượng. Kết thúc mỗi câu chuyện, mỗi cảnh đời, tác giả không bao giờ để cho nhân vật của mình rơi vào bế tắc, tuyệt vọng, cũng không để cho nhân vật phải chịu sự trừng phạt nặng nề. Ở đó, luôn có sự tha thứ, giúp đỡ của gia đình, bạn bè, người thân hay sự cưu mang của xã hội. Có lẽ vì thế mà nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn đều khoác lên mình vẻ đẹp của lòng khoan dung, độ lượng và luôn khát khao tình yêu con người, cuộc sống như ngọn lửa âm ỉ cháy không dễ gì dập tắt. Khi có cơ hội ngọn lửa ấy sẽ bùng lên mãnh liệt.

Như vậy, nếu xét về nội dung thì truyện ngắn của Trần Kim Trắc luôn kết thúc có hậu, chứ không bi kịch. Chuỗi sự kiện trong truyện được sắp xếp theo lôgic nhân quả. Đọc xong tác phẩm người đọc gần như đã tường minh về số phận của các nhân vật. Truyện không có những ẩn số, không tạo khoảng trống cho người đọc. Với lối kết thúc này, người đọc không có nhiệm vụ cùng giải quyết những vấn đề của tác phẩm mà chỉ chấp nhận một cốt truyện đã được giải quyết xong xuôi, nhà văn đóng vai trò là người truyền phán chân lý.

Hiện thực trong tác phẩm được biết trước như nó phải có, cần có. Đó là câu chuyện về nhân vật bố dượng trong tác phẩm cùng tên, trải qua bao nhiêu năm trời lẽo đẽo từ Bắc vào Nam đi theo hai mẹ con chỉ để được chăm sóc người mình thương. Cuối cùng, sự kiên trì và tình yêu chân thành đã kết thành duyên phận, dệt nên một trời yêu thương với nhiều kỉ niệm không thể nào quên cho một gia đình nhỏ ấm áp nghĩa tình. Người bố dượng trong truyện mà ngày ấy cô bé gọi là bác đã khiến cho chúng ta vô cùng cảm động bởi tấm chân tình hiếm có trên đời (Bố dượng). Có khi, nhà văn lại viết về cô sinh viên đại học năm hai - Nguyễn Thị Tươi - vì hoàn cảnh xô đẩy nên trở thành gái bán phấn buôn hương, “liều mình nhắm mắt đưa chân”, bán rẻ thân xác. Cô bị bắt vào trại cải tạo. Nhưng nhờ ý thức về nhân phẩm, khát vọng hoàn lương nên chính trại tù đã giúp cô trở lại kiếp người, sống có ích và hạnh phúc bên người chồng yêu thương thực sự trong Chuyện nàng Mimô. Kết thúc truyện ngắn Xoài muộn, Lý đã biết tự đứng dậy, cứu lấy cuộc đời mình sau những lỗi lầm, vấp ngã trong đời. Cô từ bỏ kiếp đời hoa, trở thành người vợ ngoan hiền cùng anh chồng chăm chỉ, siêng năng làm rẫy, sống hạnh phúc bằng lao động chân chính, lương thiện. Những tù nhân trong truyện Bánh bông lan cũng khiến người đọc thích thú. Dù mỗi người bị bắt vào tù một lí do khác nhau nhưng sau khi ra tù, trải qua nhiều thăng trầm ly biệt, họ gặp lại nhau trên con đường đến với kháng chiến, hoạt động cách mạng. Anh Ba Tri chính trị viên bị bắt năm nào bây giờ trở thành cán bộ Ba lẻ chín. Còn thằng Long bị bắt vì móc túi giờ

đã là lính tiểu đoàn này - trinh sát đặc công. Họ trở thành đồng đội của nhau, cùng nhau thực hiện lí tưởng đánh giặc cứu nước… Những cái kết có hậu ấy trong truyện cũng chính là ước mơ, khát vọng về cuộc sống tốt đẹp của con người mà nhà văn muốn gửi gắm qua mỗi trang văn.

Xét về cấu trúc, truyện ngắn Trần Kim Trắc có kết thúc đầy gợi mở.

Đây là một hướng tìm tòi thường gặp của truyện ngắn đương đại. Kết thúc mở đồng nghĩa với việc văn bản truyện đã đọc xong nhưng dòng vận động của truyện chưa chấm dứt, số phận nhân vật vẫn tiếp tục được suy đoán. Trước đây, kết cấu của truyện ngắn thường được xây dựng với 5 thành phần cốt truyện từ trình bày, khai đoan, phát triển, đỉnh điểm rồi kết thúc trong tính toàn vẹn. Giờ đây mô hình cấu trúc đó nhiều khi đã được giản lược, với việc coi đoạn kết là “điểm chiến lược của truyện kể” nên kiểu kết thúc để ngỏ trở thành một xu hướng trong nghệ thuật dựng truyện của nhiều tác giả truyện ngắn đương đại. Cách kết thúc này cho phép người đọc tham dự vào sự vận động của dòng mạch tác phẩm. Đọc những truyện ngắn có lối kết thúc để ngỏ, người đọc không chỉ là người thẩm định giá trị tác phẩm mà còn là đồng sáng tạo. Tác phẩm không đưa ra một kết thúc cụ thể mà “mời gọi” độc giả cùng đối thoại. Người đọc có thể tiếp cận những hướng tiếp cận khác nhau tùy vào tri thức, vốn sống và tâm thế của người đọc. Tác phẩm giả định nhiều viễn cảnh, “suy cho cùng, mỗi kiểu kết truyện là một giả định nghệ thuật triết lý nhân sinh của con người đương đại” [74]. Trong Khúc hát trái tim gà, kết thúc truyện, nhà văn để cho nhân vật giật mình thức giấc lúc nửa đêm khi con gà tật nguyền mà hai chị em Mai và Đào hết lòng yêu thương, chăm sóc lâu nay bỗng nhiên cất tiếng gáy. Truyện kết thúc bằng một câu hỏi của Đào khi nghĩ về duyên phận cuộc đời của con gà mà không có lời đáp “- Vậy biết tìm đâu ra cho nó một con gà mái?” [75, 118] nhưng lại mở ra trong lòng người đọc bao suy nghĩ về những trái tim khao khát yêu thương…. Còn ở Xoài muộn, kết thúc truyện, nhà văn để cho nhân vật lên đường: “Xe hai người lên

đường. Khi vấp ngã làm sao người ta ngã cho khéo được? Khi gượng dậy tự mỗi người một kiểu riêng. Các chị em đứng ở vỉa hè nhìn theo. Họ nghĩ gì?

Làm sao ta biết được?” [75, 139]. Truyện đã kết thúc, nhưng cuộc sống của họ ở phía trước thế nào thì nhà văn chỉ gợi mở cho người đọc tự suy nghĩ.

Hiển nhiên, đó sẽ là một tương lai tốt đẹp, tươi sáng hơn thực tại.

Đặc biệt, nhiều tác phẩm của Trần Kim Trắc có cái kết thúc truyện bằng đoạn đối thoại của các nhân vật như trong các truyện ngắn: Tivi không màn hình, Kẻ thất tình có tính cách, Nhà chim, Â bờ ấp, Yêu cái lôi thôi, Lên ba cân, Xoay vần, Sát hạch chàng rể, Con trai ông tướng, Sầu riêng, Ghế trống, Con lươn, Bởi vì là vợ ổng, Chuyện bếp núc, Vầng trăng năm ấy, Mối tình đầu, Xuống thang,… Lời thoại của những nhân vật khác nhau cũng có mặt trong một đoạn kết. Đây cũng nét “lạ hóa” đầy hấp dẫn mà tác giả đem lại cho người đọc của truyện ngắn Việt Nam đương đại. Với cách kết thúc như thế, có lẽ nhà văn đã ý thức đưa văn học nghệ thuật đến gần với đời sống hơn!

Văn học hướng tới việc xóa bỏ khoảng cách giữa người trần thuật và cái được trần thuật một cách tự nhiên, mới mẻ.

Xét về tính chất, truyện ngắn của Trần Kim Trắc có kết thúc đầy triết lí. Chẳng hạn, đó là triết lý trong lời tuyên ngôn về hạnh phúc con người ở truyện Bụi trần: “Cho hay hạnh phúc đâu chỉ có nơi cao quyền quý. Nơi tận cùng của nghèo khổ hạnh phúc vẫn sinh sôi. Biết ở đâu hơn - giàu chữ “lộc”

khó mà dễ, giàu chữ “phúc” dễ lại khó. Mấy ai được giàu như vợ chồng ông Bổn [79, 111]. Người đọc cũng bắt gặp cái kết thúc truyện của Ông Thiềm Thừ đầy triết lí như thế, qua sự lặp lại có biến đổi của con cóc tía vì bản năng sinh tồn. Bao lần nó bị nọc độc của ong châm ngay vào giữa họng, quật nó ngã ngửa bụng lên trời, run rẩy, dần dần rũ xuống như chết hẳn. Nhưng rồi, sau một hồi vật lộn “thiềm thừ” cũng nuốt được con mồi, trông rất hả hê, sảng khoái như vừa ăn xong bữa cỗ ngon lành, không còn gì là đau đớn nữa.

Và không lâu sau, nó vẫn giữ thói quen gan lỳ để tồn tại, lại tiếp tục cuộc

rình mồi. Nhưng dù gan lỳ đến mấy nó cũng không thể thoát khỏi trò chơi ngông của thằng Búa. Khi đang rình mồi bên tổ ong, nó bị thằng Búa lẩy cò viên đạn chì, rồi nắm chân đặt xác nó nằm vắt qua thanh ray đường xe lửa.

Nó chết thảm! Từ đó, lũ ong không còn ai khống chế, cứ thế sinh sôi. Dân sơn tràng phải mở con đường vòng để tránh nguy hiểm. Riêng thằng Búa vẫn với bản tính nghịch ngợm, nó theo trâu vượt qua. Nó bị đàn ong vần vũ đuổi theo châm đốt. Nó lên cơn sốt nóng, bọt mép trào ra. Mọi người đành phải đưa nó đi bệnh viện cấp cứu. Nó qua cơn bạo bệnh nhưng nọc độc ong châm trên mông gây hoại thư làm rút gân chân của nó. Kết truyện, thằng Búa phải mang thương tật suốt đời: “Tôi vác rìu theo tổ sơn tràng, đi sau lưng thằng Búa, nhìn nó đi chấm phẩy, chấm phẩy vừa thương vừa giận.

Chấm phẩy, chấm phẩy, nó phải đi lệch như vậy suốt đời, mãi mãi giữ dấu ấn của trò chơi ngông, làm mất cân bằng sinh thái” [77, 36]. Đoạn kết thúc truyện là thái độ của người kể chuyện đối với nhân vật khi phải gánh chịu quả báo mà tự nó gây ra. Qua đó, tác giả thể hiện triết lí sâu xa về luật “nhân quả” của cuộc đời.

Ngoài ra trong nhiều tác phẩm, nhà văn kết thúc truyện bằng những câu bình, như để hoàn chỉnh nét vẽ về phong tục sinh hoạt. Kết thúc truyện ngắn Cái lu, nhà văn viết: “Toàn thể “đồng ý” một tiếng rất lớn. Tự nhiên một tràng pháo tay nổi lên. Bà Tư chúm chím, ông Ba gục gặc đầu, đồng chí Danh sung sướng, chị Hai nãy giờ đứng nép cửa buồng nghe câu chuyện cũng thấy được hả lòng cười tươi như hoa nở” [75, 149]. Kết thúc truyện cũng là lúc người đọc nhận thấy rõ nhất tâm trạng vui sướng của các nhân vật. Tất cả đoàn kết một lòng, chăm lo cuộc sống và kháng chiến.

Có khi truyện kết thúc khá độc đáo, với lời cảnh báo chân thành nhưng rất hóm hỉnh của tác giả sau khi kể về bài thuốc dân gian chữa bệnh hen suyễn bằng bầu vú mướp của người con gái: “Lời cảnh báo: Như tôi đã viết trên phần mở đầu, tôi không phải là nhà nhân chủng học càng không phải là

nhà y học, chưa hề biết chuyện lâm sàng. Bài thuốc trong chuyện này chưa được ngành Y tế duyệt y. Chuyện kể dân gian thôi mà.

Tuy nhiên, về quyền hạn, bạn đọc nào tin, có thể tự thử nghiệm trên cái gì thuộc quyền sở hữu chủ của mình. Xin đừng mượn hoặc cầm nhầm của người khác dù là mùa nước rong” [75, 15].

Với giọng văn hóm hỉnh, có chút đùa bỡn, Trần Kim Trắc đã khiến người đọc luôn nở nụ cười tủm tỉm trên mỗi trang văn, Nếu ngay mở đầu truyện ngắn, tác giả tính ghi lại câu chuyện “để bạn đọc… cười chút chơi!” thì kết thúc truyện, nhà văn lại không quên đưa ra lời nhắn nhủ có hàm ý sâu sắc đến người đọc. Lời kết thúc truyện như thế có khi là sự bộc bạch quan niệm của tác giả, có khi lại gợi lên cho người đọc về một triết lí nhân sinh, một lối sống cao đẹp… Quả thật, văn của Trần Kim Trắc thường thể hiện tiếng cười thâm sâu nhưng không cầu kỳ. Có chăng, tiếng cười ấy thường gắn liền với những nhận thức nghiêm túc, những nhận xét xác đáng và những chiêm nghiệm sâu sắc về con người và cuộc đời.

Nhìn chung, truyện ngắn Trần Kim Trắc đều có hình thức kết thúc truyện không bi kịch. Dù cuộc sống không phải lúc nào cũng hạnh phúc tròn trịa, thậm chí còn nhiều bất hạnh khổ đau nhưng nhà văn luôn tìm đến một cái kết có hậu cho mỗi thân phận con người. Những cái kết thúc ấy không đến từ phép màu cổ tích hay sự nhào nặn quá tay của tác giả mà xuất phát từ đời sống hiện thực, bởi những con người nhân hậu, thủy chung; có ý chí, niềm tin vào con người và cuộc sống tương lai. Đó cũng là điều tốt đẹp mà văn học muốn mang lại cho cuộc đời. Vì thế, mỗi cái kết trong truyện của ông đều làm ấm lòng người đọc và nhen lên niềm tin về luật “nhân quả” ở đời, là nơi gửi gắm ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp của nhà văn. Có lẽ chính sự giản dị trong cách viết và xây dựng nhân vật đã khiến truyện ngắn của Trần Kim Trắc nhận được sự ủng hộ và yêu mến đến vậy của bạn đọc!

Trong văn chương nghệ thuật, đoạn kết thúc truyện luôn có ý nghĩa

nhất định, làm chức năng “chấm hết” truyện. Tùy thuộc vào ý đồ sáng tạo mà nhà văn có cách biểu hiện cái kết khác nhau, không theo một mẫu có sẵn nào.

Mỗi nhà văn khi viết “đều có nghệ thuật, dụng ý viết đoạn kết thúc truyện của mình. Dù cách nào đi nữa thì đoạn kết thúc cũng gắn với chủ đề của tác phẩm” [40, 368]. Và Trần Kim Trắc đã làm nên những dấu ấn đậm nét ở đoạn văn kết thúc truyện. Mỗi cái kết thúc trong truyện ngắn của ông đã thật sự để lại những dư ba trong lòng người đọc, gợi mở niềm suy tưởng với một cách nhìn hướng thiện.

Một phần của tài liệu Đặc điểm truyện ngắn trần kim trắc (Trang 110 - 116)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(156 trang)