Từ thực tế cấp thiết của công tác quản lý nhà nước nêu trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang” làm đề
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Luận văn này khi thực hiện và hoàn thành tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ
và tạo điều kiện từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thế Dũng - người hướng dẫn khoa học trực tiếp, người đã dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn Tôi bày tỏ lòng chân thành đến các quý thầy cô giáo, người đã đem lại nhiều kiến thức bổ ích trong những năm học vừa qua
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh;
Phòng Quản lý văn hóa thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Kiên Giang, Ban Quản
lý di tích tỉnh, phòng Văn hóa - Thông tin thành phố Rạch Giá, Ủy ban nhân dân các phường có di tích, Ban bảo vệ các di tích cấp quốc gia trên địa bàn thành phố đã tận tình giúp đỡ tôi đi học và thực tế để khảo sát, nghiên cứu hoàn thành Luận văn Chân thành cảm ơn Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Rạch Giá, cơ quan Ban Tổ chức Thành ủy Rạch Giá, Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Thanh Vân đã tạo
cơ hội cho tôi được tham gia lớp Cao học và thực hiện đề tài nghiên cứu
Tuy tôi có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì vậy, kính mong quý thầy, cô giáo, đồng nghiệp, tiếp tục
có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Kiên Giang, ngày tháng 10 năm 2019
Tác giả luận văn
Đỗ Văn Thiện
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên ĐỖ VĂN THIỆN, học viên lớp Cao học khóa VII, chuyên ngành Quản
lý văn hóa, năm học 2017 - 2019
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ đề tài: “Quản lý nhà nước về di tích lịch sử
- văn hóa cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang” là công trình nghiên
cứu của bản thân tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thế Dũng
Các thông tin, số liệu trích dẫn đều được trích nguồn chính xác và đầy đủ Các kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực, không trùng lắp với công trình đã nghiên cứu và công bố
Tác giả luận văn
Đỗ Văn Thiện
Trang 3BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 10
8 Bố cục luận văn 10
Chương 1 12
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ 12
DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA 12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Khái niệm 12
1.1.2 Nội dung và cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa 19
1.1.3 Trách nhiệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở tỉnh Kiên Giang 21
1.2 Tổng quan về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 26
1.2.1 Tổng quan thành phố Rạch Giá 26
1.2.2 Tổng quan về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá 30
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2 40
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA Ở THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG 40
2.1 Chủ thể Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia 40
2.1.1 Sở Văn hóa - Thể thao Kiên Giang, Ban Quản lý di tích tỉnh 40
Trang 52.1.2 Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố Rạch Giá 48
2.1.3 Ủy ban nhân dân các xã/phường thuộc thành phố Rạch Giá 51
2.1.4 Ban Bảo vệ các di tích 53
2.2 Hoạt động quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia 58
2.2.1 Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển di tích lịch sử - văn hóa 58
2.2.2 Xây dựng và thực hiện thể chế quản lý di tích lịch sử - văn hóa 62
2.2.3 Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 66
2.2.4 Đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về di tích lịch sử - văn hóa 70
2.2.5 Xã hội hóa hoạt động di tích lịch sử - văn hóa 73
2.2.6 Thi đua, khen thưởng và thanh tra, kiểm tra trong hoạt động quản lý di tích lịch sử - văn hóa 76
2.3 Đánh giá chung 80
2.3.1 Thành quả, nguyên nhân 81
2.3.2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 82
Tiểu kết chương 2 88
Chương 3 89
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ 89
CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA 89
3.1 Định hướng về công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá 89
3.1.1 Định hướng của Đảng, Nhà nước 89
3.1.2 Định hướng của tỉnh Kiên Giang 92
3.2 Giải pháp về nâng cao công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá 93
3.2.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa 93
3.2.2 Xây dựng hệ thống văn bản pháp quy và tăng cường hoạt động bảo vệ, phát huy di tích lịch sử - văn hóa 95
Trang 63.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, bảo vệ, quảng bá giá trị di tích
lịch sử - văn hóa 99
3.2.4 Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, áp dụng công nghệ trong quản lý di tích và xây dựng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực về bảo vệ, phát huy di tích lịch sử - văn hóa 102
3.2.5 Đẩy mạnh công tác xã hội hóa về bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 104
3.2.6 Chính sách khen thưởng và chế tài trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 107
3.2.7 Tăng cường quản lý hợp tác quốc tế và tổ chức khai thác có hiệu quả các di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch 108
3.2.8 Công tác thanh tra, kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên, có hiệu quả và xử lý nghiêm minh sai phạm trong quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử - văn hóa 113
Tiểu kết chương 3 115
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC 126
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Di tích lịch sử - văn hóa là tài sản vô giá, quý báu của dân tộc; nó chứa đựng những giá trị tốt đẹp nhằm giáo dục cho thế hệ hôm nay và mai sau tìm hiểu về cội nguồn dân tộc, giúp con người soi bóng vào lịch sử, nghiên cứu lịch sử của dân tộc mình một cách sâu sắc và sinh động nhất Trong thời đại ngày nay di tích lịch sử - văn hóa còn là điểm đến của mỗi du khách khi thăm quan ở bất kỳ địa phương, quốc gia nào Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đánh giá ngay Hội nghị xúc tiến đầu
tư tỉnh Kiên Giang ngày 29 tháng 7 năm 2019 diễn ra tại thành phố Rạch Giá, ông cho rằng Kiên Giang có vị trí chiến lược, địa kinh tế quan trọng, là vùng đất của Tổ quốc với truyền thống là mảnh đất anh hùng, địa linh nhân kiệt, có bề dày lịch sử cách mạng; đây là nơi nghĩa quân của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực xưa kia
đã chiến đấu chống thực dân Pháp đến hơi thở cuối cùng với câu nói nổi tiếng: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”
Từ thực tế đó, các di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá
có tầm quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân thành phố Chẳng hạn như thành phố Rạch Giá là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Kiên Giang; nơi có sự giao hòa giữa cảnh quan sông nước biển đảo với nhiều đình, chùa và hàng trăm công trình thờ tự nổi tiếng Thành phố Rạch Giá còn là sự hòa quyện giữa văn hóa của ba dân tộc Kinh, Hoa và Khmer đã tạo nên màu sắc văn hóa rất riêng mà hiếm nơi nào có được; ngoài ra thành phố còn có tiềm năng về phát triển
du lịch, nhiều DTLS-VH được Bộ VHTTDL và UBND tỉnh Kiên Giang xếp hạng công nhận di tích Những di tích này có giá trị về lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật được hình thành từ lâu đời, sớm nhất là từ thế kỷ XV
Hiện nay, UBND tỉnh Kiên Giang đã có nhiều chính sách nhằm giữ gìn, tôn tạo
và phát huy các DTLS-VH cấp quốc gia Tuy nhiên tình hình công tác QLNN các di tích này còn nhiều tồn tại, bất cập như nhiều cấp quản lý chưa nhận thức hết vị trí, vai trò của DTLS-VH trong đời sống xã hội, việc QLNN còn xem nhẹ; thực hiện công tác bảo tồn và phát huy chưa đúng quy định; năng lực, trình độ chuyên môn của một số
Trang 8cán bộ có trách nhiệm quản lý chưa đảm bảo; công tác phối hợp trong quản lý chưa thường xuyên; tình trạng các di tích còn xuống cấp; người dân thiếu hiểu biết, thương mại hóa, lợi dụng các giá trị DSVH phi vật thể gắn với di tích để thu lợi của một số tổ chức, cá nhân đã dẫn đến việc có nơi có chỗ người dân còn tự ý lấn chiếm, xây cất trái phép quanh khu vực di tích
Từ thực tế cấp thiết của công tác quản lý nhà nước nêu trên, tác giả chọn đề tài
“Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang” làm đề tài luận văn tốt nghiệp, qua đó có thể góp một phần nhỏ vào
công tác quản lý di tích của thành phố Rạch Giá trong thời gian tới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng quản lý di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố
Rạch Giá nhằm để thực hiện tốt hơn công tác quản lý nhà nước về di tích
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Khảo sát, trình bày, phân tích và đánh giá thực trạng công tác QLNN các
DTLS-VH cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá từ năm 2010 đến nay
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLNN các DTLS-VH cấp
quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiện nay có những công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài tôi nghiên cứu, cụ thể:
3.1 Nhóm công trình nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Trong bài Một số vấn đề về di tích lịch sử văn hóa, GS Lưu Trần Tiêu cho rằng,
hoạt động bảo tồn di tích thể hiện ở ba mặt cụ thể là: Bảo vệ di tích về mặt pháp lý và khoa học, bảo vệ di tích về mặt vật chất kỹ thuật, cuối cùng là sử dụng di tích phục vụ nhu cầu hiện đại của xã hội Cụ thể, trong công tác quản lý tập trung vào ba vấn đề: Công nhận di tích, quản lý cổ vật và phân cấp quản lý di tích Do đó, cần thiết phải
thực hiện: Thứ nhất, thiết lập cơ chế, chính sách đúng đắn có tác dụng thúc đẩy sự
Trang 9nghiệp bảo tồn, bảo tàng trong cả nước; Thứ hai, cần có một hệ thống tổ chức thích
hợp đủ khả năng biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành hiện
thực; Thứ ba, cần tổ chức để đưa các hoạt động bảo tồn thực sự trở thành sự nghiệp
của toàn dân Từ đó, tác giả đã đề ra sáu biện pháp mang tính cấp bách nhằm tăng cường việc thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích: 1/ Thể chế hóa bằng pháp luật các chính sách, cơ chế của nhà nước; 2/ Quy hoạch toàn bộ các di tích được công nhận; 3/ Phân cấp quản lý; 4/ Xã hội hóa hoạt động bảo tồn; 5/ Ưu tiên đầu
tư ngân sách; 6/Nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực quản lý của đội ngũ cán
và quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy giá trị DTLS-VH nhưng trong quá trình đô thị hóa hiện nay do yếu tố tự phát, tính tổ chức và tính pháp luật trong hoạt động đô thị yếu nên hệ thống di sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng [20, tr 71]
Năm 2001 công trình nghiên cứu Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa, tác giả Đặng Văn Bài đã đưa ra một số nội dung chủ yếu của công
tác QLNN đối với DSVH, coi đây là các vấn đề then chốt, cần quan tâm Các nội dung
bao gồm: QLNN bằng văn bản pháp quy (gồm có các văn bản pháp quy về bảo vệ, phát huy giá trị DSVH; quyết định về cơ chế, quyết định phân cấp quản lý ); việc
phân cấp quản lý di tích; hệ thống tổ chức ngành bảo tồn - bảo tàng và đầu tư ngân sách cho các cơ quan quản lý di tích - là yếu tố có tính chất quyết định nhằm tăng cường hiệu quả quản lý [2, tr 11 - 13]
Giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch năm 2010, do PGS.TS
Lê Hồng Lý (chủ biên) là cuốn giáo trình dành cho sinh viên các trường đại học, cao
Trang 10đẳng văn hóa nghệ thuật Cuốn giáo trình đã đưa ra một số khái niệm về DSVH, quản
lý, quản lý DSVH, các nguyên tắc và nội dung của công tác quản lý DSVH, vai trò của di sản đối với sự phát triển du lịch hiện nay Giáo trình thực chất nghiêng nhiều
về vấn đề khai thác DSVH phục vụ phát triển du lịch, những vấn đề lý luận và thực tiễn của QLNN về DSVH được nhắc đến khá sơ sài [29]
Tác giả Nguyễn Thị Kim Loan (chủ biên), Nguyễn Trường Tân trong giáo trình
Quản lý di sản văn hóa, đã đưa ra một số nội dung như: 1/ Khái niệm chung về quản
lý và quản lý nhà nước về DSVH; 2/ Quan điểm phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước liên quan đến quản lý DSVH dân tộc; 3/ Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước
về DSVH Tác giả cho đây là một số nội dung về nghiệp vụ quản lý DSVH mà thực chất đây là các mặt hoạt động bảo tồn DSVH [28]
Tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (đồng chủ biên) trong cuốn Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế năm 2012 đã nêu lên
nhiều lĩnh vực cụ thể của hoạt động quản lý văn hóa ở nước ta hiện nay trong đó có quản lý DSVH Ở lĩnh vực này, hai tác giả đưa ra thực trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa, bảo tàng và DSVH phi vật thể Nội dung quản lý được cụ thể trên hai khía cạnh: Công tác QLNN; Công tác phát triển sự nghiệp Từ thực trạng này hai tác giả
đã đề ra những giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực của di tích như: Đầu tư đồng bộ trong bảo tồn, tôn tạo, hài hòa bền vững [17, tr 486]
Tác giả Nguyễn Khởi (2002) với công trình Bảo tồn và trùng tu các di tích kiến trúc Tác giả đã hệ thống những kiến thức cơ sở về công tác bảo tồn và trùng tu di
tích, thực trạng bảo tồn các di tích hiện nay và những vấn đề đặt ra trong công tác bảo tồn, trùng tu di tích Trong đó tác giả chỉ tập trung vào việc bảo tồn và trùng tu di tích kiến trúc, chứ chưa nhắc đến việc phát huy chúng như thế nào [27]
Năm 2007, công trình về Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam đã đưa ra nhận thức chung về công tác bảo tồn DSVH phi vật thể ở Việt Nam
của các nhà khoa học trong và ngoài nước, tập trung phân tích sâu về các quan điểm bảo tồn DSVH phi vật thể thông qua hệ thống các văn bản pháp lý của UNESCO và Việt Nam về vấn đề này và giải quyết các vấn đề trọng điểm của công trình như: Bàn
Trang 11về mục đích, chức năng và nhiệm vụ của công trình mục tiêu quốc gia đối với công tác sưu tầm, bảo tồn và phát huy DSVH phi vật thể trong xã hội hiện nay [35]
Tác giả Nguyễn Thịnh (2012) với công trình Di sản văn hóa Việt Nam - Bản sắc
và những vấn đề về quản lý, bảo tồn Tác giả công trình cho rằng bảo tồn DSVH là
vấn đề khó khăn và phức tạp và cũng là câu chuyện diễn ra hàng ngày, trong bài viết nêu được việc bảo tồn phát huy, chức năng, phân loại, quản lý Để từ đó đặt ra vấn
đề là bảo tồn di sản như thế nào? Tuy nhiên trong công trình nghiên cứu của ông chưa nêu lên giá trị kiến trúc nghệ thuật của các di tích nói chung [58]
3.2 Nhóm công trình nghiên cứu về di tích ở thành phố Rạch Giá, Kiên Giang
Công trình Tìm hiểu Kiên Giang của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh
Kiên Giang do Dương Tấn Phát (chủ biên), (1986) Đây là nguồn tài liệu rất quí cho những người muốn nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Kiên Giang trên tất cả các lĩnh vực Trong đó, tài liệu cũng có một phần trình bày về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực tại Kiên Giang cũng như sự thờ cúng Ông ở địa phương [38]
Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nguyễn Trung Trực do Bảo tàng tỉnh Kiên Giang
tổ chức (1989) Tham dự hội thảo có các nhà nghiên cứu, các nhà sử học, khoa học và những người quan tâm đến cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực Tuy nhiên, trong tham luận của những người tham dự hội thảo, có những ý kiến khác nhau về một vấn đề chẳng hạn về tiểu sử, quê hương, hoạt động đây là nguồn
tư liệu rất có giá trị trong việc nghiên cứu sâu hơn về Nguyễn Trung Trực và cuộc kháng chiến của Ông [9]
Năm 2003, cuốn sách Rạch Giá tự giới thiệu do nhiều tác giả Trần Thanh Mộc,
Đoàn Thanh Nô - Nguyễn Phước Hoa (biên soạn) Trong công trình này các tác giả
đã trình bày Rạch Giá xưa và nay, các DTLS-VH lúc bấy giờ, nêu lên lễ hội dân tộc, văn hóa ẩm thực và Rạch Giá trên đường hội nhập Nhưng mà chưa nêu được giá trị các di tích cũng như công tác QLNN nhằm để bảo tồn và phát huy nó ra sao [62]
Năm 2010, cuốn sách do Đoàn Thanh Nô (chủ biên) Di tích và danh thắng điểm đến du lịch Kiên Giang, tác giả trình bày những tài liệu có liên quan đến sự kiện lịch
sử, văn hóa mà nhân dân Kiên Giang cùng nhân dân cả nước viết nên từ khi khai mở
Trang 12vùng đất này cho đến tận ngày nay Không những thế, tác giả còn tiếp cận khá sâu cả hai khía cạnh vật thể và phi vật thể của văn hóa Kiên Giang, các DTLS-VH tại thành phố Rạch Giá Ngoài ra, còn đóng góp trong việc quảng bá kinh tế du lịch của Kiên Giang nói riêng và Việt Nam nói chung Bên cạnh đó, tác giả chưa có hệ thống thực trạng công tác QLNN về di tích, công tác bảo tồn và phát huy các di tích [36]
Năm 2011 xuất bản cuốn Di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Kiên Giang do BQL di tích tỉnh Kiên Giang (biên soạn) Tập tài liệu giới thiệu các di tích
thuộc 15 huyện, thị, thành phố trên địa bàn tỉnh, trong đó thành phố Rạch Giá có 09
di tích; thị xã Hà Tiên có 09 di tích; huyện Hòn Đất 04 di tích; huyện Kiên Lương 03
di tích; huyện Châu Thành 02 di tích; huyện Giồng Riềng 03 di tích; huyện Gò Quao
03 di tích; huyện An Biên 02 di tích; huyện U Minh Thượng, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận 01 di tích; huyện Tân Hiệp 01 di tích; huyện Phú Quốc 02 di tích; huyện Kiên Hải 01 di tích Mà vẫn chưa cụ thể công tác QLNN về các di tích này [5]
Bên cạnh đó, một số tác giả cũng đã nghiên cứu cụ thể đối với tám di tích cấp quốc gia tại thành phố Rạch Giá được đăng tải trên các tạp chí, tập san chuyên ngành
(Văn hóa Nghệ thuật, Văn hóa Dân gian, Báo Kiên Giang ) nhưng vẫn mang tính
khái quát, giới thiệu trên cơ sở từng loại hình di tích: Di tích khảo cổ, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử Ngoài ra, cũng có nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận cử nhân bậc đại học của các ngành văn hóa, khoa học xã hội và nhân văn
đã nghiên cứu công tác bảo tồn, trùng tu, tôn tạo di tích trên địa bàn tỉnh Công trình nghiên cứu của Thạc sĩ Võ Thanh Xuân chuyên ngành Văn hóa học với đề tài năm
2014: “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở tỉnh Kiên Giang hiện nay” [74] Nhìn chung, các công trình đã nghiên cứu và
công bố như đã nêu trên chỉ tập trung nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, du lịch nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác QLNN các DTLS-VH được xếp hạng cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá
Do vậy, đề tài “Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở
thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang” của tác giả nghiên cứu không trùng lắp với
công trình đã nghiên cứu và công bố
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố
Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước đối với tám di tích lịch
sử - văn hóa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, đó là: Đình Nguyễn Trung Trực, đình Vĩnh Hòa, chùa Quan Đế, Nhà Bảo tàng Kiên Giang, chùa Tam Bảo, mộ Huỳnh Mẫn Đạt,
chùa Phật Lớn, chùa Láng Cát
- Về thời gian: Tác giả tập trung nghiên cứu trong thời gian từ năm 2010 đến
nay Thời điểm Quốc hội nước ta ban hành Luật số 32/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2001 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2010
- Về nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý nhà
nước về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Công tác quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang từ năm 2010 đến nay đã đạt những thành quả và tồn
tại như thế nào ?
- Để khắc phục những tồn tại và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước
về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới, cần thực hiện những giải pháp gì để phù hợp với định hướng của Đảng,
Nhà nước và tỉnh Kiên Giang ?
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Để biết được công tác QLNN các DTLS-VH cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang từ năm 2010 đến nay đã đạt được những thành quả, tồn tại như thế nào thì tác giả điền dã đến các cơ quan QLNN của tỉnh, thành phố, xã/phường, các di tích để tìm hiểu về thực trạng, công tác QLNN các DTLS-VH cấp quốc gia ở thành phố, trong đó có thể nêu lên những thành quả như: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện tốt
Trang 14chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách khai thác di tích, gắn di tích với việc phát triển du lịch của tỉnh; ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các văn bản như Quyết định số 02/2018/QĐ-UBND ngày 01/3/2018 và Kế hoạch 96/KH-UBND ngày 27/6/2017 của UBND tỉnh Kiên Giang ; công tác bảo vệ và phát huy di tích đạt được những kết quả khả quan, việc tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về di tích được triển khai sâu rộng đến với quần chúng nhân dân; hàng năm có từ 1-2 lớp đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ chuyên môn; công tác xã hội hóa các cá nhân, tổ chức ngày được chú trọng; các chính sách khen thưởng, chế tài trong việc chấp hành pháp luật
về di sản được áp dụng rất đảm bảo và linh hoạt
Ngoài ra vẫn còn những tồn tại như nhận thức của các ngành, các cấp và của nhân dân toàn tỉnh về vị trí, vai trò của DSVH nói chung, DTLS-VH nói riêng chưa thực sự sâu sắc và toàn diện; tính đồng bộ, thực tế có nhiều kế hoạch đưa ra nhưng chưa khả thi hoặc rất khó thực hiện hoặc sai lệch quan điểm chỉ đạo, cụ thể như vấn
đề xã hội hóa trùng tu di tích đang rơi vào tình trạng khó kiểm soát, chất lượng của kế hoạch chưa rõ ràng, người bỏ kinh phí cho rằng họ có quyền quyết định chất lượng trùng tu di tích, người dân xây dựng sửa chữa không xin phép gây nên hậu quả là di tích bị thay đổi cảnh quan, sai với Luật DSVH; bộ máy quản lý di tích còn mỏng, trình
độ chưa đồng đều, đặc biệt là ở cấp xã; hệ thống văn bản QLNN về DTLS-VH tại Kiên Giang chưa nhiều, chủ yếu là văn bản chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ của SVHTT Tình trạng xuống cấp của nhiều di tích vẫn còn tồn tại ở nhiều địa phương; quy định hiện hành về trách nhiệm QLNN của các cấp còn khái quát, chưa cụ thể; công tác tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu hệ thống DTLS-VH còn hạn chế; nguồn nhân lực bảo vệ di tích thì mang tính dân sự và 2/3 kiêm nhiệm là người lớn tuổi chưa được đào tạo bài bản, mà chủ yếu là do kinh nghiệm thực tế; công tác khen thưởng và chế tài chưa kịp thời; các hoạt động về hợp tác quốc tế còn rất ít và thiếu trọng tâm; phối hợp trong việc thanh tra, kiểm tra các DTLS-VH chưa thường xuyên liên tục, còn hiện tượng giao khoán cho ngành văn hóa
Để khắc phục những tồn tại và nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về
di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới, tác giả đưa ra các giải pháp phù hợp với định hướng của Đảng, Nhà nước
Trang 15và tỉnh Kiên Giang cụ thể đó là: Xây dựng chương trình, kế hoạch bảo vệ, phát huy DTLS-VH; xây dựng hệ thống văn bản pháp quy ngày càng sát với tình hình thực tế; đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, bảo vệ, quảng bá giá trị DTLS-VH;
tổ chức nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học, áp dụng công nghệ trong quản lý di tích và xây dựng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực về bảo vệ và phát huy DTLS-VH; đẩy mạnh xã hội hóa về công tác di tích; có chính sách khen thưởng và chế tài hợp lý; tăng cường quản lý hợp tác quốc tế và gắn với phát triển du lịch; đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm trong di tích Để giải quyết được các giải pháp trên thì tác giả cho rằng yếu tố con người là quyết định nhất đối với công tác QLNN các DTLS-VH cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá trong giai đoạn hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp định tính: Để thực hiện được những mục đích nghiên cứu đề ra,
tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp tra cứu, sưu tầm tài liệu: Luận văn thu thập các thông tin, số liệu
từ văn bản, sách, tạp chí, internet của cơ quan QLNN như SVHTT Kiên Giang, BQL
di tích tỉnh, phòng VH-TT thành phố Rạch Giá về tình hình, thực trạng, kết quả hoạt động QLNN, bảo tồn và phương hướng phát huy các DTLS-VH của tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới
+ Phương pháp khảo sát thực địa (tháng 03 đến tháng 07/2019): Tác giả điền dã
đến địa bàn nghiên cứu để khảo sát, thu thập thông tin, tư liệu về thực trạng và công tác QLNN về di tích của tỉnh, của tám DTLS-VH cấp quốc gia của thành phố Rạch Giá từ năm 2010 đến nay Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 05 cuộc đối với những
người làm công tác quản lý nhà nước (SVHTT, BQL di tích tỉnh, phòng VH-TT thành phố, lãnh đạo UBND xã/phường và các BBV di tích ở địa phương)
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích đánh giá: Trên cơ sở tài liệu thứ cấp thu thập được tác giả tổng hợp, phân tích và rút ra những kết luận trong việc đánh giá thực trạng công tác QLNN các DTLS-VH cấp quốc gia ở thành phố, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các di tích
Trang 16+ Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình nghiên cứu các DTLS-VH cấp quốc gia về hoạt động QLNN về di tích thì tác giả sẽ so sánh cách thức quản lý của các tỉnh lân cận hiện nay như thế nào, hiệu quả ra sao, cần khắc phục để hoàn thiện tốt hơn Từ đó cho thấy rằng công tác QLNN các DTLS-VH cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang là rất cấp thiết và quan trọng
- Phương pháp định lượng
Tác giả xây dựng 02 bộ câu hỏi lấy ý kiến khảo sát về công tác QLNN, bảo tồn
và phát huy giá trị DTLS-VH đối với cơ quan QLNN, BBV tám di tích cấp quốc gia
ở thành phố Rạch Giá và người dân, khách thăm quan du lịch Từ đó thấy được thực trạng và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLNN về DTLS-VH ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
Ngoài hai phương pháp trên, trong luận văn còn sử dụng phương pháp tiếp cận
liên ngành (Quản lý văn hóa, sử học, bảo tàng học, du lịch học, ) để thực hiện các
nhiệm vụ do đề tài luận văn đặt ra
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
7.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần làm rõ hơn những vấn đề về lý thuyết quản lý nhà nước và quản
lý nhà nước trong lĩnh vực di tích, di tích lịch sử - văn hóa…
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
Nội dung luận văn cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia
Trình bày cụ thể các khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu, nội dung QLNN đối với DSVH, trách nhiệm của các cơ quan QLNN về DTLS-VH; tổng quan
về thành phố Rạch Giá và các DTLS-VH cấp quốc gia trên địa bàn thành phố
Trang 17Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
Trình bày, phân tích, đánh giá chủ thể quản lý và thực trạng để làm rõ những thành quả và tồn tại từng nội dung của công tác QLNN đối với tám DTLS-VH cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia
Từ thực trạng và những tồn tại, bất cập được trình bày ở chương 2 Tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLNN về DTLS-VH cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ
DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm
* Khái niệm Di sản văn hóa
Theo từ điển Tiếng Việt thì “Di sản văn hóa” với nghĩa Hán Việt là những tài
sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai
Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại Sản là tài sản, là những gì quý giá, có
giá trị Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên [39]
Điều 1 của Luật Di sản văn hoá Việt Nam nêu rõ định nghĩa về di sản văn hoá
như sau: “Di sản văn hoá bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định: “Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết; Ngữ văn dân gian; Nghệ thuật trình diễn dân gian; Tập quán xã hội và tín ngưỡng; Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian Di sản văn hóa vật thể bao gồm: Di tích lịch sử - văn hóa,
danh lam thắng cảnh (sau đây gọi là di tích); Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”
Điều 1 của Công ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 1972 định nghĩa di sản văn hóa như sau: “Các di tích: Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội họa hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học Các quần thể: Các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất của chúng hoặc sự nhất thể hoá của chúng vào cảnh quan Các thắng cảnh: Các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các
Trang 19di chỉ khảo cổ học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân
tộc học hoặc nhân chủng học” (UNESCO, Điều 1, 1972)
Phân loại di sản văn hoá: Việc tiến hành phân loại DSVH là một nhu cầu thiết thực, khoa học, góp phần hỗ trợ, nâng cao hiệu quả trong nghiên cứu, đặc biệt đối với công tác tu bổ, bảo tồn các DSVH Điều 4 của Văn bản hợp nhất Luật DSVH năm
2013 ghi rõ [71, tr 1]:
“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”
“Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”
Tuy nhiên, sự phân định này cũng chỉ mang tính tương đối với mục đích để nghiên cứu những đặc tính riêng của từng di sản Trên thực tế, yếu tố vật thể và phi vật thể có sự gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại để làm nên giá trị của một di sản Trong khi đó, DSVH phi vật thể là linh hồn, là cốt lõi, là biểu hiện tinh thần của DSVH vật thể; còn cái hiện hữu, cái làm nên DSVH vật thể thì tồn tại như là biểu hiện vật chất của DSVH phi vật thể ấy
Ngoài ra, còn có cách là căn cứ trên giá trị của di sản để phân chúng thành những nhóm di sản có giá trị đặc biệt quan trọng hay nhóm di sản có mức độ quan trọng cấp quốc tế; cấp quốc gia hay cấp địa phương Nhìn chung, các DSVH vẫn có bốn đặc điểm chung, đó là: Tính biểu trưng đại diện cho mỗi nền văn hóa của một quốc gia, một dân tộc; tính lịch sử là những đặc trưng của thời đại và đại diện cho thời đại sinh
ra chúng, nền văn minh và kỹ thuật tái tạo chúng; tính truyền thống lưu truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác được phát triển và sáng tạo mới trên nền của di sản cũ; tính nhạy cảm, dễ bị ảnh hưởng dưới các tác động khác nhau của con người, của điều kiện thời tiết, các phản ứng hóa học
Trang 20Theo tác giả thì đồng ý với định nghĩa Luật DSVH của Việt Nam; DSVH là bao gồm di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm vật chất, tinh thần được truyền từ thế hệ này đến thế khác ở nước Việt Nam DSVH Việt Nam là minh chứng cho lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc, là tài sản quý giá, là niềm tự hào của dân tộc và là một bộ phận của di sản văn hóa của thế giới Vì vậy, DSVH trở thành nguồn lực phi vật thể đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nước
ta
* Khái niệm bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa
- Khái niệm Bảo tồn
Năm 2012 Nguyễn Thịnh xuất bản công trình Di sản văn hóa Việt Nam - Bản sắc và những vấn đề về quản lý và bảo tồn, tác giả cho rằng: “Bảo tồn là những nỗ lực
nhằm tìm hiểu và nhận rõ được giá trị và ý nghĩa của di sản, đảm bảo gìn giữ các vật
liệu gốc, có thể cải tạo và nâng cấp cần thiết” [58, tr 84] Ngoài ra có thể hiểu: Bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động đặc trưng của con người để nhằm đảm bảo sự tồn tại lâu dài, ổn định duy trì tính xác thực (authenticity) của các quá trình phát triển và đa dạng của di sản văn hóa nhằm phát triển bền vững cho thế hệ hiện tại và tương lai [58, tr 85]
Theo tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt (2013) thì bảo tồn: “Giữ nguyên hiện trạng, không để mất đi: Bảo tồn di tích lịch sử; bảo tồn nền văn hóa các dân tộc” [76, tr 80]
- Khái niệm Phát huy
Trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt (2013), tác giả Nguyễn Như Ý cho rằng:“Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt nhân thêm tác dụng, thúc đẩy tiếp tục nảy nở nhiều hơn: Phát huy sức mạnh tập thể” [76, tr 1.243] Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì “Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy
nở thêm” [73, tr.768] Trong luận văn tác giả cùng quan điểm với công trình “ Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể ở Thăng Long - Hà Nội” của tác giả
Võ Quang Trọng (chủ biên) (2010): Phát huy có nghĩa là những “Hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong việc thực hiện xã hội, coi đó là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ít vật chất và tinh thần cho
Trang 21con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội” [61, tr 6]
* Khái niệm di tích
Theo tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn “Đại từ điển Tiếng Việt” xuất bản năm
2013 cho rằng di tích có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khảo cổ học nghiên
cứu”; nghĩa thứ hai: “Di tích là di sản văn hóa lịch sử bất động: Di sản văn hóa” [76] Còn trong quyển sách “Từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam thì định nghĩa: “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử” [73]
Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của Trường Đại học Văn hóa đưa ra khái niệm khoa học về di tích như sau: Là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại Như vậy, di tích là dấu vết của quá
khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử
Tại Chương 3, Điều 11 của Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH về phân loại di tích thì di tích được phân thành 4 loại [31, tr 6]:
- Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân);
ra quyết định công nhận; di tích quốc gia đặc biệt - là di tích có giá trị đặc biệt tiêu
biểu của quốc gia do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận trên cơ sở lựa chọn các di tích quan trọng đã được Bộ VHTTDL xếp hạng là di tích quốc gia [31]
Về hình thức quản lý di tích được chia thành 3 loại:
Trang 22- Di tích do Nhà nước trực tiếp quản lý: Là các di tích quốc gia đặc biệt và di
tích quốc gia do các BQL di tích được Nhà nước thành lập trực tiếp quản lý Nhà nước cấp lương, chi phí cho hoạt động thường xuyên, các chi phí sửa chữa trực tiếp cho
BQL di tích
- Di tích do cộng đồng dân cư trực tiếp quản lý: Là các di tích quốc gia, di tích
cấp tỉnh được giao cho tổ chức, nhân dân trực tiếp quản lý như đình làng, các chùa,
đền thờ
- Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý như: Nhà thờ dòng họ, nhà ở dân
cư trong các khu phố cổ, sắc phong, bảo vật của dòng họ
Tùy theo điều kiện khai thác giá trị di tích để phân thành 2 loại là di tích có khả
năng khai thác và di tích chưa có khả năng khai thác
Khái niệm di tích theo ý kiến của tác giả là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử của dân tộc Di tích giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước và do đó nó tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt
Nam hiện đại
* Khái niệm Di tích lịch sử - văn hóa
Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN của Hội đồng nhà nước, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 31/3/1984 về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn
hóa và danh lam thắng cảnh định nghĩa: “Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội” [24, tr 3]
Luật số 28/2001/QH10 của Quốc hội về Di sản văn hóa và Văn bản hợp nhất số
10/VBHN-VPQH của Quốc hội về Luật Di sản văn hóa đều định nghĩa: Di tích lịch
sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi
Trang 23trở lên; Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học [44; tr 73]
Theo Khoản 1, Điều 28 của Luật DSVH thì DTLS-VH phải có một trong các tiêu chí sau đây: Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật
Mỗi quốc gia trên thế giới đều đưa ra những khái niệm, quy định về di tích lịch
sử - văn hóa của dân tộc mình Trong Hiến chương Venice - Hiến chương quốc tế về
Bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ (năm 1964), tại Điều 1 có định nghĩa: “Di tích lịch sử không phải chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của nền văn minh riêng, một sự tiến hóa có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử” Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình
nghệ thuật lớn mà cả với những công trình khiêm tốn đã hội tụ được các ý nghĩa văn
hóa của quá khứ để lại
Tác giả ý kiến cho rằng khái niệm DTLS-VH là sản phẩm của nhiều thế hệ được lưu truyền cho đến nay, nó là kết tinh của một quá trình sáng tạo của con người, là thông điệp của quá khứ đến hiện tại và tương lai Vì vậy, nó là chứng cứ vật chất xác thực tiêu biểu về quá trình phát triển lịch sử của mỗi cộng đồng dân tộc và nhân loại
* Khái niệm Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
Quản lý di tích lịch sử - văn hóa là đối tượng đặc biệt, rất quan trọng cần được
bảo quản gìn giữ và phát huy “Quản lý di tích lịch sử - văn hóa có thể coi là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý (di tích lịch sử - văn hóa), giúp di tích lịch sử - văn hóa tồn tại bền vững, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói riêng và dân tộc nói chung” DTLS-VH là một bộ phận quan trọng cấu
thành DSVH, chính vì vậy mà việc quản lý DTLS-VH cũng cần tiến hành theo nội
Trang 24dung QLNN về DSVH được quy định tại Điều 54 của văn bản hợp nhất Luật DSVH
(2013)
Khái niệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa cũng có thể định nghĩa:
“Là hoạt động chấp hành, điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước được tiến hành trên cơ sở pháp luật và thi hành pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của
cá nhân, tổ chức trong việc bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa.”
DTLS-VH là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa dân tộc, vì vậy QLNN về
DTLS-VH định nghĩa: “Quản lý di tích lịch sử văn hóa chính là sự định huớng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích, làm cho các giá trị của
di tích được phát huy theo chiều hướng tích cực Việc quản lý di tích được thực hiện bởi các chủ thể quản lý (cơ quan quản lý, cộng đồng có di tích ) tác động bằng nhiều cách thức khác nhau đến đối tượng quản lý (các di tích) nhằm gìn giữ, bảo vệ và khai thác các giá trị của di tích phục vụ sự phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất
và tinh thần cho cộng đồng.”
Hoạt động QLNN gồm các yếu tố: Chủ thể, đối tượng và khách thể QLNN [22,
tr 7 - 8]
- Chủ thể QLNN về trùng tu DTLS-VH là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
trong việc quản lý trùng tu DTLS-VH
- Đối tượng QLNN về trùng tu DTLS-VH là các cá nhân hoặc tổ chức có liên
quan đến lĩnh vực trùng tu DTLS-VH
- Khách thể QLNN về trùng tu DTLS-VH là trật tự quản lý trong toàn bộ quá trình trùng tu DTLS-VH cũng như các hành vi của các cá nhân, tổ chức trong quá trình trùng tu DTLS-VH nhằm gìn giữ, bảo vệ và khai thác các giá trị của di tích phục
vụ sự phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần cho cộng đồng Như vậy, QLNN về DTLS-VH chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích, làm cho các giá trị của di tích được phát
huy theo chiều hướng tích cực Trong đó tập trung các nội dung:
- Bảo quản DTLS-VH: Là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế những nguy
cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc vốn có của
Trang 25DTLS-VH Bảo quản di tích gồm các hoạt động như bảo dưỡng thường xuyên cho di tích,
bảo quản cấp thiết và bảo quản phòng ngừa
- Tu bổ DTLS-VH: Là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo DTLS-VH với
mục đích đưa công trình đã hư hỏng về nguyên gốc, đảm bảo tính bền vững và thẩm
mỹ toàn công trình nhằm phát huy giá trị di tích Hoạt động tôn tạo thường chỉ được tiến hành đối với các hạng mục phụ trợ của di tích như cải tạo sân vườn, cảnh quan,
bổ sung nhà vệ sinh, nước, điện chiếu sáng
- Phục hồi DTLS-VH: Là hoạt động nhằm phục dựng lại DTLS-VH đã bị hủy hoại trên cơ sở các số liệu khoa học về DTLS-VH đó
Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải bảo đảm các yêu cầu: Giữ gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích; cần tiến hành lập quy hoạch, dự án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trừ trường hợp sữa chữa nhỏ không ảnh hưởng đến
yếu tố gốc cấu thành di tích (Điều 34, Luật DSVH) và các quy hoạch, dự án đã được phê duyệt phải được công khai tại địa phương nơi có di tích
Theo ý kiến của tác giả thì QLNN về DTLS-VH là quản lý bộ phận lớn kho tàng DSVH của dân tộc Việc quản lý DTLS-VH không chỉ đơn thuần là quản lý những giá trị văn hóa vật thể mà điều quan trọng hơn là làm cho những giá trị văn hóa phi vật thể gắn với di tích luôn sống động, song hành trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, làm cho các thế hệ sau nhận thức được tầm quan trọng của các di tích lịch sử văn hóa, biết bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp mà các thế hệ trước đã lưu
truyền lại
Tóm lại, cơ sở lý luận quan trọng, tiên quyết cho việc quản lý di sản chính là Luật DSVH do Quốc hội ban hành Luật định hướng đối tượng, nội dung, mục tiêu quản lý di sản đi vào nề nếp, góp phần thúc đẩy sự phối hợp trong thực hiện giữa các cấp, các ngành làm cho di sản trở thành nền tảng, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh
tế, văn hóa - xã hội ở địa phương
1.1.2 Nội dung và cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa
Nội dung và cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa được quy định cụ thể tại Chương 5, Mục 1, Điều 54, Điều 55, Điều 56 của Văn bản Hợp nhất số 10/VBHN-VPQH ngày 23/7/2013 của Văn phòng Quốc hội về luật Di sản văn hóa [71, tr 5]:
Trang 26Điều 54 Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa bao gồm:
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách
phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa;
3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa;
4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa;
5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
6 Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
7 Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
8 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và
xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa
Điều 55
1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa
2 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa
3 Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ
Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa
4 Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ
Trang 27Trách nhiệm của các cơ quan cụ thể là [68, tr 3 - 9]:
Đối với SVHTT Kiên Giang thì chịu trách nhiệm tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng QLNN về di tích trên địa bàn tỉnh; QLNN chuyên ngành về di tích theo quy định của pháp luật hiện hành và thực hiện các nhiệm vụ như: Lựa chọn các di tích đủ tiêu chí; phối hợp quản lý hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di tích; chỉ đạo và hướng dẫn phòng VH-TT cấp huyện phối hợp cơ quan liên quan về công tác chuyên môn; hướng dẫn trùng tu, tôn tạo DTLS-VH trên địa bàn tỉnh; thẩm định hoặc tham gia thẩm định các dự án về bảo tồn, phát huy giá trị di tích; tổ chức thực hiện các dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích trên địa bàn tỉnh từ nguồn ngân sách nhà nước sau khi được phê duyệt; quản lý và hướng dẫn các hoạt động lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với di tích; tổ chức thanh tra, kiểm tra và xử lý những vi phạm liên quan đến việc xâm hại di tích trên địa bàn tỉnh; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo tồn, phát huy giá trị di tích; chủ trì, phối hợp để tham mưu đề xuất với UBND tỉnh ban hành chính sách khuyến khích, huy động các nguồn lực trong xã hội tham gia vào các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích trên địa bàn tỉnh; tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức các hình thức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác quản lý DTLS-VH và danh lam thắng cảnh; đề xuất các đề tài nghiên cứu khoa học trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích; theo dõi, đôn đốc, giám sát và thường xuyên phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan, UBND cấp huyện triển khai thực
Trang 28hiện có hiệu quả công tác quản lý các nguồn tài chính để tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích; xây dựng kế hoạch, quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích theo Luật DSVH, Luật Xây dựng và các quy định hiện hành bằng nguồn ngân sách Trung ương, ngân sách của tỉnh và nguồn vốn xã hội hóa; tổng hợp kinh phí hàng năm
về công tác bảo quản, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích gửi cơ quan chức năng thẩm định, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; phối hợp với Sở Tài chính, các ngành
và đơn vị liên quan tham mưu UBND tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành các văn bản quy định về phí, lệ phí, về việc thu nộp, sử dụng phí, lệ phí trong việc quản
lý, bảo vệ, phát huy và khai thác các di tích; phối hợp với các cơ quan QLNN cấp tỉnh
về tôn giáo, BTS Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh xây dựng quy chế phối hợp về bảo
vệ, tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị đối với các di tích gắn với hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn và quản lý, hướng dẫn các hoạt động lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với di tích; phối hợp với Sở Nội vụ và các đơn vị có liên quan tổ chức triển khai việc kiện toàn bộ máy quản lý di tích phù hợp với điều kiện và yêu cầu thực
tế của địa phương; những nhiệm vụ cụ thể khác liên quan đến hoạt động quản lý di tích thực hiện theo quy định của pháp luật
Đối với các sở, ban, ngành, đơn vị cấp tỉnh có liên quan:
- Sở Nội vụ: Phối hợp với SVHTT tham mưu UBND tỉnh tổ chức bộ máy, bố trí, sắp xếp cán bộ; chủ trì, phối hợp với SVHTT và các sở, ban, ngành liên quan chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo đối với tổ chức và cá nhân trên địa bàn tỉnh
- Sở Tài nguyên và Môi trường: Phối hợp với SVHTT trong công tác lập bản đồ, tham mưu trình UBND tỉnh việc xác định ranh giới và cắm mốc ranh giới các khu vực bảo vệ di tích; phối hợp với SVHTT, các sở, ban, ngành có liên quan và UBND cấp huyện hướng dẫn lập hồ sơ, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với các di tích; phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan và UBND cấp huyện đầu tư ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến để bảo vệ môi trường bền vững tại những nơi có di tích
Trang 29- Sở Kế hoạch và Đầu tư: Chủ trì, phối hợp với SVHTT, Sở Tài chính và các sở, ban, ngành có liên quan tham mưu trình UBND tỉnh cân đối, bố trí các nguồn vốn đầu
tư thuộc vốn ngân sách tỉnh thực hiện kế hoạch công tác quản lý di tích
- Sở Tài chính: Thẩm định, đảm bảo kinh phí cho hoạt động quản lý di tích; kiểm tra việc cấp phát, quản lý và sử dụng kinh phí hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích theo quy định của pháp luật; phối hợp với SVHTT tham mưu UBND tỉnh Kiên Giang trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành các văn bản quy định việc thu nộp, sử dụng phí, lệ phí liên quan đến quản lý và khai thác các di tích trên địa bàn tỉnh
- Sở Xây dựng: Tham mưu UBND tỉnh hướng dẫn các định mức, đơn giá trong lĩnh vực xây dựng đối với di tích, giám sát thực hiện quy định trong lĩnh vực xây dựng đối với công tác bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích theo quy định của pháp luật; tham gia ý kiến trong công tác quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi DTLS-VH, danh lam thắng cảnh
- Sở Giáo dục và Đào tạo: Chủ trì, phối hợp với SVHTT, UBND cấp huyện tổ chức giáo dục cho học sinh các cấp học về bảo vệ và phát huy giá trị di tích; khuyến khích đưa việc học tập, thăm quan, nghiên cứu di tích vào chương trình giáo dục ngoại khóa hàng năm của các cấp học, trường học; khuyến khích các trường phổ thông đăng
ký nhận chăm sóc các di tích tại địa phương và xây dựng kế hoạch chăm sóc định kỳ đối với các di tích; tổ chức đánh giá kết quả thực hiện đối với các tập thể, cá nhân có thành tích trong việc triển khai thực hiện chăm sóc, bảo vệ di tích thông qua báo cáo
tổng kết phong trào “Xây dựng Trường học thân thiện, học sinh tích cực” và lồng
ghép vào các hoạt động sơ kết và tổng kết năm học
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Chủ trì, phối hợp với SVHTT và các
sở, ngành liên quan xây dựng quy hoạch, kế hoạch trong việc bảo vệ và phát huy các khu vực rừng đặc dụng, rừng phòng hộ nằm trong khu vực khoanh vùng bảo vệ di tích theo quy định
- Sở Khoa học và Công nghệ: Phối hợp với SVHTT trong việc đề xuất triển khai, quản lý việc ứng dụng các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học phục vụ việc phát hiện, quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích
Trang 30- Công an tỉnh: Phối hợp với SVHTT, UBND các cấp thực hiện công tác giữ gìn
an ninh, trật tự trong các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích, có biện pháp phòng chống cháy, nổ tại di tích, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi mua bán, trao đổi, vận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc di tích
- Sở Thông tin và Truyền thông: Phối hợp với SVHTT tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan thông tin đại chúng trên địa bàn tỉnh thường xuyên truyền thông, tuyên truyền sâu rộng về việc bảo vệ và phát huy giá trị của di tích
- Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Kiên Giang, Báo Kiên Giang: Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá về các di tích trên địa bàn tỉnh, thông tin về các hoạt động tuyên truyền sâu rộng về mục đích, ý nghĩa của việc bảo vệ và phát huy giá trị của di tích nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của công dân và toàn xã hội trong công tác quản lý di tích
Đối với UBND cấp huyện: Trực tiếp quản lý di tích đã xếp hạng và di tích có trong danh mục kiểm kê trên địa bàn, quyết định thành lập các BQL di tích, BBV di tích thuộc thẩm quyền quản lý; phối hợp với SVHTT và các cơ quan chức năng chỉ đạo, tăng cường công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích và xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý di tích gắn với phát triển du lịch;
tổ chức tuyên truyền, phổ biến những quy định pháp luật về di tích, phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời, bảo vệ, xử lý các vi phạm đối với di tích và báo cáo, đề xuất, đề nghị
cơ quan có thẩm quyền trong việc xếp hạng di tích; xây dựng kế hoạch bảo vệ, bảo quản, tu bổ, phát huy giá trị di tích trên địa bàn; chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng dự
án trình cấp có thẩm quyền thỏa thuận, phê duyệt theo trình tự quy định của pháp luật; lập và trình các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt các dự án bảo quản, tu
bổ và phục hồi di tích tại địa phương đối với dự án UBND huyện làm chủ đầu tư; phối hợp với SVHTT và các sở, ban, ngành có liên quan để xử lý những hành vi xâm hại đến di tích; tổ chức kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị các di tích trên địa bàn, đồng thời có biện pháp xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân
có hành vi xâm hại đến di tích trên địa bàn; có trách nhiệm chỉ đạo, xây dựng nội quy, quy chế hoạt động của BQL di tích là đơn vị sự nghiệp trực thuộc, BBV di tích trên địa bàn mình quản lý theo quy định của pháp luật
Trang 31Đối với UBND cấp xã: Trực tiếp quản lý các di tích chờ kiểm kê hoặc xếp hạng; tuyên truyền, phổ biến những quy định của pháp luật về bảo tồn, phát huy giá trị di tích tại địa phương; tổ chức bảo vệ, phát huy giá trị di tích tại địa phương, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong việc bảo vệ và quản lý di tích; tiếp nhận khai báo
về di tích, kiến nghị việc xếp hạng di tích lên cơ quan cấp có thẩm quyền; phòng ngừa
và ngăn chặn kịp thời những hành vi làm ảnh hưởng tới di tích và cảnh quan môi trường của di tích; ngăn chặn và xử lý các hoạt động mê tín dị đoan tại di tích theo thẩm quyền
Đối với BQL di tích và BBV di tích trực thuộc UBND cấp huyện: Trực tiếp quản
lý di tích, xây dựng nội quy và quy chế hoạt động của tổ chức theo chức năng nhiệm
vụ được UBND cấp huyện giao; xây dựng thực hiện kế hoạch hoạt động, kế hoạch tu
bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích trên cơ sở nguồn kinh phí quy định tại Điều 8 Quy định này theo quy định của Luật DSVH và các văn bản pháp luật khác có liên quan, thực hiện công tác kiểm kê, bảo quản, sưu tầm tài liệu, hiện vật gắn với di tích nhằm bổ sung cho phòng trưng bày di tích, tổ chức đón tiếp và hướng dẫn khách thăm quan, nghiên cứu tại di tích; báo cáo bằng văn bản tình hình hoạt động của di tích mình quản lý lên cấp trên trực tiếp và SVHTT hàng tháng, quý và năm; phối hợp với các ban, ngành liên quan phổ biến, tuyên truyền, giáo dục nhân dân chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật về DSVH, an ninh quốc phòng, vệ sinh môi trường, giữ gìn, bảo vệ và phòng, chống cháy nổ, các hoạt động kinh doanh tại di tích theo đúng quy định của pháp luật; ngăn ngừa kịp thời hiện tượng cơi nới, lấn chiếm, chủ động giải quyết các vụ việc vi phạm gây mất cảnh quan và gây mất thuần phong mỹ tục tại
di tích Tăng cường công tác kiểm tra, thông báo kịp thời cho UBND cấp xã, phòng VH-TT cấp huyện khi phát hiện các trường hợp di tích bị lấn chiếm, hủy hoại hoặc có nguy cơ bị hủy hoại; có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản cho các cơ quan có thẩm quyền cấp trên khi phát hiện di tích bị phá hoại, bị lấn chiếm, bị làm sai lệch giá trị,
bị hủy hoại hoặc có nguy cơ bị hủy hoại đến di tích
Trách nhiệm QLNN các DTLS-VH cấp quốc gia ở tỉnh Kiên Giang do SVHTT chủ công tham mưu cho UBND tỉnh Kiên Giang ban hành quy định, cụ thể là Quyết định số 02/2018/QĐ-UBND ngày 01/03/2018 của UBND tỉnh Kiên Giang ban hành
Trang 32Quy định quản lý di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Kiên Giang gồm 4 Chương, 15 Điều thay thế cho Quyết định số 2039/2000/QĐ-UB ngày 10/10/2000 của UBND tỉnh Kiên Giang nay đã hết hiệu lực thi hành
1.2 Tổng quan về di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
1.2.1 Tổng quan thành phố Rạch Giá
* Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Thành phố Rạch Giá được xem là “Thành phố biển” và được xác định là “Trung tâm Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội” của tỉnh Kiên Giang - Miền Tây Nam Bộ;
thành phố Rạch Giá có Quốc lộ 80 nối với các tỉnh, thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hà Tiên; nối liền với rất nhiều đảo thuộc tỉnh Kiên Giang; có vị trí địa lý nằm liền mép nước của Vịnh Thái Lan - Biển Tây Nam Tổ quốc, đường bờ biển dài trên 20 km, chiếm 1/10 chiều dài bờ biển của tỉnh [78, tr 2] Phía Đông thành phố giáp các huyện Tân Hiệp và Châu Thành; phía Nam giáp các huyện Châu Thành
và An Biên; phía Bắc giáp các huyện Hòn Đất và Tân Hiệp; phía Tây là ranh giới tiếp giáp vùng biển huyện Kiên Hải
Thành phố Rạch Giá là đô thị có chức năng, vị trí quan trọng nhất của tỉnh Kiên Giang, là một trong bốn cực tăng trưởng của vùng tứ giác Long Xuyên, nằm trên trục kinh tế động lực của tỉnh và là đô thị có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển bởi sức lan tỏa của các khu vực trọng điểm trong đầu tư phát triển của quốc gia như Khu kinh
tế ven biển Phú Quốc và cụm đảo Nam An Thới
Địa hình thành phố Rạch Giá tương đối bằng phẳng nên rất thuận tiện để phát triển giao thông, cơ sở hạ tầng giao thông nổi bật vì có đường bộ, đường hàng không, đường sông, đường biển [59, tr 2] Khí hậu có mùa khô và mùa mưa Nhiệt độ trung bình là 27,40C Ẩm độ: Cao nhất 94%, thấp nhất 61% Lượng nước bốc hơi trung bình
từ 1.100 m.m đến 1.200 m.m [14, tr 5] Bên cạnh đó, thành phố Rạch Giá có nhiều kênh, rạch đổ ra biển; không có sông lớn, chỉ có các kênh đào như: Kênh Rạch Giá -
Long Xuyên; kênh Cái Sắn (kênh Rạch Sỏi đi Vàm Cống); kênh Ông Hiển; kênh Rạch
Giá - Hà Tiên Theo Niên giám Thống kê năm 2017, diện tích của thành phố là 103,615 km2, dân số trung bình 244,511 nghìn người, mật độ dân số 2.360 người/km2
Trang 33là địa phương có dân số đông nhất tỉnh Nhân dân thành phố Rạch Giá còn thể hiện được sự cộng cư tự nhiên của ba dân tộc: Người Kinh chiếm 87,88%, người Hoa chiếm 5,06%, người Khmer chiếm 6,97%, còn lại là các dân tộc khác [14, tr 47]; [Phụ lục 1: Hình 1.2]
Số lượng hộ dân cư, xã, phường, ấp, tổ nhân dân tự quản đạt chuẩn văn hóa là 44,626 hộ đạt tỷ lệ 96,39% [14, tr 456] Tỷ lệ hộ nghèo ở thành phố là 1,18%; tỷ lệ
hộ cận nghèo là 1,77% [14, tr 463] Tốc độ đô thị hóa nhanh nên tỷ lệ tăng dân số cao
và mật độ dân số cũng tăng theo; dân số phân bổ không đồng đều
Với đặc điểm tự nhiên thuận lợi thì thành phố Rạch Giá có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, phát triển ra hướng quốc tế và hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn thành phố sẽ được quản lý, bảo tồn và phát huy một cách hiệu quả hơn
* Lịch sử hình thành thành phố Rạch Giá [62, tr 9 - 15]; [Phụ lục 1: Hình 1.2]
Theo khẩu truyền, có tên gọi Rạch Giá vì xưa kia nơi đây có rừng cây Giá mọc theo ven biển, có một lạch nước chảy ngang qua ra biển Theo sách Gia Định thành thông chí: Lạch Giá có tên chữ thường gọi là Giá Khê Ngoài ra, còn gọi là Giá Đà, Sái Phu…Tương truyền xưa, khu rừng cây giá này rất nhiều ong mật đóng ổ, người
“ăn” ong cạo mật bỏ tàng ong, sáp trắng trôi đầy sông, từ đó người Khmer mới gọi
là chợ Kramuol-so (sáp ong màu trắng)
Năm 1739, Mạc Thiên Tứ lập ra huyện Kiên Giang, đặt trấn lỵ tại đây Trong
Đại Nam nhất thống chí, mục “Thành Trì” có ghi: “Huyện nảo (đồn canh của huyện)
Kiên Giang mặt trước dài 19 trượng 2 thước, bề ngang dài 12 trượng 6 thước, ở địa phận xã Vân Tập, vào năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) Chợ Sái Phu, ở huyện Kiên Giang, tục danh là chợ Lạch Giá, phố xá liền lạc, ghe buôn đến đậu đông đảo.” Mục
Từ Miếu ghi: “Đền cổ Giá Đà, ở huyện Kiên Giang, nguyên trước gọi là miếu Hội đồng…; đền cổ Bắc Đế: Ở Kiên Giang, phía tả Lạch Giá…; đền Nguyễn Văn Điểu:
Ở địa phận xã Vân Tập, huyện Kiên Giang Ông Nguyễn Văn Điều, nguyên Quản cơ Vĩnh Long, năm Minh Mạng thứ 21 (1840) ông đi bộ vụ, đi bắt giặc bị trận vong được tặng chức Phó Quản cơ và thường có hiển linh, nên năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) người lấy nơi ấy lập đền thờ.”
Trang 34Xưa kia, phía Bắc chợ Rạch Giá là vùng đất hoang vắng, nhiều nơi đất bị ngập nước khá sâu; thú dữ thường lui tới… Người Việt và nhất là người Hoa ở xung quanh chợ Rạch Giá chỉ chuyên lo buôn bán, cuốc rẫy trên đất giồng Cũng có nhiều người Việt, người Khmer ở ngoại vi chợ làm ruộng
Sau đó, chợ Rạch Giá có bước phát triển, dần dần trở thành một hải cảng, quy tụ
cư dân, thuyền bè từ Hải Nam (Trung Quốc), Tân Gia Ba (Singapore), Xiêm (Thái Lan)… ra vào tấp nập Tả ngạn của Rạch Giá là làng Vĩnh Huề (Vĩnh Hòa) với chợ
búa, phố xá, chùa chiền sầm uất Bên cạnh làng Vân Tập với số đông cư dân làm nghề rẫy Hữu ngạn Rạch Giá là làng Thanh Lương nằm trên giồng đất cao; rừng chạy dọc theo biển, ở đây có khá đông người Khmer cư ngụ
Năm 1867, khi chiếm được tỉnh Hà Tiên (một tỉnh của Nam Kỳ lục tỉnh) giặc
Pháp đã lập một đồn binh ngay vàm sông Rạch Giá, gọi là đồn Kiên Giang Lúc đó đồn đắp bằng đất, lợp lá; về sau được sửa lại kiên cố bằng đá xây, nằm sau Văn phòng UBND tỉnh, hiện nay đã san bằng Cùng thời điểm này, thực dân Pháp đã thành lập hạt lỵ thuộc quản hạt Rạch Giá
Năm 1900 đổi thành tỉnh lỵ, thuộc tỉnh Rạch Giá; năm 1976, đổi thành thị xã Rạch Giá, thuộc tỉnh Kiên Giang Ngày 29/8/2005, Rạch Giá tổ chức lễ công bố Nghị định số 97/2005/NĐ-CP của Chính phủ về thành lập thành phố Rạch Giá thuộc tỉnh
Kiên Giang với 11 đơn vị hành chính cấp phường và 01 xã (cụ thể đó là phường Vĩnh Thanh Vân, Vĩnh Thanh, Vĩnh Quang, Vĩnh Bảo, Vĩnh Lạc, Rạch Sỏi, An Hòa, An Bình, Vĩnh Lợi, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Thông và xã Phi Thông) Vào năm 2014 thành phố
đạt đô thị loại II - điều đó đã trở thành sự kiện lịch sử của Rạch Giá Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Rạch Giá quyết tâm đến năm 2025 đạt đô thị loại I trực thuộc Trung ương
* Đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội
Vùng đất thành phố Rạch Giá là đô thị kinh tế biển, bao gồm dịch vụ, thương mại và đánh bắt thuỷ hải sản Thành phố biển miền Tây Nam này ngày càng có nhiều người biết đến hơn là bởi Rạch Giá đang sở hữu khu đô thị lấn biển đầu tiên và lớn nhất Việt Nam Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ thành phố Rạch Giá nhiệm kỳ (2010 - 2015) đã xác định cơ cấu kinh tế của thành phố: Thương mại, dịch vụ và du lịch; Công
Trang 35nghiệp - xây dựng; Nông nghiệp - Thủy sản Cơ cấu kinh tế đã chuyển biến theo hướng tích cực Kết quả năm 2011: Tỷ trọng Thương mại, Dịch vụ và Du lịch chiếm 70,72%; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 17,65%; Nông nghiệp và Thủy sản chiếm 12,64% Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 15,19%; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 38 triệu đồng, tương đương 1.857 USD Tổng huy động nguồn vốn trên 2.587 tỷ đồng cho đầu tư phát triển thành phố [16, tr 2] Hệ thống tín dụng ngân hàng, bưu chính viễn thông, nhà hàng, khách sạn…ngày càng phát triển mạnh, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng kinh tế của thành phố
Nhìn chung, kinh tế thành phố Rạch Giá hiện nay phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh, tạo ra nhiều sản phẩm có khả năng xuất khẩu trên thị trường quốc tế Chính vì vậy, thành phố Rạch Giá có điều kiện về phát triển du lịch biển, giao thương đường biển, đường bộ với các huyện, thị, thành phố trong tỉnh; có tiềm năng, lợi thế về phát triển thương mại - dịch vụ - du lịch, có nghề truyền thống đánh bắt và chế biến hải sản
Hằng năm thành phố Rạch Giá phấn đấu đều đạt và vượt các chỉ tiêu so với kế hoạch đề ra về công tác chăm lo cho các gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo,
trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ; các phong trào như “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” đều được sự tham gia nhiệt
tình của các tầng lớp Thành phố Rạch Giá hiện nay có 5 tôn giáo chính, có 43 cơ sở thờ tự; khách thăm quan dù ở đâu và ở nơi nào khi đến với nhân dân thành phố Rạch Giá thì đều biết đến lễ hội truyền thống kỷ niệm ngày hy sinh của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực diễn ra vào các ngày 26, 27 và 28 tháng Tám (âm lịch) hàng năm thu hút trên 1.000 ngàn lượt du khách đến dâng hương, cúng bái, tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng lễ hội; đây cũng là dịp giới thiệu, quảng bá tiềm năng du lịch và xúc tiến đầu tư, thương mại, phát triển kinh tế của tỉnh [62, tr 4] Những di tích lịch sử văn hóa - kiến trúc, bảo tồn - bảo tàng đã được chính quyền và nhân dân thành phố trùng tu, tôn tạo để du khách đến thành phố Rạch Giá có thể cảm nhận được lịch sử truyền thống mở đất và giữ đất của nhân dân qua các thời kỳ Công tác quản lý trên lĩnh vực văn hóa - xã hội luôn được quan tâm, chú trọng; các ngành chức năng thường xuyên tổ chức kiểm tra, nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý
Trang 36dứt điểm những trường hợp vi phạm Hoạt động thông tin tuyên truyền, cổ động (bằng pano, băngrol, ápphích ) luôn được chỉ đạo kịp thời và đầu tư đúng mức đáp ứng tốt
yêu cầu nhiệm vụ chính trị của thành phố Phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng, thể dục, thể thao được duy trì và phát triển mạnh mẽ bằng nhiều hình thức như tổ chức hội thi, hội diễn, liên hoan, sân chơi các mô hình câu lạc bộ, đội, nhóm đã trở thành nét đẹp văn hóa của người dân
Tóm lại, Kiên Giang giàu truyền thống văn hóa và lịch sử; riêng thành phố Rạch Giá có nhiều DTLS-VH cấp quốc gia và các danh lam thắng cảnh nổi tiếng Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển văn hóa, kinh tế, du lịch của thành phố Thiết nghĩ, khai thác giá trị di tích đưa vào phát triển du lịch của tỉnh vẫn còn nhiều mặt hạn chế, cho nên muốn nâng tầm du lịch theo cách thức này thì phải phân tích, đánh giá được thực trạng QLNN về DTLS-VH trên địa bàn tỉnh rồi từ đó đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả QLNN, bảo tồn và phát huy di tích từ việc gắn di tích với phát triển
di tích ra đời từ rất lâu, thậm chí có di tích trên 300 năm như di tích lịch sử - văn hóa
đình Vĩnh Hòa Trong số các di tích thì có 02 DTLS-VH (Đình Nguyễn Trung Trực, đình Vĩnh Hòa), 02 di tích lịch sử (Chùa Tam Bảo, mộ Huỳnh Mẫn Đạt), 03 di tích kiến trúc - nghệ thuật (Chùa Quan Đế, Nhà Bảo tàng Kiên Giang, chùa Láng Cát), 01
di tích lịch sử - nghệ thuật (Chùa Phật Lớn) Việc phân loại về di tích cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá chỉ có 02 loại: Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân), di tích kiến trúc nghệ thuật Di tích thể hiện được sự cộng cư của ba
dân tộc, cụ thể có 05 di tích của người Việt, 01 di tích của người Hoa và 02 di tích của
Trang 37người Khmer Dưới đây tác giả sẽ trình bày nguồn gốc, năm công nhận và giá trị của
tám di tích cấp quốc gia ở thành phố Rạch Giá đối với xã hội, cụ thể như sau:
* Di tích lịch sử - văn hóa đình Nguyễn Trung Trực [Phụ lục 1: Hình 1.3]
Tọa lạc tại phường Vĩnh Thanh [5] Đây là ngôi đình, hình thành năm 1840, lúc đầu đình có tên là đình thờ cá Ông Năm 1868, khi Cụ Nguyễn Trung Trực hy sinh tại pháp trường Rạch Giá, nhân dân lập linh vị đưa của cụ về thờ ở đây; sau 1954, đình được đổi tên thành đình Nguyễn Trung Trực cho tới nay Ông Nguyễn Trung Trực đã lập nên hai chiến công vang dội trong lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc, đó là đốt cháy tàu Espérance của giặc trên vàm sông Nhật Tảo vào ngày 10/12/1861 và ông chỉ huy nghĩa quân tiêu diệt đồn Rạch Giá ngày 16/6/1868 Ngày 13/10/1868 ông bị giặc Pháp tuyên án tử hình, trước mặt kẻ thù anh hùng dân tộc
Nguyễn Trung Trực đã khẳng định bằng câu nói bất hủ: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước
Nam mới hết người Nam đánh Tây”
Bộ Văn hóa công nhận đình thờ Nguyễn Trung Trực là di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia theo Quyết định số 191-VH/QĐ ngày 22/3/1988 Tại di tích còn có gian
trưng bày về “Thân thế và sự nghiệp anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực” Vào
năm 2014, mộ và đình được UNESCO bình chọn và công nhận là điểm du lịch văn
hóa tâm linh tiêu biểu, được tặng Kỷ niệm chương và Bảng vàng ngày 24/01/2015
Mộ và đình Nguyễn Trung Trực đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa và giáo dục truyền thống yêu nước cho mọi tầng lớp nhân dân Hằng năm, tại đình đã diễn ra các hoạt động lễ hội và văn hóa thu hút hàng ngàn lượt người dân tỉnh Kiên Giang và đồng bằng sông Cửu Long đến tham dự; là một ngôi đình “Tâm linh” đã gắn kết nhân dân lại với nhau, cùng coi nhau như “Con một nhà” trong những ngày diễn ra “Lễ giỗ” Ở đình Nguyễn Trung Trực có phòng thuốc nam miễn phí hoạt động từ năm
1989 đến nay (Theo người dân cảm nhận: Đây là địa chỉ của lòng nhân ái), tiếp sau
đó là phòng châm cứu hoạt động song song, người đến khám bệnh châm cứu ngày
càng đông, hầu hết là bà con ở vùng sâu, vùng xa, dân nghèo
* Di tích lịch sử - văn hóa đình Vĩnh Hòa [Phụ lục 1: Hình 1.4]
Tọa lạc tại phường Vĩnh Thanh Vân [55] Đình đã tồn tại gần 300 năm với tên
gọi đầu tiên là miếu Hội Đồng (Theo Ông Quách Dũ Minh - Phó BBV di tích năm
Trang 382002 cho biết: Người dân di cư từ Trung vào Nam, thấy ông có công trạng nên đem
về thờ ở đình, trước đó là thờ Đức Công Võ Tánh vì có công mở mang miền Nam và sau này thì đổi lại là miếu thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh (do vua cấp sắc), vị Tôn Thần thời Trung Hưng mà nhân dân cho là rất linh ứng); năm 1883, ngôi miếu cổ Hội Đồng
được xây dựng lại to hơn thành đình Vĩnh Hòa Hiện tại ở đình còn có 01 sắc phong của Vua Bảo Đại năm thứ 9 vào ngày 15/3/1934 ban sắc phong thần cho đình [5] Ngoài ra đình còn là điểm tựa của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực kháng Pháp, là nơi
hoạt động cách mạng của Chi bộ Đảng Cộng sản Rạch Giá (trước năm 1945), là địa
chỉ đỏ tiếp nhận và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào tỉnh Rạch Giá - Hà Tiên; đình
có một vị trí khá quan trọng trong phong trào cộng sản của tỉnh
Bộ Văn hóa công nhận đình Vĩnh Hòa là di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia theo Quyết định số 1570-VH/QĐ ngày 05/9/1989 Đình Vĩnh Hòa còn có giá trị văn hóa tâm linh đó là thờ con Ba Ba có chiều dài khoảng 1m, được phục chế nguyên hình
để thờ trong đình; nhưng giá trị nhất là những cổ vật đồ thờ trong di tích có niên đại
cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
Đình có giá trị lớn về 2 mặt lịch sử và sinh hoạt văn hoá cổ truyền như tổ chức hội hè, vui chơi như hát bội, múa lân - sư - rồng… Giá trị về kiến trúc, nghệ thuật: Kiến trúc theo kiểu đình chùa miền Bắc được nghệ nhân xưa chạm khắc điêu luyện thành những hình mẫu có giá trị nghệ thuật cao Điều đó nhằm gìn giữ phong tục, tập quán của người Việt trong thời kỳ phát triển lịch sử văn hoá, đánh dấu bước chân của người Việt đến đây mở mang bờ cõi
Dịp lễ hàng năm, vào ba ngày 14, 15 và 16 tháng Giêng (âm lịch), dân làng Vĩnh Hoà long trọng tổ chức lễ hội cổ truyền để dâng hương tưởng niệm vị thần Thành
Hoàng Bổn Cảnh, cầu Quốc thái dân an (hay còn gọi là Lễ hội Kỳ Yên) Phần lễ thì tổ
chức tế lễ theo nghi thức truyền thống trang trọng, còn phần hội tổ chức 03 đêm hát Bội và múa lân - sư - rồng, với khoảng 400 lượt người đến tham dự Ngày 27/5 âm lịch là ngày Lễ giỗ Võ Quốc Công thì có tổ chức đờn ca tài tử, phục vụ nhân dân đến thắp hương tế lễ
Trang 39* Di tích kiến trúc - nghệ thuật Chùa Quan Đế [Phụ lục 1: Hình 1.5]
Tọa lạc tại phường Vĩnh Thanh Vân [53] Vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) những người Hoa đến định cư ở Rạch Giá lập nên một ngôi miếu nhỏ bé bằng cây lá vừa làm nơi sinh hoạt tín ngưỡng vừa làm Hội quán gọi là Minh Hương Hội Quán
(Giải thích theo nhìn nhận của dân gian: Minh Hương là cách gọi những người Hoa đến cư trú ở Nam Bộ) Ngày 18/01/1882 đổi tên là Hội Quán Vĩnh Lạc; năm 1897,
Hội Quán xuống cấp nên đã xây dựng một ngôi miếu mới lấy tên là Miếu Quan Thánh
Đế (dân gian thì gọi là chùa Quan Đế) Chùa thờ Quan Thánh Đế (tức Quan Võ, người Sơn Tây đời Tam Quốc), ông là một vị tướng biểu tượng của trung nghĩa, cương
trực Dân gian còn gọi ông là Quan Công, Quan Đế, Quan Thánh Đế Quân, Quan Lão Gia, Tu Mỹ Công (ông râu đẹp) Đây còn là công trình văn hoá kết hợp kiến trúc với môi trường sinh thái tạo nên một không gian vừa đẹp, vừa thiêng, là chỗ dựa tâm linh của bà con người Hoa ở Rạch Giá Thế đất dựng chùa được bao bọc bởi dòng kinh
Ông Hiển (nay là đường Trần Phú) và sông Kiên hiền hoà, dưới con mắt của các nhà
phong thuỷ thì đây là nơi “Tụ thuỷ” đất lành Hiện tại ở chùa còn hai sắc phong giấy
màu vàng, viết chữ Hán do vua Tự Đức năm thứ 5 (Nhâm Tý) ngày 29/11 đóng dấu
Sắc Mệnh Chi Bảo, niên đại 1852: Sắc phong thứ nhất phong cho Quan Thánh Đế
Quân làm Thành Hoàng; sắc phong thứ hai phong cho thần Tư Hoả làm Thành Hoàng
Bộ Văn hóa xếp hạng chùa Quan Đế là di tích lịch sử - văn hóa (nay là di tích
kiến trúc - nghệ thuật) cấp Quốc gia tại Quyết định số 1571-VH/QĐ ngày 05/9/1989
Chùa trở thành nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người Hoa, người Việt ở trong và ngoài nước khi về chùa Chùa là một di tích nghệ thuật kiến trúc đặc sắc tổng hợp nét văn hóa truyền thống giữa người Việt và người Hoa, những người đã chung tay khai khẩn vùng đất hoang sơ trở thành khu đô thị trù phú, phồn vinh hôm nay di tích chùa Quan Đế còn là một DSVH quý giá của tỉnh Kiên Giang; đáng quý hơn nữa là chùa còn lưu giữ được nhiều cổ vật đồ thờ tự có giá trị Hằng năm, chùa có 6 lễ chính trong
đó ngày 24/6 (Vía Quan Thánh Đế) thu hút nhiều lượt khách đến tham dự; không khí
những ngày diễn ra lễ hội luôn vui tươi, náo nhiệt bởi có hội lân - sư - rồng biểu diễn góp vui và nhiều trò chơi dân gian vui nhộn nhằm góp phần giữ gìn những phong tục
văn hoá tốt đẹp của dân tộc [5]
Trang 40* Di tích kiến trúc nghệ thuật Nhà Bảo tàng Kiên Giang [Phụ lục 1: Hình 1.6]
Tọa lạc tại phường Vĩnh Thanh Vân [34] Ngôi nhà khởi công xây dựng năm
1911, khánh thành 1920; là một di tích kiến trúc nghệ thuật, cổ kính duy nhất của địa chủ phong kiến còn xót lại; được gìn giữ, bảo quản, tôn tạo cho đến ngày nay Đây là
ngôi nhà của địa chủ phong kiến họ Trần (người Quảng Đông, Trung Quốc); khi đó
Trần Chánh là con cháu của dòng họ Trần, con rể quan Tuần phủ Hà Tiên Huỳnh Mẫn
Đạt (lấy con gái thứ 6 của cụ Huỳnh) Trần Chánh sinh ra Trần Nhuệ, Trần Nhuệ là người có công xây dựng “Nhà Lớn”; Trần Nhuệ sinh ra Trần Quang Chiêu (thế hệ thứ ba) là người thừa hưởng ngôi nhà nên còn có tên gọi là “Nhà ông Ba Chiêu” Và đã
là nơi làm việc của nhiều cơ quan như: Năm 1946, toàn án tỉnh Rạch Giá; từ năm 1970-1973 làm Sở Mỹ; từ 1973-1975 Công ty đông lạnh; sau 1975 tỉnh Hội Phụ nữ Kiên Giang; sau đó Đoàn Văn Công tỉnh; cuối cùng giao lại làm Nhà Bảo tàng của
tỉnh Kiên Giang [5, tr 23]
Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xếp hạng Ngôi nhà số 21 đường Nguyễn Văn Trỗi là di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 993-QĐ ngày 28/9/1990 Di tích được dùng làm trưng bày cho Bảo tàng tỉnh, gồm có 05 phần: Kiên Giang đất nước con người; sản phẩm một số nghề truyền thống; di chỉ khảo cổ của nền văn hóa Óc Eo; giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển của Kiên Giang từ giữa thế kỷ XVIII cho đến nay; anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực Với mục đích giáo dục cho thế hệ sau những thành quả mà ông cha ta đã tạo dựng nên, vì thế cần phải giữ gìn và phát huy Nhà Bảo tàng Kiên Giang ngày càng hiệu quả hơn
Nhà Bảo tàng Kiên Giang được xây dựng vào thời kỳ Pháp xâm lược, ngôi nhà
có kiến trúc vừa cổ kính vừa hiện đại “Nửa Tây nửa Ta”; bên trong kiến trúc theo
kiểu nhà cổ, bên ngoài trang trí hoa văn theo lối kiến trúc của người phương Tây Nhà Bảo tàng giúp chúng ta hiểu rõ sự thăng trầm của lịch sử, sự đấu tranh anh dũng và lao động gian khổ của nhân dân để tạo nên một Kiên Giang giàu đẹp ngày nay Hàng năm, Nhà Bảo tàng tỉnh Kiên Giang thu hút nhiều đoàn đến thăm quan và tìm hiểu về
di tích và lịch sử hình thành của người dân Kiên Giang nơi đây