1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn phường xuân tảo, quận bắc từ liêm, thành phố hà nội – thực trạng và giải pháp

70 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 237,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội — Thực trạng

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

• •

: THS GIANG THỊ NGỌC : LĂNG THỊ LIỆU

: 1405QLNC037 : 2014 - 2018 : ĐH QLNN 14C

Trang 2

BỘ NỘI VỤTRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA HÀNH CHÍNH HỌC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG XUÂN TẢO, QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội — Thực trạng và giải pháp” là công trình nghiên cứu của cá

nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai, số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực vàchưa từng được sử dụng trong bất kì nghiên cứu nào

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình !

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này trước hết em xin gửi đến quý thầy, côgiáo trong khoa Hành chính học, trường Đại học Nội vụ Hà Nội lời cảm ơn chânthành

Đặc biệt, em xin gửi đến cô Giang Thị Ngọc người đã tận tình hướng dẫn,giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp lời cảm ơn sâu sắc nhất

Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong quá trình thực hiện, hoàn thiện khóaluận em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đónggóp từ quý thầy (cô)

Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Lăng Thị Liệu

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

3 VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG

Sơ đồ 1.1.Bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP 26

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy UBND phường Xuân Tảo 38

Bảng 1.1 Một số văn bản Nhà nước đã ban hành về VSATTP giai đoạn 2010

-2016 đang còn hiệu lực 23Bảng 2.1 Thu chi ngân sách năm 2017 của UBND phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ

Liêm, thành phố Hà Nội 33Bảng 2.2 Công tác giải phóng mặt bằng và thi công các dự án trên địa bàn phường

Xuân Tảo năm 2017 36Bảng 2.3 Một số văn bản phường Xuân Tảo đã ban hành về lĩnh vực an toàn thực

phẩm năm 2017 41Bảng 2.4 Kết quả kiểm tra ATTP dịp tết Dương lịch, Tết Nguyên đán Đinh Dậu

2017 47

Bảng 2.5 Các nội dung vi phạm chủ yếu trong lĩnh vực ATTP năm 2017 48Bảng 2.6 Kết quả công tác tuyên truyền, giáo dục, truyền thông về VSATTP 50

Trang 7

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Đóng góp của khóa luận 7

8 Kết cấu của khóa luận 7

PHẦN NỘI DUNG 8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 8

1.1 Một số khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm và quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 8

1.2 Vai trò của vệ sinh an toàn thực phẩm và của nhà nước trong quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm 11

1.2.1 Vai trò của vệ sinh an toàn thực phẩm 11

1.2.2 Vai trò của Nhà nước trong quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm 12

1.3 Nguyên tắc quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 14

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 15

1.4.1 Định hướng của Đảng và chính sách của Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 15

1.4.2 Bộ máy và cán bộ làm nhiệm vụ quan ly nha nươ'c về vệ sinh an toàn thực phẩm 16

1.4.3 Ngân sói ch nha nươ'c đâu tư cho công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 19

1.4.4 Trình độ hiểu biết và nhận thức của người dân về vệ sinh an toàn thực phẩm 20

1.4.5 Một số yếu tố khác 20

Trang 8

1.5 Nội dung quản lý nhà nước về VSATTP 22

1.6 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm ở một số địa phương 28

Tiểu kết chương 1 31

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG XUÂN TẢO, QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32

2.1 Khái quát chung về phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 32

2.1.1 Vị trí địa lý 32

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 32

2.1.3 Hiện trạng phát triển cơ sở hạ tầng 36

2.2 Khái quát về UBND phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 37

2.2.1 Trụ sở làm việc 37

2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn 37

2.2.3 Cơ cấu tổ chức 38

2.3 Thực trạng về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 39

2.4 Thực trạng quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 40

2.4.1 Ban hành và thực hiện các văn bản về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 40

2.4.2 Tổ chức bộ máy và đội ngũ nhân sự làm công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 42

2.4.3 Thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Phường PhườngXuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 46

2.4.4 Về tổ chức tuyên truyền, giao dục, truyên thông, nâng cao nhận thức về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Phường phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 49

Tiểu kết chương 2 51

Trang 9

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM TRÊN

ĐỊA BÀN PHƯỜNG XUÂN TẢO, QUẬN BẮC TỪ LIÊM, 52

THÀNH PHỐ HÀ NỘI 52

3.1 Những yếu kém, hạn chế và nguyên nhân của công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 52

3.2 Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về VSATTP trên địa bàn phường Xuân Tảo 55

3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền đối với công tác bảo đảm an toàn thực phẩm 55

3.2.2 Tăng cường nguồn lực cho công tác QLNN về vệ sinh an toàn thực phẩm 56 3.2.3 Thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm 58 3.2.4 Tăng cường công tác giáo dục, truyền thông, nâng cao nhận thức về vệ sinh an toàn thực phẩm 58

3.2.5 Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm 58

3.3 Kiến nghị 59

3.3.1 Đối với Thành phố Hà Nội 59

3.3.2 Đối với quận Bắc Từ Liêm 60

3.3.3 Đối với phường Xuân Tảo 60

Tiểu kết chương 3 61

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong sự phát triển không ngừng của xã hội hiện đại thì vấn đề về sức khỏe conngười luôn là vấn đề nóng nhất và được quan tâm nhiều nhất Bởi lẽ ai trong chúng tacũng muốn mình có một sức khỏe tốt nhưng chúng ta lại vô tình xem nhẹ đi tác hạitưởng chừng như rất nhỏ của những thói quen xấu hằng ngày từ những thực phẩmkhông đảm bảo an toàn cho sức khỏe Theo báo cáo thường niên của tổ chức Y tế thếgiới (WHO), mỗi năm trên thế giới có khoảng 40 triệu vụ ngộ độc xảy ra, riêng khu vựcchâu Á - Thái Bình Dương chiếm tới 50% Nguy hiểm hơn, toàn thế giới có tới 50% ca

tử vong có liên quan đến vấn đề an toàn thực phẩm Tại Việt Nam, theo Cục an toànthực phẩm, trong năm 2016, cả nước ghi nhận 129 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn ngườimắc, trong đó có 12 trường hợp tử vong [8; http://quochoi.org/an-toan-thuc-pham-va-nhung-tac-dong-den-kinh-te-viet- nam.html] Số liệu này so với năm 2015 cho thấy, tuy

số người mắc giảm nhưng tình hình vẫn diễn biến phức tạp, khó kiểm soát Song, những

số liệu thống kê nêu trên mới chỉ là sự ghi nhận số vụ ngộ độc lớn mà ngành y tế biếtđến và thực hiện chữa trị, còn với những vụ ngộ độc nhỏ nhưng người bệnh tự chữa trịhoặc ngộ độc lớn nhưng không khai báo thì chưa được thống kê.Các nhà nghiên cứukhoa học của WHO cũng dự đoán rằng đến năm 2020 số ca mắc ung thư ở Việt Nam sẽxấp xỉ 200.000 và trở thành nước có tỷ lệ ung thư cao nhất thế giới Có thể nói, chưabao giờ vấn đề vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm lại đáng báo động như hiện nay.Thực phẩm bẩn, thực phẩm nhiễm hóa chất vẫn tiếp tục tràn vào nhà hàng, quán nhậu

và mâm cơm mỗi gia đình

Ở nước ta hiện nay có rất nhiều cơ sở sản xuất và kinh doanh thực phẩm, từnhững cơ sở có quy mô lớn, nhỏ đến hộ gia đình, thức ăn đường phố Chất lượng vàđiều kiện VSATTP các cơ sở này như thế nào, có đảm bảo hay không, cần có sự kiểmtra, giám sát của cơ quan quản lý về VSATTP để bảo vệ quyền lợi, cũng như tính mạngngười tiêu dùng, đặc biệt là trên các địa bàn có làng nghề truyền thống về chế biến thựcphẩm trong dịp lễ, tết

Hiện nay có nhiều làng nghề truyền thống sản xuất thực phẩm phục vụ lễ, tếttrong năm, một trong số đó là làng nghề làm mứt truyền thống Xuân Đỉnh trên địa bànphường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội Không ai rõ chính xác nghềlàm mứt ở Xuân Đỉnh có từ bao giờ và vị tổ nghề là ai, chỉ biết rằng, nghề làm mứt xuất

Trang 11

hiện tại đây từ thế kỷ 19 và ngày càng phổ biến vào thế kỷ 20 Tuy nhiên, trong nhữngnăm gần đây, vấn đề VSATTP lại trở thành thách thức, nỗi lo lớn nhất đối với mứtXuân Đỉnh Hình ảnh mứt phơi cả góc đường lẫn bãi trống, gà chó và ruồi vô tư lượnquanh là điều thường thấy ở làng nghề Xuân Đỉnh Thực trạng mất vệ sinh trong chếbiến mứt ở Xuân Đỉnh không phải mới diễn ra lần đầu mà đã được báo chí phản ánhkhá nhiều Bên cạnh đó, Xuân Tảo là một phường chưa có chợ chính mà chỉ có chợ tạmtại một ngõ đường nên chưa đảm bảo về vấn đề VSATTP Trong những năm gần đây,tình trạng mất vệ sinh trong sản xuất và chế biến thực phẩm đã được kiểm soát tốt hơnrất nhiều, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề bất cập cần phải giải quyết.

Từ những thực trạng trên, nhận thấy vai trò quan trọng của UBND phường Xuân

Tảo trong việc quản lý VSATTP trên địa bàn Phường Do đó, tôi chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn phường Xuân Tảo, quận Bắc

Từ Liêm, thành phố Hà Nội - Thực trạng và giải pháp” làm khóa luận tốt nghiệp.

2 Lịch sử nghiên cứu

Ở nước ta, trong những năm qua, vấn đề VSATTP cũng đã thu hút sự quan tâmcủa nhiều nhà nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau, có thể kể đến một số nhữngcông trình nghiên cứu tiêu biểu như:

Công trình nghiên cứu “Kiến thức, thực hành về vệ sinh ATTP của người nội trợchính trong gia đình ở phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng - Hà Nội (2006), tácgiả Cao Thị Hoa và cộng sự đã tiến hành khảo sát 132 người/132 hộ gia đình ở phườngThanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Kết quả cho thấy: mức độ thực hành vệ sinhATTP của người nội trợ chưa đi đôi với phần kiến thức đã đạt; mức độ kiến thức tốt đạt76,5%, trong khi đó thực hành đạt yêu cầu chỉ có 65,1% Những vấn đề thiếu sót vàkhông chú ý, trong việc thực hành lựa chọn, chế biến và bảo quản thực phẩm của ngườinội trợ là: 26,5% không thường xuyên mua thực 8 phẩm tại nơi có địa chỉ tin cậy; 25%không thường xuyên rửa tay trước khi chế biến thực phẩm; 29,5% không thường xuyênche đậy thực phẩm sau khi nấu chín; 12,2% không thường xuyên sử dụng 2 thớt riêngbiệt để chế biến thực phẩm Từ đó nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị, trong

đó đặc biệt chú ý đến việc xây dựng các chiến lựơc truyền thông nhắm nâng cao kiếnthức và thực hành đúng vệ sinh ATTP cho cộng đồng nói chung và những người nội trợnói riêng

Nhằm góp phần cải thiện tình hình và để nâng cao hiệu quả việc quản lý vệ sinh

Trang 12

ATTP tại địa phương, Lê Minh Uy và cộng sự đã tiến hành đề tài “Hiệu quả thay đổi vềkiến thức thực hành của người tiêu dùng và công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm

ở thành thị An Giang năm 2007” Mục tiêu của đề tài là: Đánh giá sự thay đổi kiến thức,thái độ, thực hành vệ sinh ATTP của người tiêu dùng tại An giang năm 2007; Đánh giá

sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành vệ sinh ATTP của người quản lý 9 phường xãtại An giang năm 2007 Bằng phương pháp nghiên cứu can thiệp trên nhóm người tiêudùng (nội trợ) từ 18 tuổi trở lên cư trú tại An Giang và các cán bộ chủ chốt quản lý vệsinh ATTP phường xã tại 30 cụm điều tra, tổng số mẫu điều tra là 598 người Kết quảnghiên cứu cho thấy: tỷ lệ người tiêu dùng có kiến thức toàn diện về vệ sinh ATTPchiếm tỷ lệ thấp Người tiêu dùng chỉ đạt yêu cầu trên 50% khi lựa chọn phương tiệnphục vụ và nhận biết thức ăn an toàn, người tiêu dùng vẫn còn dễ dãi trong lựa chọn nơibán hàng và người bán hàng Sau 09 tháng can thiệp, sự cải thiện về kiến thức tiêu dùngkhông nhiều 2 tiêu chí cải thiện là: Lựa chọn nơi bán và Người bán hàng đạt vệ sinhATTP; còn lại 2 tiêu chí: phương tiện phục vụ, nhận biết thức ăn an toàn tăng khôngđáng kể Cán bộ quản lý vệ sinh ATTP đã được đào tạo bài bản không nhiều Điều đólàm cho công tác tổ chức quản lý vệ sinh ATTP gặp nhiều khó khăn Từ đó, nhómnghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị như: Cần phổ biến kiến thức nâng cao nhận thứcbảo đảm vệ sinh ATTP cho người tiêu dùng và tiến hành tập huấn nâng cao trình độquản lý vệ sinh ATTP cho các cấp quản lý, đặc biệt là tuyến cơ sở

Đề tài “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩmcủa người tiêu dùng thực phẩm tại huyện Châu Thành năm 2012” do tác giả TrươngVăn Dũng tiến hành đã đặt ra 2 mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành của ngườitiêu dùng thực phẩm tại huyện Châu Thành năm 2012; Xác định một số yếu tố liên quanđến kiến thức, thái độ, thực hành của của người tiêu dùng thực phẩm tại huyện ChâuThành năm 2012 Bằng phương pháp nghiên cứu ngang trên mẫu gồm 700 người tiêudùng thực phẩm từ 18 tuổi trở lên tại huyện Châu Thành, kết quả cho thấy: Về thựctrạng, kiến thức, thực hành của người tiêu dùng thực phẩm: Tỷ lệ người có kiến thứcđúng 90,14%; tỷ lệ người có thái độ đúng 84,14% , tỷ lệ người có thực hành đúng89,14%; Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi: có mối liên quan giữakiến thức đúng với các yếu tố độ tuổi, học vấn, thời gian tham gia nội trợ, thu nhập kinhtế; Có mối liên quan giữa độ tuổi và thực hành đúng với các yếu tố học vấn, nghềnghiệp, thời gian nội trợ, thu nhập kinh tế và nhà ở Nghiên cứu cũng đã đưa ra kết luận

Trang 13

đó là tỷ lệ người tiêu dùng trong huyện có kiến thức, thái độ và thực hành khá tốt về vệsinh ATTP Cần tăng cường công tác tuyên truyền trực tiếp và tập trung vào nhómnhững người tiêu dùng dưới 30 tuổi, những người có học vấn thấp, những người là nôngdân làm ruộng, những người có kinh tế không ổn định, hộ cận nghèo và hộ nghèo.

Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu khác như: Đề tài “Kiến thức - Thái

độ - Thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người bán và người mua thức ănđường phố ở thị xã Bến Tre-Tỉnh Bến Tre năm 2007” củahai tác giả Lý Thành Minh,Cao Thanh Diễm Thuý; luận án chuyên khoa cấp II “Nghiên cứu kiến thức, thái độ,thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người kinh doanh và tiêu dùng thực phẩmtại tỉnh An Giang năm 2009”, tác giả Từ Quốc Tuấn; đề tài nghiên cứu khoa học cấptỉnh “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm đảm bảo vệ sinh antoàn thực phẩm tại Khánh Hòa” (2012) của Bác sĩ-Thạc sỹ Lê Tấn Phùng

Như vậy, vấn đề an toàn thực phẩm đã bước đầu được quan tâm nghiên cứu ởnước ta Các công trình này hầu hết đều được tiếp cận dưới góc độ của y học, trong đó,các tác giả đã tập trung tìm hiểu thái độ, nhận thức, hành vi về vấn đề vệ sinh ATTP củangười buôn bán, kinh doanh và người tiêu dùng thực phẩm ở một số địa phương, từ đó,đưa các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của mọi người trong việc sử dụng thựcphẩm an toàn Còn những nghiên cứu được tiếp cận dưới góc độ quản lý nhà nước vềVSATTP còn rất hạn chế và đặc biệt là vấn đề vai trò của chính quyền địa phương trongviệc đảm bảo VSATTP trên địa bàn cơ sở như xã, phường chưa được nghiên cứu nhiều

và chú trọng

3 Mục đích nghiên cứu

- Về mặt lý thuyết: Hệ thống lại các vấn đề lý luận về thực phẩm, vệ sinh an toàn

thực phẩm, vai trò, trách nhiệm của quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm vàcác văn bản pháp quy quy định về vấn đề an toàn thực phẩm

- Về mặt thực tiễn: Dựa trên cơ sở các lý thuyết QLNN về VSATTP sẽ tiến hành

đi vào nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về VSATTP, chính sách QLNN nhằmđảm bảo VSATTP trên địa bàn phường Xuân Tảo Qua đó, đưa ra những tồn tại, yếukém và đề xuất các giải pháp khắc phục nhằm đảm bảo VSATTP trên địa bàn Phường

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về VSATTP, quản lý nhà nước về VSATTP, các

Trang 14

chính sách, cơ sở pháp lý quy định về VSATTP.

- Phân tích, so sánh, xử lý số liệu để thấy rõ thực trạng QLNN về VSATTP Qua

đó, tổng hợp, đánh giá và đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quảQLNN về ATVSTP trên địa bàn phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố HàNội

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm trênđịa bàn phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh

thực phẩm trên địa bàn phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Nghiên cứu trên địa bàn phường Xuân Tảo

Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực

phẩm trong năm 2017

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thấy rõ thực trạng QLNN về VSATTP trên địa bàn phường Xuân Tảo, quậnBắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội_em đã sử dụng các phương pháp sau:

6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Gồm phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và phương pháp thu thập dữ liệu sơcấp

- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Báo cáo thu thập, phân loại tài liệu đãđược công bố về thực trạng và chính sách của nhà nước về quản lý VSATTP như: các

đề án, đề tài, sách tham khảo, các bài báo cáo khoa học chuyên ngành đồng thời thuthập, phân loại các văn bản nhà nước về VSATTP nói chung và những văn bản nhànước được UBND phường Xuân Tảo áp dụng nói riêng như: Luật, quyết định, thông tư,

kế hoạch, báo cáo liên quan đến VSATTP và quản lý nhà nước về VSATTP

- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Gồm phương pháp phỏng vấn và quansát

+ Phương pháp phỏng vấn: Phương pháp thu thập thông tin dựa trên cơ sở quátrình giao tiếp bằng lời nói có tính đến mục đích đặt ra Trong khi làm báo cáo thì em có

Trang 15

dùng phương pháp phỏng vấn đối với chủ tịch Phường, cán bộ làm công tác VSATTP ởphường, trưởng trạm y tế Phường và một số cá nhân trực tiếp sản xuất bánh kẹo, mứt tếttrên địa bàn Phường.

+ Phương pháp quan sát: Là phương pháp thu thập thông tin bằng cách quan sátđối tượng nghiên cứu Đây là một phương pháp thu thập dữ liệu đơn giản, dễ thực hiệnnhưng rất hữu ích, đầy đủ Em đã trực tiếp quan sát điều kiện, dụng cụ sản xuất, chếbiến thực phẩm, địa điểm kinh doanh thực phẩm và quan sát 01 cuộc kiểm tra của cơquan chức năng tại 02 cơ sở sản xuất, chế biến bánh kẹo, mứt tết trên địa bàn phường

6.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu

Phân tích là nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúngthành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng Trong bài báo cáo thì em có phânloại các văn bản của phường Xuân Tảo theo từng thời kì và từng lĩnh vực là côngthương, y tế và nông nghiệp, phát triển nông thôn Phân tích từng chủ thể quản lý đốitượng nào để làm rõ thực trạng của vấn đề

Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ramột hệ thông lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng Sau khi phân tích thì tổnghợp lại theo một trình tự khoa học để kết luận về thực trạng của việc quản lý VSATTPtrên địa bàn Phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

7 Đóng góp của khóa luận

Sau khi khoá luận hoàn thiện sẽ có những đóng góp nhất định xét trên nhiều góc

- Đề xuất một số giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lýnhà nước về VSATTP trên địa bàn phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố HàNội

- Khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo, tài liệu nghiên cứu cho cáccông trình nghiên cứu khác về VSATTP trên địa bàn phường Xuân Tảo hay quận Bắc

Trang 16

Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

8 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục thì phần nội dung của báo cáo gồm 3chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về vệ sinh an toàn thực phẩm và quản lý nhà nước về

vệ sinh an toàn thực phẩm

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địabàn phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thànhphố Hà Nội

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ QUẢN LÝ

NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 1.1 Một số khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm và quản lý nhà nước về

vệ sinh an toàn thực phẩm

- Thực phẩm:

Không có một khái niệm chính thống nào để trả lời cho câu hỏi thực phẩm là gì,bởi ở mỗi một quốc gia khác nhau, mỗi một nền văn hóa, phong tục tập quán khác nhaulại đưa ra một khái niệm về thực phẩm

Tùy vào quan niệm và tôn giáo của mỗi nước mà có những thứ được coi là loạithực phẩm đem lại những dưỡng chất tuyệt vời cho cơ thể nhưng có những nước kháclại không coi đó là thực phẩm Ví dụ: ở phương Tây họ không xem lục phủ ngũ tạng làthực phẩm nhưng người phương Đông lại xem đó là nguồn thực phẩm tuyệt vời

Thực phẩm là những loại thức ăn mà con người có thể ăn và uống được để nuôidưỡng cơ thể Thực phẩm gồm ba nhóm chính đó là nhóm cacbohydrat (tinh bột), lipit(chất béo), protein (chất đạm) Đây là những dưỡng chất không thể thiếu để duy trì cáchoạt động sống của cõ thể

Trang 17

Thực phẩm hay còn được gọi là thức ăn là bất kỳ vật phẩm nào, bao gồm chủyếu các chất: chất bột (cacbohydrat), chất béo (lipit), chất đạm (protein), hoặc nước, màcon người hay động vật có thể ăn hay uống được, với mục đích cơ bản là thu nạp cácchất dinh dưỡng nhằm nuôi dưỡng cơ thể hay vì sở thích [2; https://vi.wikipedia.org/wiki/Trang_Chinh]

Theo Khoản 20, Điều 1, Luật An toàn vệ sinh thực phẩm 2010: Thực phẩm là

sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm mĩ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm.

- Vệ sinh thực phẩm:

Vệ sinh thực phẩm là một khái niệm khoa học để nói thực phẩm không chứa visinh vật gây bệnh và không chứa độc tố Ngoài ra khái niệm vệ sinh thực phẩm còn baogồm cả những nội dung khác như tổ chức vệ sinh trong vận chuyển, chế biến và bảoquản thực phẩm [6;5]

Theo Khoản 1, Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010: An toàn thực phẩm làviệc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người

- Điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm:

Điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm là những quy chuẩn kỹ thuật và nhữngquy định khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và hoạt độngsản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hànhnhằm mục đích bảo đảm thực phẩm an toàn đối với sức khoẻ, tính mạng con người

- Vệ sinh an toàn thực phẩm:

VSATTP là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo

Trang 18

quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ,

an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng Vì vậy, VSATTP làcông việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩmnhư nông nghiệp, thú y, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng

Từ những phân tích trên có thể hiểu một cách khái quát nhất: quản lý nhà nước

là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển xã hội.

- Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm:

Dưới góc độ quyền lực thì quản lý nhà nước về VSATTP là việc nhà nước thựchiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động về VSATTP Quản

lý nhà nước về VSATTP là quản lý theo ngành do nhiều cơ quan thực hiện Dưới góc

độ hoạt động đó là việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, cơ chế vàchính sách phát triển lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, phù hợp với sự phát triển kinh

tế xã hội

Quản lý nhà nước về VSATTP bao gồm một số các hoạt động chủ yếu: Công táchoạch định và ban hành các văn bản, chính sách, chiến lược, kế hoạch có liên quan đến

Trang 19

vấn đề VSATTP và công tác tổ chức tuyên truyền, giáo dục, công tác kiểm tra, thanh tra

và xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý và nghiên cứu khoa học

Từ đó, có thể hiểu quản lý nhà nước về VSATTP là hoạt động có tổ chức của

nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện VSATTP của đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh và người tiêu dùng trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các vấn đề về VSATTP.

1.2 Vai trò của vệ sinh an toàn thực phẩm và của nhà nước trong quản lý

về vệ sinh an toàn thực phẩm

1.2.1 Vai trò của vệ sinh an toàn thực phẩm

Vệ sinh an toàn thực phẩm có hai vai trò chính là đối với sức khỏe và kinh tế.Trước hết là vệ sinh an toàn thực phẩm có vai trò quan trọng đối với sức khỏe Thựcphẩm là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của cơ thể, đảm bảo sứckhỏe con người nhưng song cũng là nguồn có thể gây bệnh nếu không đảm bảo vệ sinh

an toàn thực phẩm Không có thực phẩm nào được coi là quý báu dinh dưỡng nếu nókhông an toàn cho cơ thể Vì vậy, thực phẩm có tầm quan trọng rất lớn đối với cơ thểchúng ta

về lâu dài, thực phẩm chẳng những có tác động lớn đối với sức khỏe mỗi conngười mà còn ảnh hưởng lâu dài đến nòi giống của dân tộc Sử dụng các thực phẩmkhông đảm bảo chất lượng có thể bị ngộ độc cấp tính với các triệu chứng dễ nhận thấy,nhưng sự nguy hiểm lâu dài là sự tích lũy dần các chất độc hại ở một số cơ quan trong

cơ thể sau một thời gian mới phát bệnh hoặc có thể gây các khuyết tật, dị dạng cho thế

hệ mai sau Những ảnh hưởng tới sức khỏe đó phụ thuộc vào các tác nhân gây bệnh.Những trẻ suy dinh dưỡng, phụ lão, người ốm càng nhạy cảm với các bệnh do thựcphẩm không an toàn nên càng có nguy cơ suy dinh dưỡng và bệnh nhiều hơn

VSATTP không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe mà còn tác động trựctiếp đến sự phát triển kinh tế Đối với nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển,lương thực thực phẩm là một loại sản phẩm chiến lược, ngoài ý nghĩa kinh tế còn cố ýnghĩa chính trị, xã hội rất quan trọng

Giấy phép vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm tăng lợi thế cạnh tranh trên thị

Trang 20

trường quốc tế Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thực phẩm chẳng những cần đượcsản xuất, chế biến, bảo quản phòng tránh ô nhiễm các loại vi sinh vật mà còn khôngđược chứa các chất hóa học tổng hợp hay thiên nhiên vượt quá mức quy định cho phépcủa các quy định quốc tế hoặc nhà nước, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêudùng.Việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm tăng lợi thế cạnh tranh trên thịtrường quốc tế Bởi lẽ, để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thực phẩm không nhữngcần được sản xuất, chế biến, bảo quản mà còn phải bảo đảm các quy chuẩn cho phéptheo tiêu chuẩn quốc tế hoặc quốc gia về các chất hóa học tổng hợp hay tự nhiên tránhảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.

Tóm lại, VSATTP có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sức khỏe của nhân dân

và sự phát triển của xã hội VSATTP là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, được tiếpcận với thực phẩm an toàn đang trở thành quyền cơ bản đối với mỗi con người Thựcphẩm an toàn đóng góp to lớn trong việc cải thiện sức khoẻ con người, chất lượng cuộcsống và chất lượng giống nòi An toàn thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp,thường xuyên đến sức khỏe mà còn liên quan chặt chẽ đến năng suất, hiệu quả pháttriển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội Đảm bảo an toàn thực phẩm gópphần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo và hội nhậpquốc tế

1.2.2 Vai trò của Nhà nước trong quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm

Trong những năm gần đây vấn đề VSATTP đang diễn ra ngày càng trầm trọng,nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xẩy ra liên tiếp, gây thiệt hại nhiều đến tính mạng conngười và tiền của Trước những diễn biến đó thì vai trò của nhà nước đặc biệt quantrọng Trước hết nhà nước thông qua việc hoạch định và ban hành các văn bản pháp luật

có liên quan đến VSATTP để hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thựcphẩm có định hướng để sản xuất thực phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.Ngoài ra, thông qua các văn bản chính sách, nhà nước cũng quy định rõ nhiệm vụ quản

lý của từng Bộ, ngành và các cấp chính quyền quản lý chặt chẽ vấn đề VSATTP Thôngqua việc tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch

có liên quan đến VSATTP, nhà nước sẽ trực tiếp quản lý vấn đề VSATTP nhà nướcđóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện về sản xuất, chế

Trang 21

biến cũng như tiêu dùng của tất cả các mặt hàng thực phẩm.

Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật cũng như đội ngũ thanh tra các cấp để quản

lý vấn đề VSATTP Các bộ phận này có trách nhiệm riêng biệt để thanh tra, kiểm tra lậplại trật tự sản xuất, kinh doanh theo đúng yêu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật của nhà nước.Các Bộ, ngành có liên quan phối hợp với Bộ Y tế để cùng quản lý các vấn đề liên quanđến ATVSTP Nhà nước tổ chức tuyên truyền, giáo dục về VSATTP cho nhân dân đểnâng cao ý thức và hiểu biết vấn đề này Chỉ đạo tổ chức tháng hành động vì chất lượngVSATTP, đẩy mạnh công tác phòng chống, công tác tuyên truyền, giáo dục đạt hiệuquả Như vậy, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định trong mọi lĩnh vực cóliên quan đến thực phẩm từ sản xuất, chế biến đến tiêu dùng Mặt khác, quản lý nhànước về vệ sinh an toàn thực phẩm là hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nướcnhằm định hướng phát triển, nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm thựcphẩm đáp ứng các mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ Công tác quản lý chấtlượng thực phẩm ra đời và phát triển cùng với các hoạt động của đời sống kinh tế và xãhội, công tác quản lý VSATTP có vai trò quan trọng, tác động nhiều mặt và sâu sắc đếnhầu khắp các lĩnh vực, từ sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, phát triển côngnghệ cho đến việc bảo vệ môi trường, an toàn sức khoẻ con người, đảm bảo công bằng

và lợi ích quốc gia Trong nền kinh tế phát triển sôi động như hiện nay thì vai trò quản

lý của nhà nước ngày càng trở lên quan trọng Vai trò của quản lý nhà nước vềVSATTP trước hết phải là vai trò định hướng và đảm bảo cho hoạt động có tác độngtích cực đối với sự phát triển kinh tế mang tính dẫn dắt và chỉ hướng Trong giai đoạnhiện nay, sự phát triển kinh tế phải dựa vào đẩy mạnh xuất khẩu, mà muốn đẩy mạnhxuất khẩu phải dựa vào tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá, dịch

vụ Như vậy, định hướng cơ bản về công tác VSATTP hiện nay là đáp ứng các tiêuchuẩn quốc tế Làm tốt công tác này sẽ giúp hàng hoá của Việt Nam đáp ứng được nhucầu của thị trường trong nước và quốc tế Cơ quan nhà nước là nơi tập hợp, đề xuất vàban hành các tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp Vai trò không thể thiếu của quản lý nhànước về VSATTP là việc đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc Thông qua việc quy định vàkiểm soát về vệ sinh, an toàn, môi trường, Nhà nước đảm bảo sản phẩm, hàng hóa,nguyên vật liệu nhập khẩu vào Việt Nam phải bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người tiêu

Trang 22

dùng, an toàn cho môi trường tự nhiên và xã hội Bằng các hoạt động kiểm tra giám sátthường xuyên ở các khu vực cửa khẩu các khu vực buôn bán để kịp thời phát hiện và xử

lý những vi phạm Nhờ có vai trò quản lý của nhà nước về VSATTP đã tạo niềm tin đốivới người tiêu dùng giúp cho người tiêu dùng cảm thấy yên tâm hơn khi sử dụng sảnphẩm dịch vụ trên thị trường Mặt khác, vai trò của nhà nước còn thể hiện ở chỗ đề raquy hoạch, kế hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế, tránhhiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh

tế đầu tư phát triển trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm Định hướng cho công tácđảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo đúng chủ trương chính sách đã đề ra Hạn chếtiêu cực, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thựcphẩm

Tóm lại, thông qua các công cụ như chính sách, pháp luật, hoạch định, tuyêntruyền nhà nước đảm bảo rằng thực phẩm được bán trong nước thích hợp cho ngườitiêu dùng, đảm bảo các quy định của pháp luật về VSATTP được thực hiện Nhà nướcphải chịu trách nhiệm cuối cùng về sự an toàn của công dân

1.3 Nguyên tắc quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

Theo quy định của Điều 3, Luật an toàn thực phẩm năm 2010, nguyên tắc quản

lý an toàn thực phẩm được quy định như sau:

- Bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất,kinh doanh thực phẩm

- Sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ chức, cá nhânsản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm domình sản xuất, kinh doanh

- Quản lý an toàn thực phẩm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, quyđịnh do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do tổ chức, cánhân sản xuất công bố áp dụng

- Quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất,kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm

- Quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ ràng và phốihợp liên ngành

Trang 23

- Quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Quản lý hành chính nhà nước là một hoạt động có mục đích Những mục đích, mục tiêu

cơ bản định ra trước cho hoạt động quản lý và kết quả của việc đạt được mục đích, mục tiêu đóphản ánh hiệu quả của việc quản lý Hiệu quả của quản lý vì vậy phải được tiến hành trên cơ sởnhững nguyên tắc nhất định Đặc biệt, QLNN về VSATTP lại càng cần phải chú trọng và thựchiện nghiêm túc các nguyên tắc trên vì nó ảnh hưởng đến mọi người dân, vì sức khỏe của giốngnòi dân tộc

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

thực phẩm

Định hướng của Đảng về VSATTP được thể hiện rõ qua Chỉ thị số 08- CT/TWngày 21/10/2011 của Ban bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề antoàn thực phẩm trong tình hình mới Trong đó, định hướng của Đảng tập trung vào 3nội dung lớn là: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo ATTP;nâng cao năng lực và chất lượng quản lý nhà nước về ATTP; Đẩy mạnh công tác vậnđộng, tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển biến thực sự về hành vi an toàn thực phẩm,đẩy mạnh xã hội hóa công tác an toàn thực phẩm

Chính sách, pháp luật của Nhà nước là những văn bản quy phạm pháp luật đượcban hành hệ thống từ trung ương đến địa phương Hiện nay, nước ta đã hình thành được

hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ để phục vụ công tác quản lý ATTP như: Luật Antoàn thực phẩm 2010; Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 24/5/2012 của Chính phủhướng dẫn thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm và các thông tư do Bộ y tế,

Bộ Công thương và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành về các lĩnh vực

mà bộ mình quản lý Đặc biệt, lần đầu tiên có Nghị đinh xử phạt vi phạm hành chínhriêng trong lĩnh vực ATTP, đó là Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 củaChính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm

Thực hiện chỉ thị số 10-CT/TU ngày 27/10/2016 của Thành ủy Hà Nội về “Tăngcường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với vấn đề an toàn thực phẩm trong tìnhhình mới trên địa bàn Hà Nội” và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Thành phố giai

Trang 24

đoạn đến năm 2020, UBND Thành phố Hà Nội đã thực hiện chỉ đạo phân công rõ tráchnhiệm quản lý ATTP trên địa bàn thành phố; đẩy mạnh phong trào thi đua “An toànthực phẩm”, khắc phục các hạn chế yếu kém; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác bảođảm an toàn thực phẩm; Chấm điểm thi đua về ATTP; Đẩy mạnh Chương trình phốihợp vận động giám sát ATTP giữa UBND và UBMTTQ Việt Nam các cấp Xây dựngvăn bản chỉ đạo, triển khai thực hiện đến từng đơn vị, đưa các tiêu chí về ATTP vào kếhoạch phát triển kinh tế - xă hội của địa phương.

Lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm là lĩnh vực rộng, trong quá trình hoạt động

có nhiều sự việc phải giải quyết Với định hướng đúng đắn của Đảng, hệ thống chínhsách, pháp luật chặt chẽ, đầy đủ của Nhà nước thì việc giải quyết sự việc, tình huống sẽtriệt để và nhanh chóng kịp thời.Việc ban hành đầy đủ các văn bản QPPL về ATTP đãkhắc phục tình trạng thiếu cơ chế quản lý, thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật vềATTP trước đây, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển Ngược lại,nếu định hướng, hệ thống chính sách, pháp luật không phù hợp với thực tế, quy định xửphạt chưa triệt để sẽ làm cho việc quản lý về ATTP khó khăn hơn, ảnh hưởng đến sứckhỏe của người dân, nòi giống và thiệt hại về kinh tế

thực phẩm

Luật An toàn thực phẩm năm 2010 với việc giao cho 03 Bộ Nông nghiệp và pháttriển nông thôn, Y Tế và Công Thương đã hình thành hệ thống tổ chức quản lý an toànthực phẩm từ trung ương tới tỉnh, huyện và xã/phường/thị trấn Tham mưu giúp UBNDtỉnh là Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương Sở Y tế(Thường trực Ban Chỉ đạo liên ngành về VSATTP) chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về ATTP trên địa bàn.Các sở đều có đơn vị giúp Giám đốc Sở trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước vềATTP trên địa bàn Tham mưu giúp UBND huyện có các cơ quan chuyên môn thuộcUBND huyện gồm: Phòng Y tế; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặcPhòng Kinh tế Trạm Y tế xã, phường, thị trấn hiện nay chỉ có cán bộ chuyên môn làmchung các lĩnh vực y tế, trong đó có ATTP, chưa có chuyên trách trong lĩnh vực ATTP[9; http://nongnghiep.vn/trach-nhiem- quan-ly-nha-nuoc-ve-an-toan-thuc-pham-

Trang 25

Hệ thống tổ chức quản lý an toàn thực phẩm này giúp cho việc thực thi quản lýnhà nước về an toàn thực phẩm theo chuỗi, và giúp kiểm soát an toàn thực phẩm tại nơiphát sinh ra mối nguy hại Tuy nhiên, do quá nhiều Bộ quản lý nên cũng ảnh hưởng tớichất lượng quản lý trong thực tiễn Một số ngành hàng đang có sự đan xen và không

phân định rõ Bộ nào chịu trách nhiệm quản lý về ngành hàng đó Đơn cử như việc quản

lý chất lượng bún đang được cả ba bộ chịu trách nhiệm: nguyên liệu bột gạo, nước đểlàm bún thuộc trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; sản phẩm tinhbột thuộc về Bộ Công Thương; sản phẩm bún bán trên thị trường nếu chứa chất gây ngộđộc cho người tiêu dùng thì trách nhiệm thuộc Bộ Y tế Nhấn mạnh dẫn chứng này mộtlần nữa nói lên thực trạng công tác quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm - vấn đềđang gây nhức nhối toàn xã hội nhưng vẫn chưa có giải pháp căn cơ, triệt để Mặc dùquy định nhiều giấy phép “con” để quản lý ATTP nhưng trên thực tế việc quản lý nhànước về ATTP “vẫn lỏng”; ngoài ra, còn một bất cập nữa trong việc phân công quản lýnhà nước về an toàn thực phẩm, đó là đang có nhiều đầu mối chịu trách nhiệm (BộNông nghiệp và phát triển nông thôn có 04 đơn vị đầu mối, Bộ Y tế có 01 đơn vị đầumối và Bộ Công thương có 02 đơn vị đầu mối, trong số này có rất nhiều cơ quan có hệthống ngành dọc đến cấp xã, phường, biên chế rất cồng kềnh, thêm vào đó là các cơquan Thanh tra của các Bộ này), tuy nhiên, mỗi khi có sự cố liên quan đến an toàn thựcphẩm xảy ra thì không cơ quan quản lý nhà nước nào chịu trách nhiệm (hành chính vàvật chất)

Do đó, có thể thấy bộ máy quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm cóảnh hưởng lớn đến quản lý VSATTP Nếu bộ máy được cơ cấu một cách hợp lý, kếthợp giữa các đầu mối một cách chặt chẽ thì việc quản lý sẽ đạt hiệu quả cao Ngược lại,

bộ máy cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ chưa phân công rõ ràng thì quản lý sẽ bị chồngchéo, không rõ được trách nhiệm khi có thiệt hại

Cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm là toàn bộnhững người được phân công làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn

vệ sinh thực phẩm và trực tiếp theo dõi, chịu trách nhiệm đối với các hoạt động liênquan đến an toàn vệ sinh thực phẩm Trình độ của cán bộ làm công tác quản lý nhà

Trang 26

nước về an toàn vệ sinh thực phẩm được thể hiện thông qua bằng cấp, chứng chỉ chuyênmôn mà họ được đào tạo Việc phân công nhiệm vụ phù hợp hay không phù hợp vớichuyên môn được đào tạo cũng ảnh hưởng đến kết quả công việc được giao Ngoài ra ýthức trách nhiệm đối với công việc của người làm công tác quản lý nhà nước về an toàn

vệ sinh thực phẩm đóng vai trò quan trọng Ngoài việc có chuyên môn thì ý thức tráchnhiệm quyết định chính trong việc hoàn thành nhiệm vụ hay không và hoàn thànhnhiệm vụ ở mức độ nào Một số chỉ tiêu thể hiện trình độ cán bộ làm công tác quản lýnhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm :

- Số lượng cán bộ

- Trình độ chuyên môn được đào tạo

- Kết quả công tác của mỗi cán bộ [7;89]

Nguồn nhân lực là yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc quản lý nhà nước về an toàn

vệ sinh thực phẩm Bởi lẽ yếu tố con người luôn là yếu tố quyết định trong sự thànhcông của mọi vấn đề Khi đã sử dụng yếu tố con người hợp lý với năng lực, sở trườngvới chuyên môn của họ thì mới đạt được mục đích và nâng cao kết quả trong công việcnói chung và trong quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm nói riêng

an toàn thực phẩm

Hiện tại, đầu tư cho công tác quản lý chất lượng ATTP còn thấp Kinh phí đượccấp cho công tác quản lý chất lượng ATTP giai đoạn 5 năm (từ 2004-2008) là 329 tỷđồng, tính bình quân đầu người của cả nước chỉ đạt 780 đồng/người/năm - chỉ bằng1/19 mức đầu tư của Thái Lan và bằng 1/136 mức đầu tư cho công tác ATTP của một

cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc (FDA) của Mỹ Năm 2009, kinh phí đầu tư chocông tác tày là 137 tỷ đồng, tính bình quân đầu người của cả nước mới chỉ đạt 1.597đồng/người/năm

Theo số liệu thống kê từ báo cáo của 63 tỉnh, thành phố có 54 tỉnh báo cáo vềkinh phí cho công tác quản lý ATTP trong 5 năm từ 2004 đến 2008 cho thấy, nguồnngân sách trung ương cấp cho công tác này là rất thấp, nguồn ngân sách các địa phươngdành cho công tác này còn thấp hơn nhiều, chỉ có một số ít tỉnh có đầu tư từ nguồn ngânsách địa phương cho hoạt động này Trung bình tổng kinh phí đầu tư cho một tỉnh giai

Trang 27

đoạn 2004-2006 là 484,76 triệu/tỉnh/năm, giai đoạn 2007-2008 là 762,1 triệu/tỉnh/năm,giai đoạn 2009-2010 là 1.468 triệu/tỉnh/năm.

Tổng kinh phí huy động thực hiện Chương trình Vệ sinh an toàn thực phẩmtrong giai đoạn 2011-2015 khoảng 1.321 tỷ đồng, đạt 30% tổng kinh phí được phêduyệt của Chương trình, trong đó ngân sách trung ương là 1.104 tỷ đồng (đạt 50%),ngân sách địa phương là 206 tỷ đồng (đạt 16%), vốn ngoài nước là 10 tỷ đồng (đạt 2%)

Mặc dù trung bình kinh phí đầu tư cho công tác quản lý chất lượng ATTP giaiđoạn 2011-2015 tăng gấp 2009-2010 tăng 3,03 lần, giai đoạn 2007-2008 đã tăng 1,57lần so với giai đoạn 2004-2006 nhưng vẫn còn thấp so với yêu cầu triển khai thực hiệnnhiệm vụ quản lý nhà nước đối với công tác này Năm 2017, nguồn ngân sách phục vụcho công tác VSATTP trên cả nước đã được chú trọng và sử dụng có hiệu quả hơn

Đầu tư nguồn lực cho công tác bảo đảm an vệ sinh toàn thực phẩm đã tăng sovới các năm trước nhưng còn rất hạn chế: kinh phí đầu tư cho công tác quản lý chấtlượng ATTP ở mức quá thấp; trang thiết bị kiểm nghiệm còn thiếu và lạc hậu; thiếu cácphương tiện kiểm tra cơ động và trang thiết bị kiểm tra nhanh Do đó, việc quản lý sẽkhông đạt được hiệu quả cao nhất Đối với cơ quan quản lý nhà nước việc trang bị cácthiết bị, máy móc phù hợp trong lĩnh vực VSATTP có ý nghĩa quan trọng trong việcđánh giá chất lượng sản phẩm, phản ánh tính chính xác, giúp cơ quan quản lý nhà nướchoàn thành tốt nhiệm vụ, trách nhiệm của mình

Như vậy, ngân sách đầu tư có ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về ATTP, là mộttrong những phương tiện, công cụ để việc quản lý đạt được hiệu quả cao nhất nếu đượcđầu tư xứng đáng

thực phẩm

Mức thu nhập, độ tuổi và trình độ học vấn là những yếu tố tác động đến nhậnthức và hành vi của người dân về vệ sinh an toàn thực phẩm Nhìn chung người dânmới được nghe các thông tin về VSATTP qua các phương tiện thông tin đại chúng, chứhiểu biết rõ về cơ quan quản lý VSATTP thì vẫn ở mức thấp Hiện nay, các cơ quanquản lý vệ sinh an toàn thực phẩm ở Việt Nam còn chồng chéo, không phân biệt rõnhiệm vụ của từng bộ phận nên người dân chưa hiểu rõ là vấn đề dễ hiểu Đa số người

Trang 28

dân thường chỉ biết 1 cơ quan quản lý nhà nước về VSATTP Câu trả lời thường gặp đó

là Cục vệ sinh an toàn thực phẩm hoặc Cục thú y Do đó, trình độ và hiểu biết của ngườidân cũng có ảnh hưởng đến việc quản lý nhà nước về VSATTP

Nếu trong một khu vực trình độ dân trí cao hơn như ở các đô thị thì nhận thức vềVSATTP sẽ cao hơn Do đó, việc quản lý nhà nước về VSATTP của cơ quan quản lý sẽ

dễ dàng hơn Tuy nhiên, đa số bộ phận người trồng trọt, chăn nuôi lương thực thựcphẩm lại là những người dân ở vùng nông thôn nên chưa có nhiều hiểu biết về VSATTPnhư sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, chất bảo quản Quản lý ở những khuvực này sẽ khó khăn hơn ở đô thị

Ngoài ra, quản lý nhà nước về VSATTP còn chịu ảnh hưởng bởi một số yếu tốkhác như kinh tế thị trường, hợp tác quốc tế Kinh tế thị trường bao gồm tất cả cáchoạt động mua - bán trên thị trường của các loại hàng hóa trong đó có các mặt hàng vềlương thực, thực phẩm Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có tác động haimặt đến quản lý nhà nước về VSATTP Nó làm tăng khả năng cạnh tranh theo quy luậtcung - cầu, quy luật giá trị của thị trường làm các nhà cung cấp thực phẩm phải luôn cảitiến kĩ thuật, tăng chất lượng sản phẩm để thu hút khách hàng Từ đó, việc quản lýVSATTP cũng sẽ tốt hơn Ví dụ, nhận thấy nhu cầu về thực phẩm sạch nên một số tưnhân đã mở cửa hàng bán thực phẩm sạch có chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền,hàng hóa, địa điểm mua - bán ổn định nên cơ quan quản lý sẽ dễ dàng quản lý hơn cáchàng bán vỉa hè hoặc ở các chợ tạm

Quản lý nhà nước về VSATTP cũng chịu ảnh hưởng bởi hợp tác quốc tế Trongquá trình hội nhập chúng ta phải liên kết với nhiều quốc gia về xuất, nhập khẩu thựcphẩm Do đó, việc quản lý và cấp chứng chỉ ATTP cũng phải liên tục được thay đổi đểphù hợp với quy luật toàn cầu hóa

Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), vì vậy đòi hỏi phảităng cường hơn nữa công tác bảo đảm ATTP của nước ta và trước mắt phải thực hiệnnghĩa vụ của các nước thành viên là tham gia Hiệp định của WTO về việc áp dụng cácbiện pháp về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật (SPS) và Hiệp định về ràocản kỹ thuật trong thương mại (TBT) để thực phẩm của Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn

Trang 29

quốc tế.

Một số vấn đề toàn cầu ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về VSATTP:

- Biến đổi khí hậu và sự nóng lên của trái đất kèm theo sự thay đổi và gia tăngdịch bệnh cho con người, vật nuôi và cây trồng dẫn đến nguy cơ gia tăng ngộ độc thựcphẩm do vi sinh vật và các loại bệnh mạn tính do dư lượng hoá chất quá mức cho phéptrong thực phẩm phát sinh từ việc gia tăng sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật, kháng sinhphòng trừ dịch bệnh cho gia súc và cây trồng cũng như do ô nhiễm môi trường gây ra

- Các nước trên thế giới đầu tư mạnh vào nghiên cứu sử dụng các sản phẩm thựcphẩm biến đổi gien, thực phẩm chiếu xạ, sử dụng các chất kích thích tăng trưởng, cácthuốc kháng sinh được ứng dụng để tăng năng suất vật nuôi, cây trồng nhưng nếu khôngkiểm soát tốt thì việc tồn dư sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng

- Tiếp tục ngăn chặn, xử lý dứt điểm sử dụng chất cấm trong chăn nuôi và lạmdụng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản, sử dụng phụ gia thực phẩm ngoài danh mụccho phép; giảm thiểu rõ nét vi phạm về tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, kháng sinh, chấtbảo quản, phụ gia trong các sản phẩm thực phẩm, tạo niềm tin cho người tiêu dùng

- Tổ chức bộ máy,phương thức quản lý được sắp xếp, thực hiện theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với xu thế quản lý ATTP tiên tiến của thế giới

1.5 Nội dung quản lý nhà nước về VSATTP

Căn cứ Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày

25 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật An toàn thực phẩm 2010, quản lý nhà nước về VSATTP gồm các nội dung sau:

Một là, xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bảnpháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm

Trong giai đoạn 2011-2016, đã có 123 văn bản quy phạm pháp luật do các cơquan trung ương ban hành, trong đó có 6 văn bản của Quốc hội, 23 văn bản của Chínhphủ, 20 thông tư của Bộ Y tế, 45 thông tư của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

và 12 thông tư của Bộ Công Thương Trong đó, có một số văn bản quan trọng sau:

Trang 30

Bảng 1.1 Một số văn bản Nhà nước đã ban hành về VSATTP

giai đoạn 2010 - 2016 đang còn hiệu lực

STT Số, kí hiệu Ngày, tháng, năm ban

5 57/2015/TT-BCT 31/02/2015 Quy định điều kiện đảm bảo an toàn thực

phẩm trong sản xuất thực phẩm nhỏ lẻ thuộctrách nhiệm quản lý nhà nước của bộ côngthương

6 58/2014/TT-BCT 22/12/2014 Quyđịnh cấp, thu hồi giấy chứng nhận cơ sở

đủ điều kiện an toàn thực phẩm thuộc tráchnhiệm quản lý của Bộ công thương

7

13/2014/TTLT-

BYT-BNNPTNT-BCT

09/4/2014 Hướng dẫn việc phân công, phối hợp trong

quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

8

51/2014/TT-BNNPTNT

27/12/2014 Quy định điều kiện đảm bảo an toàn thực

phẩm và phương thức quản lý đối với các cơ

sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ

9

08/2016/TT-BNNPTNT

01/6/2016 Quy định giám sát an toàn thực phẩm nông,

lâm, thủy sản

10 16/2012/TT-BYT 22/12/2012 Quy định về điều kiện an toàn thực phẩm

đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thựcphẩm, dụng cục, vật liệu bao gói, chứa đựngthực phẩm thuộc quản lý của Bộ Y tế

Có thể nói cho đến nay hệ thống pháp luật về ATTP của Việt Nam đã tương đốihoàn thiện, đã đáp ứng kịp thời yêu cầu về công tác quản lý và điều hành về ATTP theo

Trang 31

cơ chế kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, góp phần tích cực vàokiểm soát thị trường, bảo đảm thực phẩm an toàn, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Hai là, xây dựng bộ máy và cán bộ làm nhiệm vụ quan lý' nha nước vệ sinh an toàn thực phẩm

Hiện nay, Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn, Bộ Công Thương thống nhất mô hình quản lý ATTP phù hợp với tình hình theochỉ đạo của Thủ tướng chính phủ, kiện toàn cơ bản bộ máy quản lý nhà nước về ATTPcác cấp theo hướng tập trung đầu mối, rõ trách nhiệm, tăng cường hiệu lực, hiệu quả

- Về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm:

+ Tại Trung ương: Theo Luật an toàn thực phẩm 2010, quản lý nhà nước vềATTP được phân công cho ba Bộ: Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và CôngThương tại Điều 62, 63, 64 của Luật theo nguyên tắc quản lý theo chuỗi cung cấp thựcphẩm với từng nhóm thực phẩm, ngành hàng cụ thể (Phụ lục 2) Bộ Y tế chịu tráchnhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về ATTP Tại mỗi bộ cóđơn vị giúp Bộ trưởng trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ATTP Ban Chỉđạo liên ngành Trung ương về VSATTP (cơ quan thường trực là Bộ Y tế) được thànhlập do một Phó Thủ tướng làm trưởng ban để chỉ đạo việc phối hợp hoạt động giữa các

Bộ trong các vấn đề liên ngành

+ Tại địa phương: UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước về ATTP trongphạm vi địa phương Ban Chỉ đạo liên ngành về VSATTP các cấp (được thành lập tớicấp xã và đang được kiện toàn theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ với Chủ tịchUBND là trưởng ban) có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp hoạt động liên ngành tại địaphương

Tuyến tỉnh: UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệmtrước Chính phủ về ATTP tại địa phương Tham mưu giúp UBND tỉnh là Sở Y tế,

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương Sở Y tế (Thường trực BanChỉ đạo liên ngành về VSATTP) chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về ATTP trên địa bàn Các sở đều có đơn

vị giúp Giám đốc Sở trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ATTP trên địa bàn

Tuyến huyện: UBND quận, huyện chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, thành

Trang 32

phố trực thuộc Trung ương về ATTP trên phạm vi địa bàn Tham mưu giúp UBNDhuyện có các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện gồm: Phòng Y tế; Phòng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn hoặc Phòng Kinh tế.

Tuyến xã: UBND xã, phường chịu trách nhiệm trước UBND quận,huyện vềATTP trên phạm vi địa bàn Trạm Y tế xã, phường, thị trấn hiện nay chỉ có cán bộchuyên môn làm chung các lĩnh vực y tế, trong đó có ATTP, chưa có chuyên trách tronglĩnh vực ATTP

- Về nhân lực:

+ Tại Trung ương, có 259 biên chế tham gia công tác quản lý ATTP, trong đókiêm nhiệm là 80 người thuộc các đơn vị của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn, Bộ Công Thương

+ Tại tuyến tỉnh: biên chế của 63 Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm và 62 Chicục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản là 2.373 người, trung bình mỗi chicục có 19 biên chế

Trang 33

Sơ đồ 1.1.BỘ máy quản lý nhà nước về VSATTP

Ba là, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm

Công tác thanh, kiểm tra về ATTP hàng năm được thực hiện theo Kế hoạch củaBan Chỉ đạo liên ngành Trung ương về VSATTP, trong đó tập trung nhiều vào dịp TếtNguyên đán và Tháng hành động vì an toàn thực phẩm và Tết Trung thu Trong giaiđoạn 2011 - 2016, cả nước đã thành lập được 153.493 đoàn thanh tra, kiểm tra liênngành sự tham gia của các ngành chức năng: Y tế, Nông nghiệp và phát triển nông thôn,Công thương, Công an, Khoa học và Công nghệ, Giáo dục và Đào tạo , tiến hành kiểmtra tại 3.350.035 cơ sở, phát hiện 678.755 cơ sở vi phạm, chiếm 20,3%

Về xử lý vi phạm, trong số 678.755 cơ sở vi phạm, mới chỉ có 136.545 cơ sở bị

xử lý, chiếm 20,1%, trong đó phạt tiền 55.714 cơ sở với số tiền 133.905.925.136 đồng.Việc áp dụng các chế tài xử phạt đã được đẩy mạnh qua các năm, cụ thể: tỉ lệ cơ sở bị

Trang 34

phạt tiền (trước đây chỉ là cảnh cáo) tăng từ 30,0% năm 2011 lên 67,1% trong năm2016; số tiền phạt trung bình 1 cơ sở tăng từ 1,35 triệu (2011) lên 3,73 triệu (2016)[4;29].

Có thể nói công tác thanh tra, kiểm tra được triển khai đồng bộ, quyết liệt từTrung ương đến địa phương, có sự vào cuộc của các cấp, các ngành chức năng có liênquan như Y tế, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công thương, Công an, Khoa họccông nghệ, Hải quan Việc thanh tra, kiểm tra tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhậpkhẩu thực phẩm, dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố được phân cấp rõ cho từng ngành,từng cấp, hạn chế sự chồng chéo trong thực hiện Trong quá trình thanh tra, kiểm trahầu hết các trường hợp vi phạm được phát hiện, xử lý bằng nhiều hình thức khác nhau,đảm bảo đúng pháp luật, được công khai kịp thời trên phương tiện thông tin đại chúnggiúp người dân có thông tin để lựa chọn thực phẩm an toàn Năng lực của các đoànthanh, kiểm tra từng bước được nâng lên, đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nhiều

vụ vi phạm ngay cả khi hàng hóa vi phạm còn để trong kho, chưa đưa ra lưu hành trênthị trường

Bốn là, tổ chức tuyên truyền, giảo dục, truyên thông, phổ biến pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm

Công tác giáo dục truyền thông được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đi trướcmột bước trong các hoạt động bảo đảm ATTP Trong giai đoạn 2011-2016 đã tổ chứcđược 212.161 cuộc nói chuyện, hội thảo với 6.120.733 người tham dự Đài Truyền hìnhViệt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam liên lục phát sóng thông điệp về bảo đảm ATTP vàphòng ngừa ngộ độc thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Ất Mùi năm 2015 và Thánghành động vì chất lượng ATTP vào khung giờ cao điểm của tất cả các ngày trong tuần;các thông điệp cho các nhóm đối tượng, bảo đảm ATTP trong Tháng hành động cũngđược các Đài phát liên tục trong 1 tháng, mỗi tuần trung bình 7 - 15 lượt Cùng với đó

là các phóng sự, tin bài, tọa đàm và chương trình phổ biến kiến thức, phim tiểu phẩmtình huống đã góp phần tuyên truyền có hiệu quả, nhẹ nhàng và thuyết phục Tại cácđịa phương, đã có 1.561.556 lượt tin, bài về ATTP được phát sóng trên hệ thống phátthanh tỉnh, huyện, xã phường [4;27]

Việc cấp giấy xác nhận kiến thức về ATTP được thực hiện theo hướng dẫn

Trang 35

chung của ba bộ trên nguyên tắc cấp nào cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTPcho cơ sở sản xuất, kinh doanh thì cấp đó có quyền cấp giấy xác nhận kiến thức vềATTP Tính đến tháng 11/2016, các cơ quan chức năng của ngành y tế và nông nghiệp

đã cấp 304.741 giấy xác nhận kiến thức ATTP cho các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinhdoanh thực phẩm

Việc xác nhận kiến thức ATTP cho các tổ chức cá nhân đã được cải tiến rõ rệt.Thay vì trước đây, các cơ sở phải tổ chức tập huấn, nộp phí để được cấp giấy tham giatập huấn, nay theo Thông tư liên tịch 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT- BCT các cơ sở

có thể tự lựa chọn hình thức tập huấn cho nhân viên như: tự nghiên cứu bộ tài liệu đãđược ban hành sẵn và sau đó tham gia kiểm tra trắc nghiệm theo ngân hàng câu hỏi đãđược các bộ ban hành để được xác nhận kiến thức Sự cải tiến này đã giảm bớt chi phítập huấn, đi lại và thời gian nghỉ lao động để tham gia tập huấn

1.6 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm ở một số địa phương

* Các biện pháp hạn chế ngộ độc thực phẩm tại Thành phố Đà Nẵng

Nhờ sự tích cực vào cuộc của các cấp, các ngành, cùng với ý thức của người dântrong việc đảm bảo VSATTP được nâng lên nên trong 6 tháng đầu năm 2014, toànthành phố không có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra Các sự cố về ATTP trong địabàn cả nước như gừng Trung Quốc nghi nhiễm Aldicard, Chlorpyrifos; bún nghi nhiễmTinopal, acid Oxalic; khô mực giả, dăm bông có đường hóa học Cyclamate đều không

có mặt tại Đà Nẵng Tuy nhiên, vẫn còn đó nhiều nỗi lo do một số người ý thức tráchnhiệm chưa cao, đã vi phạm những quy định về VSATTP và công tác giám sát nhữngngười hành nghề buôn bán hàng rong gặp nhiều khó khăn

Trong 6 tháng đầu năm 2014, toàn thành phố đã thanh kiểm tra 4.258 cơ sở, số

vi phạm 675 cơ sở (chiếm 15,9%), cảnh cáo 493 cơ sở, phạt 182 cơ sở với tổng số tiềnhơn 336,6 triệu đồng Bác sỹ Nguyễn Út - Phó trưởng Ban Chỉ đạo liên ngành VSATTPthành phố cho biết: Hiện chưa thống kê, đánh giá đầy đủ các cơ sở sản xuất, kinh doanhthực phẩm thuộc phạm vi quản lý của từng ngành nên việc quản lý chưa đầy đủ, chặtchẽ và hiệu quả Một số cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm, hộ tiểu thương còn chạytheo lợi nhuận làm cho hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, hàng không đảm bảo

Ngày đăng: 24/07/2021, 15:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Ngọc Quỳnh, “Bất cập trong thực hiện phân cấp quản lý an toàn thực phẩm:nhân lực yếu, kinh phí thiếu”, Báo điện tử Hà Nội mới, http://hanoimoi.com.vn/Tin- tuc/Xa-hoi/877520/bat-cap-trong-thuc-hien-phan-cap- quan-ly-an-toan-thuc-pham-nhan-luc-yeu-kinh-phi-thieu, ngày 11 tháng 9 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bất cập trong thực hiện phân cấp quản lý an toàn thực phẩm:nhân lực yếu, kinh phí thiếu
6. Nguyễn Đức Lượng, Phạm Minh Tâm (2010), “Vệ sinh và an toàn thực phẩm”, NXB Khoa học kĩ thuật, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vệ sinh và an toàn thựcphẩm”
Tác giả: Nguyễn Đức Lượng, Phạm Minh Tâm
Nhà XB: NXB Khoa học kĩ thuật
Năm: 2010
7. Trần Thị Khúc (2014), “Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trênđịa bàn tỉnh Bắc Ninh”
Tác giả: Trần Thị Khúc
Năm: 2014
8. Trúc Nhật, “An toàn thực phẩm và những tác động đến kinh tế Việt Nam”, Báo Đại biểu nhân dân, http://quochoi.org/an-toan-thuc-pham-va-nhung-tac-dong-den-kinh-te-viet-nam.html, ngày 07 tháng 4 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn thực phẩm và những tác động đến kinh tế Việt Nam
9. U. Ban, “Tăng cường quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm”, Báo Giáo dục online, http://www.giaoduc.edu.vn/tang-cuong-quan-ly-nha-nuoc-ve-an-toan- thuc- pham.htm, ngày 8 tháng 10 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
10. PVC, “Trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm”, Báo nông nghiệp Việt Nam, http://nongnghiep.vn/trach-nhiem-quan-ly-nha-nuoc-ve-an-toan- thuc- pham-post173262.html, ngày 29 tháng 8 năm 2016.PHỤ LỤC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
1. UBND phường Xuân Tảo, báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2017 và phương hướng nhiệm vụ năm 2018 của Ban chỉ đạo 389 phường Xuân Tảo Khác
4. Chính phủ, báo cáo số 211/BC-CP ngày 18/5/2017 về việc báo cáo tình hình thực thi chính sách, pháp luật về quản lý an toàn thực phẩm giai đoạn 2011 - 2016 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w