Là người cán bộ quản lý hoạt động lâu năm trong lĩnh vực quản lý quảng cáo tại Sở Văn hóa và Thể thao thành phố, với tâm huyết của mình tôi chọn đề tài “Quản lý Nhà nước về hoạt động quả
Trang 2“Quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1, thành phố
Hồ Chí Minh”, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình và những ý
kiến truyền đạt, góp ý quý báu của các quý Thầy, Cô, các anh chị, bạn bè, đồng nghiệp Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cám ơn chân thành đến:
- Ban Giám hiệu, Quý Thầy, Cô Khoa Sau đại học và các Phòng, Khoa chuyên môn của trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá tình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
- Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Phạm Thị Thanh Tâm, người đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập
và hoàn thành đề tài luận văn
- Xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi, chia sẻ tài liệu và kinh nghiệm
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong sự góp ý của các Thầy, Cô, các bạn đồng nghiệp…, để tôi có thể tiếp tục học hỏi, trau dồi và hoàn thiện thêm
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Võ Văn Sơn
Trang 3BVHTTDL : Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 41 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu 7
6 Câu hỏi nghiên cứu 8
7 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 9
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9
9 Bố cục của luận văn 10
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO NGOÀI TRỜI TẠI QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Một số khái niệm 11
1.1.2 Chức năng, phân loại quảng cáo 22
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo và quảng cáo ngoài trời 29
1.1.4 Vai trò quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời 32
1.2 Cơ sở thực tiễn 34
1.2.1 Khái quát về Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 34
1.2.2 Nhu cầu quảng cáo ngoài trời trên địa bàn Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 35
1.2.3 Tổng quan về quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 37 Tiểu kết chương 1: 42
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO NGOÀI TRỜI TẠI QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 43
Trang 52.2 Tình hình quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1
Thành phố Hồ Chí Minh 48
2.2.1 Xây dựng hệ thống các văn bản pháp lý và phổ biến 48
2.2.2 Quy hoạch quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 54
2.2.3 Cấp phép quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 63
2.2.4 Công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ 65
2.2.5 Công tác thanh tra, kiểm tra, xử phạt các hành vi vi phạm quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 67
2.3 Đánh giá hiệu quả quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 73
2.3.1 Những ưu điểm 74
2.3.2 Những tồn tại quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 75
2.3.3 Những nguyên nhân của hạn chế và tồn tại 77
Tiểu kết chương 2 79
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ QUẢNG CÁO NGOÀI TRỜI TẠI QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 81
3.1 Các yếu tố tác động đến quản lý Nhà nước về quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh trong môi trường phát triển công nghệ và cách mạng công nghệ 4.0 81
3.1.1 Định hướng của Đảng, Nhà nước và UBND thành phố về phát triển quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 81
3.1.2 Sự phát triển nhanh chóng của quảng cáo ngoài trời tại Thành phố Hồ Chí Minh 83
Trang 6quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 86
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý đối với lĩnh vực quảng cáo ngoài trời86 3.2.2 Củng cố bộ máy tổ chức quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 90
3.2.3 Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về nội dung quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 90
3.2.4 Nâng cao năng lực cán bộ quản lý Nhà nước về quảng cáo ở Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 91
3.2.5 Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 92
3.3 Một số kiến nghị đối với quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 93
3.3.1 Đối với Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh 93
3.3.2 Đối với UBND Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 94
3.3.3 Đối với Phòng Văn hóa và Thông tin Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh 95
3.3.4 Đối với Hiệp Hội quảng cáo Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh 96
3.3.5 Đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động quảng cáo ngoài trời 97
Tiểu kết chương 3 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 106
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quảng cáo đã trở thành một hoạt động kinh tế quan trọng trong nền kinh tế thị trường và là cầu nối giữa sản xuất - kinh doanh, dịch vụ, người tiêu dùng Quảng cáo không chỉ giúp cho doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm của mình đến người tiêu dùng mà còn góp phần phát triển các nhu cầu của xã hội Thông qua quảng cáo thúc đẩy sự cạnh tranh sản phẩm hàng hóa, dịch vụ giữa các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh Quảng cáo đã góp phần đưa thương hiệu của các doanh nghiệp, cung cấp thông tin sản phẩm đến người tiêu dùng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất trong nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu Ở nước ta, quảng cáo được xem là một trong những ngành khá non trẻ so với các ngành kinh tế khác, văn hóa Đây là ngành có doanh thu khá cao, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm ngàn lao động, thỏa mãn nhu cầu văn hóa tinh thần của mỗi người dân
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, là một trung tâm lớn của đất nước về kinh tế, văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, là đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế Thành phố được xem là một trong những địa phương đầu tàu, về sức thu hút các nhà kinh tế, văn hóa trên thế giới và là vùng kinh tế trọng điểm của phía Nam Do đó, hoạt động quảng cáo nói chung và quảng cáo ngoài trời nói riêng ở TP.HCM cũng xuất hiện sớm nhất và phát triển nhanh chóng so với các địa phương cả nước Trong những năm qua, hoạt động quảng cáo
ở TP.HCM đã phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào việc đưa hình ảnh của thành phố với sức trẻ đầy tiềm năng luôn sẵn sàng vươn tới tầm cao mới Những thông tin trong quảng cáo được công chúng biết đến hàm chứa những giá trị văn hóa, gắn với thị hiếu thẩm mỹ dân tộc, thời đại và phản ánh những năng lực kinh
tế dồi dào Điều đó đã làm cho các sản phẩm quảng cáo có sức thuyết phục và ghi dấu ấn trong lòng công chúng, tạo nên giá trị kinh tế cho quảng cáo thương mại Trong đó, đặc biệt là những thông tin từ quảng cáo ngoài trời
Trang 8Với mục đích đưa hoạt động quảng cáo đi vào nề nếp, đảm bảo tính văn hóa, trật tự, an toàn xã hội và mang lại vẻ đẹp cho bộ mặt đô thị Thành phố Hồ Chí Minh đã luôn chỉ đạo sát sao công tác quản lý Nhà nước về quảng cáo Quảng cáo là đảm bảo sự thống nhất, tính công khai minh bạch trong công tác cấp phép xây dựng công trình quảng cáo, và xử phạt vi phạm đúng luật định Tuy nhiên những tồn tại của hoạt động quảng cáo, quảng cáo ngoài trời và quản
lý vấn đề này ở TP.HCM vẫn còn nhiều nan giải
Đó là giải quyết các trường hợp vi phạm pháp luật chưa đồng bộ, dứt điểm; Một số nơi quy hoạch chưa cụ thể, rõ ràng cho từng vị trí quảng cáo Nội dung quảng cáo còn bất cập về câu chữ, ngữ pháp, chưa đảm bảo tính văn hóa, tính khoa học, đặc biệt là ngôn ngữ tiếng nước ngoài
Công tác kiểm tra xử lý chưa thực hiện thường xuyên, quản lý Nhà nước về quảng cáo ở thành phố chưa được quan tâm đúng mức, chưa đồng bộ, nhất quán cả
về vị trí, thời gian và diện tích cũng như nội dung quảng cáo ngoài trời theo Luật Quảng cáo Chưa nhìn từ góc độ kinh tế, thương mại và công nghệ đối với hoạt động quảng cáo và quảng cáo ngoài trời
Là người cán bộ quản lý hoạt động lâu năm trong lĩnh vực quản lý quảng cáo tại Sở Văn hóa và Thể thao thành phố, với tâm huyết của mình tôi chọn đề tài
“Quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ của mình Mong muốn góp một phần nhỏ vào công
tác quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời hiện nay của thành phố nói chung và Quận 1 nói riêng
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước đối với loại hình hoạt động này:
Trang 9- Hệ thống về lý luận quản lý Nhà nước đối với hoạt động quảng cáo và quảng cáo ngoài trời
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến 2017
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 trong bối cảnh hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu và lãm rõ các vấn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quảng cáo và quản lý Nhà nước đối với quảng cáo, quảng cáo ngoài trời
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời thời gian qua
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến 2017, chỉ ra những ưu điểm, tồn tại, và nguyên nhân của những tồn tại Từ đó làm rõ những mặt được và chưa được của công tác quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh
- Dự báo xu hướng phát triển của quảng cáo ngoài trời tại Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời hiện nay trên địa bàn Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh
- Bước đầu nêu một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời trên địa bàn Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh
3 Lịch sử nghiên cứu
Một số cuốn sách của các tác giả trong và ngoài nước đã viết về quảng
cáo trong đó có quảng cáo ngoài trời như: Tác giả Glenn Verrill (1992), công nghệ quảng cáo, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, tác giả đã phân tích về cơ sở
Trang 10lý luận quảng cáo, các phương tiện quảng cáo trong đó có một số loại hình quảng
cáo ngoài trời; Kathy J Kobliski- Nhân Văn dịch, (2006), Phương thức quảng cáo tối ưu, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội, đã phân tích các loại hình quảng cáo trong đó có quảng cáo ngoài trời; Philip Kotler (2013), Giáo trình quản trị Marketing, NXB Lao động xã hội, Hà Nội; tác giả đề cập quản trị Marketing là
quá trình bao gồm phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát kế hoạch đó Ông cho rằng Marketing của công ty sẽ không có hiệu quả nếu chỉ giao phó cho một bộ phận Marketing Ở Việt Nam, quảng cáo và quảng cáo ngoài trời xuất hiện muộn so với thế giới và nhu cầu của nền kinh tế Tuy nhiên cũng có một số
tài liệu như: Nguyễn Kiên Trường, chủ biên, (2004), Quảng cáo và ngôn ngữ quảng cáo, NXB KHXH, Hà Nội các tác giả đã nêu ra các hình thức quảng cáo
và cách viết một thông điệp quảng cáo, sử dụng ngôn ngữ quảng cáo nào là phù
hợp với loại hình quảng cáo; Vũ Quỳnh, (2006), Quảng cáo và các hình thức quảng cáo hiệu quả nhất, NXB Lao động – Xã hội, sách đã trình bày về các loại
hình quảng cáo và các hình thức quảng cáo nhưng chưa đề cập về các hình thức quảng cáo ngoài trời Một công trình nghiên cứu về quảng cáo khác của Lưu Văn
Nghiên (2012), Quản trị tác nghiệp quảng cáo (tập 1 và 2), NXB Kinh tế Quốc
dân, Hà Nội Tác phẩm trình bày những vấn đề chung về quản trị tác nghiệp quảng cáo, phân loại quá trình sản xuất Vai trò, mục đích, nhiệm vụ của quản trị tác nghiệp Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị tác nghiệp, xem quản trị tác nghiệp quảng cáo là quản trị quá trình sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm quảng cáo đáp ứng nhu cầu của khách hàng và đạt được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
Nhóm tác giả Nguyễn Văn Hy, Phan Văn Tú, Hoàng Sơn Cường, Lê Thị
Hiền, Trần Thị Diên (1998), Quản lý hoạt động văn hóa, NXB Văn hóa Thông
tin, Hà Nội, đã khái quát chung về công tác quản lý hoạt động văn hóa cụ thể, chi tiết nhưng chưa đề cập đến quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời Bên cạnh
đó, một số sách chuyên viết về quản lý văn hóa như tác giả Phan Văn Tú (1999),
Trang 11Đại cương quản lý văn hóa, trường đại học Văn hóa Hà Nội, đã nêu cơ sở lý
luận về quản lý văn hóa các chức năng, vai trò, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của quản lý văn hóa Tác giả Nguyễn Đông Phoang, Bùi Thanh Tráng (2009),
phát triển dịch vụ quảng cáo ở TP.HCM, NXB Lao Động, Hà Nội đã viết về các
loại hình dịch vụ quảng cáo ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng chưa viết nhiều về các loại hình quảng cáo ngoài trời, đặc biệt là công tác quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời hoạt động như thế nào Các tác giả Phan Hồng Giang, Bùi Hoài
Sơn, (2012), Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, NXB CTQG - Sự thật, Hà Nội đã viết về công tác quản lý Nhà nước về
văn hóa trong đó có quảng cáo nhưng nhóm tác giả chưa đi sâu vào phân tích thực trạng quảng cáo ngoài trời tại Thành phố Hồ Chí Minh trong đó có Quận 1
Tác giả Lê Thị Kim Oanh, Quản lý hoạt động quảng cáo thương mại ngoài trời trên địa bàn Hà Đông, tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 399, tháng
9/2017, tác giả đã phân tích về kế hoạch xây dựng kế hoạch, văn bản hướng dẫn thực hiện, ban hành tổ chức, thực hiện, tuyên truyền giáo dục, phổ biến pháp luật, công tác thanh tra kiểm tra nhưng chủ yếu đi sâu phân tích quảng cáo thương mại tại Hà Đông Hà Nội, nhưng chưa nêu được những mặt mạnh, yếu và công tác quản lý Nhà nước như thế nào đối với loại hình quảng cáo này
Quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời là việc thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các chủ trương, chính sách, quy hoạch, quy định, kế hoạch, thanh tra, kiểm tra… của các cơ quan Nhà nước Trong đó, công tác quản lý hành chính Nhà nước, tức là công tác tổ chức thực thi quyền hành pháp để quản
lý, điều hành hoạt động quảng cáo ngoài trời bằng pháp luật và theo pháp luật phù hợp với thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh Trong các công trình nghiên cứu trên đây không đi trực tiếp vào quản lý quảng
Trang 12cáo ngoài trời, nhưng đây là tài liệu tham khảo bổ ích trong quá trình tác giả thực hiện luận văn này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, đánh giá
hoạt động quảng cáo ngoài trời như: bảng quảng cáo tấm lớn, tấm nhỏ, băng rôn, biển hiệu, hộp đèn, màn hình chuyên về quảng cáo mang tính cố định và nhiều vấn đề liên quan đặt ra trong công tác quản lý nhà nước về loại hình này)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Theo luật Quảng cáo có nhiều hình thức quảng cáo ngoài trời như: quảng cáo trên bảng quảng cáo, băng rôn, biển hiệu, hộp đèn , màn hình chuyên quảng cáo; Quảng cáo trên phương tiện giao thông: xe buýt, xe khách, xe chuyên dùng; Quảng cáo tại hội chợ, hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện, triển lãm, chương trình văn hóa, thể thao; Người chuyển tải sản phẩm quảng cáo; vật thể quảng cáo trên không, dưới nước, đoàn người – xe diễu hành, trang phục, vật trang sức, huy hiệu, phù hiệu, quảng cáo truyền miệng (máy chiếu hình ảnh, vẽ trên thân thể…) Luận văn đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, đánh giá hoạt động quảng cáo ngoài trời như: bảng quảng cáo tấm lớn, băng rôn, biển hiệu, hộp đèn, màn hình chuyên về quảng cáo mang tính cố định và nhiều vấn đề liên quan đặt ra trong công tác quản lý Nhà nước hoạt động này
- Về không gian: Các loại hình quảng cáo ngoài trời trên địa bàn Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh
- Về thời gian: luận văn nghiên cứu công tác quản lý Nhà nước quảng cáo ngoài trời từ năm 2013 đến 2017 (vì trước năm 2012 chưa ban hành Luật Quảng cáo)
Trang 135 Lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Lý thuyết nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi áp dụng hai lý thuyết chính phục vụ cho quá trình nghiên cứu, lý thuyết quản lý hành chính – tổ chức của Henri Fayol và lý thuyết quản lý khoa học của Fededric W Taylor
- Lý thuyết quản lý hành chính – tổ chức Henri Fayol (1841 – 1925)
Tư tưởng chủ yếu của thuyết H Fayol là nhìn vấn đề quản lý ở cả tổng thể
tổ chức quản lý xí nghiệp, xem xét hoạt động quản lý từ trên xuống, tập trung vào bộ máy lãnh đạo cao với các chức năng cơ bản của nhà quản lý Ông cho rằng thành công của quản lý không chỉ nhờ những phẩm chất của các nhà quản
lý, mà chủ yếu nhờ các nguyên tắc chỉ đạo hành động của họ và những phương pháp mà họ sử dụng Với các nhà quản lý cấp cao phải có khả năng bao quát, còn đối với cấp dưới thì khả năng chuyên môn là quan trọng nhất Tư tưởng quản lý đó phù hợp với hệ thống kinh doanh hiện đại, và từ những nguyên lý đó
có thể vận dụng cho việc quản lý các loại tổ chức thuộc lĩnh vực khác
Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý Henri Fayol để giải đáp nội hàm của khái niệm quản lý, các chức năng cơ bản của quản lý, cơ cấu tổ chức quản lý và nguyên tắc vận hành của bộ máy tổ chức
- Lý thuyết quản lý khoa học của Fededric Winslow Taylor (1856 – 1915) Những nguyên tắc cơ bản trong lý thuyết của Taylor là: Xây dựng các phương pháp khoa học để thực hiện công việc, nhiệm vụ của từng công nhân; lựa chọn công nhân một cách khoa học và huấn luyện họ phương pháp khoa học
để thực hiện công việc; tổ chức giáo dục và giám sát công nhân để đảm bảo họ thực hiện theo đúng phương pháp; xây dựng và củng cố quan hệ giữa người lao động và nhà quản trị
Luận văn áp dụng quan điểm lý thuyết quản lý khoa học của Fededric Winslow Taylor tập trung vào vấn đề chuyên môn hóa đối với lao động quản lý, đây là một quan điểm tiến bộ hơn so với những quan điểm trước đó; nhấn mạnh
Trang 14yếu tố năng suất và kỷ luật lao động nhằm đạt được những mục tiêu hiệu quả, tiêu chuẩn hoá và tiết kiệm của tổ chức giúp cho nhà quản lý đề ra các định mức hợp lý Từ đó ứng dụng vào đề tài Quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ quảng cáo và chủ thể tham gia quảng cáo đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh Để đạt được điều đó, hoạt động quản lý Nhà nước về quảng cáo ngoài trời cần phải sử dụng những công cụ quản lý nào là phù hợp nhất trong giai đoạn hiện nay
- Để đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời hiện nay trên địa bàn Quận 1 cần phải đánh giá thực trạng về công tác quản lý nội dung, thời gian, địa điểm, nhân sự, hành chính xử phạt, bản quyền, hình ảnh, âm nhạc và các nội dung khác phù hợp trong giai đoạn hiện nay
- Từ việc phân tích các mặt được và chưa được trong quá trình quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời tại địa bàn Quận 1, TP.HCM trong thời gian vừa qua để từ đó có căn cứ và cơ sở đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời thiết thực hơn và hiệu quả hơn trên địa bàn Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
6 Câu hỏi nghiên cứu
Để trả lời cho các mục tiêu nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đưa ra một số câu hỏi sau:
- Cơ sở lý thuyết nào về quản lý Nhà nước đối với hoạt động quảng cáo ngoài trời được áp dụng tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh?
- Tình hình quản lý Nhà nước đối với hoạt động quảng cáo ngoài trời từ khi có luật quảng cáo trên địa bàn Quận 1 TP.HCM diễn ra như thế nào?
Trang 15- Cơ sở để đưa ra giải pháp quản lý quảng cáo ngoài trời tại Quận 1
TPHCM là gì?
- Tại sao phải đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời hiện nay ở Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh?
7 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp: Thông qua những tài liệu,
số liệu thu thập được cần phân tích, đánh giá và lựa chọn thông tin có độ tin cậy Những thông tin thu thập được sẽ phân nhóm theo nội dung nghiên cứu và sử dụng trong luận văn
- Phương pháp điều tra: điều tra thông qua khảo sát, phỏng vấn sâu về quảng cáo ngoài trời và thực tế trong quản lý quảng cáo ngoài trời ở Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh
- Phương pháp so sánh và đối chiếu: Qua bảng thống kê, số liệu, tác giả so sánh đối chiếu số liệu qua các năm về sự tăng giảm quảng cáo và hiệu quả quản
lý Từ đó lý giải những nguyên nhân ảnh hưởng như thế nào đối với QLNN về quảng cáo ngoài trời
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Luận văn còn sử dụng phương pháp liên ngành trong quá trình thực hiện đề tài
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Hệ thống một số vấn đề lý luận quản lý văn hóa, quản lý quảng cáo, quảng cáo ngoài trời, khẳng định vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động quảng cáo, quảng cáo ngoài trời
- Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn là những vấn đề thực tiễn về quảng cáo ngoài trời và quản lý Nhà nước đối với quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh rất có giá trị cho các nhà nghiên cứu, các doanh nghiệp Đặc biệt đây sẽ là cơ sở, là tài
Trang 16liệu quý để giúp các nhà hoạch định chiến lược quảng cáo và quảng cáo ngoài trời tại thành phố và Quận 1 Thành Hố Hồ Chí Minh
Thông qua tổng hợp, điều tra, phân tích, so sánh các số liệu được khảo sát
và nghiên cứu thực tiễn về công tác quản lý quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung sẽ là căn cứ cho nhà quản lý và cho doanh nghiệp quảng cáo có cơ sở thực tiễn để hoạch định chính sách văn hóa, chính sách quảng cáo và định hướng hoạt động phù hợp trong thời gian tới
9 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn bao gồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh: Khái quát về cơ sở lý luận về
quảng cáo ngoài trời, chức năng của quảng cáo ngoài trời và khái quát thực tiễn
về tình hình hoạt động quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước về quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh: Tác giả thống kê và phân tích các số liệu về
các vụ vi phạm và số tiền nộp phạt của các doanh nghiệp, hộ gia đình, tổ chức vi phạm Đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước về nhân sự, nội dung, quy hoạch, kiểm tra thanh tra, văn bản pháp luật, cũng nhu đánh giá điểm mạnh và điểm yếu trong quá trình quản lý quảng cáo ngoài trời tại Quận 1 trong thời gian
Trang 17Có nhiều nhà nghiên cứu quảng cáo và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau
về quảng cáo dưới góc nhìn khác nhau phù hợp với loại hình khác nhau của quảng cáo Nhà nghiên cứu Quảng cáo Phillip Kotler đã định nghĩa “Quảng cáo
là những hình thức truyền thông không trực tiếp, được thực hiện thông qua những phương tiện truyền tin phải trả tiền và xác định rõ nguồn kinh phí” [17, tr.24] Kotler cho rằng, quảng cáo là một hình thức truyền thông hữu hiệu nhưng không trực tiếp tới đối tượng cụ thể mà là tất cả công chúng Do đó, họ phải trả tiền quảng cáo nhằm mục đích của cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp
Dịch vụ có mục đích sinh lời là dịch vụ nhằm tạo ra lợi nhuận cho tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ
Dịch vụ không có mục đích sinh lời là dịch vụ không nhằm tạo ra lợi nhuận cho tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ Dịch vụ này nhằm tuyên truyền về định hướng công chúng hay toàn xã hội về vấn đề nào đó
Ở những nước phát triển, đặt biệt là Mỹ thì quảng cáo dã trở thành một ngành công nghiệp Theo Hiệp hội Quảng cáo Mỹ (1991), “Quảng cáo là hoạt động truyền bá thông tin, trong đó nói rõ ý đồ của chủ quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ của chủ quảng cáo trên cơ sở thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người khác” [10, tr.16]
Dưới góc độ thương mại, quảng cáo là nhằm cung cấp thông tin về hàng hóa của chủ thể quảng cáo, làm rõ giá trị của nó và hướng tới công chúng, khách hàng, nhằm mục đích tăng nhanh lượng người mua Đồng thời chủ quảng cáo
Trang 18phải trả tiền Trong một thế giới kinh doanh khốc liệt hiện ngay, quảng cáo đã và
sẽ là một công cụ, vũ khí đắc lực của các hoạt động yểm trợ marketing hỗn hợp (4Ps) như: quảng cáo, bán hàng cá nhân, hội chợ triển lãm, quan hệ công chúng
và xúc tiến bán hàng) mà các công ty hiện nay đều sử dụng quảng cáo trong việc truyền bá, thuyết phục và sau cùng là bán được hàng hóa, dịch vụ hay ý tưởng
Điều 2, khoản 1, Luật Quảng cáo năm 2013, có nêu: “Quảng cáo là việc
sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân” [32, tr.2]
1.1.1.2 Quảng cáo ngoài trời
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu và tổng hợp thì quảng cáo ngoài trời được
hiểu là “Out of Home Advertising hoặc Outdoor Advertising”, hình thức quảng
cáo ngoài trời với nhiều hình dạng, kích thức khác nhau được đặt, treo, dựng ở không gian công cộng tác động trực tiếp đến người tiêu dùng Do đó, với khái niệm này, quảng cáo ngoài trời (OOH) là tất cả các loại hình quảng cáo tác động đến người tiêu dùng, khi họ bước ra khỏi ngôi nhà mà họ đang sinh sống
Theo quan điểm này, quảng cáo ngoài trời là bao gồm tất cả các loại hình quảng cáo tác động đến người tiêu dùng khi họ bước ra bên ngoài ngôi nhà họ đang sống, làm việc, tức là bước vào không gian công cộng, trái ngược với những phương pháp tiếp cận quảng cáo khi người tiêu dùng ở bên trong ngôi nhà của họ như qua tivi, phim ảnh, mạng internet…
Với tiêu chí trên, nhiều loại hình quảng cáo dù là “indoor” (trong nhà) nhưng vẫn được xếp vào “Outdoor” (ngoài trời), ví dụ như quảng cáo trong thang máy, trong siêu thị, trong buồng điện thoại công cộng, sảnh của các tòa nhà, rạp chiếu phim…Hay nói cách khác, sản phẩm của quảng cáo ngoài trời là những thông tin bằng hình ảnh, hành động, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu
Trang 19tượng, màu sắc, ánh sáng chứa đựng nội dung quảng cáo được đặt ở một nơi công cộng
Các phương tiện quảng cáo ngoài trời được sử dụng rất đa dạng về không gian và vật mang như: quảng cáo trên các bảng như: pa nô, áp phích, bảng tấm lớn (Billboard), băng rôn, biển hiệu, hộp đèn, màn hình điện tử…; quảng cáo trên các phương tiện giao thông như: xe bus, xe taxi, máy bay, tàu lửa…; người chuyển tải quảng cáo: người, xe diễu hành, trang phục, vật trang sức v,v…
Quảng cáo ngoài trời có các đặc điểm
Quảng cáo ngoài trời là hình thức quảng cáo ra đời sớm nhất và có những đặc điểm khác với những hình thức quảng cáo trong nhà khác Quảng cáo ngoài trời chính là phương tiện truyền phát các thông tin và không tự mang thông tin đến cho người nhận, mà chính người nhận đến với quảng cáo mặc dù họ xem, nhìn, thấy, tiếp nhận thông tin khi đang tiến hành các hoạt đọng khác và hầu như không phải nỗ lực gì khi tiếp nhận thông tin từ quảng cáo ngoài trời
Quảng cáo ngoài trời có một số hạn chế khi khó xác định được hiệu quả quảng cáo, dễ mắc phải yếu tố nhàm chán đối với người xem Nội dung quảng cáo sản phẩm với thông điệp hạn chế do mức độ tóm tắt cao, không thể giới thiệu đầy đủ các thông tin về dịch vụ, sản phẩm cho người tiếp nhận Quảng cáo ngoài trời thường là một phương tiện bổ sung, không phải là phương pháp chính
để tiếp cận người tiêu dùng mục tiêu Do khái quát và tóm lược ngắn gọn, xúc tích để phù hợp với điều kiện quảng cáo ngoài trời Vì thế, vì mức độ tóm tắt của mỗi sản phẩm quảng cáo không thể biểu hiện đủ được như cách sử dụng ngôn từ, hình ảnh, âm thanh, lời nói Từ đó, làm cho sản phẩm quảng cáo chỉ phát huy được tác dụng nhận biết nhanh nhất, nhưng lại chưa đầy đủ và cụ thể về vấn đề định quảng cáo
Quảng cáo ngoài trời có thời gian hiện hữu khá dài với nhiều kiểu dáng và kích cỡ khác nhau, màu sắc đẹp, nội dung ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, dễ thuộc
và có khả năng gây sự chú ý cao và ấn tượng mạnh mẽ đối với mọi người nhận
Trang 20thông tin Điểm quan trọng đối với các doanh nghiệp quảng cáo cũng như các doanh nghiệp thuê quảng cáo chính là sự linh hoạt, tính cô đọng lớn trong nghệ thuật truyền tải thông điệp, khả năng nhận biết thông tin và nội dung của quảng cáo nhanh và đạt hiệu quả có sức ảnh hưởng lớn đến rất nhiều người là rất tốt Hơn nữa, quảng cáo ngoài trời thường có mặt tại nhiều nơi; Mức chi phí cao hơn
so với các hình thức quảng cáo khác Đạt được hiệu quả lớn hơn so với các loại hình quảng cáo khác là bởi đối tượng tiếp nhận có thể đễ dàng nhận biết nhanh, hiểu biết tổng quan về sản phẩm, từ đó dễ chấp nhận hơn so với các loại hình phương tiện quảng cáo khác
1.1.1.3 Khái niệm Quản lý nhà nước và quản lý Nhà nước về văn hóa
Thuật ngữ “Quản lý” có thể hiểu nhiều cách khác nhau Trong tiếng Việt, thuật ngữ “quản lý” được hiểu là trông nom, theo dõi, sắp xếp công việc hoặc gìn giữ Các nước phương Tây dùng từ “Management” có thể hiểu theo hai nghĩa
lãnh đạo hoặc quản lý tùy thuộc vào trường hợp cụ thể mà người dùng quyết định
- Khái niệm Quản lý
Quản lý là một khoa học và nghệ thuật vì nó tuân thủ chặt chẽ các thao tác hợp quy luật, hơn thế nữa đòi hỏi phải có kinh nghiệm, có tầm nhìn, dự báo tương lai, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để có thể xử lý tốt các mối quan hệ, đưa đến hiệu quả tối ưu Như vậy, quản lý cần phải có hai yếu tố cơ bản đó là chủ thể thực hiện chức năng quản lý và đối tượng bị quản lý Với ý nghĩa thông thường, thì quản lý được hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức
và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người Nhằm duy trì tính ổn định và phát
triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định Do đó, quản lý là một quá trình
tác động giữa chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý, thông qua những biện pháp, phương pháp, phương tiện quản lý nhằm hoàn thiện hoặc làm thay đổi tình trạng hiện hữu Quản lý bao giờ cũng có mục đích, tính tổ chức và hướng tới hiệu quả
Trang 21Theo Ph Ăng ghen: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành trên quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung Một nhạc công tự điều khiển mình nhưng một dàn nhạc cần phải có nhạc trưởng” [3, tr 342] Quản lý là sự tác động lên một hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ thống đó đến trạng thái cần đạt được Quản lý
là một phạm trù xuất hiện trước khi có Nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động Như vậy, quản lý xã hội không phải là sản phẩm của sự phân chia quyền lực, mà là sản phẩm của sự phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp hoạt động chung của con người
+ Harol Koontz: "Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề
ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác" [11]
+ Theo Henry Fayon (1886 – 1925): “Quản lý là một tiến trình bao gồm tất
cả các khâu: Lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra [12, tr 21]
Henry Fayon cho rằng để có thể thực hiện tốt việc sắp xếp, tổ chức xí nghiệp, Fayon đề nghị các nhà quản lý nên theo 14 nguyên tắc quản lý: (1) Phải phân công lao động, (2) Phải xác định rõ mối quan hệ giữa quyền hành và trách nhiệm, (3) Phải duy trì kỷ luật trong xí nghiệp, (4) Mỗi công nhân chỉ nhận lệnh
từ một cấp chỉ huy trực tiếp duy nhất (5) Các nhà quản lý phải thống nhất ý kiến khi chỉ huy, (6) Quyền lợi chung phải đặt lên trên quyền lợi riêng, (7) Quyền lợi kinh tế phải tương xứng với công việc, (8) Quyền quyết định phải quy về một mối, (9) Xí nghiệp phải được tổ chức theo cấp bậc từ Giám đốc xuống đến công nhân, (10) Sinh hoạt trong xí nghiệp phải có trật tự, (11) Sự đối xử trong xí
Trang 22nghiệp phải công bằng, (12) Công việc của mọi người trong xí nghiệp phải ổn định, (13) Tôn trọng sáng kiến của mọi người, (14) Xí nghiệp phải xây dựng cho được tinh thần tập thể Tóm lại, năng suất lao động sẽ cao trong một tổ chức được sắp đặt hợp lý Các nguyên tắc của Fayol đến nay vẫn là một trong những
lý thuyết đầu tiên về quản lý được tạo ra, và được xem là toàn diện nhất
Bên cạnh đó, Henry Fayol cũng đưa ra 6 chức năng chính của quản lý, có mối liên hệ chặt chẽ với các nguyên tắc trên bao gồm: (1) Dự báo, (2) Lập kế hoạch, (3) Tổ chức, (4) Chỉ huy, (5) Phối hợp, (6) Kiểm soát
Thuyết quản lý của Henry Fayon đã đóng góp rất nhiều trong lý luận cũng như thực hành, nhiều nguyên tắc quản lý của tư tưởng này vẫn còn áp dụng cho đến ngày nay mà các đơn vị, doanh nghiệp cần phải vận dụng Thể chế quản lý
ấy đã trở thành một cơ cấu điển hình của các tổ chức, được sử dụng rộng rãi trong thiết kế tổ chức quản lý và đã phát huy hiệu quả tác dụng Việc áp dụng thuyết quản lý của Fayon vào các cơ quan quản lý Việt Nam hiện nay còn chưa được tốt Điển hình là việc phân công lao lao động vẫn chưa theo đúng chuyên môn, từ nhà quản lý đến nhân viên làm trái với ngành nghề được đào tạo căn bản đang rất phổ biến Tình trạng này dẫn đến sự hiểu biết hạn chế về lĩnh vực mình đang làm, thiếu sự tinh thông nghề nghiệp dẫn đến tính chuyên môn hoá không cao, hiệu quả công việc không đạt tối ưu
Sự sắp xếp các vị trí trong tổ chức theo một hệ thống quyền lực, có một tuyến chỉ huy rõ ràng đã mang lại những kết quả rất tốt, tác phong công nghiệp cao song bên cạnh đó nó vẫn mang tính hình thức, sự lạm dụng chức quyền dẫn đến tính áp đặt không dân chủ, nhân viên chịu nhiều áp lực làm cho những đề xuất, ý kiến hay của họ không đựơc chấp nhận tạo nhiều bức xúc Một thực tế khác, vẫn có tình trạng những nhân viên làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm, năng lực kém, thế nhưng đến khi đề bạt họ lại là người giữ chức vị cao do nịnh hót, đút lót , như vậy hoàn toàn không tương xứng Những tồn đọng ấy không
Trang 23phải là ít, rất cần có một thể chế quản lý tốt hơn, không những đào tạo về tri thức
mà còn cần đào tạo về phẩm chất cá nhân
Chúng ta cần từng bước áp dụng hệ thống quản lý một cách bao quát hơn, toàn diện hơn nhằm đạt mục tiêu cao nhất Các nhà lãnh đạo cần có những quyết định mang tính khoa học và tính chuyên môn nghề nghiệp; cần đưa ra những quyết sách hữu hiệu, có tính chiến lược liên quan tới sự thành bại, thịnh suy của
tổ chức Hơn nữa các nhà lãnh đạo cần phải là một người lãnh đạo dân chủ, biết lắng nghe những đề xuất và nguyện vọng của cấp dưới, khuyến khích họ tham gia nhiệt tình vào việc đóng góp ý kiến để xây dựng đơn vị ngày một tốt hơn
Tư tưởng chủ yếu của thuyết Fayol là nhìn vấn đề quản lý ở cả tổng thể tổ chức quản lý, xem xét hoạt động quản lý từ trên xuống, tập trung vào bộ máy lãnh đạo cao với các chức năng cơ bản của nhà quản lý Ông cho rằng thành công của quản lý không chỉ nhờ những phẩm chất của các nhà quản lý, mà chủ yếu nhờ các nguyên tắc chỉ đạo hành động của họ và những phương pháp mà họ
sử dụng Tổ chức quản lý một cách hệ thống phải áp dụng thuyết Fayon như thế nào vào các đơn vị vẫn là vấn đề đòi hỏi ở khả năng của các nhà lãnh đạo
Khác với Taylor chỉ yêu cầu người lao động tính kỷ luật và sự tuân lệnh, Fayol yêu cầu các nhà quản lý phải đối xử tốt đẹp và ký các thỏa thuận lao động với họ, đồng thời chú ý đến mặt tinh thần và khuyến khích tài năng của người lao động Đối với lao động quản lý ông yêu cầu phải là người vừa có tài và vừa
có đức Ông cũng thấy rõ tác dụng của giáo dục và đào tạo để phát triển một nguồn nhân lực mạnh cho tổ chức
+ Tư tưởng cơ bản về quản lý của Fededric Winslow Taylor thể hiện qua định nghĩa: "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [8]
Theo Taylor, mục tiêu cơ bản của quản lý là giải quyết mâu thuẫn gay gắt giữa chủ và thợ không chỉ bằng một hệ thống các giải pháp kỹ thuật mà còn bằng
Trang 24phương thức quản lý khiến cả chủ và thợ có thể gắn bó hợp tác với nhau trong một tổ chức để cùng đi tới mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả và năng suất lao động Động cơ thúc đẩy lao động là lợi ích kinh tế phải được xử lý hài hòa qua chế độ lương thưởng hợp lý
Ông nêu ra bốn nguyên tắc quản lý khoa học như sau: (1) Bố trí lao động một cách khoa học để thay thế các thao tác lạc hậu, kém hiệu quả (2) Lựa chọn công nhân một cách khoa học; đào tạo, huấn luyện và bồi dưỡng họ, phát triển tinh thần hợp tác đồng đội, thay vì khích lệ nỗ lực cá nhân riêng lẻ của họ (3) Xác định chức năng hoạch định của nhà quản lý, thay vì để công nhân tự ý lựa chọn phương pháp làm việc riêng của họ (4) Phân chia công việc giữa nhà quản
lý và công nhân, để mỗi bên làm tốt nhất công việc của họ Cái gắn bó giữa họ là lợi nhuận của doanh nghiệp và năng xuất lao động và đó là yếu tố tạo ra nhiều lợi nhuận
Biện pháp quản lý tương ứng là: Nghiên cứu thời gian và các thao tác hợp
lý để thực hiện công việc; dùng cách mô tả công việc để lựa chọn công nhân, thiết lập hệ thống tiêu chuẩn và hệ thống huấn luyện chính thức; trả lương theo nguyên tắc khuyết khích theo sản lượng, đảm bảo an toàn lao động bằng dụng cụ thích hợp; thăng tiến trong công việc, chú trọng lập kế hoạch hoạt động v.v Tiêu chuẩn hóa công việc: Theo ông cần phải hợp lý hóa lao động trên cơ
sở định mức cụ thể với những tiêu chuẩn định lượng như một cách thức tối ưu để phân chia công việc thành những công đoạn, những khâu hợp lý, định ra chuẩn mực để đánh giá kết quả lao động
Chuyên môn hóa lao động: Lao động theo nghĩa khoa học đòi hỏi sự chuyên môn hóa trong phân công nhằm đạt yêu cầu "tốt nhất" (do thành thục thao tác) và "rẻ nhất" (do không có động tác thừa và do chi phí đào tạo thấp) Việc này phụ thuộc vào nhà quản lý trong tổ chức sản xuất Việc chuyên môn hóa lao động kéo theo yêu cầu cải tiến công cụ lao động để dễ sử dụng nhất, tố ít sức nhất và đạt năng suất cao nhất Môi trường lao động cũng là một yếu tố quan
Trang 25trọng, đó là việc bố trí nơi làm việc thuận tiện và duy trì bầu không khí hợp tác gắn bó thoải mái giữa người nhà quản lý và nhân viên
Thuyết quản lý khoa học chủ yếu đề cập đến công việc quản lý ở cấp cơ sở (doanh nghiệp) với tầm vi mô Tuy nhiên nó đã đặt nền móng rất cơ bản cho lý thuyết quản lý nói chung, đặc biệt về phương pháp làm việc tối ưu, đạt hiệu quả cao, tạo động lực trực tiếp cho người quản lý và người lao động và việc phân cấp quản lý
Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất
cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu hỏi: Chủ thể quản lý trả lời câu hỏi: Ai quản lý?; Khách thể quản lý trả lời câu hỏi: Quản lý ai? Quản lý cái gì?; Phương thức quản lý trả lời câu hỏi: Quản lý như thế nào?; Công cụ quản lý trả lời câu hỏi: Quản lý bằng cái gì?; Mục đích quản lý trả lời câu hỏi: Quản lý để làm gì? Môi trường và điều kiện quản lý trả lời câu hỏi: Quản lý trong hoàn cảnh nào? Từ đó chúng ta có thể đưa ra kết luận: Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao Quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu chung Trong luận văn này, “Quản lý” được hiểu là: Sự điều khiển, phối hợp, tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý trong quá trình hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra Quá trình tác động này có thể được thể hiện bằng sơ đồ sau:
Trang 26Để quản lý nền kinh tế và xã hội, Nhà nước đã sử dụng hệ thống cơ quan quản lý và các công cụ đặc biệt Tuy nhiên Nhà nước cũng có những biện pháp quản lý gắt gao và chính sách đối với đối tượng đặc biệt Văn hóa là một trong những ngành nghề nằm trong đối tượng đó
Quản lý nhà nước về văn hóa
Hoạt động văn hóa là quá trình thực hành của cá nhân và các thiết chế xã hội trong việc sản xuất, bảo quản, phân phối, giao lưu và tiêu dùng sử dụng những giá trị văn hóa tinh thần Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực nhà nước thông qua Hiến pháp, luật pháp và cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc
Quản lý nhà nước về văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa ở Việt Nam là
vô cùng quan trọng, và đòi hỏi phải đảm bảo các vấn đề sau [40, tr 34]:
Quản lý văn hóa phải gắn liền với quản lý kinh tế và xã hội
Quản lý văn hóa là góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam XHCN
MỤC TIÊU
THỂ QUẢN
LÝ
ĐỐI TƯỢNG QUẢN LÝ
Trang 27Quản lý văn hóa trong nền kinh tế toàn cầu hóa không chỉ để đảm bảo kích thích các hoạt động văn hóa mà còn làm cho văn hóa trở thành một ngành công nghiệp phát triển và mang lại những giá trị xã hội cao
Quá trình quản lý phải coi trọng văn hóa lãnh đạo, quản lý, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh để hướng tới thỏa mãn nhu cầu văn hóa chân chính cho nhân dân và mang lại lợi ích cho toàn xã hội
Quản lý văn hóa là nhằm làm cho các giá trị văn hóa dân tộc phát triển song hành với văn hóa đương đại và tạo ra sức lan tỏa của văn hóa dân tộc trên toàn thế giới
Quản lý nhà nước về văn hóa mang tính đặc thù: Thứ nhất, hoạt động văn
hóa là hoạt động sáng tạo; các tác phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác, làm phong phú cho cuộc sống con người Về phương diện này, hoạt động đòi hỏi có một khoảng trời tự do để giúp cho sức tưởng tượng của
chủ thể có thể sáng tạo Thứ hai, hoạt động văn hóa là hoạt động tư tưởng, có khả năng gây hiệu ứng (tốt hoặc xấu) trong xã hội Thứ ba, hoạt động văn hóa là
hoạt động kinh tế, một nguồn lực trực tiếp cho xã hội
Trong định hướng phát triển hoạt động văn hóa Việt Nam đến năm 2020
và tầm nhìn 2030 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có ghi: “Quản lý nhà nước về văn hóa là mở đường cho các hoạt động sáng tạo văn hóa và bảo tồn phát triển nền văn hóa dân tộc, hiện đại, nhân văn, tiếp thu tính hoa văn hóa và tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ của nhân loại…” [35, tr.34-35] Trong định
hướng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã khẳng định, quản lý văn hóa đối với Việt Nam hiện nay là cực kỳ quan trọng Quản lý để đảm bảo Việt Nam tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới và song song với việc bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống của mình Tiếp thu những tiến bộ khoa học công nghệ để không ngừng làm hiện đại hóa nền văn hóa theo định hướng của Đảng, Nhà nước Đặc biệt, trong đó là sử dụng công nghệ tiên tiến trong quảng cáo ngoài trời, góp
Trang 28phần làm tăng giá trị chuyển tải thông tin đến công chúng, làm diện mạo thành phố trở nên văn minh và hiện đại
1.1.1.4 Quản lý Nhà nước về quảng cáo và quảng cáo ngoài trời
Quản lý Nhà nước đối với quảng cáo và quảng cáo ngoài trời là quản lý Nhà nước về lĩnh vực văn hóa đặc thù Tính đặc thù được thể hiện ở sản phẩm quảng cáo (nội dung, hình thức) Đặc thù về nhu cầu hưởng thụ sản phẩm quảng cáo (người ta tiếp nhận quảng cáo không chỉ trên giá trị nội dung mà còn là giá trị thẩm mỹ và văn hóa) Đặc thù về vật mang giá trị quảng cáo và vị trí đặt sản phẩm quảng cáo (là những bảng, biển, những sản phẩm in ấn, sản phẩm công nghệ…) Do đó, quản lý Nhà nước đối với quảng cáo phải được nghiên cứu và
có cách nhìn đúng đắn
Quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời là định hướng người tiêu dùng sử dụng sản phẩm hàng hóa một cách hiệu quả cũng như tạo nên một nét đẹp văn hóa, thẩm mỹ nơi công cộng Do đó, quản lý Nhà nước về quảng cáo ngoài trời cần phải có biện pháp, quy định quản lý một cách hiệu quả, chặt chẽ giữa công tác tổ chức thực thi quyền hành pháp để quản lý, điều hành hoạt động quảng cáo ngoài trời bằng pháp luật và theo pháp luật phù hợp với thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội, và việc thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các chủ trương, chính sách, quy hoạch, quy định, kế hoạch, thanh tra, kiểm tra… của các
cơ quan Nhà nước
1.1.2 Chức năng, phân loại quảng cáo
1.1.2.1 Chức năng của quảng cáo
Quảng cáo là một hoạt động kinh tế thương mại với mục đích cao nhất là giúp cho người tiêu dùng biết đến sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất
Từ đó họ bỏ tiền ra mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đó và nhà sản xuất kinh doanh thực hiện được mục tiêu lợi nhuận
Do đó, quảng cáo có các chức năng sau đây:
Trang 29Chức năng thương mại: quảng cáo nhằm thông báo đến với xã hội về sản
phẩm của doanh nghiệp, với khách hàng Quảng cáo có tác động đôn đốc doanh nghiệp nỗ lực hoạt động, tìm kiếm giải pháp để phát triển sản xuất kinh doanh Nhằm liên tục đổi mới sản phẩm, dịch vụ, giữ vững cam kết với khách hàng và phát triển lợi nhuận Trên cơ sở đó, doanh nghiệp xây dựng được thương hiệu (brand) mạnh cho mình và phát triển hướng tới một nền văn minh thương mại trong tổ chức
Điểm yếu của quảng cáo trong phạm vi này là tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp, làm chi phí quảng cáo tăng lên cũng như sai lệch về quảng cáo Doanh nghiệp đã phải chi ra khoảng từ 20-30% tiền bán hàng cho quảng cáo dẫn đến giá tiền của sản phẩm tăng lên đột biến, sản phẩm nhanh chóng lỗi thời bởi vì các sản phẩm mới ra liên tục thay thế các sản phẩm đã có sẵn Đây là một trong những mặt trái của quảng cáo, mặt khác nó dẫn đến làm ảnh hưởng hình ảnh của doanh nghiệp với những nội dung quảng cáo không chính xác, không đúng với cam kết khách hàng trong thông tin quảng cáo Đây thực sự là con dao hai lưỡi nếu doanh nghiệp không có một đường lối đúng đắn đối với hành vi quảng cáo phù hợp
Hình thức thông tin của sản phẩm quảng cáo trong nhà hay ngoài trời làm nhằm giới thiệu đến người tiêu dùng về sự ra đời và sự có mặt của sản phẩm đó trên thị trường những sản phẩm mới, doanh nghiệp mới, thương hiệu mới, hoặc một nhãn hiệu mới sẽ có mặt trên thị trường…Từ đó, tạo danh tiếng cho nhãn hiệu của doanh nghiệp, tạo chỗ đứng vững chắc về uy tín, chất lượng sản phẩm, dịch vụ trong người tiêu dùng
Chức năng kinh tế: Quảng cáo chính là thông báo với mọi người về sự ra
đời hoặc sự có mặt của một mặt hàng, doanh nghiệp, tổ chức nào đó Trong thời đại bùng nổ thông tin sản sinh ra hàng loại, nó thôi thúc sự tiêu thụ của khách hàng vốn chuộng các sản phẩm mới Nó khai thác những nhu cầu tiềm ẩn của người tiêu thụ, lập lại thế quân bình giữa cung và cầu cũng như góp phần vào
Trang 30việc phân phối lợi tức trong xã hội Sản phẩm ra thị trường càng nhiều thì giá thành càng rẻ, người mua có cơ hội mua rẻ hơn và nâng cao chất lượng mức sinh hoạt của người dân (standard of living)
Khi nhiều người tiêu dùng biết đến sản phẩm sẽ khuyến khích các nhà sản xuất sản xuất nhiều hàng hóa với mục đích tăng số lượng, tăng doanh thu và dịch
vụ của cải cho xã hội, đồng thời tạo nhiều công ăn, việc làm cho người dân, tăng thêm thu nhập cho người lao động Theo quy luật kinh tế, một sản phẩm khi tung
ra thị trường thì có nhiều người mua, nhiều cơ hội được sử dụng sản phẩm với chất lượng tốt, giá cả phù hợp, góp phần nâng cao mức sinh hoạt của người dân
Do đó, quảng cáo đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Ngoài ra, quảng cáo còn có những nhược điểm là thúc đẩy người tiêu dùng phung phí tiền nhiều hơn, lôi cuốn một lượng lớn người bắt chước tiêu thụ sản phẩm đó có thể là tốt và có thể là không tốt nhưng với một khoản chi phí cao không tương thích với chất lượng sản phẩm và nội dung thông tin quảng cáo
Chức năng văn hóa: quảng cáo được đề nghị một nếp sống mới, nó được
định hướng của xã hội Nó là đề tài nói chuyện bất tận của quần chúng và nhờ nó các hoạt động văn hóa, xã hội có phương tiện vật chất để thực hiện Nó khai thác những đòi hỏi cao cả của con người
Quảng cáo là một hoạt động không thể thiếu trong sự vận động và phát triển trong nền kinh tế hàng hóa hiện nay Quảng cáo gồm nhiều thông tin, hình ảnh, âm thanh, hành động, chữ viết, tiếng nói, biểu tượng, màu sắc, ánh sáng chứa đụng trong nội dung quảng cáo Để làm được một sản phẩm quảng cáo theo đúng nghĩa của nó là phải có giá trị về văn hóa mang tính thẩm mỹ, nghệ thuật cao như: mỹ thuật, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, … với phương pháp thể hiện ấn tượng, bất ngờ, kịch tính… trở thành những sản phẩm văn hóa mang đặc trưng tâm lý, tình cảm, quan niệm và cả tính tư tưởng của mỗi dân tộc, quốc gia, vùng miền người dân cư trú
Trang 31Hoạt động quảng cáo chính là công cụ của marketing trong quá trình hoạt động kinh doanh, dịch vụ, và nó cũng hàm chứa các giá trị văn hóa truyền thống, thị hiếu thẩm mỹ dân tộc Văn hóa truyền thống và hiện đại được các nhà quảng cáo khai thác triệt để trong từng sản phẩm quảng cáo, nó tác động mạnh đến hành vi người tiêu dùng, hàng hóa, dịch vụ trong xã hội
Chức năng giáo dục và định hướng người tiêu dùng: quảng cáo nói chung
và quảng cáo ngoài trời nói riêng có vai trò giáo dục người tiêu thụ (advertising educates consumers) hàng hóa Quảng cáo mở rộng tri thức, nâng cao mức độ suy nghĩ, phán đoán của người tiêu thụ, dạy người ta về cách dùng các mặt hàng
và giúp người tiêu dùng lựa chọn quyết định mua hàng hóa nào để sử dụng Nó vừa là tư liệu của nội dung truyền thông, vừa là lý do để người tiêu thụ bắt đầu quan tâm đến món hàng mình muốn tiêu dùng Nó khiến người tiêu dùng đòi hỏi những mặt hàng ra đời phải đúng theo mong muốn và yêu cầu của xã hội Nó giúp người ta tiết kiệm được thời gian tìm hiểu (reduce search time) để biết được
ưu, nhược điểm của mặt hàng đó Đồng thời, quảng cáo còn tạo điều kiện để người mua lựa chọn hàng tốt
Chức năng truyền tải thông tin: Sản phẩm của doanh nghiệp, tổ chức hoặc
một cửa hàng mà nhà quảng cáo biến nó thành những thông điệp, có thể là hình ảnh, logo, slogan qua các phương tiện thông tin đại chúng để chuyển tải thông điệp tới người tiêu dùng trong và ngoài nước Mặt khác chuyển tải thông điệp còn qua các công cụ truyền thông như báo in, báo nói, báo mạng và báo hình Công chúng tiếp nhận càng nhiều thông tin qua các thông điệp đó qua sự nhận thức, hành vi, hành động của khách hàng chính là sự thành công của quảng cáo Quảng cáo đã đạt được hiệu quả trong việc truyền thông, biến đổi hiểu biết thành nhận thức hành động của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ được quảng cáo
Thông tin về sản phẩm quảng cáo mang lại hiểu biết đối với người tiêu dùng, giúp họ lựa chọn những sản phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình Đồng thời đạt được mục đích của nhà kinh doanh, dịch vụ là nhiều khách hàng
Trang 32và bán được nhiều hàng hóa Có thể nói, quảng cáo là cách thức chuyển tải thông tin nhanh nhất sâu rộng và hiệu quả nhất
1.1.2.2 Phân loại quảng cáo
Trên thế giới có nhiều cách phân loại quảng cáo, tùy theo quan điểm, đối tượng hay tiêu chí của người dùng, vùng địa lý hoặc mục tiêu quảng cáo theo các loại và tiêu chí khác nhau Theo tác giả Mai Xuân Huy thì có thể quảng cáo theo các tiêu chí như sau: [13; tr.13]
Theo tiêu chí đối tượng khuếch trương quảng cáo:
- Quảng cáo sản phẩm (product Advertising): nhằm giới thiệu, khuếch trương các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
- Quảng cáo phi sản phẩm (Nonproduct Advertising): còn được gọi là quảng cáo thể chế (Institutional Advertising) hoặc quảng cáo công ty, cơ quan, đoàn thể (Corporate Advertising) hoặc quảng cáo uy tín (Prestige Advertising) Loại quảng cáo này thường khuếch trương nhiệm vụ, triết lý công ty, cơ quan, có thể khuếch trương một hình ảnh, danh tiếng của tổ chức, công ty hoặc toàn bộ một nền công nghiệp Mục tiêu của loại quảng cáo này là không phải bán sản phẩm, mà là gây dựng thiện chí và mối quan hệ thuận lợi đối với các tầng lớp xã hội
Theo tiêu chí mục đích quảng cáo
- Quảng cáo phi thương mại (Noncommercial Advertising): là quảng cáo không nhằm kiếm lợi nhuận Quảng cáo loại này thường được một số tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức tôn giáo, từ thiện… hoặc các cơ quan chính phủ bảo trợ, với mục tiêu truyền bá các thông điệp đến đông đảo công chúng trong xã hội Nhằm tác động tới nhận thức, tâm lý, ứng xử của công chúng, để thuyết phục mọi người quan tâm, ủng họ và cùng tham gia giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hội… Quảng cáo loại này còn được gọi là quảng cáo phản marketing, vì nó thường cố gắng kêu gọi mọi người hạn chế tiêu dùng hàng hóa
và dịch vụ hơn để tiết kiệm cho xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, thậm chí
Trang 33là từ bỏ những thói quen hành động không có lợi ích cá nhân, gia đình và xã hội Nội dung quảng cáo này thường là ăn uống không hợp vệ sinh, thói quen tiêu xài thái quá, hút thuốc là có hại cho sức khỏe… các quảng cáo này thuộc lĩnh vực tiếp thị xã hội (social marketing)
- Quảng cáo thương mại (Commercial Advertising): là hình thức quảng cáo khuếch trương giá trị các hàng hóa, dịch vụ hoặc tư tưởng kinh doanh nhằm mục tiêu kinh doanh được càng nhiều hàng hóa, dịch vụ càng tốt, với mục đích kiếm lời, hay nói cách khác quảng cáo vì lợi nhuận
Theo tiêu chí vị trí quảng cáo
- Quảng cáo ngoài trời: là hình thức quảng cáo phong phú với nhiều hình dạng, kích thước khác nhau, được đặt, để, dựng, treo ở không gian công cộng tác động trực tiếp đến người tiêu dùng khi dùng bước ra bên ngoài ngôi nhà họ đang sống, làm việc, tức là bước vào không gian công cộng
- Quảng cáo trong nhà: là các hình thức quảng cáo người tiêu dùng tiếp cận ở ngay bên trong ngôi nhà của họ mà không cần bước ra không gian công cộng bên ngoài, như các phương tiện báo chí (báo giấy, ti vi, radio, mạng, internet…), phim ảnh, thiết bị điện tử, công nghệ…
Theo tiêu chí hình thức trình bày quảng cáo:
- Quảng cáo thông báo: loại quảng cáo này thường xuất hiện trên báo chí,
ti vi, radio, bảng tin công cộng… đó là các thông điệp mà nội dung của chúng chỉ là các thông tin về một vấn đề nào đó Thông báo có thể vì mục đích kinh tế trước mắt hoặc lâu dài (mời dự lễ hội, biểu diễn nghệ thuật, ca nhạc, chiếu phim, tuyển sinh, tuyển nhân viên, du học, bố cáo thành lập công ty, khai trương cửa hàng, tìm bạn hàng, đại lý ), có thể không vì mục đích kinh tế (thông báo về việc tìm người nhà, chuyển địa điểm, thay đổi số điện thoại, các cuộc thi viết, vẽ, ca hát, rơi giấy tờ, giải thể công ty, giải phóng mặt bằng…)
- Quảng cáo rao vặt: loại quảng cáo này có ở phương tiện quảng cáo báo chí, đặt ở vài trang riêng và được xếp theo nhóm hàng, chủng loại bên cạnh đó
Trang 34quảng cáo rao vặt cũng được thể hiện trên các bảng quảng cáo chuyên dùng được dán, treo, đặt ở một số nơi công cộng, thời gian quảng cáo không dài Đây là loại quảng cáo thường đưa ra một bản thông báo cho một bộ phận công chúng quan tâm về một vấn đề gì đó, chẳng hạn là hàng hóa hay dịch vụ đang cần mua, cần bán với mức giá nhất định Đối với loại này, thường do các doanh nghiệp, tổ chức loại nhỏ hoặc cá nhân có thể tự thảo ra và gửi đăng báo chí với chi phí thấp Nội dung của quảng cáo này được người tiêu dùng xem, đọc, tìm hiểu những mặt hàng và dịch vụ nào mà mình quan tâm
- Quảng cáo trình bày: là quảng cáo được xây dựng và sắp đặt sáng tạo rất
công phu, được đặt, để ở những vị trí nổi bật nhằm để mọi người chú ý, thu hút mọi người khi đi ngang qua Các bảng quảng cáo được dàn dựng công phu và được trình bày đẹp theo hình thức nghệ thuật như: nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật sân khấu cuộc thi Các chủ quảng cáo là các công ty, hiệp hội lớn thực hiện
thông qua các hãng quảng cáo chuyên nghiệp
Theo Luật Quảng cáo năm 2013, quảng cáo được phân loại: [32; tr.8 -9]
- Quảng cáo trên báo chí bao gồm: Báo in (báo giấy in và tạp chí), báo nói (radio), báo hình (Television), báo điện tử (báo mạng -internet, trang tin điện tử - website)
- Quảng cáo trên trang thông tin điện tử, thiết bị điện tử, thiết bị đầu cuối
và các thiết bị viễn thông khác
- Quảng cáo qua các xuất bản phẩm (quảng cáo trên các sản phẩm in như
tờ rơi, trên bao bì sản phẩm, hàng hóa), bản ghi âm, ghi hình và các thiết bị công nghệ khác
- Quảng cáo trên bảng như pa nô, áp phích, bảng tấm lớn (billboards), ngoài trời, băng-rôn, biển hiệu, hộp đèn, màn hình chuyên quảng cáo TV, LCD…
- Quảng cáo trên các phương tiện giao thông như xe bus, xe taxi, máy bay, tàu hỏa, xe du lịch (quảng cáo di động)
Trang 35- Quảng cáo tại các hội chợ, hội thảo, hội nghị, tổ chức sự kiện, triển lãm, chương trình văn hoá, thể thao
- Người chuyển tải sản phẩm quảng cáo, vật thể quảng cáo trên không, dưới nước, đoàn người, xe diễu hành, trang phục, vật trang sức, huy hiệu, phù hiệu, quảng cáo truyền miệng (máy chiếu hình ảnh, vẽ trên thân thể…)
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo và quảng cáo ngoài trời
1.1.3.1 Ban hành văn bản pháp luật
Đây là nội dung trước tiên, quan trọng nhất của quản lý Nhà nước nói chung và quảng cáo nói riêng Để quản lý hoạt động quảng cáo, quảng cáo ngoài trời và là cơ sở cho định hướng, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá hiệu quả quản lý, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật Đó là Bộ luật, các chỉ thị, nghị quyết, nghị định, thông tư, quyết định đối với hoạt động quảng cáo
Luật Quảng cáo ra đời là cơ sở pháp lý quan trọng quy định về hoạt động quảng cáo, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động quảng cáo Quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo là để triển khai các công việc nhằm đưa hoạt động quảng cáo vào nền nếp, phát huy tối đa hiệu quả hoạt động quảng cáo đối với đời sống kinh tế - xã hội Tại Điều 4, Luật Quảng cáo 2013 [32, tr.3], Luật Quảng cáo cũng quy định rõ quyền hạn, nghĩa vụ của các tổ chức,
cá nhân tham gia hoạt động quảng cáo, những việc được làm và không được làm, những hành vi vi phạm và cấm không được làm, những hoạt động và trách nhiệm của các cán bộ, các cơ quan quản lý bao gồm các bộ, ngành trung ương, UBND các cấp Trong luật Quảng cáo cũng quy định rõ quyền và nghĩa vụ trong việc xây dựng theo hướng cởi mở, sát thực tiễn nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng, môi trường làm việc thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động quảng cáo, đồng thời góp phần giao lưu, mở rộng hợp tác quốc tế Đối với hoạt động quảng cáo ngoài trời, nội dung quản lý Nhà nước cần tuân thủ theo những quy định bao gồm các nội dung như trên
Trang 361.1.3.2 Xây dựng thiết chế quản lý
Tại các địa phương là tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo trên địa bàn theo thẩm quyền, Sở Văn hóa và Thể thao/hoặc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thuộc các tỉnh/thành phố là cơ quan quản lý trực tiếp và tham mưu trực tiếp giúp UBND tỉnh/thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời trên địa bàn tỉnh/thành phố mình quản lý Đồng thời, mỗi địa phương cần phải chủ động xây dựng bộ máy quản lý và thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ Nhằm nâng cao năng lực quản lý Nhà nước cho cán bộ quản lý văn hóa về quảng cáo trong đó có quảng cáo ngoài trời Nguyên tắc xây dựng bộ máy quản lý là: chặt chẽ, đủ và xuất phát từ yêu cầu công việc để bố trí tuyển dụng cán bộ cho phù hợp Đồng thời hoạt động phải gắn kết với hệ thống, cấp trên và cấp phường trong quận Thường xuyên động viên, khích lệ để nhân sự thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm được giao Công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ quản lý trong hoạt động quảng cáo ở quận Đào tạo bằng nhiều hình thức: tại chỗ, cử đi học dài hạn, ngắn hạn trong, ngoài nước
1.1.3.3 Quy hoạch hoạt động quảng cáo ngoài trời
Tại mục 6, điều 37 Luật Quảng cáo năm 2013 [32, tr.14] có nêu về nội dung và nguyên tắc quy hoạch quảng cáo ngoài trời gồm: Quy hoạch là công
việc trước tiên, thường xuyên để đảm bảo hoạt động theo đúng định hướng
- Quy hoạch quảng cáo ngoài trời phải xác định địa điểm, kiểu dáng, kích thước, chất liệu, số lượng các phương tiện quảng cáo trên đường quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ; trong nội thành, nội thị
- Xây dựng quy hoạch quảng cáo ngoài trời phải tuân thủ các nguyên tắc
cơ bản
- Những quy định cụ thể về hồ sơ, quy trình xây dựng, phê duyệt, thực hiện và điều chỉnh quy hoạch quảng cáo ngoài trời
Trang 37- Công tác xây dựng quy hoạch, quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời theo quy định
- Đảm bảo tính ổn định công khai, minh bạch và khả thi
- Chủ thể quảng cáo hoặc người đại diện quảng cáo phải lấy ý kiến các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động quảng cáo và nhân dân
1.1.3.4 Cấp phép hoạt động quảng cáo ngoài trời
Theo Thông tư liên tịch số 43/2008/TTLT-BVHTTDL -BNV ngày 6/6/2008 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch/Sở Văn hóa và Thể thao thuộc UBND tỉnh/thành phố, phòng Văn hóa và Thông tin thuộc UBND cấp thành phố trực thuộc tỉnh/quận/thị xã/huyện thuộc tỉnh/thành phố thì nhiệm vụ của Sở VHTT&DL/Sở VH&TT về lĩnh vực quản lý quảng cáo bao gồm:
- Thẩm định hồ sơ cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập văn phòng đại diện của tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáo đặt tại địa bàn tỉnh/thành phố trình cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép quảng cáo trên bảng biển, pa
nô, băng rôn, màn hình TV, LCD đặt nơi công cộng, vật phát quang, vật thể trên không, dưới nước, phương tiện giao thông, vật thể di động khác và các hình thức tương tự treo, đặt, dán, dựng ở ngoài trời hoặc tại nơi công cộng trên địa bàn tỉnh/thành phố;
1.1.3.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
Thanh tra kiểm tra và xử lý theo thẩm quyền các hành vi vi phạm pháp luật về quảng cáo trên các phương tiện quảng cáo (trừ báo chí, mạng thông tin máy tính và xuất bản phẩm);
Trên cơ sở quy định pháp lý và tính thực tiễn công việc trong công tác quản lý hoạt động quảng cáo ngoài trời trên địa bàn Quận 1 nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung trong giai đoạn hiện nay Luận văn chỉ tập trung đi
Trang 38sâu vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá công tác quản lý Nhà nước hoạt động quảng cáo ngoài trời trên các nội dung:
- Thanh tra công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động quảng cáo ngoài trời
- Xem xét công tác cấp giấy phép, tiếp nhận hồ sơ thông báo sản phẩm quảng cáo có thực hiện nghiêm túc theo quy định của pháp luật không
- Thông qua hoạt động thanh kiểm tra cơ quan quản lý Nhà nước ra quyết định công tác khen thưởng, kỷ luật
- Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm về quảng cáo ngoài trời theo quy định pháp luật một cách chính xác đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật
Đặc biệt, việc xử lý hành vi vi phạm quảng cáo ngoài trời theo đúng pháp luật, việc xử lý đúng người, đúng việc sẽ có ý nghĩa răn đe làm giảm số vi phạm, thúc đẩy hoạt động quảng cáo phát triển Đồng thời gửi báo cáo, đề nghị cấp quản lý trên xử lý trường hợp người vi phạm, chức trách của mình
1.1.4 Vai trò quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo ngoài trời
1.1.4.1 Định hướng hoạt động quảng cáo ngoài trời theo đúng quy định pháp luật
Thực tế, hoạt động quảng cáo nói chung và quảng cáo ngoài trời nói riêng hiện nay đã thu hút nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân bởi nó đã đem lại lợi ích đáng kể cho họ Vì thế vấn đề quảng cáo ngoài trời nhiều năm nay đã phát triển mạnh mẽ, ngoài việc đem lại kết quả tích cực thì nó cũng tồn tại những hạn chế Quản lý nhà nước về quảng cáo ngoài trời sẽ đảm bảo:
- Đảm bảo môi trường văn hóa lành mạnh, mỹ quan, đô thị
- Bài trừ những hành vi phạm luật, thương mại hóa triệt để quảng cáo vi phạm về nội dung, hình thức, và loại hình quảng cáo không phù hợp với thuần phong mỹ tục của Việt Nam
Trang 39- Đảm bảo người tiếp nhận quảng cáo được thưởng thức giá trị văn hóa đích thực từ (hình thức, nội dung của quảng cáo)
- Các chủ thể quảng cáo được bình đẳng, chủ động trong môi trường cạnh tranh hiện nay Quảng cáo nó cũng mang lại lợi ích kinh tế cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân hoạt động quảng cáo
- Định hướng hoạt động quảng cáo và kích thích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này theo pháp luật
- Phát triển hoạt động quảng cáo theo chương trình mục tiêu
- Phát triển hoạt động quảng cáo hoạt động văn minh thương mại
1.1.4.2 Nhằm thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận thông tin của khách hàng, công chúng
- Định hướng tiêu dùng và tìm kiếm giá trị văn hóa đích thực
- Kích thích nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ sản phẩm hàng hóa theo định hướng quốc gia
- Nhằm góp phần xây dựng hoạt động văn hóa trong quảng cáo và nền văn minh thương mại
1.1.4.3 Quản lý Nhà nước hoạt động quảng cáo ngoài trời
Quản lý Nhà nước về quảng cáo là nhằm để các chủ thể quảng cáo phải tuân thủ pháp luật
- Nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quảng cáo ngoài trời như:
- Ngăn chặn những vi phạm pháp luật về nội dung, hình thức quảng cáo
- Ngăn chặn những vi phạm pháp luật về địa điểm quảng cáo
- Ngăn chặn những vi phạm pháp luật về giấy phép quảng cáo
- Ngăn chặn những vi phạm pháp luật về thời gian quảng cáo
Trang 401.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khái quát về Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh
1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên của quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh
Quận 1 là quận trung tâm của TP.HCM nằm giữa 06 quận nội thành: Phía Bắc giáp với quận Bình Thạnh, quận Phú Nhuận có ranh giới tự nhiên là rạch Thị Nghè và Quận 3, lấy đường Hai Bà Trưng và đường Nguyễn Thị Minh Khai làm ranh giới Phía Đông giáp Quận 2 có ranh giới tự nhiên là sông Sài Gòn Phía Tây giáp Quận 5, lấy đường Nguyễn Văn Cừ làm ranh giới Phía Nam giáp Quận 4 có ranh giới tự nhiên là rạch Bến Nghé Quận 1 có diện tích tự nhiên khoảng 7,71 km2, bằng 0,35 diện tích thành phố; dân số tính đến nay có 206.740 người; cơ cấu hành chính với 10 phường, 66 Khu phố, 906 Tổ dân phố Với vị trí địa lý thuận lợi, từ lâu Quận 1 đã là điểm đến, thu hút sự đầu tư, phát triển của nhiều lĩnh vực ngành nghề quan trọng của thành phố Với vị trí địa lý thuận lợi,
từ lâu Quận 1 đã là điểm đến thu hút sự đầu tư, phát triển của nhiều lĩnh vực ngành nghề quan trọng của thành phố
1.2.1.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội
Quận 1 còn là trung tâm hành chính của Thành phố Hồ Chí Minh Với việc tọa lạc hiện hữu của các cơ quan quản lý thành phố, các ban ngành đã làm cho Quận 1 trở thành một vị trí quan trọng, nhiều sự kiện chính trị và quan hệ ngoại giao quốc tế thường xuyên diễn ra ở nơi đây Góp phần đáng kể vào việc thay đổi diện mạo trong xu hướng phát triển thành phố, bối cảnh hội nhập quốc
tế Bên cạnh đó, Quận 1 cũng là trung tâm văn hóa, địa bàn trọng điểm về văn hóa của thành phố, có nhiều các công trình kiến trúc, loại hình hoạt động văn hóa, du lịch tiêu biều, có hệ thống bảo tàng, thiết chế văn hóa, di tích lịch sử văn hóa, là nơi diễn ra phong phú, đa dạng các hoạt động lễ hội, sự kiện của thành phố và cả nước Quận 1 đã có những chuyển biến quan trọng trong xây dựng kinh tế và phát triển văn hóa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và