Việc tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn quy địnhpháp luật về công tác quản lý nhà nước đối với HKD trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Quận 1 nhằm đưa ra q
Trang 1VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VÕ PHƯƠNG QUỲNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI, NĂM 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VÕ PHƯƠNG QUỲNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ BÍ BO
HÀ NỘI, NĂM 2021
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tại Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã đề ra đường lối đổimới kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh
tế thị trường có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, trong đó có thànhphần hộ kinh doanh cũng có vai trò đóng góp không nhỏ cho sự phát triểnkinh tế của cả nước
Từ thực tiễn tình hình kinh tế - xã hội Quận 1 giai đoạn 2015 – 2019,mặc dù có những dấu hiệu tăng trưởng tích cực với những chương trình hỗtrợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, HKD được phát huy hiệu quả giúpcác thành phần kinh tế ổn định và phát triển sản xuất, kinh doanh nhưng quyđịnh pháp luật về quản lý nhà nước đối với HKD vẫn còn nhiều bất cập, chưa
có văn bản quy phạm pháp luật cụ thể về hoạt động của HKD như DN nên cóphần nào ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước của chính quyền địaphương về lĩnh vực kinh tế, chưa thể phát huy hết hiệu quả của các loại hìnhkinh tế trên địa bàn Trong khi đó, với đặc trưng mô hình hoạt động của HKDnhỏ, lẻ, ít chi phí, có khả năng duy trì hoạt động và phát triển tốt, nhất lànhững trường hợp cá thể khởi nghiệp với nhiều sáng kiến độc đáo, đa dạng,tập trung ở lĩnh vực thương mại – dịch vụ, góp phần phát triển kinh tế Quận 1nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung; mức đóng góp ngân sách nhànước tăng hàng năm và vượt dự toán thu ngân sách nhà nước được giao theopháp lệnh
Việc tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn quy địnhpháp luật về công tác quản lý nhà nước đối với HKD trong phát triển kinh tế -
xã hội trên địa bàn Quận 1 nhằm đưa ra quan điểm và giải pháp thích hợp bảođảm hiệu lực, hiệu quả của quy định pháp luật trong việc quản lý hoạt độngcủa thành phần kinh tế này, phát huy được giá trị thực chất, đáp ứng nhu cầu
Trang 5phát triển kinh tế - xã hội của Quận 1 nói riêng, Thành phố Hồ Chí Minh nóichung Đây là vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn nên tác giả luận văn
đã chọn nghiên cứu đề tài khoa học: “Quản lý nhà nước đối với HKD từ thực tiễn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về công tácquản lý nhà nước đối với HKD nhưng phần lớn tiếp cận vấn đề này ở nhữngmức độ khía cạnh, pháp lý khác nhau, tiêu biểu là:
+ TS Ngô Huy Cương (2009) Phân tích pháp luật về HKD để tìm ra các
bất cập, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc Gia Hà Nội Bài viết này tập trung
vào việc tìm ra các bất cập của pháp luật về HKD, từ khái quát nguồn gốc đặctrưng của HKD, một loại hình kinh doanh đặc biệt có tính đặc thù của hệthống tổ chức kinh doanh ở Việt Nam, gồm ba dạng nhưng không có quy địnhpháp luật điều chỉnh cụ thể từng dạng Cho nên phát sinh nhiều bất cập trongpháp lý hoạt động thực tiễn của HKD và giải pháp điều tiết các mối quan hệ
để giải quyết các tranh chấp liên quan HKD
+ Lê Quang Mạnh, Luận án Tiến sĩ (2011) Phát huy vai trò của Nhà
nước trong phát triển DN nhỏ và vừa Việt Nam Nghiên cứu này đã chứng
minh vai trò của Nhà nước phát triển DN nhỏ và vừa trong nền kinh tế thịtrường ở Việt Nam, cụ thể phân tích các vấn đề: xây dựng môi trường kinhdoanh thuận lợi cho DN; thực hiện tốt chức năng điều chỉnh cơ cấu, tạo ranhiều cơ hội kinh doanh, động lực đầu tư cho DN nhỏ và vừa; hỗ trợ DN nhỏ
và vừa vượt qua các khó khăn nội tại Từ đó, tác giả đã đề xuất 05 quan điểmnền tảng và 04 nhóm giải pháp cụ thể, trong đó khuyến nghị cơ bản là Nhànước cần tập trung hơn vào việc tạo dựng và duy trì một môi trường kinhdoanh thuận lợi cho mọi loại hình DN, thúc đẩy để gia tăng tính chất kinh tếthị trường trong nền kinh tế bằng việc khuyến khích sự phát triển của các thị
Trang 6trường yếu tố sản xuất cho DN, thị trường dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và cácthị trường sản phẩm, tránh việc cung cấp trực tiếp dịch vụ hỗ trợ cho DN nhỏ
và vừa, việc này thị trường đảm nhiệm sẽ có hiệu quả hơn
+ Nguyễn Hoàng, Luận án Tiến sĩ Kinh tế (2013) Hoàn thiện quản lý
nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam Luận án vận dụng cơ sở
lý thuyết thuế cổ điển và hiện đại vào việc nghiên cứu quá trình phát triển hệthống thuế ở Việt Nam, kết hợp với khảo sát đánh giá về những tồn tại của hệthống thuế, ảnh hưởng của chính sách, thái độ chấp hành pháp luật của ngườinộp thuế, cơ quan thuế Tác giả đã đề xuất lộ trình cải cách chính sách thuếthu nhập cá nhân, tăng cường quản lý thu nhập của người nộp thuế, ứng dụngcông nghệ thông tin vào quản lý thuế, mở rộng và đẩy nhanh tiến độ áp dụngkhi nộp thuế điện tử, hợp nhất hệ thống cơ sở dữ liệu của các cơ quan quản lýnhà nước
+ Nguyễn Thị Ngân, Luận án Tiến sĩ Quản lý công (2016) Quản lý nhà
nước đối với DN nhỏ và vừa ở Việt Nam Nghiên cứu chỉ rõ sự phát triển của
các DN nhỏ và vừa về số lượng, chất lượng, đóng góp quan trọng vào sự pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Cùng với đó là công tác QLNN đối với DNnhỏ và vừa đã được đổi mới, khắc phục nhiều yếu kém Đặc biệt trong quátrình nền kinh tế Việt Nam mở cửa và hội nhập thì công tác QLNN đòi hỏiphải thay đổi hơn nữa để tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, minhbạch, thông thoáng Tác giả cũng đã phân tích được một số tồn tại và nguyênnhân chính của tồn tại đó
+ Nguyễn Thị Hồng Nhâm, Luận án Tiến sĩ kinh tế (2019) Các yếu tố
tác động đến khả năng tiếp cận tài chính của DN nhỏ và vừa ở Việt Nam.
Nghiên cứu đã làm rõ sự khác nhau giữa các yếu tố tác động đến nhu cầu tiếpcận tài chính chính thức từ tín dụng ngân hàng, khả năng tiếp cận nguồn tàichính từ ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, luận án cũng đánh giá được đối
Trang 7với các DN nhỏ và vừa có nhu cầu tiếp cận đồng thời cả hai nguồn tài chính làchính thức và phi chính thức Từ các kết quả phân tích, tác giả đưa ra cáckhuyến nghị chính sách trong bối cảnh kinh tế hiện nay, các cơ quan Nhànước cần: rà soát lại các quy định, thông tư, hướng dẫn, … để loại bỏ nhữngquy định mang tính chất chồng chéo; tạo môi trường kinh doanh bình đẳng;cải cách thủ tục hành chính, chính sách thuế… Ngân hàng thương mại pháttriển mạnh mẽ phương thức thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực
DN nhỏ và vừa, tránh tình trạng bất cân xứng thông tin cũng như giảm bớt cácthủ tục phức tạp, mất thời gian; mở rộng hình thức cho vay tín chấp; triển khairộng rãi hình thức bao thanh toán… Đối với các DN nhỏ và vừa cần: cải thiệnnăng lực quản lý, kinh doanh; minh bạch trong hoạt động tài chính, …
+ Trịnh Đức Chiều (2019) Thực trạng hoạt động của HKD ở Việt Nam,
Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương Tác giả cho rằng Kinh tế hộ giađình hoạt động sản xuất, kinh doanh là một lực lượng quan trọng của nền kinh
tế Việt Nam nên Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách tạođiều kiện phát triển khu vực HKD
+ TS Hoàng Xuân Nghĩa và TS Nguyễn Văn Hưởng (2019) Chính thức
hóa hộ kinh doanh ở Việt Nam: khía cạnh lý luận, thực tiễn và lập pháp, Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp số 11 Bài viết phân tích lý luận về khái niệm HKD,một khái niệm có tính lịch sử và quá độ ở Việt Nam Hiện nay nó đang bộc lộcác bất cập và mâu thuẫn với yêu cầu xây dựng thể chế kinh tế thị trường hiệnđại và môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch Vì thế, chính thức hóaHKD có tính cấp bách và cần những giải pháp đồng bộ cả trên phương diện tưduy lý luận, lập pháp và hoạt động thực tiễn
Những công trình trên đề cập đến nhiều khía cạnh, cả lý luận và thực tiễncủa vấn đề quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân, song cụ thể vềHKD ở địa bàn Quận 1 nói riêng thì chưa có
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích: Đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước đối với HKD bảo
đảm hiệu quả của quy định pháp luật, dựa trên việc hệ thống cơ sở lý luận vàđánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước từ thực tiễn Quận 1, Thànhphố Hồ Chí Minh đối với thành phần kinh tế này
3.2 Nhiệm vụ: Đề tài thực hiện việc hệ thống cơ sở lý luận và quy định
pháp luật về quản lý nhà nước đối với HKD Tiến hành việc đánh giá thựctrạng quản lý nhà nước đối với HKD tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh Đềxuất phương hướng, giải pháp quản lý nhà nước đối với HKD
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về Quản lý nhà
nước đối với HKD tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là nghiên cứuvề: quy định pháp luật, phương pháp và cách thức quản lý
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Quản lý nhà nước đối với HKD tại Quận 1,
Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2015 – 2019
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê mô tả: được áp dụng nhằm mô tả các hoạt
động, kết quả thực hiện các chỉ tiêu phản ánh thực trạng tại địa phương nghiêncứu, thông qua đó đánh giá được mức độ của các hoạt động cần nghiên cứu,làm căn cứ để phát hiện được xu hướng và nguyên nhân các vấn đề phát sinhcần giải quyết để đạt được mục đích nghiên cứu
5.2 Phương pháp điều tra: khảo sát, lấy thông tin trực tiếp từ các HKD
trên địa bàn Quận 1 để phân tích, thống kê mô tả đánh giá kết quả công tácquản lý nhà nước đối với HKD tại Quận 1
5.3 Phương pháp phân tích tổng hợp: được vận dụng trong nghiên cứu
đề tài nhằm phân tích từng nội dung, vấn đề trọng tâm để đưa ra những nhậnđịnh đánh giá kết quả thực hiện hàng năm, từ đó đưa ra các kết luận phù hợp
Trang 96 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận: Luận văn đề cập một cách có hệ thống những vấn
đề lý luận và thực tiễn của công tác quản lý nhà nước đối với HKD; sự cầnthiết khách quan và nội dung quản lý nhà nước đối với HKD trong nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá được thực trạng công tác quản lý nhà
nước đối với HKD từ thực tiễn Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh và đưa ranhững nhận xét về ưu điểm, hạn chế, bất cập của quy định pháp luật hiệnhành về công tác này Trên cơ sở thực tiễn, đề xuất các giải pháp tăng cườnghiệu quả quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các tài liệu thamkhảo và phụ lục, nội dung cụ thể luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận, pháp lý về quản lý nhà nước đối với hộ
kinh doanh
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh từ thực
tiễn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý nhà
nước đối với hộ kinh doanh
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1.1 Những vấn đề chung về hộ kinh doanh
1.1.1 Khái niệm hộ kinh doanh
HKD là một loại hình kinh doanh đặc biệt có tính đặc thù của hệ thống tổchức kinh doanh ở Việt Nam Loại hình này có một số yếu tố thuộc về lịch sửcủa Việt Nam và một số yếu tố do Nhà nước tạo nên Vì vậy, khó có thể đưa
ra một định nghĩa chính xác về bản chất của HKD là cá nhân kinh doanh,thương nhân đơn lẻ hay thương nhân thể nhân
Theo pháp luật Việt Nam quy định về đăng ký kinh doanh qua các giaiđoạn thì HKD được khái quát như sau:
- Nghị định số 27-HĐBT ngày 09 tháng 3 năm 1988 của Hội đồng Bộtrưởng ban hành bản “Qui định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tưdoanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp xây dựng, vận tải” Các đơn
vị kinh tế này được tổ chức theo những hình thức: (1) hộ cá thể; (2) hộ tiểucông nghiệp; và (3) xí nghiệp tư doanh Theo Điều 1 quy định:
+ “Hộ cá thể”: Tư liệu sản xuất và các vốn khác thuộc quyền sở hữu của
người đứng tên đăng ký kinh doanh; Chủ đăng ký kinh doanh phải là người lao động trực tiếp; Những người lao động khác phải là bố mẹ, vợ chồng, con hoặc những người thân khác có tên trong sổ đăng ký hộ khẩu của người đứng tên đăng ký kinh doanh; Thu nhập sau khi đóng thuế thuộc quyền sở hữu của chủ hộ Quy định này có thể hiểu đây chính là cá nhân kinh doanh hay thương
nhân thể nhân tiến hành hoạt động kinh doanh cho chính mình Dấu ấn giađình Việt Nam và dấu ấn quan niệm về các thành phần kinh tế trong cơ chế cũvẫn còn cho đến ngày nay, người ta vẫn gọi cá nhân kinh doanh là HKD
Trang 11+ “Hộ tiểu công nghiệp”: Là các công xưởng hay các cửa hàng; được
thuê mướn lao động theo hợp đồng giữa chủ và người làm thuê; và chủ hộ có thể là người đóng vai trò chính về kỹ thuật sản xuất và tự điều hành sản xuất kinh doanh Quy định này có thể hiểu bản chất của hộ tiểu công nghiệp cũng
là cá nhân kinh doanh hay thương nhân thể nhân, nhưng có sản nghiệp thươngmại hay cơ sở kinh doanh
- Khoản 1 Điều 24 Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm
2004 của Chính phủ định nghĩa: “HKD cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia
đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.” [6, tr.27]
- Khoản 1 Điều 36 Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm
2006 của Chính phủ định nghĩa: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân
Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu
và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.” [7, tr.31]
- Khoản 1 và Khoản 3 Điều 66 của Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày
14 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp định nghĩa:
“1 Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá
nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm,
sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.
3 Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập DN theo quy định” [8, tr.53]
Trang 12Như vậy khái niệm “hộ cá thể” và “hộ tiểu công nghiệp” theo Nghị định
số 27-HĐBT ngày 09 tháng 3 năm 1988 đã có nhiều thay đổi qua ba Nghịđịnh vừa dẫn Bản chất cá nhân kinh doanh và dấu ấn gia đình đã ngày càng
mờ đi mặc dù thuật ngữ “hộ gia đình” vẫn được sử dụng trong các định nghĩa.HKD không hoàn toàn là cá nhân kinh doanh mà đôi khi có sự hùn vốn củacác cá nhân khác Cho nên quan niệm HKD hay HKD cá thể là cá nhân kinhdoanh hay thương nhân đơn lẻ là không hoàn toàn đúng
- Theo khoản 4 Điều 170 Luật Doanh nghiệp năm 2005 cho đến khoản 2Điều 212 Luật Doanh nghiệp năm 2014 vẫn giữ nguyên nội dung quy định:
“Hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên từ 10 (mười) lao động trở lên phải
đăng ký thành lập DN hoạt động theo quy định của Luật này Hộ kinh doanh
có quy mô nhỏ thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ.” [19, tr.115] Điều này cho thấy, HKD có bản chất của DN nhưng
kinh doanh với quy mô nhỏ, giống với loại hình DN nhỏ và DN siêu nhỏ làmột loại hình của DN nhỏ, sử dụng dưới 10 lao động
Vậy có thể xem thuật ngữ HKD là DN theo pháp luật Việt Nam quy định
vì nó cũng là một thực thể hay một hình thức kinh doanh và có nghĩa vụ đăng
ký kinh doanh Xét từ nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của HKD, có thể thấyHKD có bản chất là thương nhân Nếu HKD do một cá nhân làm chủ thì cóthể coi đó là thương nhân thể nhân Mặt khác, HKD do một hộ gia đình hoặcmột nhóm người làm chủ thì khó có thể coi đó là thương nhân thể nhân haythương nhân pháp nhân mặc dù nó cũng được hưởng quyền và thực hiệnnghĩa vụ pháp lý Tuy nhiên, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện naychưa xác định rõ “tư cách pháp lý” của HKD cá thể như DN nên ảnh hưởngđến địa vị pháp lý và làm hạn chế thẩm quyền của loại chủ thể này trong một
số lĩnh vực so với DN (như lựa chọn ngành, nghề kinh doanh; giao kết hợpđồng kinh tế, tham gia quan hệ đầu tư trực tiếp với nước ngoài )
Trang 13Từ những vấn đề pháp lý phân tích nói trên, tác giả tạm thời đưa ra kháiniệm về HKD như sau:
“Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm
người hoặc một hộ gia đình là người Việt Nam làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của hộ kinh doanh.
Hộ kinh doanh có quy mô hoạt động nhỏ, chỉ sử dụng dưới mười lao động, phải thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân và không được phép kinh doanh xuất, nhập khẩu.”
1.1.2 Phân loại hộ kinh doanh
Theo pháp luật Việt Nam hiện nay có thể phân loại HKD thành ba loạicăn cứ vào chủ thể tạo lập ra nó: (1) HKD do một cá nhân làm chủ; (2) HKD
do hộ gia đình làm chủ; (3) HKD do một nhóm người làm chủ
Cá nhân kinh doanh ở đây được hiểu là từng người cụ thể, là công dânViệt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủthì được quyền đăng ký thành lập HKD Trong hoạt động kinh doanh, cá nhânnày phải nhân danh mình và tự chịu trách nhiệm về các hành vi thương mạicủa mình
“Hộ gia đình” không phải là cá nhân và cũng không phải là pháp nhân,
mà là một chủ thể đặc biệt của pháp luật Việt Nam từ truyền thống đặc trưngcủa dân tộc Việt Nam, bởi vì phần lớn các quốc gia trên thế giới không thừanhận hộ gia đình là một thực thể được tiến hành các hoạt động sản xuất kinhdoanh giống như một thương nhân hoặc một công ty Việc quy định “hộ giađình” được kinh doanh dưới hình thức HKD xuất phát từ Bộ luật Dân sự năm
1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “hộ gia đình” là chủ thể của quan
hệ pháp luật dân sự, cụ thể theo Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2005 định
nghĩa: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công
Trang 14sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất, nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” [16, tr.27]
Theo pháp luật hiện hành, khái niệm về “hộ gia đình” chưa xác định rõcác điều kiện hay các tiêu chí xác lập một hộ gia đình Xuất phát từ thực tiễn
xã hội Việt Nam cũng như căn cứ vào quy định của pháp luật, thông thườngcác thành viên trong hộ gia đình phải có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyếtthống, quan hệ nuôi dưỡng; cùng cư trú ở một nơi, có cùng hoạt động kinh tếchung trên một sản nghiệp chung Việc xác định tư cách thành viên hộ giađình là rất quan trọng Bởi lẽ, từ đó xác định được các quyền sở hữu khối tàisản chung và nghĩa vụ liên đới phát sinh nếu có rủi ro trong giao dịch Tuynhiên, từ Bộ luật Dân sự năm 2005 đến Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng chưa
có nội dung quy định rõ ràng về vấn đề xác định tư cách thành viên hộ giađình Và trên thực tế, số lượng các thành viên trong hộ gia đình có thể thayđổi và hầu như chỉ thỏa thuận bằng miệng với nhau dựa vào tình cảm giađình, không có cơ sở pháp lý rõ ràng nên việc xác định tập hợp các thành viêncủa hộ gia đình không dễ dàng, đặc biệt là khi xảy ra tranh chấp sẽ rất khógiải quyết
Ngoài ra, điều đặc biệt ở loại hình kinh doanh này là có thể đăng ký kinhdoanh dưới hình thức HKD hoặc không cần đăng ký trong trường hợp tạikhoản 2 Điều 66 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của
Chính phủ quy định: “Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối
và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương”.
[8, tr.53]
Trang 15Trước đây, Hội đồng Bộ trưởng đã từng ban hành quy định một nhómngười được đăng ký kinh doanh dưới hình thức HKD theo Nghị định số 66-HĐBT ngày 02 tháng 3 năm 1992 Tuy nhiên, tại Điều 17 Nghị định số02/2000/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ lại không quyđịnh đối tượng được đăng ký kinh doanh dưới hình thức HKD đối với chủ thể
là một nhóm người: “HKD cá thể do một cá nhân hoặc một hộ gia đình làm
chủ, kinh doanh tại một điểm cố định, không thường xuyên thuê lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” [5, tr.11]
Từ thực tiễn công tác quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường củaViệt Nam, Nhà nước ta nhận thức được tác dụng to lớn của nhóm đối tượngnày đối với nền kinh tế chung nên lần lượt ban hành những quy định pháp luậttương ứng từng thời điểm phát triển kinh tế của đất nước như: Nghị định số109/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2004, Nghị định số 88/2006/NĐ-CPngày 29 tháng 8 năm 2006, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4năm 2010 và Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 củaChính Phủ, theo đó đã cho phép chủ thể “một nhóm người” được đăng kýkinh doanh dưới hình thức HKD
HKD do một nhóm người làm chủ trên tinh thần tự nguyện hùn vốn kỹthuật cùng nhau tiến hành hoạt động kinh doanh, cùng hưởng lãi, cùng chịu lỗ
và cùng chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của nhóm Tuy nhiên, quyđịnh pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn còn bất cập khi chỉ quy định việc đăng
ký kinh doanh mà chưa quy định cụ thể trách nhiệm của các cá nhân trongnhóm và chế độ quản trị HKD; không có quy định giới hạn số lượng thànhviên trong một nhóm mà chỉ quy định số lượng lao động dưới 10 (mười), nếu
sử dụng hơn 10 (mười) lao động thì HKD phải đăng ký kinh doanh dưới hìnhthức DN
Trang 161.1.3 Đặc điểm của hộ kinh doanh
Nghiên cứu về HKD, chúng ta cũng cần so sánh HKD với DNTN để làm
rõ hơn những đặc trưng cơ bản của HKD theo quy định pháp luật hiện nay ởViệt Nam
Bảng 1.1: So sánh doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh
Quy mô Quy mô nhỏ nhưng lớn thức kinh doanh do một cá
hơn HKD Có thể do cá nhân hoặc một nhóm người
kinh doanh
nhân nước ngoài làm chủ là người Việt Nam hoặc một
hộ gia đình làm chủ
Số lượng Không giới hạn số lượng Dưới 10 lao động, nếu trên
lao động
Điều kiện Phải có Giấy đăng ký kinh Có Giấy chứng nhận đăng
Người Việt Nam, có thể là
Chủ thể người nước ngoài, thỏa
mãn các điều kiện về hành Phải là người Việt Nam
thành lập
vi thương mại do pháp luậtnước đó quy định
Trang 17Loại hình Được phép kinh doanh Không được phép kinh
kinh doanh xuất, nhập khẩu doanh xuất nhập khẩu
Cơ cấu tổ Cơ cấu tổ chức, quản lý ở DNTN chặt chẽ hơn ở HKD
chức, quản lý
Nguồn: Trang Thư viện Pháp luật, 2016
Các phân tích so sánh ở trên cho thấy những đặc điểm pháp lý cơ bảncủa HKD gồm:
Thứ nhất, HKD không có tư cách pháp nhân
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ trước đến nay về hoạt động kinhdoanh có nhiều sự thay đổi, như trước đây căn cứ Nghị định số 27-HĐBT,ngày 09 tháng 3 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về “chính sáchđối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ côngnghiệp, xây dựng, vận tải”, Nhà nước ta công nhận tư cách pháp nhân củaHKD Và hiện nay, theo Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định một tổchức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: (1) Đượcthành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; (2) Có cơ cấu
tổ chức theo quy định tại Điều 83 Bộ Luật này; (3) Có tài sản độc lập với cánhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (4) Nhândanh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Như vậy, có thểhiểu quan niệm pháp luật Việt Nam hiện nay về tư cách pháp nhân, Nhà nướcchỉ công nhận đối với tổ chức (nhóm người) khi bộ máy quản trị của tổ chức
đó có khả năng tồn tại và hoạt động độc lập trước pháp luật Tuy nhiên, khôngphải tổ chức nào, nhóm người nào cũng đều được Nhà nước công nhận tưcách pháp nhân
Trong khi đó, đặc trưng của HKD là do một cá nhân thành lập có nghĩabản chất của HKD là cá nhân kinh doanh HKD và cá nhân thành lập nênHKD đó không phải là hai chủ thể pháp lý độc lập với nhau Mọi tài sản của
Trang 18HKD đều là tài sản của cá nhân tạo lập nó và cá nhân đó sẽ được hưởng toàn
bộ số lợi nhuận kinh doanh sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính, thanhtoán theo quy định của pháp luật, đồng thời cũng chịu mọi trách nhiệm liênquan đến hoạt động của HKD khi xảy ra tranh chấp hoặc vi phạm pháp luật
Vì vậy căn cứ quy định nói trên cho thấy HKD không có tư cách pháp nhân.Đối với trường hợp HKD được tạo lập bởi một nhóm người cũng không
có tư cách pháp nhân Về thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh loại hìnhnày gần giống với công ty hợp danh và tổ hợp tác: Tổ hợp tác được hìnhthành trên cơ sở hợp đồng tự nguyện từ 3 cá nhân trở lên, có cam kết về nghĩa
vụ giữa họ với nhau; liên đới trách nhiệm về tài sản riêng của mình, theo phầntương ứng với phần đóng góp của mỗi người, trừ khi họ có thỏa thuận khác vềmức chịu trách nhiệm Như vậy, về nguyên tắc tổ hợp tác phải chịu tráchnhiệm vô hạn, là một tổ chức đối nhân
Như đã phân tích ở trên, hộ gia đình là một chủ thể đặc biệt của pháp luậtViệt Nam vì hộ gia đình không phải là cá nhân mà tập hợp các thành viên cótài sản chung HKD được tạo lập bởi hộ gia đình, thì HKD đó có bản chất là
hộ gia đình kinh doanh Do đó, HKD cũng không phải là pháp nhân
Thực chất HKD, do cá nhân chủ hộ hoặc các cá nhân thành viên của hộtiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm về các rủi rotrong kinh doanh một cách cá nhân (hoặc liên đới giữa các cá nhân) và trựctiếp Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Chính phủkhông có quy định nói về vấn đề này, nhưng thực tế hộ gia đình kinh doanhkhông thể nhân danh chính mình tham gia các quan hệ pháp luật
Thứ hai, chủ HKD chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của HKD.
Theo Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, chủ HKD được xác định là cá nhânngười đầu tư trong trường hợp HKD do cá nhân làm chủ, các thành viên trong
Trang 19trường hợp HKD do một nhóm người làm chủ hoặc tất cả các thành viên của
hộ gia đình trong trường hợp HKD do một hộ gia đình làm chủ HKD và chủthể sáng lập ra nó (chủ HKD) không phải là hai thực thể độc lập, có tài sảntách biệt với nhau Nên chủ HKD phải chịu chế độ trách nhiệm vô hạn đối vớikhoản nợ của HKD, có nghĩa là, chủ HKD phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộtài sản của mình
Trường hợp 1: HKD do một cá nhân làm chủ, thì chủ hộ phải chịu trách
nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của HKD, bởi trong trường hợp này HKD
có bản chất là cá nhân kinh doanh hay thương nhân thể nhân
Trường hợp 2: HKD do một hộ gia đình làm chủ, thì việc xác định trách
nhiệm của từng thành viên hộ gia đình được thực hiện theo quy định tại Điều
103 và Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015 Theo đó, tài sản chung của hộ giađình sẽ làm tài sản bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ chung khi xảy ra sự
cố gì Trường hợp tài sản chung không đủ thực hiện nghĩa vụ của HKD thì cácthành viên trong hộ gia đình phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêngcủa mình Mức góp phụ thuộc vào thỏa thuận của các thành viên trong hộ giađình và các thành viên này phải có trách nhiệm thanh toán hết nợ cho các chủ
nợ của HKD Nếu một trong các thành viên không có khả năng góp thêm đểtrả nợ như thỏa thuận của hộ thì các thành viên khác có nghĩa vụ lấy tài sảncủa mình để tiếp tục trả nợ
Trường hợp 3: HKD do một nhóm người làm chủ, thì việc xác định chế
độ trách nhiệm của các thành viên sẽ phức tạp hơn hai trường hợp trên, bởichế độ trách nhiệm của thành viên trong nhóm không được Nghị định số78/2015/NĐ-CP xác định rõ và Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng không có quyđịnh về trách nhiệm dân sự của các đối tượng này
Tóm lại, đối với HKD do một cá nhân làm chủ thì cá nhân đó được toànquyền quyết định về mọi hoạt động kinh doanh của hộ (như chủ DNTN đối
Trang 20với DNTN) Đối với HKD do một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ,mọi hoạt động kinh doanh của hộ do các thành viên trong nhóm hoặc trong hộquyết định Nhóm người hoặc hộ gia đình cử một người đủ điều kiện làm đạidiện cho nhóm hoặc cho hộ để tham gia giao dịch với bên ngoài.
Thứ ba, HKD là hình thức kinh doanh có quy mô nhỏ.
Tại Việt nam, quy mô kinh doanh được xem là tiêu chí để phân biệt HKD
và DNTN Vốn pháp định là cơ sở để xác định quy mô kinh doanh theo Nghịđịnh số 66-HĐBT ngày 02 tháng 3 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng và LuậtDNTN năm 1990 quy định Đây cũng là tiêu chí để phân biệt cá nhân vànhóm kinh doanh (HKD) với DNTN Muốn thành lập DNTN phải có đủ vốnpháp định tối thiểu, trong khi đó đối với cá nhân và nhóm kinh doanh khôngnhất thiết phải như vậy và loại hình kinh doanh này không được coi là HKD.Tuy nhiên, thực tế quy định này không hợp lý vì một số HKD lại đầu tư một
số vốn rất lớn, vượt xa mức vốn pháp định đòi hỏi phải có đối với một DNTNtrên cùng một lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh Đến khi Luật DN năm 1999
ra đời thì tiêu chí vốn pháp định mới được bỏ đi, mà thay thế bằng quy định
số địa điểm kinh doanh và số lượng lao động Nếu HKD có sử dụng thườngxuyên trên 10 lao động phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức DN HKD chỉđược đăng ký tại một địa điểm và nếu quy mô hoạt động của HKD tăng lênđến mức có nhu cầu mở thêm địa điểm kinh doanh thì chủ sở hữu HKD đóphải đăng ký kinh doanh dưới hình thức DN vì đối với DNTN, pháp luậtkhông quy định giới hạn số lượng địa điểm kinh doanh
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, HKD bị giới hạn số lượng laođộng dưới 10 người và chỉ hoạt động kinh doanh tại một địa điểm, điều này
đã làm hạn chế quyền tự do kinh doanh và khả năng phát triển của HKD Việcbuộc HKD sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải đăng ký kinhdoanh dưới hình thức DN có lẽ chưa tính đến đặc trưng của từng ngành nghề
Trang 21kinh doanh Vì với những HKD về lĩnh vực dịch vụ, ăn uống thì tổng số laođộng có thể lên tới hàng chục người.
HKD là hình thức kinh doanh quy mô rất nhỏ nhưng không phải là đốitượng có quy mô kinh doanh nhỏ nhất; so với một số hộ gia đình sản xuấtnông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, làmdịch vụ có thu nhập thấp thì loại hình kinh doanh này vẫn được coi là có quy
mô kinh doanh lớn hơn và ổn định hơn Những đối tượng này đây không bịbắt buộc đăng ký kinh doanh mặc dù vẫn thực hiện hành vi kinh doanh đểkiếm lời Dấu hiệu để phân biệt những đối tượng này với HKD là mức thunhập thấp và do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyđịnh cụ thể mức thu nhập được coi là thấp tại từng thời điểm nhất định
1.1.4 Khái niệm quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh
Quản lý nhà nước là hoạt động quản lý gắn liền với khu vực công và
quyền lực nhà nước Trong xã hội, có nhiều chủ thể tham gia vào hoạt độngquản lý xã hội với những công cụ khác nhau và mục đích khác nhau Trong sốcác chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước đóng vai trò quan trọng hàng đầu tronghoạt động quản lý xã hội
Khái niệm “quản lý nhà nước” có thể hiểu theo hai nghĩa cơ bản:
- Nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là dạng hoạt động quản lý xã hội đặc biệt
mang tính chất quyền lực Nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan nhà nướctrong hệ thống hành pháp với chức năng chấp hành và tổ chức thực hiện phápluật trong đời sống xã hội nhằm đạt mục tiêu đã được định sẵn
- Nghĩa rộng, quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, do
tất cả các cơ quan nhà nước (cơ quan Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp) sửdụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, quá trình vàhoạt động của xã hội nhằm bảo đảm tính trật tự và phát triển xã hội
Trang 22Theo Giáo trình Lý luận Hành chính Nhà nước của Học viện Hành chínhQuốc gia, Nhà xuất bản Hà Nội năm 2010, khái niệm quản lý nhà nước thể
hiện như sau: “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang
tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các
cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển của xã hội”.
Từ các khái niệm nói trên, chúng ta có thể khái niệm “quản lý nhà nước
đối với HKD” cũng được hiểu theo hai nghĩa, rộng và hẹp.
- Nghĩa rộng: Đó là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp) của các cơ quan Nhà nước tác động, định hướng, điềuchỉnh các hoạt động của HKD bằng những chính sách, quy định pháp luậtnhằm đạt được mục tiêu chung là xây dựng và phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN
- Nghĩa hẹp: Đó là quá trình tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan
trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và UBND các cấp) để điều chỉnh cáchoạt động và hành vi của HKD chấp hành theo đúng quy định của pháp luậtcủa Nhà nước
Theo hai khái niệm trên, chủ thể quản lý nhà nước đối với HKD là các
cơ quan nhà nước thuộc hệ thống lập pháp, hành pháp và tư pháp (theo nghĩarộng) và là các cơ quan nhà nước thuộc hệ thống hành pháp các cấp (theonghĩa hẹp) Khách thể quản lý nhà nước đối với HKD là hoạt động của HKD
Từ những nhận định trên, tác giả tạm thời đưa ra khái niệm:
Quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của hộ kinh doanh nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, đồng thời phát huy vai trò và nâng cao hiệu quả hoạt động
Trang 23của hộ kinh doanh trong điều kiện xây dựng và phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.2 Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh
Hoạt động quản lý nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội nên HKD cũng là một đối tượng của hoạt động này Nó rất quan trọngđối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và cũng rất phức tạp nếukhông quản lý tốt các thành phần kinh tế, các chủ thể kinh tế hoạt động trongtoàn bộ nền kinh tế Cho nên, Nhà nước phải tăng cường công tác quản lý nhànước bằng pháp luật đối với HKD vì những lý do sau đây:
Thứ nhất, vai trò và ảnh hưởng của HKD rất đa dạng, phức tạp, tác động
đến nhiều mặt của đời sống xã hội, tiêu biểu là giải quyết việc làm cho nhữngngười lao động không có trình độ chuyên môn nghiệp vụ hay chưa qua đàotạo, những người quá độ tuổi lao động nhưng gặp khó khăn trong đời sống.Trong nền kinh tế thị trường, HKD đóng vai trò quan trọng trong sự phát triểnkinh tế - xã hội, HKD huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, tạo rahoặc hỗ trợ người dân được tiếp cận những sản phẩm với giá cả hợp lý, đápứng nhu cầu của xã hội Để hoạt động hiệu quả, HKD phải giải quyết hàngloạt những vấn đề mà trong đó có những vấn đề chủ hộ không đủ khả nănggiải quyết Thông qua hoạt động của mình, Nhà nước định hướng các HKDhoạt động thông qua các quy định pháp luật, cơ chế, chính sách hỗ trợ, đápứng các nhu cầu chính đáng của HKD
Thứ hai, để thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai
đoạn 2011 – 2020 (Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI) tiếp tục phát huyquyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân để làm giàu cho bảnthân và đóng góp cho xã hội, cần phải tập hợp và xây dựng vững chắc cơ sở
hạ tầng mà phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đóng vai trò quyết định
Trang 24Trong đó, thành phần kinh tế cá thể là một trong những thành phần trọng tâmluôn được Đảng và Nhà nước quan tâm.
Thứ ba, mặc dù đạt được nhiều thành tựu nhưng công tác quản lý đối với
HKD của Nhà nước trong thời gian qua vẫn còn tồn tại một số vấn đề ảnhhưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế của nước ta nói chung và ở địaphương nói riêng như: quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và chínhsách pháp luật của Nhà nước ta chưa hoàn thiện; hệ thống văn bản quy phạmpháp luật về HKD còn thiếu, chưa đầy đủ, chưa có sự thống nhất với nhau dẫnđến việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong công tác quản lý HKD ở một sốđịa phương còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ, dễ phát sinh nhiều vấn đề nhạycảm, khiếu nại, tố cáo Những vấn đề tồn tại này cần phải được nhanh chónggiải quyết nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước nói chung vàquản lý nhà nước đối với HKD nói riêng
1.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh
Trong hoạt động quản lý, cơ quan nhà nước cũng đã xây dựng cácphương pháp quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực nhằm đảm bảo thiết chếXHCN và các quy định pháp luật chuyên ngành, bảo đảm nguyên tắc mềmdẻo, linh hoạt, sáng tạo, đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn và phải phù hợpđường lối chính trị, quy định, chương trình quản lý trong từng giai đoạn cụthể Luận văn sẽ tập trung phân tích đánh giá công tác QLNN đối với HKDtrên các phương diện sau:
Thứ nhất, ban hành pháp luật về hoạt động của HKD Pháp lý là công cụ
quản lý chủ yếu khi thực hiện chức năng QLNN đối với HKD Vì vậy, rất cần
có khung khổ pháp lý đầy đủ, đồng bộ, nhất quán, rõ ràng để HKD có thể yêntâm hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển hiệu quả hơn trong nền kinh tếthị trường
Trang 25Thứ hai, định hướng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển HKD trên cả nước và từng địa phương Đây là nội dung quan trọng của
hoạt động QLNN, đòi hỏi việc hoạch định chiến lược phải trọng tâm, trọngđiểm, mục tiêu phát triển với hệ thống các chỉ tiêu cụ thể, đề ra biện phápngắn hạn và dài hạn để định hướng cho sự phát triển của HKD theo mục tiêuchung của phát triển kinh tế - xã hội, trong đó tập trung phát triển các ngànhmũi nhọn cũng như các ngành trọng điểm, giúp HKD phát huy năng lực củamình trong hoạt động sản xuất phát triển kinh doanh
Thứ ba, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động của HKD Nhà nước có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực
hiện các quy phạm pháp luật kinh doanh, bảo đảm tính minh bạch, công khai,không phân biệt loại hình kinh doanh, tạo lòng tin và thuận lợi cho hoạt độngcủa HKD Hiện nay, ý thức chấp hành pháp luật của HKD còn thấp, các quyđịnh pháp luật chưa rõ ràng đối với loại hình kinh doanh này nên việc tiếp cậncác văn bản pháp lý của HKD cũng còn nhiều khó khăn Đó là nguyên nhân
mà HKD không ý thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình
Thứ tư, xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ HKD Nhằm phát
triển năng lực tự có của HKD theo định hướng phát triển chung của từng địaphương, đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng các văn bản chính sách hỗ trợ cụ thểđối với HKD ở từng giai đoạn Trong đó, cần tập trung hỗ trợ HKD tiếp cậncác nguồn vay ưu đãi để chủ động trong sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh côngtác cải cách hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của HKD, cảithiện môi trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh, góp phần quan trọngtrong phát triển kinh tế - xã hội
Thứ năm, công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của HKD và giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động của HKD Đây là một trong những
nội dung quan trọng nhất trong quản lý nhà nước đối với HKD hiện nay được
Trang 26xã hội quan tâm HKD hoạt động đa dạng trên nhiều lĩnh vực trong khi cácquy định về địa điểm kinh doanh, ngành nghề, còn hạn chế nên yêu cầucông tác hậu kiểm sau đăng ký kinh doanh là cần thiết để đảm bảo định hướnghoạt động của HKD theo đúng quy định của pháp luật Bên cạnh đó, việc thựchiện kê khai, nộp thuế theo hình thức khoán của HKD cũng có nhiều bất cậpgây ảnh hưởng đến việc thu ngân sách nhà nước cho địa phương nói riêng vàngân sách nhà nước nói chung Vì vậy, quản lý, kiểm tra việc chấp hành phápluật về thuế, phí, lệ phí của HKD được lãnh đạo Đảng, chính quyền hết sứcquan tâm và được đưa vào chỉ tiêu Nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng, các Kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hàng năm,…
Thứ sáu, xây dựng bộ máy QLNN đối với HKD ở cấp địa phương bảo đảm kiểm soát tốt nhất hoạt động của HKD Đội ngũ cán bộ, công chức là
những người thực thi công vụ, áp dụng quy định pháp luật trong quá trìnhquản lý, kiểm tra hoạt động của HKD nên cần phải được quan tâm đào tạo,bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đặc biệt là ý thứctrách nhiệm, đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức là vấn đề xã hội quan tâmnhất Cần xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan QLNNđối với HKD, khắc phục tình trạng gây phiền hà, khó dễ, phân biệt đối xửgiữa các HKD và loại trừ ngay những cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất,làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân
1.4 Cơ sở pháp lý quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh
Để thực hiện công tác quản lý nhà nước đối với HKD nói riêng và cácthành phần kinh tế nói chung, Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản quyphạm pháp luật đang còn hiệu lực áp dụng như sau:
- Luật DN số 68/2014/QH13 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014, quyđịnh về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có
Trang 27liên quan của DN; được thay thế bằng Luật DN số 59/2020/QH14 ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2020, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.
- Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006, quyđịnh việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước
do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật; được thaythế bằng Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13 tháng 6 năm 2019, quyđịnh việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước
- Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 của Chính Phủ về
hỗ trợ và phát triển DN đến năm 2020 với mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ vàgiải pháp đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng,phát triển theo chiều sâu dựa trên tri thức đổi mới, sáng tạo, khoa học và côngnghệ cao, trong đó DN, nhất là DNTN là động lực nâng cao sức cạnh tranh vàtính tự chủ của nền kinh tế
- Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 của ChínhPhủ về đăng ký DN, quy định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký DN;đăng ký HKD; quy định về cơ quan đăng ký kinh doanh và quản lý nhà nước
về đăng ký DN Được thay thế bằng Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04tháng 01 năm 2021 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 04 tháng 01 năm 2021
- Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2016 của Chínhphủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phí và lệphí; quy định về kê khai, thu, nộp phí, lệ phí; quản lý, sử dụng phí; quyết toánphí, lệ phí; trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức trong việc thu, nộp,quản lý và sử dụng phí, lệ phí
- Nghị định số 87/2017/NĐ-CP ngày 26 tháng 07 năm 2017 của Chínhphủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tàichính Là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về:Tài chính - ngân sách (bao gồm: Ngân sách nhà nước; thuế; phí, lệ phí và thu
Trang 28khác của ngân sách nhà nước; dự trữ nhà nước; các quỹ tài chính nhà nước;đầu tư tài chính; tài chính DN; tài chính hợp tác xã và kinh tế tập thể; tài sảncông theo quy định của pháp luật); hải quan; kế toán; kiểm toán độc lập; giá;chứng khoán; bảo hiểm; hoạt động dịch vụ tài chính và dịch vụ khác thuộcphạm vi quản lý nhà nước của bộ; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn nhànước tại DN theo quy định của pháp luật.
- Thông tư số 01/2021/TT-BKHĐT ngày 16 tháng 3 năm 2021 của Bộtrưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về đăng ký DN (có hiệu lực từngày 01 tháng 5 năm 2021)
- Thông tư số 47/2019/TT-BTC ngày 05 tháng 8 năm 2019 của Bộtrưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụngphí cung cấp thông tin DN, lệ phí đăng ký DN; áp dụng đối với người nộp, tổchức thu phí cung cấp thông tin DN, lệ phí đăng ký DN và các tổ chức, cánhân khác có liên quan đến việc thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin DN, lệ phí đăng ký DN (có hiệu lực từ ngày 20/9/2019)
- Chỉ thị số 03/CT-BTC ngày 20/5/2014 của Bộ Tài chính về việc tăngcường kỷ cương, kỷ luật trong quản lý thuế, tạo thuận lợi cho người nộp thuế,nhằm thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020
- Quy chế công khai thông tin HKD nộp thuế theo phương pháp khoántrên trang thông tin điện tử của Tổng cục Thuế, Cục Thuế các tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương ban hành kèm theo Quyết định số 1474/QĐ-BTC ngày
25 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính giao nhiệm vụ quản lý thuếđối với cá nhân, HKD
1.5 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh
HKD hoạt động trên nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề khác nhau, vì thế phải có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng để quản lý hiệu quả hoạt
Trang 29động của HKD Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý HKD từ trung ương đến địaphương gồm:
- Chính phủ ban hành các Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành Luật củaQuốc hội thông qua; các Nghị quyết về chính sách hỗ trợ và phát triển; quyđịnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Bộ
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết một sốvấn đề liên quan đến đăng ký DN, đăng ký HKD; quản lý Cơ sở dữ liệu quốcgia về đăng ký DN
- Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngân sách nhànước; thuế; phí, lệ phí và thu khác của ngân sách nhà nước; quy định mức thu,chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin, lệ phí đăng kýkinh doanh
- Tổng cục Thuế, Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chi cục Thuế thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với cá nhân, HKD
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo, kiểmtra, thanh tra công tác quản lý nhà nước tại địa phương, định hướng phát triểnkinh tế theo đặc thù của địa phương
- Ủy ban nhân dân quận, huyện - Ủy ban nhân dân phường, xã là cơ quanhành chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động của HKDtrú đóng trên địa bàn
1.6 Chủ thể quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh
Căn cứ vào hệ thống tổ chức bộ máy, chủ thể quản lý nhà nước đối vớiHKD được chia theo chủ thể quản lý nhà nước theo địa bàn và chủ thể quản lýnhà nước theo ngành, lĩnh vực Cụ thể:
Trang 30Sơ đồ 1.1 Chủ thể quản lý hộ kinh doanh
UBND huyện
Hộ kinh doanh
Nguồn: Trang thông tin điện tử Quận 1
1.6.1 Chủ thể quản lý nhà nước theo địa bàn
Ủy ban nhân dân quận, huyện thực hiện chức năng cấp giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính, đình chỉ hoạt động
và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với HKD hoạt động trênđịa bàn quận, huyện của mình Xây dựng, quản lý và vận hành Hệ thốngthông tin về đăng ký kinh doanh của HKD hoạt động trên địa bàn Cập nhậthàng ngày vào Hệ thống thông tin về đăng ký kinh doanh của HKD các thôngtin cấp, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc tạm ngưng hoạtđộng của HKD Định kỳ tháng, quý, năm báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương, Sở Kế hoạch và Đầu tư và các Sở, ngành quản lýchuyên ngành và thông báo cho Chi cục Thuế quận, huyện, Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn về tình hình đăng ký kinh doanh cho HKD hoạt động trênđịa bàn Trực tiếp kiểm tra HKD theo nội dung trong hồ sơ đăng ký trên địabàn Kiểm tra hoạt động của HKD sau đăng ký thành lập và xử lý theo thẩm
Trang 31Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn tiếp nhận thông tin về đăng ký kinhdoanh của HKD từ Ủy ban nhân dân quận, huyện; cập nhật, theo dõi số lượngthực tế HKD hoạt động trên địa bàn xã, phường, thị trấn Định kỳ sáu thángthông báo cho Ủy ban nhân dân quận, huyện danh sách các HKD không cònhoạt động tại trụ sở đăng ký Phát hiện và báo cáo Ủy ban nhân dân quận,huyện thu hồi giấy chứng nhận đăng ký HKD thuộc các trường hợp bị thu hồiGiấy chứng nhận đăng ký HKD Định kỳ hàng tháng, quý, năm báo cáo Ủyban nhân dân quận, huyện kết quả xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyềnđối với HKD hoạt động trên địa bàn xã, phường, thị trấn Kiểm tra hoạt độngcủa HKD sau đăng ký thành lập và xử lý theo thẩm quyền các hành vi viphạm trong hoạt động của HKD Báo cáo Ủy ban nhân dân quận, huyện đểkịp thời chỉ đạo thực hiện trong trường hợp cần phối hợp xử lý vi phạm củaHKD hoạt động trên địa bàn.
1.6.2 Chủ thể quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực
HKD khi hoạt động phải tuân thủ các quy định pháp luật chuyên ngành
về an ninh trật tự, thuế, vệ sinh an toàn thực phẩm,…Để quản lý những lĩnhvực này thì cần có sự phối hợp của các cơ quan hành chính nhà nước chuyênngành Cụ thể tại địa bàn cấp huyện về an ninh trật tự do Công an huyện quản
lý, về thuế do Chi cục Thuế quản lý
1.7 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh của một
số địa phương ở Việt Nam
Quận 1 là địa bàn trung tâm phát triển kinh tế của Thành phố Hồ ChíMinh, có số lượng HKD, DN không nhỏ đã đóng góp lớn vào nguồn thuNSNN của địa phương Vì vậy, đòi hỏi công tác QLNN đối với HKD phải bảođảm tính hiệu quả, có thể thúc đẩy sự phát triển tự nhiện của nền kinh tế cáthể trong khuôn khổ pháp luật quy định Tác giả nhận thấy Quận Hoàn Kiếm,
Hà Nội và Quận Hải Châu, Đà Nẵng có vị thế tương đồng với Quận 1,
Trang 32Thành phố Hồ Chí Minh về tiềm lực phát triển kinh tế, mức đóng góp chongân sách địa phương cao hơn các quận, huyện khác trong cả nước nên tác giảchọn 02 địa phương này để nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm QLNN đối vớiHKD.
1.7.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với HKD tại quận Hoàn Kiếm,
Hà Nội
Quận Hoàn Kiếm là quận trung tâm của thủ đô Hà Nội, là trung tâm hànhchính, chính trị của Thành phố, đặc biệt khu phố cổ được hình thành từ đầuthế kỷ XIX và chợ Đồng Xuân, … là những địa điểm thu hút khách du lịch cảtrong và ngoài nước góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, đặc biệt là lĩnh vựcdịch vụ Hiện nay, trên địa bàn quận Hoàn Kiếm có khoảng 10.000 HKD, đểquản lý nhà nước đối với HKD, UBND quận Hoàn Kiếm thực hiện theoQuyết định số 09/2017/QĐ-UBND ngày 23 tháng 3 năm 2017 của UBNDthành phố Hà Nội về ban hành quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năngtrong QLNN đối với DN, HKD, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sau đăng kýthành lập trên địa bàn thành phố Theo đó:
- Về công khai thông tin: UBND quận chỉ đạo cơ quan đăng ký kinh
doanh cung cấp và công khai thông tin đăng ký, tình hình hoạt động của HKDtrên địa bàn quản lý theo quy định Bên cạnh đó UBND quận chỉ đạo UBNDphường và các cơ quan chuyên môn phối hợp, xác minh thông tin về HKD, báo cáo danh sách các HKD vi phạm quy định về hoạt động kinh doanh
- Về thanh tra, kiểm tra, xử lý HKD có hành vi vi phạm: Thanh tra quận
là cơ quan đầu mối xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra HKD thuộc địa bànquận trên cơ sở tổng hợp kết quả từ Phòng Kinh tế và UBND 18 phường vớicác nội dung: ngành, nghề đầu tư kinh doanh, sử dụng lao động thườngxuyên, vệ sinh an toàn thực phẩm, quảng cáo, chống buôn lậu, hàng gian,
Trang 33hàng giả,…Trước ngày 15 tháng 11 hàng năm, UBND quận phải gửi Kếhoạch thanh, kiểm tra HKD cho Thanh tra Thành phố Hà Nội.
Tuy nhiên, việc QLNN đối với HKD còn gặp nhiều khó khăn do tốc độphát triển kinh tế xã hội tại quận trung tâm của thành phố là khá nhanh, còntình trạng HKD đăng ký địa điểm để kinh doanh nhưng thực tế thì các hộ này
đã đóng cửa hoặc có hộ mới đăng ký nhưng không thông báo cho chính quyềnđịa phương Việc thu hồi giấy phép đăng ký kinh doanh đối với những trườnghợp này cũng gặp nhiều khó khăn
- Về công tác thu thuế: Thông tin công khai về thuế khoán của HKD
được niêm yết công khai bộ phận “Một cửa” của UBND quận, phường; Chicục thuế, Ban quản lý chợ, Trung tâm thương mại để các HKD được biết vàphải thực hiện nghĩa vụ của mình Việc này đã giúp các HKD tại quận HoànKiếm nâng cao ý thức tự giác, chịu trách nhiệm về các khoản kê khai và tựgiác nộp thuế
1.7.2 Kinh nghiệm quản lý thuế đối với hộ kinh doanh trên địa bàn quận Hải Châu, Đà Nẵng
HKD được chính quyền quận Hải Châu xác định là đối tượng nộp thuế
số lượng lớn, là một trong những nguồn thu quan trọng cho ngân sách quận.Công tác quản lý thuế đối với HKD của quận Hải Châu trong những năm qua
có nhiều chuyển biến tích cực Để đạt được hiệu quả cao, chính quyền quận
đã phối hợp với cơ quan chức năng đã thực hiện giải pháp quản lý và chống
thất thu thuế thông qua giải pháp Xây dựng cơ sở dữ liệu về HKD nộp thuế.
Hệ thống cơ sở dữ liệu này bao gồm: thông tin chủ HKD, thuế thu nhập cánhân, thuế giá trị gia tăng, nhờ có cơ sở dữ liệu này kết hợp với ứng dụngcông nghệ thông tin vào công tác quản lý, việc quản lý thuế đảm bảo côngkhai, minh bạch công bằng, đúng quy định của pháp luật thông qua giám sát
cơ sở dữ liệu, hạn chế tồn tại cho công tác lập bộ, tăng thu cho NSNN Nhiệm
Trang 34vụ thu thuế, đôn đốc thuế của Chi cục thuế quận Hải Châu đã chuyển sangđơn vị ủy nhiệm thu Điều này giúp làm giảm nguy cơ rủi ro, tiêu cực khi cán
bộ thuế không tiếp xúc với HKD Kết quả, quận Hải Châu đã đưa thêm vào
bộ quản lý thu thuế 1.384 HKD với tổng số tiền thuế thu thêm hàng thángkhoảng 300 triệu đồng; điều chỉnh thuế cho phù hợp với thực tế kinh doanhvới 424 HKD khác
Tiểu kết chương 1
Trong những năm qua, bên cạnh hệ thống các DN thành lập theo Luật
DN, loại hình HKD là một mô hình pháp lý quan trọng, phù hợp với điều kiệnphát triển kinh tế - xã hội của nước ta Về mặt kinh tế, HKD có đóng góp lớntrong nền kinh tế đất nước, nhất là trong việc tạo việc làm, huy động vốn dân
cư Công tác đăng ký kinh doanh đối với HKD những năm gần đây, tuy đãđược chú trọng, nhưng vẫn còn nhiều bất cập, cần tiếp tục đổi mới, hoànthiện Có thể nhận thấy một số bất cập cơ bản như:
Một là, về trình tự, thủ tục đăng ký HKD chưa có sự phối hợp liên thông
giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan đăng ký thuế cấp huyện
Hai là, một số quy định pháp lý về HKD chưa phù hợp với thực tiễn
cuộc sống như: chưa có quy định về chống trùng tên HKD trong địa bàn quận,huyện; quy định về đối tượng không được quyền thành lập HKD chưa rõràng,
Ba là, tổ chức bộ máy QLNN còn cồng kềnh, nhiều tầng lớp từ trung
ương đến địa phương nhưng cán bộ phụ trách trực tiếp tại cơ sở lại quá ít,không tương xứng với số lượng HKD quản lý trên địa bàn
Bốn là, cơ sở dữ liệu về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế còn rời rạc
tại các địa phương; gây khó khăn cho việc tra cứu, tổng hợp, dự báo tình hìnhphát triển, đánh giá hoạt động của khu vực HKD để phục vụ công tác hoạchđịnh chính sách hỗ trợ HKD cũng như các chính sách kinh tế, xã hội khác
Trang 35Năm là, nhiều quy định pháp luật chuyên ngành về xử lý vi phạm hành
chính đối với HKD còn chồng chéo, chưa thống nhất, gây khó khăn cho cáclực lượng kiểm tra xử lý
Về lâu dài, việc ban hành một văn bản quy phạm pháp luật riêng về hoạtđộng của HKD nên được các cơ quan QLNN và các nhà hoạch định chínhsách xem xét để tương xứng với vị trí, vai trò của HKD trong nền kinh tế
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Tình hình hoạt động của hộ kinh doanh trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Quận 1 nằm ở vị trí trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm quậnNhất và quận Nhì (Sài Gòn cũ) sáp nhập vào năm 1976, với tổng diện tích7,721 km², chiếm 0,35% diện tích thành phố và đứng thứ năm về diện tíchtrong số 12 quận nội thành Trong đó diện tích sông rạch chiếm 8,1%, diệntích xây dựng chiếm 57,27% diện tích quận và thuộc loại hàng đầu so với cácquận, huyện khác Tổng số dân khoảng 204.899 người, trong đó dân tộc Kinhchiếm 89,3%, dân tộc Hoa chiếm 10,2%, còn lại là các dân tộc khác Mật độ
dân số 26.182 người/km² đứng thứ 4/24 quận huyện (Nguồn: Trang thông tin
điện tử Quận 1)
Nằm bên bờ sông Sài Gòn, Quận 1 tiếp cận các đầu mối giao thôngđường thủy thông qua các cảng Sài Gòn, Khánh Hội Hệ thống kênh rạch BếnNghé - Thị Nghè cũng tạo điều kiện dễ dàng cho việc vận chuyển hàng hóa,hành khách từ trung tâm Thành phố đi các nơi và ngược lại Dọc bờ sông,kênh, rạch của quận có cảng nhỏ, cầu tàu, công xưởng sửa chữa, đóng tàu, xàlan tạo thành những yếu tố mở mang giao thương, dịch vụ Bên cạnh đó,mạng lưới đường bộ của Quận 1 cũng khá hoàn chỉnh, có các trục đườngchính đi đến sân bay, nhà ga, hải cảng và các cửa ngõ của thành phố để đikhắp các tỉnh, thành trong cả nước Nổi bật là tuyến Metro số 1 dài gần 20
km, được UBND Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt năm 2009, với tổng vốnđầu tư 17.388 tỉ đồng và được các cấp thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh tăng
Trang 37lên 43.757 tỉ đồng (làm tròn) Tuyến Metro số 1 có đoạn đi ngầm từ ga Nhàhát Thành phố về ga Ba Son được xây dựng trên địa bàn Quận 1, dự kiến đưavào sử dụng cuối năm 2021 Có thể thấy mạng lưới giao thông của Quận 1 đãtạo ra nhiều ưu thế thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, đặc biệt là các ngànhkinh tế như dịch vụ, du lịch, thương mại, đầu tư và xuất nhập khẩu, tạo môitrường kinh doanh hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Ngoài ra, Quận 1 có những di sản văn hóa, công trình kiến trúc độc đáomang dấu ấn của Sài Gòn xưa và những công trình tôn giáo tín ngưỡng củanhiều cộng đồng dân cư tích hợp lại; là nơi thường diễn ra những lễ hội, sựkiện chính trị, ngoại giao, … của Thành phố với quy mô lớn, đa dạng, phongphú, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến giao lưu gặp gỡ, vuichơi, giải trí và sinh sống
Từ những phân tích trên cho thấy điều kiện tự nhiên của Quận 1 có mộtnét đặc trưng rất riêng, khó lẫn lộn với một nơi nào khác Nó là một trongnhững yếu tố tác động lớn đến sự phát triển năng động về kinh tế - xã hội củaQuận 1
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội Quận 1
Trong giai đoạn 2015 - 2019, tình hình kinh tế Quận 1 phát triển ổn định,tổng giá trị sản xuất tăng bình quân 16,04%/năm Số lượng DN, cơ sở cá thểđăng ký hoạt động tại quận không ngừng tăng lên, thu hút nhiều lao động đếnlàm việc Tổng thu ngân sách Quận 1 đạt 66.087 tỷ đồng, tăng bình quân17,79%/năm, vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận 1 lần thứ XI đề
ra Tổng giá trị sản xuất khu vực kinh tế tư nhân, hợp tác xã, cá thể trên địabàn Quận 1 năm 2019 ước tính đạt 263.894 tỷ đồng, trong đó thương mại -dịch vụ chiếm 77,9%; công nghiệp xây dựng chiếm 21,1% Cụ thể: ngànhthương mại tăng 16,91%; ngành vận tải kho bãi tăng 11,77%; ngành khách
Trang 38sạn, nhà hàng tăng 18,31%; ngành bất động sản tăng 22,27%, hoạt độngchuyên môn khoa học công nghệ tăng 11,65%; du lịch tăng 25,57%.
2.1.3 Tình hình hoạt động của hộ kinh doanh tại Quận 1
Hoạt động của HKD tại Quận 1 phát triển khá đa dạng và phong phú về
cả quy mô, doanh thu và ngành nghề kinh doanh
Về số lượng, từ năm 2015 đến năm 2019, số lượng HKD tại Quận 1 đã
tăng từ 13.406 hộ lên 15.184 hộ, trung bình tăng 355 hộ/năm; số lượng HKDmới đăng ký hàng năm dao động từ khoảng 1.400 – 1.700 hộ; trong khi sốlượng HKD ngưng hoạt động thì chỉ dao động từ 500 – 800 hộ, chiếm tỷ lệkhoảng 50% HKD mới đăng ký Điều này cho thấy nhu cầu của người dânđăng ký mô hình HKD còn khá nhiều
Bảng 2.1 Số lượng hộ kinh doanh giai đoạn 2015 – 2019
HKD hoạt động 13.406 15.874 14.971 16.540 15.184HKD mới thành lập 1.681 1.404 1.708 1.655 1.416
Nguồn: Phòng Kinh tế Quận 1
Về quy mô, chủ yếu được đo lường trên hai tiêu chí là số lượng lao động
và doanh thu Bên cạnh phần lớn HKD tại Quận 1 sử dụng dưới 10 lao độngtheo đúng quy định pháp luật, còn có khoảng 1.200 HKD thực tế sử dụng trên
10 nhân viên được phân chia thời gian làm việc theo ca như HKD Bánh mìNhư Lan, HKD Bánh mì Huỳnh Hoa, HKD Cơm Minh Đức, … Đây là mộtvấn đề thực tiễn gây khó khăn cho công tác QLNN vì không có quy định phápluật chế tài nếu HKD sử dụng nhiều hơn 10 lao động mà chỉ có thể vận độngHKD đó chuyển đổi hình thức kinh doanh sang DN Theo kết quả khảo sátcủa tác giả đối với 115 HKD có 13 hộ sử dụng từ 01 - 04 nhân viên, 24 hộ sử
Trang 39dụng từ 05 - 08 nhân viên, 68 hộ sử dụng từ 08 - 10 nhân viên, 10 hộ sử dụngtrên 10 nhân viên Và doanh thu của HKD tại Quận 1 phụ thuộc vào vị trí cửahàng, sản phẩm, dịch vụ kinh doanh mà doanh thu từ vài chục triệu đồng/nămcho đến cả chục tỉ đồng/năm.
Về ngành nghề của các HKD hết sức đa dạng, từ dịch vụ ăn uống, dịch
vụ lưu trú, mua bán quần áo, sản xuất,… trong đó, dịch vụ ăn uống chiếm tỉtrọng lớn nhất, khoảng 38% cũng đặt vấn đề trong công tác quản lý về an toàn
vệ sinh thực phẩm đối với HKD; kinh doanh buôn bán các mặt hàng: quần áo,vật dụng,…chiếm tỉ lệ 23,5% Quận 1 có những đường phố nổi tiếng như: phốkinh doanh thời trang Nguyễn Trãi (phường Bến Thành), đường Hai Bà Trưng(phường Tân Định) chuyên mặt hàng vải vóc, phố ẩm thực Bùi Viện (phườngPhạm Ngũ Lão) Các HKD thuộc ngành nghề này tuy có ít lao động nhưnghàng năm doanh thu của họ cũng khá lớn, trung bình từ 500 triệu đến 01 tỉđồng
Bảng 2.2 Tỷ lệ ngành nghề của HKD tại Quận 1 năm 2019
Kinh doanh buôn bán các mặt hàng: quần áo, vật dụng, … 23,5
Nguồn: Phòng Kinh tế Quận 1, tính đến ngày 31/12/2019
Trang 40Từ những phân tích số liệu hoạt động của HKD tại Quận 1 nêu trên, chothấy sự phát triển về số lượng và đa dạng ngành nghề hoạt động của HKD sẽtác động đến công tác QLNN của chính quyền địa phương, không chỉ tăngtrưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho chủ sởhữu, HKD còn gián tiếp cải thiện cuộc sống cho những người có thu nhậpthấp, người nghèo ở thành thị mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh chínhtrị, trật tự an toàn xã hội nếu hoạt động của HKD không theo khuôn khổ phápluật quy định Vì vậy đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước phải có những chínhsách pháp luật, phương thức quản lý phù hợp để phát huy hết vai trò của HKDtại Quận 1.
2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh tại Quận 1 giai đoạn 2015 – 2019
2.2.1 Ban hành pháp luật về hoạt động của hộ kinh doanh
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và đượcbảo đảm thực hiện bằng Nhà nước Vai trò và giá trị xã hội to lớn của phápluật thể hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội và là cơ sở pháp lýquan trọng cho sự ổn định và phát triển năng động của các quan hệ kinh tế -
xã hội Vì vậy, khi đề cập đến QLNN thì pháp luật làm nền tảng trong việcđiều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội Tuy nhiên, các văn bản pháp luật hiệnnay hầu hết tập trung vào đối tượng quản lý là DN, còn đối với HKD chỉđược đề cập trong một vài điều khoản về quy định đăng ký kinh doanh, sốlượng lao động sử dụng, cơ quan QLNN về đăng ký kinh doanh như:
- Luật DN số 68/2014/QH13 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2014, quyđịnh về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động cóliên quan của DN
- Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006, quyđịnh việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước