Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-/ -
BỘ NỘI VỤ / HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN ĐỨC MINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TẠI
QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-/ -
BỘ NỘI VỤ / HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN ĐỨC MINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TẠI
QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG THỊ CƯỜNG
HÀ NỘI - NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa
tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu khoa học
của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Học viên
Nguyễn Đức Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong 02 năm học tập dưới mái trường Học viện Hành chính Quốc gia, Tới nay Tôi đã hoàn thành chương trình đào tạo Cao học chuyên ngành Quản
lý công Tôi đã tiến hành nghiên cứu và hoàn thành đề tài “Quản lý nhà nước
về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội” Trong quá
trình học tập, nghiên cứu và viết luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo giảng dạy chương trình Cao học chuyên ngành Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Hoàng Thị
Cường người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý
kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo Quận ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân; Phòng Văn hóa và Thông tin quận Bắc Từ Liêm, và các phòng ban chuyên môn của quận đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, cộng tác
để giúp tôi hoàn thành luận văn này Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan chủ quản, gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này./
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Nguyễn Đức Minh
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA 7
1.1 Khái quát quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa 7
1.1.1 Khái niệm cơ bản văn hóa, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về văn hóa 7
1.1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa 11
1.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa 12
1.2 Nguyên tắc, yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa 13
1.2.1 Nguyên tắc quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa 13
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa 16
1.3 Đối tượng, nội dung quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa 24
1.3.1 Đối tượng quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa 24
1.3.2 Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa 24
1.4 Nhiệm vụ quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa cấp huyện 30
1.5 Thực tiễn một số địa phương và bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa cho quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 33
1.5.1 Kinh nghiệm ở một số địa phương trong cả nước 33
1.5.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm cho quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 36 Tiểu kết chương 1 38
Trang 7Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG
VĂN HÓA TẠI QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 39
2.1 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 39
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 39
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 40
2.1.3 Những thuận lợi, khó khăn trong quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa 41
2.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm 42
2.2.1 Ủy ban nhân dân quận Bắc Từ Liêm 42
2.2.2 Phòng Văn hóa và Thông tin quận 44
2.3 Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 49
2.3.1 Ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa 49
2.3.2 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hoạt động văn hóa 52
2.3.3 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ văn hóa trên địa bàn 53
2.3.4 Huy động nguồn lực đầu tư hoạt động văn hóa 54
2.3.5 Thực trạng hoạt động văn hóa đối với các lĩnh vực cụ thể 55
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội 71
2.4.1 Kết quả đạt được 71
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 74
Tiểu kết chương 2 79
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA TẠI QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 79
Trang 83.1 Phương hướng, mục tiêu quản lý hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ
Liêm 79
3.1.1 Phương hướng 79
3.1.2 Mục tiêu 80
3.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa quận Bắc Từ Liêm 85
3.2.1 Công tác phối hợp giữa ngành văn hóa với các cơ quan liên quan 85
3.2.2 Tăng cường công tác quản lý hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng 86
3.2.3 Xây dựng, hoàn thiện hoạt động quản lý các thiết chế văn hóa 888
3.2.4 Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư cho phát triển văn hóa 89
3.2.5 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về văn hóa 90
3.3 Đề xuất, kiến nghị 92
3.3.1 Đối với cấp Thành phố 92
3.3.2 Đối với cấp Quận và Phường 93
Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê nhân sự Phòng Văn hóa và Thông tin quận Bắc Từ Liêm 49Bảng 2.2: Công tác tuyên truyền, tập huấn từ năm 2015 đến nay 53Bảng 2.3: Thống kê hoạt động của Trung tâm Văn hóa Thể thao phường 64
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh hun đúc nên phẩm chất, cốt cách con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước Nền tảng đó đã giúp cho nhân dân ta vượt qua bao khó khăn, thử thách, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc và nền độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Nhận thấy rõ tầm quan trọng của văn hóa, Đảng ta đã đề ra các chủ trương, đường lối, chính sách thông qua các chỉ thị, nghị quyết, trong đó Nghị quyết
Ban Chấp hành Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nghị quyết Trung ương 9
(khóa XI) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng
yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đều là những nghị quyết mang tầm
chiến lược lớn của Đảng trong thời kỳ phát triển đất nước, nhằm xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc
Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là vấn đề vừa có ý nghĩa cấp thiết, vừa mang tính chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp phát triển KTXH của đất nước Nhận thức được chức năng, vai trò của văn hóa, đánh giá được thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa nhằm tìm ra những phương hướng, giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa là một nhiệm vụ quan trọng trong hành trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa là một bộ phận nói chung của quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước đóng vai trò
Trang 11quan trọng trong việc phát huy những yếu tố tích cực và hạn chế những mặt trái của thị trường, định hướng, điều tiết, gìn giữ, phát triển văn hóa phù hợp mục tiêu chung của quốc gia Công tác quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa ở nước ta thời gian qua đã đạt được những thành tựu, kết quả đáng khích
lệ tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn nhiều thiếu sót, bất cập cần được tăng cường Việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vẫn còn thiếu, chưa đồng bộ, hiệu quả sử dụng chưa cao; công tác xây dựng và ban hành các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển đổi mới các hoạt động văn hoá còn chậm và thiếu đồng bộ; công tác đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp còn hạn chế
Là một quận mới đi vào hoạt động từ 01/4/2014 theo Nghị quyết số 132/NQ-CP của Chính phủ Quận Bắc Từ Liêm đang trên đà phát triển, tốc độ
đô thị hóa nhanh, đời sống an sinh xã hội và nhu cầu thưởng thức văn hóa, nghệ thuật của nhân dân ngày càng được nâng cao, đời sống văn hóa ở cơ sở
đã có bước phát triển mạnh mẽ, hoạt động thông tin tuyên truyền, các thiết chế văn hóa được đầu tư xây dựng Đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng được nâng cao, các hoạt động biểu diễn văn hóa nghệ thuật được duy trì tạo món ăn tinh thần cho nhân dân trong và ngoài Quận Chất lượng giáo dục đào tạo, chương trình lao động việc làm, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội đều hoàn thành và vượt các kế hoạch đã đề ra
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước về lĩnh
vực văn hóa, nên Tôi đã đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động văn
hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Quản lý công Hi vọng những kết quả nghiên cứu của Tôi sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý văn hóa, đóng góp vào sự phát triển KTXH của quận Bắc Từ Liêm nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng, góp phần xây dựng Thủ đô ngày càng văn minh, hiện đại
Trang 122 Tình hình nghiên cứu
Nhằm xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học, quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa ngày càng được quan tâm, chú ý nhiều hơn ở các cấp các ngành, từ Trung ương tới địa phương Từ các góc nhìn đa chiều về lĩnh vực quản lý văn hóa, tác giả Phan
Văn Tú (1994) Cơ sở lý luận của quản lý văn hóa (tập bài giảng), Trường Đại
học Văn hóa Hà Nội đã nêu lên cơ sở lý luận cơ bản trong công tác quản lý
văn hóa trong giai đoạn hiện nay; Quản lý hoạt động văn hóa của nhóm tác
giải Phan Văn Tú, Nguyễn Văn Hy, Hoàng Sơn Cường, Lê Thị Hiền, Trần Thị Diên (1998), Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội đã làm rõ những nội dung chủ yếu về quản lý như: Chính sách quản lý, hoạt động văn hóa, nội dung quản lý hoạt động văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở hiện nay
Công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận văn: sách
chuyên khảo“Bản sắc văn hóa Việt Nam” của GS Phan Ngọc (1998); “Cơ sở
văn hóa Việt Nam và tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của GS.TS Trần
Ngọc Thêm (1999); “Phát triển toàn diện con người trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” của GS Viện sĩ Phạm Minh Hạc (2001), Nxb
Chính trị Quốc gia; “Phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới” của GS TS Đinh Xuân Dũng (2001), Nxb Thời Đại; Đề tài “Hệ quan điểm về mối quan
hệ giữa văn hóa và phát triển” của GS TS Hồ Tôn Trinh Các công trình này
hệ thống cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu vấn đề văn hóa và phát triển trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của thế giới và dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh;
Các Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý văn hóa, Trường Đại học
Văn hóa Hà Nội của Trần Thị An (2012), “Quản lý nhà nước về văn hóa trên
địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội”; Bùi Quốc Chiều (2011), “Quản
Trang 13lý Nhà nước về văn hóa ở thành phố Thái Nguyên” Hai luận văn trên đã làm
rõ được thực trạng công tác quản lý nhà nước trên địa bàn một số địa phương
và đề xuất giải pháp và khuyến nghị thực hiện giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa
Luận văn Ngô Trường Long (2017), “Quản lý nhà nước về văn hóa từ
thực tiễn quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng” Học viện Khoa học xã hội;
Luận văn đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra, đồng thời cũng chỉ ra những mặt yếu kém trong công tác quản lý nhà nước và đưa
ra các giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về văn hóa; Luận
văn Đinh Thị Phương Thảo (2018) “Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa
bàn Quận Đồ Sơn, Thành phố Hải Phòng”; Phùng Thị Phương Loan “Quản
lý nhà nước về văn hóa tại Huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ” Luận văn Thạc sĩ
Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc Gia đã phân tích được thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn, đánh giá ưu nhược điểm, hạn chế
và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong thời gian tới
Nhìn chung, các nghiên cứu đã làm rõ được một số nội dung cơ bản về chính sách quản lý, hoạt động văn hóa, quản lý hoạt động văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở Một số luận văn đã đánh giá thực trạng hoạt động văn hóa và quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn một số địa phương Tuy nhiên, chưa có đề tài đề cập một cách toàn diện đến quản lý nhà nước về
hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 14Hệ thống hóa cơ sở khoa học quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa; Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm;
Đề xuất giải pháp cơ bản nhằm tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý
nhà nước về văn hóa ở một số hoạt động cụ thể: quản lý hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở; bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa; quản lý thiết chế văn hóa; hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa; công tác thanh tra, kiểm tra
- Về không gian: Nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa
tại quận Bắc Từ Liêm
- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu từ năm 2015 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về văn hóa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được tiến hành là:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đây là phương pháp chủ yếu được sử
dụng để xây dựng cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn của luận văn
Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở tìm hiểu các công trình
nghiên cứu, các tài liệu, các báo cáo để đưa ra những đánh giá, nhận định thực
Trang 15trạng về quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận chỉ rõ nguyên nhân
và đề xuất giải pháp phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, hạn chế trong quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trên cơ sở những nội dung lý luận
với thực trạng hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm từ đó tiến hành so sánh, đối chiếu rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém cần khắc phục
Phương pháp thống kê: Các nguồn tư liệu, số liệu, các nghiên cứu về
hoạt động văn hóa tại quận được thu thập Trên cơ sở thông tin xử lý là cơ sở đánh giá nhận định về hoạt động văn hóa của quận Bắc Từ Liêm, thành phố
Hà Nội
6 Đóng góp của luận văn
Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu học tập và là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà làm chính sách góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động văn hóa ngày càng phát triển
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng, giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tại quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA
1.1 Khái quát quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa
1.1.1 Khái niệm cơ bản văn hóa, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về văn hóa
* Văn hóa
Theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm, từ Văn hóa có nhiều nghĩa, được dùng để chỉ những khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng suy cho cùng khái niệm “Văn hóa” có thể
quy về hai cách hiểu chính theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng:
Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật ) Giới hạn theo chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh ) Giới hạn theo không gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị của từng vùng (Văn hóa Tây Nguyên, Văn hóa Nam Bộ ) Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn )
Theo nghĩa rộng, văn hóa được xem là bao gồm tất cả các lý do con
người sáng tạo ra Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết “Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người
Trang 17đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn” [27 tr.431]
Theo Federico Mayor Tổng Giám đốc UNESCO, cho biết “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong lĩnh vực
tư duy và sáng tạo Đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với những dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất chó đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về những chính sách văn hóa họp năm
1970 tại Venise” [42]
Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì “Văn hóa là giá trị vật chất, tinh thần
do con người sáng tạo ra trong lịch sử” [43]; nền văn hóa các dân tộc, kho
tàng văn hóa các dân tộc; Đời sống tinh thần của con người: phát triển kinh tế
và văn hóa, chú ý đời sống văn hóa của nhân dân; Tri thức khoa học, trình độ học vấn: trình độ văn hóa, học các môn văn hóa; Lối sống, cách ứng xử có trình độ cao: người có văn hóa, gia đình văn hóa Nền văn hóa một thời kỳ lịch sử cổ xưa, xác định được nhờ các di vật được tìm lại có những đặc điểm chung: Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa rìu hai vai…
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ
các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình
Trang 18khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không
giống nhau về quản lý
Theo Hán Việt từ điển định nghĩa quản lý là: “Quản lý là sự trông nom,
coi sóc, giữ gìn các công việc” [1 tr.489] Tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm:
“Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những
nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”[3] Quản lý thường được hiểu là sự
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý Sự tác động này không mang tính đơn lẻ tự phát mà mang tính tổ chức, có mục đích rõ ràng Mục đích mà chủ thể quản lý đặt ra là hướng đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý chí của mình Từ đó, có thể đưa ra khái niệm về quản
lý: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã được đặt ra”
Quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của Nhà nước Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là
hoạt động chức năng đặc biệt Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do tất cả các cơ quan Nhà nước (Lập pháp, Hành pháp,
Tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội
Nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang quyền lực Nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các
cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, UBND các cấp)
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm quản lý nhà nước: “Là một dạng
quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật
Trang 19nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”
* Hoạt động văn hóa
Hoạt động văn hóa là một trong những lĩnh vực được xem là một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của mỗi một quốc gia Đó là một dạng hoạt động xã hội quan trọng, có tính sáng tạo,
có thể làm ra các sản phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm giàu đẹp thêm cho cuộc sống con người Hoạt động văn hóa còn là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây “hiệu ứng” có tính lan tỏa trong
xã hội Hoạt động văn hóa còn là hoạt động kinh tế vừa là động lực, vừa là nguồn lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế Chính vì tính đa năng của hoạt động văn hóa, nên quản lý trên lĩnh vực văn hóa mang tính đặc thù Tính đặc thù của quản lý hoạt động văn hóa không những thể hiện trong từng lĩnh vực
cụ thể của đời sống văn hóa, mà nó còn thể hiện ở công tác quản lý nhà nước
về văn hóa ở các cấp, từ vĩ mô đến các đơn vị cơ sở
* Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa
Quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa là sự tác động liên tục có
tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp KTXH, tổ chức kĩ thuật và các biện pháp khác nhằm mục đích giữ gìn
và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 201.1.2 Đặc điểm quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa
Khác với quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác với ý nghĩa là sự định hướng lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá trên lĩnh vực văn hóa, quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa còn có một số đặc điểm riêng biệt sau đây:
Thứ nhất, chủ thể quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa là Nhà nước,
quản lý bằng pháp luật từ Trung ương đến địa phương với mục đích cuối cùng
là quản lý tất cả các mặt của văn hóa một cách hài hòa, chuẩn mực và đúng đắn nhất
Thứ hai, quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa không thể đơn tuyến
Văn hóa có cơ sở là KTXH, luôn luôn gắn liền với KTXH KTXH của một quốc gia càng phát triển thì nền văn hóa cũng đứng trước những biến động ngay trong nội tại nền văn hóa dân tộc đó, cũng như những làn sóng tác động
từ văn hóa nước ngoài Do vậy, bắt buộc phương pháp, cách thức quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa phải thay đổi sao cho phù hợp với sự phát triển của nền KTXH
Thứ ba, “quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa khác với quản lý nhà
nước về hoạt động kinh tế kỹ thuật, khi giá trị các hoạt động văn hóa không chỉ căn cứ ở số lượng thành phẩm, mà chủ yếu ở tính sáng tạo, ở cái mới vun đắp cho tâm hồn con người, giúp cho con người (trong những hoàn cảnh cụ thể, xác định) lớn lên, vươn lên trước sự đòi hỏi tính mới phát triển của xã hội hiện tại” [26 tr.10]
Thứ tư, quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa căn cứ vào những hoàn
cảnh cụ thể, những trường hợp cụ thể để xem xét chứ không theo lối tư duy dập khuôn, cứng nhắc, bởi vì văn hóa là sự sáng tạo, lựa chọn, chọn lọc của quần chúng nhân dân được thực hiện thông qua các đại biểu của mình là văn nghệ sĩ Vì vậy, để định hướng, tổ chức điều hành, tạo điều kiện cho văn hóa
Trang 21phát huy, phát triển không ngừng theo hướng chân - thiện - mỹ, việc quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa sẽ giúp ích cho con người, giúp cho xã hội, cho nhân loại ngày càng phát triển đúng với quy luật tự nhiên
Thứ năm, cách thức quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ
đích chứ không phải là việc làm có tính thời vụ, cũng không phải là sự thụ động của nhà quản lý, càng không phải là hoạt động đơn lẻ, tùy tiện của nhà quản lý Theo nghĩa hẹp quản lý nhà nước về văn hóa là quản lý cái phần tĩnh, cái bề nổi còn quản lý phát triển văn hóa là quản lý cái phần động, phần chìm, phần nảy sinh Theo nghĩa rộng, nếu xem xét văn hóa là tổng thể những giá trị
mà con người đã sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn nhằm cải biến tự nhiên, xã hội và bản thân thì quản lý phát triển văn hóa mới là chức năng đích thực của hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa
1.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa
Hoạt động văn hóa là một dạng hoạt động xã hội quan trọng, tất yếu phải có sự quản lý của nhà nước, chính vì vậy quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa là tất yếu khách quan Do hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo, là hoạt động tư tưởng và còn là hoạt động kinh tế, vì vậy quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa có những vai trò cơ bản sau:
Thứ nhất, “quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa nhằm chăm lo xây
dựng, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” [18 tr.12]
Thứ hai, định hướng sự nghiệp văn hóa thực sự trở thành sự nghiệp của
mọi dân tộc, mọi nhóm dân cư, của mọi người Nhân dân thực sự trở thành chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời là khách thể hưởng thụ các thành tựu văn hóa
Thứ ba, hình thành nên các chuẩn mực giá trị xã hội, lành mạnh hóa
các quan hệ xã hội, nâng cao đời sống tinh thần vật chất của nhân dân Thông qua việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Trang 22Thứ tư, giao lưu văn hóa quốc tế, xác lập hệ giá trị hợp tác và hội nhập
quốc tế trên cơ sở nguyên tắc đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên trên hết, đồng thời tôn trọng các lợi ích chính đáng của các quốc gia dân tộc khác
1.2 Nguyên tắc, yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về hoạt
động văn hóa
1.2.1 Nguyên tắc quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa
Nguyên tắc quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa là tổng thể những quy phạm pháp luật về hoạt động văn hóa có nội dung đề cập tới những tư tưởng chủ đạo làm cơ sở để tổ chức thực hiện hoạt động quản lý nhà nước, từ
đó đặt ra cho các cơ quan quản lý phải tuân theo các quy tắc, tiêu chuẩn hành động để thực hiện các chức năng quản lý văn hóa trong các điều kiện KTXH nhất định
1.2.1.1 Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo
Điều 4 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội
tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” [25]
Đảng lãnh đạo bằng việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách đối với các hoạt động văn hóa như: định hướng phát triển một số loại hình hoạt động văn hóa hoặc chỉ đạo ngăn chặn những loại hoạt động văn hóa biến tướng, ngoại lai, lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước trong công tác quản lý hoạt động văn hóa; quan điểm về xã hội hóa hoạt động văn hóa Trong công tác tổ chức cán bộ, thông qua công tác bồi dưỡng, đào tạo những Ðảng viên
ưu tú, có phẩm chất và năng lực gánh vác những công việc trong quản lý nhà nước; thông qua công tác kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng trong quản lý nhà nước để xác định tính hiệu quả, tính thực tế
Trang 231.2.1.2 Nguyên tắc nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước
Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” [25]
Nhân dân nếu đáp ứng các yêu cầu của pháp luật đều có thể tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp vào công việc quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có các hoạt động văn hóa Nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước thông qua việc thực hiện quyền lựa chọn những Đại biểu xứng đáng thay mặt mình vào cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương hay địa phương Ðây là hình thức tham gia rộng rãi nhất của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước nói chung, hoạt động quản lý nhà nước
về hoạt động văn hóa nói riêng
Điều 28 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tham gia
quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” [25]
Tóm lại, nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước là việc trực tiếp hay gián tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, đây là một hình thức có ý nghĩa quan trọng để nhân dân phát huy vai trò làm chủ của mình gắn với hoạt động quản lý về hoạt động văn hóa của nhà nước
1.2.1.3 Nguyên tắc tập trung dân chủ
Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt
động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” [25] Nguyên tắc tập trung dân
chủ được biểu hiện cụ thể như sau:
Trang 24Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, của địa phương đối với Trung ương: nhờ đó hoạt động quản lý các hoạt động văn hóa mới được thực hiện thống nhất các nội dung về chính sách quản lý, quy hoạch, định hướng phát triển, không để xảy ra tình trạng cục bộ địa phương, chỉ quan tâm đến hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước tại địa phương mà coi nhẹ hoặc đi ngược lại chỉ đạo của Trung ương
Sự phân cấp quản lý: để hoạt động quản lý về hoạt động văn hóa đạt hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, trong bộ máy quản
lý nhà nước, mỗi cấp quản lý có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định trong hoạt động quản lý như thẩm quyền đề ra chính sách về hỗ trợ, quản lý, phát triển, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, thẩm quyền thanh tra, kiểm tra…nhằm hoàn thành nhiệm vụ, đạt được mục tiêu của cấp mình
1.2.1.4 Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa giới hành chính
Quản lý theo địa giới hành chính là quản lý trên một phạm vi địa bàn nhất định theo sự phân vạch địa giới hành chính của nhà nước Nhà nước được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương, bao gồm bốn cấp:
- Cấp Trung ương;
- Cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương);
- Cấp huyện (huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; quận, huyện, thị xã
và đơn vị hành chính tương đương thuộc thành phố trực thuộc trung ương) và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập;
- Cấp xã (xã, thị trấn thuộc huyện; phường và xã thuộc thị xã và thành phố thuộc tỉnh; phường thuộc quận)
Trong hoạt động quản lý nhà nước, trong đó có quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa, quản lý theo ngành luôn được kết hợp chặt chẽ với quản lý
Trang 25theo địa giới hành chính Ðây chính là sự phối hợp giữa quản lý theo chiều dọc của các Bộ với quản lý theo chiều ngang của chính quyền địa phương theo sự phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp
Ví dụ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan tham mưu cho UBND cấp tỉnh về hoạt động quản lý hoạt động văn hóa, đồng thời chịu sự hướng dẫn nghiệp vụ, chỉ đạo của Bộ VH,TT&DL; hay Phòng VH&TT là cơ quan tham mưu cho UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự hướng dẫn nghiệp vụ, chỉ đạo
của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
1.2.1.5 Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng
Quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng nhằm đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả từng chức năng quản lý riêng biệt của các đơn vị,
tổ chức trong ngành, đồng thời, bảo đảm mối quan hệ liên ngành, làm cho toàn bộ hoạt động của hệ thống ngành được phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả Trong hoạt động quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa, có sự kết hợp giữa
Bộ VH,TT&DL, Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Bộ VH,TT&DL giữ vai trò trung tâm, kết hợp với các bộ và các cơ quan hữu quan xây dựng văn bản pháp luật, quy hoạch đối với lĩnh vực tương ứng Nguyên tắc này giúp cho hoạt động của bộ máy nhà nước có sự đồng bộ và thống nhất với nhau
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa
1.2.2.1 Đường lối, quan điểm của Đảng
Trong quá trình đổi mới thể chế, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đã tạo những tiền đề, điều kiện, môi trường, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với văn hóa Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đối với văn hóa, cũng như vai trò của tất cả các chủ thể trong xã hội
về văn hóa, đã tạo nên bước phát triển mới của nền văn hóa
Trang 26Nghị quyết 05-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá VI khẳng định: “ văn hóa là bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa là một động lực mạnh mẽ đồng thời là một mục tiêu lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội” [15 tr 479]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
VII, khẳng định: “Nền văn hóa mà Đảng ta lãnh đạo toàn dân xây dựng là
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Tiếp tục tinh thần này, Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII của Đảng (tháng 6-1996) đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [16 tr.110]
Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, Văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, ” [17 tr.114] Văn kiện Đại hội lần thứ X
của Đảng tiếp tục khẳng định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế” [18 tr.213]
Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng viết: “Xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển” [19 tr.75-76]
Trang 27Đại hội lần thứ XII của Đảng khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá
và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc
Tổ quốc vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [20 tr.126]
Có thể thấy rằng, sự phát triển lý luận của Đảng ta về văn hóa nói chung và vai trò của văn hóa nói riêng là một quá trình Quá trình đó đi từ nhận thức chưa đầy đủ đến đầy đủ và ngày càng đúng đắn, toàn diện và sâu sắc về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội Khẳng định vai trò của văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
xã hội, là sự bổ sung, phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng ta
về văn hóa thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước
1.2.2.2 Chính sách, pháp luật
* Chính sách
Chính sách văn hóa là những cơ chế ưu tiên của nhà nước để phát triển một lĩnh vực văn hóa hay một đối tượng văn hóa nào đó trong xã hội, ví dụ: Chính sách phát triển văn hóa vùng đồng bào biển, đảo, vùng sâu, vùng xa, chính sách ưu tiên cho văn nghệ sĩ, chính sách bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống chính vì vậy tại một thời gian nhất định, giai đoạn nhất định, một địa phương cụ thể, chính sách quản lý ảnh hưởng rộng lớn đến sự phát triển hay suy thoái của văn hóa
Thứ nhất, “chính sách văn hóa giúp xây dựng và định hướng hoạt động
quản lý nhà nước về văn hóa Những cơ chế mục đích trong chính sách văn hóa
là cái đích thực hiện của công tác quản lý; các cơ quan chức năng liên quan phải
Trang 28thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp để hoàn thành các chỉ tiêu, cơ chế ưu tiên trong chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước” [26, tr.19]
Thứ hai, chính sách văn hóa tạo ra những cơ chế đặc thù giúp phát triển
văn hóa theo lộ trình và hợp lý Căn cứ vào tình hình thực tế, đặc thù, điều kiện
tự nhiên, phong tục tập quán, văn hóa của từng địa phương, Nhà nước sẽ có chính sách phù hợp để phát triển văn hóa của từng vùng miền
Thứ ba, chính sách văn hóa thông qua pháp luật tác động trực tiếp,
cụ thể đến quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa Chính sách văn hóa được thể hiện qua ba hình thức: Hình thức văn kiện, hình thức quy hoạch,
kế hoạch và hình thức pháp luật Một số chính sách quan trọng được thể hiện trong Hiến pháp và pháp luật; phần lớn các chính sách về văn hóa được thể hiện trong các văn bản pháp quy của Chính phủ, vì vậy pháp luật
là hình thức cụ thể hóa lớn nhất của chính sách văn hóa, nếu pháp luật đảm bảo, chặt chẽ thì chính sách được áp dụng tốt cho người dân, còn ngược lại thì việc thực hiện chính sách sẽ không hiệu quả
Thứ tư, chính sách văn hóa điều tiết phát triển hài hòa, cân đối giữa văn
hóa với kinh tế và các lĩnh vực khác Mọi chính sách của Nhà nước về văn hóa đều được xây dựng trên cơ sở yêu cầu thực tiễn khách quan ổn định chính trị, phát triển KTXH trong điều kiện mở cửa, hội nhập, xây dựng Nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời cần chú ý yếu
tố phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền, yếu tố đa dân tộc, đa văn hóa Bởi vậy, chính sách của Nhà nước về văn hóa mới có tính đồng bộ và tính pháp lý cao
* Pháp luật
Có thể khái quát sự ảnh hưởng của pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa trên những phương diện sau:
Trang 29Thứ nhất, pháp luật thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng
trong lĩnh vực văn hóa, làm cho chủ trương, đường lối trở thành ý chí và mục tiêu của toàn xã hội Pháp luật luôn phản ánh chủ trương, đường lối của Đảng, thể chế hóa chủ trương, đường lối đó thành các quy định chung thống nhất trên quy mô toàn xã hội Vì vậy việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức tuyên truyền và thực hiện áp dụng pháp luật phải thấm nhuần các quan điểm của Đảng
Thứ hai, pháp luật tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc cho cơ quan quản lý
nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, tổ chức và cá nhân tuân thủ, thực hiện các quy định mang tính chất bắt buộc Với các chính sách cụ thể, các chủ thể được
xử sự theo cách mà pháp luật cho phép, phù hợp với quy định của pháp luật để giữ gìn bản sắc văn hóa Bên cạch đó, pháp luật cũng quy định những nghĩa vụ bắt buộc các chủ thể nhằm thực hiện hiệu quả các mục tiêu Cùng với việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật thể hiện khả năng bảo vệ của mình đối với trật tự, các chuẩn mực văn hóa đã được xác lập” [26, tr.21]
Thứ ba, pháp luật là công cụ hữu hiệu gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa
của một đất nước Đóng vai trò là phương tiện chính thức hóa các giá trị của văn hóa truyền thống dân tộc, pháp luật phản ánh qua nhận thức, thu thập, sàng lọc các giá trị văn hóa truyền thống, biến các giá trị đó thành hiện thực đi vào đời sống xã hội
Thứ tư, “pháp luật có vai trò giáo dục ý thức con người trong hoạt động
văn hóa Quá trình thực hiện chức năng điều chỉnh, bảo vệ các quan hệ xã hội, trong đó các quan hệ trong đời sống văn hóa, pháp luật luôn tác động mạnh mẽ lên ý thức của chủ thể các quan hệ pháp luật, hình thành một ý thức pháp luật tương ứng, một lối sống theo pháp luật Vì vậy mà các chủ thể chủ động lựa chọn cách thức ứng xử trong thực tiễn đời sống, phù hợp với các chuẩn mực được luật định” [28, tr.23]
Trang 301.2.2.3 Tổ chức hệ thống quản lý, đội ngũ cán bộ, công chức quản lý
Tổ chức hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa bao gồm các cơ quan nhà nước thuộc lĩnh vực văn hóa tuân theo các nguyên tắc, quy tắc nhất định của các phương thức quản lý nhằm đạt được mục đích quản lý đặt ra Bộ máy quản lý có tầm quan trọng ảnh hưởng đến quá trình quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, bộ máy quản lý quyết định tính hiệu quả của quá trình quản lý
nhà nước về hoạt động văn hóa Vì vậy muốn công tác quản lý thuận lợi, tiết kiệm được thời gian và kinh phí mà vẫn đảm bảo tốt nhiệm vụ đặt ra thì phải xây dựng được hệ thống bộ máy quản lý phù hợp
Thứ hai, bộ máy quản lý tác động mạnh đến phương pháp, cách thức quản
lý Bởi vì, cách bố trí số lượng, phạm vi, chức danh của bộ máy từ Trung ương đến địa phương sẽ có tầm ảnh hưởng đến phương thức quản lý, áp dụng thực tế đối với khu vực địa giới hành chính
Thứ ba, hệ thống bộ máy quản lý, tạo động lực phát triển nền văn
hóa của một đất nước Công tác quản lý nhà nước có tốt đến mấy nhưng không xây dựng được một bộ máy điều hành hoàn thiện, khoa học, đáp ứng được với yêu cầu thực tiễn thì cũng sẽ không thể phát triển văn hóa Để hệ thống bộ máy quản lý, vận hành khoa học, thông suốt, hiệu quả thì phải phân cấp mạnh, hướng về cơ sở nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo ở từng địa bàn đặc thù, từng địa phương
1.2.2.4 Tài chính và cơ sở vật chất, kỹ thuật
Bảo đảm về mặt tài chính và điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động quản lý nhà nước phụ thuộc một phần vào nhu cầu quản lý, nhưng chủ yếu
là trình độ phát triển KTXH của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn Nền kinh tế tăng trưởng nhanh bền vững, đời sống nhân dân ngày một nâng cao là nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu sinh hoạt, thưởng thức văn hóa của nhân dân Tuy nhiên,
Trang 31sự tăng trưởng kinh tế không ổn định, đồng đều giữa các vùng miền, khu vực, đã dẫn tới sự phân tầng trong mức sống, khoảng cách giàu nghèo gia tăng trong xã hội Xã hội phát triển càng cao, nhu cầu hưởng thụ văn hóa của con người càng lớn Văn hóa nói chung và các hoạt động văn hóa nói riêng có tác động lớn trong
sự phát triển và chiến lược xây dựng con người, đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về công tác quản lý văn hóa trong một bối cảnh mới
1.2.2.5 Yếu tố xã hội
Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa luôn luôn tồn tại trong một điều kiện xã hội nhất định Chính vì vậy, các yếu tố xã hội ảnh hưởng mật thiết đến hoạt động quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa Mỗi địa phương, một dân tộc thiểu số đều có những điểm giống và khác nhau về đặc điểm, lãnh thổ, sản xuất, di cư, bản sắc văn hóa dân tộc Do vậy, các cơ quản quản
lý cần phải nắm vững được các đặc trưng văn hóa của họ để phát huy đồng đều các giá trị văn hóa, hài hòa với các phong tục tập quán của các dân tộc khác, để đảm bảo phù hợp với các quy định chung của pháp luật Trình độ dân trí xã hội là cơ sở để nâng tầm và phát triển văn hóa, trình độ dân trí càng cao
sẽ giúp người dân nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa, qua đó việc tiếp thu, thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ nhanh chóng kịp thời đến với nhân dân, giúp khoảng cách giữa các địa phương, vùng miền, dân tộc có sự gắn kết, xích lại gần nhau hơn, đảm bảo xây dựng nền văn hóa đậm
đà bản sắc dân tộc
Trạng thái văn hóa trong một giai đoạn nhất định sẽ ảnh hưởng đến cách thức hoạt động quản lý, đó chính là tình hình, hiện thực văn hóa trong xã hội Tùy vào mỗi trạng thái văn hóa lạc hậu, ổn định, hay phồn thịnh mà các
cơ quan quản lý nhà nước sẽ có những quyết sách phù hợp để quản lý hiệu quả Trạng thái văn hóa luôn thay đổi không ngừng, chính vì vậy công tác
Trang 32quản lý nhà nước cần phải đáp ứng được những biến thiên của các trạng thái văn hóa đó
1.2.3.6 Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Hoạt động văn hóa đối với sự phát triển của xã hội đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã đem đến sự thay da đổi thịt cho đất nước Cuộc sống của người dân được nâng lên rõ rệt về mọi mặt Chất lượng cuộc sống được cải thiện, không chỉ là nhu cầu vật chất, nhu cầu về đời sống tinh thần cũng được cải thiện đáng kể Ở khía cạnh tích cực, toàn cầu hóa cùng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những thay đổi to lớn trong phương thức sản xuất, tiêu dùng, lối sống, văn hóa Nhờ vậy các quốc gia còn có cơ hội phát triển trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa thông qua quá trình mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa, làm cho con người xích lại gần nhau hơn và tăng khả năng giải quyết một số vấn đề chung của toàn cầu Tuy nhiên, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, nguy
cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc là mối lo của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Toàn cầu hóa về văn hóa được tiếp sức bởi mạng xã hội, internet, di chuyển laođộng, di cư xuyên biên giới, du học, truyền giáo đang đe dọa đến lợi ích toàn dân, làm băng hoại các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đe dọa sự an toàn văn hóa của cá nhân và cộng đồng gây ra những rạn nứt văn hóa trong xã hội Kẻ thù trong mọi âm mưu diễn biến hòa bình ở Việt Nam đã dùng văn hóa như mội phương thức nhằm làm mất trật tự an ninh xã hội
Chính vì vậy, để công tác quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa thực
sự phát triển bền vững đòi hỏi các cơ quan quản lý phải có những biện pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài để đưa văn hóa phát triển đúng hướng, ngăn chặn mọi âm mưu thủ đoạn lợi dụng văn hóa đi ngược lại với đường hướng phát triển của đất nước
Trang 331.3 Đối tượng, nội dung quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa
1.3.1 Đối tượng quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa
Văn hóa với tư cách là khách thể của quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa được hiểu là các quá trình của xã hội, các hành vi hoạt động của con người, trật tự quản lý mà chủ thể quản lý bằng sự tác động lên khách thể quản
lý thông qua các phương pháp quản lý và công cụ quản lý nhất định nhằm thiết lập được những mục tiêu đã đề ra, cụ thể là: Các hoạt động văn hóa (trong đó có các dịch vụ văn hóa, hoạt động sáng tạo) và các giá trị văn hóa
(cụ thể là các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể)
Đối tượng quản lý nhà nước về văn hóa là các quan hệ xã hội, các hành
vi của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động liên quan trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, về di sản văn hoá di tích quốc gia, bảo tàng lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với các di tích và nhân vật lịch sử, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, mỹ thuật nhiếp ảnh, triển lãm, bản quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, thư viện, quảng cáo, văn hóa quần chúng, văn hóa dân tộc và tuyên truyền cổ động
1.3.2 Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa
1.3.2.1 Hoạch định và tổ chức thực thi các chính sách, văn bản pháp
luật về văn hóa
Thực tế cho thấy, các văn bản pháp luật về văn hóa hiện còn thiếu hoặc chưa đủ sức bao quát được mọi lĩnh vực trong hoạt động văn hóa Vì vậy, việc xây dựng các chính sách về văn hóa là điều cần thiết
Chính sách văn hóa là tổng thể các nguyên tắc hoạt động, các cách thực hành, các phương pháp, quản lý hành chính và phương pháp ngân sách dùng làm cơ sở cho việc tổ chức các hoạt động văn hóa của đất nước, nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân
Trang 34Các chính sách văn hóa đòi hỏi phải đáp ứng được mối quan tâm của cả các nhóm cộng đồng dân cư, phân định rõ các mục tiêu và điều chỉnh các hướng ưu tiên Chính sách văn hóa cần tới sự tăng cường hợp tác với các cơ quan công quyền ở mọi cấp, đặc biệt là với các cơ quan địa phương Các tổ chức tư nhân và xã hội để vạch kế hoạch hành động thực hiện các chương trình, dự án văn hóa, tạo điều kiện để đáp ứng nhu cầu văn hóa của đông đảo quần chúng nhân dân Mục tiêu của chính sách văn hóa nhằm thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa, phát triển nền văn hóa dân tộc, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc
Hoạch định chính sách phải dựa trên cơ sở mối tương quan giữa ba thành phần chính cùng tham gia, chịu trách nhiệm trong việc xây dựng và ban hành chính sách:
+ Chủ thể quyết định chính sách: các nhà lãnh đạo và quản lý
+ Người thực hiện chính sách: tập thể những người hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực văn hóa
+ Đối tượng chính sách tác động: các tầng lớp công chúng cũng như tiền năng của lĩnh vực văn hóa
Có thể kể đến một số nội dung chủ yếu trong Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 của nước ta: Xây dựng con người toàn diện, có đủ phẩm chất về tư tưởng, đạo đức, lối sống và nhân cách văn hóa đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; Xây dựng đời sống văn hóa và môi trường văn hóa; Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số
Chính sách văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa, song chính sách văn hóa không thể thay thế các quy định của pháp luật Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật về văn hóa
Trang 35nhằm phát huy tác dụng của văn hóa tới sự hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thân của con người
1.3.2.2 Xây dựng thể chế văn hóa
Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa trước hết gắn liền với việc xây dựng hệ thống thể chế Thể chế hóa là tổng hợp các phương pháp và cách thức thực hiện việc quản lý nhà nước, bao gồn các hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý văn hóa ban hành, nhằm điều chỉnh về các mặt tổ chức và hoạt động, chế độ công vụ, tài chính, nhân sự liên quan đến hệ thống văn hóa, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa của bộ máy
nhà nước
Để quản lý tốt hoạt động văn hóa trong quá trình xã hội hóa văn hóa, Nhà nước phải chú trọng xây dựng thể chế về quản lý văn hóa; hoàn chỉnh hệ thống các văn bản pháp luật và cơ chế, chính sách về văn hóa, nghệ thuật một cách toàn diện, đồng bộ trên mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa phù hợp với đường lối của Đảng, Nhà nước và pháp luật Việt Nam Thể chế quản lý văn hóa phải đảm bảo các chuẩn mực về luật pháp và chuẩn mực về phong tục, tập quán dân tộc
Để tạo điều kiện cho văn hóa phát triển, Nhà nước ta đã ban hành nhiều luật, văn bản luật về tổ chức bộ máy quản lý về văn hóa; luật về bảo vệ các di sản văn hóa; luật về bảo hộ quyền tác giả… Đối với các hoạt động liên quan đến xuất bản, báo chí, quảng cáo, internet Nhà nước đã ban hành Luật Xuất bản, Luật Báo chí, Luật Điện ảnh, Nghị định của Chính phủ đối với quảng cáo, đối với Internet Các hoạt động văn hóa cần được quản lý trên cơ sở luật và các văn bản pháp quy đã được ban hành Hiện nay, vấn đề xây dựng và thi hành pháp luật đang là nhu cầu cấp thiết của công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động văn hóa
Trang 361.3.2.3 Huy động đầu tư tài chính cho văn hóa
Nhà nước coi việc đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho sự phát triển, đầu
tư cho con người Hoạt động văn hóa với tư cách là một hoạt động sản xuất cần được tính toán đến hiệu quả Cấp ngân sách cho văn hóa kèm theo những quy tắc như bất kỳ loại hoạt động tài chính nào khác khi yêu cầu đặt ra là phải đạt tới mục tiêu quốc gia Khi đầu tư cho văn hóa cần xem văn hóa cũng là một khu vực làm ra lợi nhuận cho Nhà nước và cho nhân dân, đồng thời cần tận dụng cơ chế thị trường cho bản thân sự phát triển văn hóa đúng hướng Bao cấp toàn bộ cho các hoạt động văn hóa cũng như quan điểm “thả nổi” văn hóa cho thị trường đều là các quan điểm sai lầm, có hại cho sự nghiệp phát triển văn hóa
Cơ cấu ngân sách Nhà nước đầu tư cho phát triển văn hóa bao gồm: + Ngân sách nhà nước cho phát triển giáo dục
+ Ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học, công nghệ
+ Ngân sách nhà nước cho phát triển văn hóa, nghệ thuật
+ Ngân sách nhà nước cho phát triển phát thanh, truyền hình, báo chí + Ngân sách nhà nước cho các hoạt động thể dục - thể thao
Xác định các mô hình hoạt động thuộc sự quản lý của ngành văn hóa là một căn cứ để đầu tư ngân sách nhà nước cho văn hóa Cần xác định những thể loại hoạt động văn hóa nào có thể hoạt động trên cơ sở thương mại, loại nào không tự thích ứng được hoặc chỉ thích ứng một phần Mức độ không thích ứng này chính là một trong những căn cứ để Nhà nước đầu tư, hỗ trợ tài chính
1.3.2.4 Hợp tác quốc tế về văn hóa
Với mỗi quốc gia, trong mọi giai đoạn lịch sử, bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc, ngôn ngữ, sản phẩm văn hóa độc đáo luôn là nền tảng tinh thần, là động lực và mục tiêu của sự phát triển của quốc gia, dân tộc Nhà nước tham gia các cuộc trao đổi, thảo luận quốc tế nhằm tiến tới sự đồng thuận về các quy tắc, tiêu chuẩn, thông lệ ở cấp độ quốc gia và cấp độ quốc tế trong giao lưu hợp tác quốc tế Trong giai đoạn, hội nhập kinh tế, quốc tế,
Trang 37Nhà nước kiên trì nguyên tắc bảo hộ đối với các sản phẩm của nền công nghiệp văn hóa nước mình Bởi sản phẩm văn hóa, không phải là một sản phẩm hàng hóa thông thường mà trước hết là một sản phẩm mang giá trị tinh thần đặc trưng của mỗi nhóm người, mỗi dân tộc
1.3.2.5 Công tác thanh tra, kiểm tra
Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước
là một nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý nhà nước về văn hóa Trong lĩnh vực công tác này, hoạt động của cơ quan kiểm duyệt và thanh tra có vai trò đặc biệt bởi vì văn hóa có mối quan hệ trực tiếp với chính trị nó có tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của con người Trong
xu hướng xã hội hóa văn hóa ngày càng mở rộng, các sản phẩm văn hóa ngoại lại du nhập thì vai trò công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát ngày càng phải được thực hiện nghiêm túc, có kế hoạch phối hợp hoạt động một cách chặt chẽ với các bộ, ngành khác, như vậy mới có khả năng thực hiện chức năng và nhiệm vụ đặt ra
1.3.2.6 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa
Bộ máy quản lý nhà nước về văn hoá nói chung ở nước ta được tổ chức thực hiện theo quy trình quản lý từ Trung ương đến cơ sở theo sơ đồ sau:
Trang 38- Trung ương: Chính phủ thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển văn
hóa trên phạm vi cả nước, thi hành các biện pháp để bảo tồn và phát triển nền văn hóa dân tộc Việt Nam Bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ (Quy định tại Nghị định số 79/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ) Bộ trưởng Bộ VHTT&DL trình Chính phủ kế hoạch 5 năm, hằng năm, các chương trình hành động, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn, hàng năm và các chương trình, dự án, công trình quan trọng quốc gia về ngành, lĩnh vực, các dự thảo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực văn hóa, tổ chức chỉ đạo thực hiện các kế hoạch, xây dựng dự án Luật, Pháp lệnh và các văn bản khác về văn hóa theo sự phân công của Chính phủ Ban hành các quyết định, chỉ thị, thông tư về các hoạt động văn hóa, chỉ đạo công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lý luận về văn hóa; tổ chức sưu tầm, khai thác, giữ gìn và phổ biến các giá trị văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng và chỉ đạo kế hoạch hợp tác quốc tế trên lĩnh vực văn hóa theo quy định của Chính phủ; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, các chế độ chính sách, quy chế về văn hóa; quản lý các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức kinh doanh trực thuộc Bộ VHTT&DL theo quy định của Chính phủ [3]
- Cấp tỉnh (thành phố): là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh; thực
hiện chức năng tham mưu, giúp quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch và quảng cáo (trừ quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên xuất bản phẩm và quảng cáo tích hợp trên các sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin) ở địa phương theo quy định của pháp luật; các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của Sở và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo phân công hoặc ủy quyền của UBND cấp tỉnh và theo quy định của
Trang 39pháp luật (Quy định tại Nghị định 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ) Sở VHTT&DL chịu sự chỉ đạo, quản lý tổ chức, biên chế và hoạt động của UBND cấp tỉnh, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ của
Bộ VHTT&DL [6]
- Cấp quận (huyện): Phòng VH&TT là cơ quan chuyên môn thuộc
UBND cấp huyện; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản
lý nhà nước về văn hoá; gia đình; thể dục; thể thao; du lịch và quảng cáo; báo chí; xuất bản; bưu chính; viễn thông; công nghệ thông tin; phát thanh truyền hình; thông tin cơ sở; thông tin đối ngoại và hạ tầng thông tin ; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật (Quy định tại Nghị định 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ) đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Sở VHTT&DL, Sở Thông tin và Truyền thông [7]
1.4 Nhiệm vụ quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa cấp huyện
Trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tốc độ đô thị hoá mạnh như hiện nay, công tác quản lý văn hoá ở các cấp, đặc biệt là cấp huyện (quận) cấp truyền tải chủ trương chính sách từ Trung ương, tỉnh xuống cơ sở đang là vấn đề đặt ra có tính cấp thiết Quản lý cấp huyện (quận) với mục đích chính nhằm đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế, kế thừa và phát triển những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc, tích cực và chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong xu thế ngày càng chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng con người và lối sống văn hóa, đời sống văn hóa và môi trường văn hóa lành mạnh Công tác quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa cấp huyện cần tập trung vào các nhiệm vụ sau đây:
Trang 40Một là, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch,
kế hoạch, đề án, chương trình đã được phê duyệt theo từng giai đoạn cụ thể (dài hạn, trung hạn, hằng năm) chiến lược, quy hoạch, chính sách của Trung ương, Tỉnh, Thành phố, cấp huyện về lĩnh vực văn hóa, đây là bước đầu tiên, giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý nhà nước ở cấp huyện Lập kế hoạch sẽ dự báo được những thuận lợi, thời cơ, những khó khăn thách thức; thiết lập các hệ thống mục tiêu, định lượng; đề ra các nhiệm vụ, giải pháp ngắn hạn, trung hạn, dài hạn phù hợp với thực tiễn của địa phương; xác định
rõ lộ trình thời gian; phân công nhiệm vụ, trách nhiệm người đứng đầu cho từng cơ quan đơn vị từ huyện tới cấp cơ sở để tổ chức thực hiện công tác quản
lý hoạt động văn hóa Bên cạnh đó, việc xây dựng kế hoạch là điều kiện khung để chính quyền cấp huyện kiểm tra, đánh giá việc hoàn hành kết quả, tiêu chí đã đề ra, từ đó đánh giá, rút kinh nghiệm kiến nghị với cấp trên về tính bất hợp lý của các chủ trương, chính sách về văn hóa
Hai là, hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn huyện
xây dựng đời sống văn hóa tại cơ sở trên địa bàn, xác định được vị trí và vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa Là nền tảng mang tính hiện thực, trực tiếp để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc sáng tạo, hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghệ thuật, xây dựng đời sống văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc; bảo tồn và phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, phong phú của bản sắc văn hóa các dân tộc
Ba là, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, hướng dẫn tổ chức các
hoạt động văn hóa nhân các ngày lễ, ngày kỷ niệm của đất nước, địa phương, đưa văn hóa đến gần với nhân dân, thông qua đó nhằm định hướng, truyền bá các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xây dựng Đảng tại địa phương đến gần hơn với mọi đối tượng Công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm uốn nắn