ĐỀ CƯƠNG TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG Câu 1: Khái niệm Tôn Giáo và Tín Ngưỡng Tôn Giáo: Là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận bằng trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin được thể hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa lý văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung của từng tôn giáo được vận hành bằng những nghi lễ, hành vi khác nhau của từng cộng đồng XH tôn giáo. (Phật Giáo, Công Giáo, Hồi Giáo)
Trang 1ĐỀ CƯƠNG TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG
Câu 1: Khái niệm Tôn Giáo và Tín Ngưỡng
Tôn Giáo:
- Là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận bằng trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như
ở thế giới bên kia
- Niềm tin được thể hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào thời kỳ lịch
sử, hoàn cảnh địa lý văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung của từng tôn giáo được vận hành bằng những nghi lễ, hành vi khác nhau của từng cộng đồng XH tôn giáo.
(Phật Giáo, Công Giáo, Hồi Giáo)
Tín ngưỡng:
- Tín ngưỡng là hệ thống những niềm tin và cách thức biểu lộ đức tin của con người đối với những hiện tượng tự nhiên hay xã hội; nhân vật lịch sử hay huyền thoại có liên quan đến cuộc sống của
họ nhằm cầu mong sự che chở, giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ phụng.
- Tín ngưỡng có trình độ phát triển ở cấp độ thấp hơn tôn giáo (Phạm vi trong một quốc gia, dân tộc, tộc người; nghi thức, nghi
lễ mang bản sắc vùng; ko có giáo luật, giáo lí, giáo chủ….)
- Tín ngưỡng có yếu tố gắn liền với thực tế cuộc sống của con người mặc dù cái “thiêng” nằm ngoài tính hiện thực
- Tín ngưỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo.
(Tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên)
Trang 2Câu 2: Chức năng vai trò TGTN với đời sống người Việt (gắn với đời sống cụ thể của người Việt xưa và nay)
Chức năng: 5 ý
Chức năng đền bù hư ảo
- Luận điểm nổi tiếng của C Mác: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” đã làm nổi bật chức năng đền bù hư ảo của tôn giáo Giống như thuốc phiện, tôn giáo đã tạo ra cái vẻ bề ngoài của “sự giảm nhẹ” tạm thời những nỗi đau khổ của con người, an ủi cho những sự mất mát, thiếu hụt của con người trong cuộc sống
- Chức năng đền bù hư ảo không chỉ là chức năng chủ yếu, đặc thù mà còn là chức năng phổ biến của tôn giáo
- Chức năng đền bù hư ảo không thể tách rời các chức năng khác của tôn giáo
Chức năng thế giới quan
- Khi phản ánh một cách hư ảo hiện thực, tôn giáo có tham vọng tạo ra một bức tranh của mình về thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức của con người dưới một hình thức phi hiện thực
- Bức tranh tôn giáo ấy bao gồm hai bộ phận: thế giới thần thánh và thế giới trần tục và trên cơ sở đó mà tôn giáo giải thích các vấn đề của
tự nhiên cũng như xã hội Sự lý giải của tôn giáo về thế giới nhằm hướng con người tới cái siêu nhiên , thần thánh, do đó nó đã xem nhẹ đời sống hiện thực
- Quan niệm này có thể tác động tiêu cực đến ý thức giáo dân, đến thái
độ của họ đối với xung quanh
Chức năng điều chỉnh
- Tôn giáo đã tạo ra một hệ thống các chuẩn mực, những giá trị nhằm điều chỉnh hành của những con người có đạo
- Những hành vi trong thờ cúng và trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình cũng như ngoài xã hội của giáo dân Hệ thống chuẩn mực, giá trị trong lý thuyết đạo đức và xã hội mà tôn giáo tạo ra đã ảnh hưởng quan trọng đến mọi hoạt động của con người
Trang 3- Những chuẩn mực, giá trị tôn giáo đã bị tước bỏ khá nhiều những đặc trưng khách quan và phụ thuộc vào những giá trị siêu nhiên, hư ảo
Chức năng giao tiếp
- Thể hiện ở khả năng liên hệ giữa những người có chung một tín ngưỡng
- Sự liên hệ (giao tiếp) được thực hiện chủ yếu trong hoạt động thờ cúng, sự giao tiếp với thánh thần được coi là sự giao tiếp tối cao
- Sự liên hệ giữa các giáo dân còn có sự giao tiếp ngoài tôn giáo như liên hệ kinh tế, liên hệ cuộc sống hàng ngày, liên hệ trong gia đình Những mối liên hệ ngoài tôn giáo có thể lại củng cố, tăng cường các mối liên hệ tôn giáo của họ.
Chức năng liên kết
- Trong các xã hội trước đây, tôn giáo với tư cách là bộ phận tất yếu trong cấu trúc thượng tầng đã đóng vai trò quan trọng của nhân tố liên kết xã hội, nghĩa là nhân tố làm ổn định những trật tự
xã hội đang tồn tại, dựa trên những hệ thống giá trị và chuẩn mực chung của xã hội
- Tuy nhiên không nên quan niệm một cách sai lầm rằng tôn giáo bao giờ cũng là nhân tố liên kết xã hội chủ yếu, bảo đảm sự thống nhất của xã hội Sự thống nhất của xã hội trước hết được bảo đảm bởi hệ thống sản xuất vật chất xã hội chú không phải bằng cộng đồng tín ngưỡng Hơn nữa trong những điều kiện xã hội nhất định, tôn giáo có thể biểu hiện như là ngọn cờ tư tưởng của sự chống đối lại xã hội, chống lại chế độ phản tiến bộ đương thời
Vai trò
- Góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam (tạo sự phong phú đa dạng, bảo tồn, phát huy )
- Góp phần tham gia phát triển xã hội (liên kết xã hội, tăng tính bền vững xã hội, phát triển kinh tế bền vững)
Trang 4- Góp phần giao lưu văn hóa với các quốc gia
Câu 3: Trình bày 2 xu hướng TGTN
Xu hướng hợp nhất: TG và TN là cùng 1kiểu
Xu hướng tách biệt: TG và Tn là riêng biệt
(Tín ngưỡng có trình độ phát triển thấp hơn TG)
Câu 4: So sánh TN và TG
Giống:
- Những người có tôn giáo (PG, TL, CG, HG) và có sinh hoạt tín ngưỡng dân gian (thờ
tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng, tín ngưỡng thờ Mẫu ) đều tin vào những điều mà
TG và TN truyền dạy Mặc dù họ không hề thấy những đấng tối cao bằng xương bằng thịt và ko hề nghe thây chính giọng nói của đấng linh thiêng đó (Niềm tin)
- Có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử giữa các cá thể vs nhau, giữa cá thể với xã hộ, với cộng đồng, giải quyết tốt các mối quan hệ gia đình trên cơ sở giáo lý tôn giáo và noi theo tấm gương của những bậc thờ trong TG và Tn đó (Hành vi ứng xử)
Khác:
Chưa thành hệ thống thần điện, còn mang
tính chất đa thần, tản mạn
(Thần Thánh)
Thần điện đã thành hệ thống dưới đạng đa thần hay nhất thần giáo
Còn có sự hòa nhập nhất định giữa thế giới
thần linh và con người Chưa mang tính
cứu thế
Tách biệt thế giới thần linh và con người, xuất hiện hình thức cứu thế giải thoát
Gắn với cá nhân và cộng đồng làng xã,
chưa thành giáo hội.
Chưa có hệ thống giáo lí, giáo luật, giáo
chủ và các tín đồ (Cơ cấu hoạt động)
Tổ chức giáo hội, hội đoàn khá chặt chẽ, hình thành hệ thống giáo chức
Có hệ thống giáo lí kinh điển, thể hiện quan điểm về vũ trụ và nhân sinh
Có hệ thống giáo luật được ban ra để duy trì nếp sống đạo trong TG đó.
Có các tín đồ đông đảo tự nguyện đi theo Nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán và
chưa quy thành quy ước chặt ché
(Nghi lễ)
Nơi thờ cúng riêng, nghi lễ thờ cúng chặt chẽ (chùa, nhà thờ, thánh đường)
Mang tính chất dân gian, sinh hoạt của dân
gian, gắn với đời sống nông dân
Không mang tính dân gian, mang nhiều nét dị biệt, có chăng chỉ là sự biến dạng theo kiểu dân gian hóa như Phật giáo dân
Trang 5(yếu tố hiện thực) gian
Câu 5: Phân tích Đk TN, KT, LS, VHXH ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của TN, TG ở VN.
1 Điều kiện tự nhiện
- Vị trí địa lý:
+ Nằm liền kề với 2 nền văn minh lớn của nhân loại ( Ấn Độ, Trung Quốc), ảnh hưởng bởi tôn giáo ở 2 khu vực này (Phật Giáo, Đạo
Giáo)
+ Nằm ở khu vực đông nam á lục địa, giáp biển đông là khu vực trung tâm của Đông Nam Á nên bị ảnh hưởng bởi các tín ngưỡng quanh khu vực
- Địa hình: Đồi núi - đồng bằng - biển Cấu tạo ngang - hẹp kéo dài từ bắc đến nam, ít thảo nguyên và không có sa mạc -> phát triển nông nghiệp lúa nước
+ có đường bở biển dài -> hình thành tín ngưỡng ngư nghiệp (thờ thần sông, thân biển, cá ông…)
- Khí hậu: Nhiệt đới ẩm gió mùa -> phát triển hệ sinh thái phổ tạp -> nhiều đối tượng để thờ
2 ĐK Kinh Tế
- Kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp
- Quy định mối quan hệ giữa con người với tự nhiên: hài hòa, thân thiện, đa thần
- Quy định lối sống: ưa sự ổn định, lâu dài, con người thường gắn bó với nhau thành nhiều thế hệ trong làng xã, coi trọng mối liên kết -> cơ
sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thành hoàng làng
- Tính mùa vụ: con ngừo nghĩ về sự luân hồi, vòng quay của cuộc đời, quan niệm cuộc sống sau khi chết có sự bất tử của linh hồn (dễ dàng tiếp thu phật giáo); có thời gian rảnh rỗi để tổ chức lễ hội, coi trọng việc duy trì và phát triển giống (tín ngưỡng phồn thực)
- Tâm thức nước: tính mềm dèo, linh hoạt, dễ dàng tiếp thu các tín ngưỡng, tôn giáo ngoại lai (Phật giáo đc dân gian hóa)
3 Lịch sử
- Quá trình dựng nước và giữ nước, chống giặc ngoại xâm bảo vệ độc
lập dân tộc -> hình thành tín ngưỡng thờ các anh hùng dân tộc
4 Văn Hóa:
- Truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” -> hình thành tín ngưỡng thờ mẫu, thờ tổ sư, tổ nghề, các anh hùng dân tộc
Trang 6Câu 6: Đặc Điểm TGTN ở VN
1 Tính phong phú, đa dạng của tín ngưỡng, tôn giáo ở VN
Đó là do điều kiện địa lý nước ta thuận lợi cho việc giao lưu của nhiều luồng tư tưởng, văn hoá khu vực và thế giới, lại chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh lớn của thế giới là Trung Hoa và Ấn Độ Nước ta có nhiều dân tộc cư trú (54 dân tộc) ở nhiều khu vực khác nhau, với điều kiện
tự nhiên, khí hậu, lối sống, phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Hơn nữa, bản tính người Việt luôn cởi mở, khoan dung nên cùng một lúc họ có thể tiếp nhận nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Từ những hình thức tôn giáo, tín ngưỡng sơ khai đến hiện đại, từ tôn giáo phương Đông cổ đại đến phương Tây cận, hiện đại, tất cả đã và đang cùng tồn tại bên cạnh tín ngưỡng dân gian, bản địa của nhiều dân tộc, bộ tộc khác nhau
2 Tính đan xen, hoà đồng, khoan dung của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Yếu tố này thể hiện rõ nét ở sự hội nhập trên điện thờ, chùa chiền,
đền đài, miếu phủ Ở đấy có thể thấy sự hiện diện của các thành thần, tiên phật của các tôn giáo chính và tín ngưỡng bản địa Người ta không chỉ thờ phụng ở đình, chùa, am, miếu, ma còn khấn vái “tứ phương”, kể cả những gốc cây, mô đất, khúc sông…
Về phía giáo sĩ: có nhiều tăng ni, phật tử thông thạo giáo lý Phật giáo, đồng thời nghiên cứu cả đạo giáo…
Giáo lý cùa các tôn giáo lớn ở Việt Nam có không ít những điều khác biệt và trong lịch sử đã xuất hiện những mâu thuẩn nhất định, nhưng nhìn chung, chưa có sự đối đầu dẫn đến chiến tranh tôn giáo
Tín ngưỡng tôn giáo VN là hòa đồng, đan xen, hỗ trợ lẫn nhau Truyền thống “Tam giáo đồng nguyên”, “Ngũ chi hợp nhất” được kết tinh trong đạo Cao đài Những tôn giáo độc thần như: Công Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo du nhập vào nước ta cũng như tôn giáo nội sinh (Cao Đài, Hòa Hảo) ít nhiều đều có tính đan xen, hòa đồng dung hợp với nhau với tín ngưỡng bản địa
3 yếu tố nữ trong hệ thống tín ngưõng, tôn giáo ở Việt Nam: trong lỉch sử
chống giặc ngoại xâm, người phụ nữ có vai trò quan trọng trong xã hội không chỉ vì họ gánh vác công việc nặng nề thay chồng nuôi con ở hậu phương mà còn xông pha trận mạc Hơn nữa, ở một xứ sở thuộc nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, vốn coi trọng yếu tố âm - đất - mẹ, người
mẹ biểu tượng cho ước muốn phong đăng, phồn thực; hình tượng của sự sinh sôi, nãy nở, sự trường tồn của giống nòi, sự bao dung của lòng đất Vì vậy, một trong những đặc điểm đáng quan tâm trong tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam là truyền thống tôn thờ yếu tố nữ
Trang 74 thần thánh hoá những người có công với gia đình, làng, nước: Con
người Việt Nam vốn có lòng yêu nước, trọn tình “uống nước, nhớ nguồn”,
“ăn quả nhớ người trồng cây” nên tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cũng thấm đượm tinh thần ấy Từ xưa, ở Việt Nam đã hình thành 3 cộng đồng gắn bó với nhau là gia đình, làng xóm và quốc gia
Gia đình là tế bào của xã hội, dù nghèo hay giàu, song nhà nào cũng
có bàn thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ - những người đã khuất
Làng xóm có cơ cấu, thiết chế rất chặt chẽ Mỗ làng có phong tục, lối sống riêng Trong phạm vi làng xã từ lâu đã hình thành tục thờ cúng thần địa phương và việc thờ cúng này trở nên phổ biến ở nhiều tộc người
Những người có công với gia đình, làng xóm, đất nước đều được người Việt Nam tôn vinh, sùng kính
5 tín đồ các tôn giáo Việt Nam hầu hết là nông dân lao động Bởi vì:
Nước ta là nước nông nghiệp, nông dân chiếm tỷ lệ rất lớn, nên tín đồ hầu hết là nông dân, có tinh thần lao động cần cù, yêu nước, căm thù giặc Nhìn chung, tín đồ các tôn giáo Việt Nam đến với tôn giáo ở cấp độ tâm lý, tình cảm; hiểu giáo lý không sâu sắc nhưng lại chăm chỉ thực hiện những nghi
lễ tôn giáo và sinh hoạt cộng đồng tín ngưõng một cách nhiệt tâm, ít sùng tín, những cũng có một số ngộ nhận, cả tin khi bị lợi dụng tôn giáo
6 Một số tôn giáo ở Việt Nam bị các thế lực thù địch phản động trong và ngoài nước lợi dụng vì mục đích chính trị Tôn giáo nào cũng có 2 mặt:
nhân thức tư tưởng và chính trị Chín vì vậy, tuy mức độ có khác nhau, nhưng giai đoạn lịch sử nào thì các giai cấp thống trị, bóc lột vẫn chú ý sử dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo
Các thế lực trong và ngoài nước đang âm mưu gắn ngọn cờ nhân quyền với tự do tín ngưỡng, tôn giáo; phá vỡ khối đoàn kết dân tộc; gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc, gây nên những điểm nóng; biến tôn giáo đối trọng với Đảng ta hòng xóm xoá bỏ CNXH ở nước ta Vì vậy, một mặt phải đáp ứng đúng như cầu tín ngưỡng chính đáng của nhân dân, mặt khác phải luôn cảnh giác với âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch
7 Hoạt động tôn giáo trong những năm gần đây có biểu hiện mang tính chất thị trường Một bộ phận lớn đồng bào dân tộc thiểu số theo tôn giáo,
như: cộng đồng dân tộc khơ me ở Tây nam bộ theo phật giáo Nam tông; công giáo, tinh lành phát triển mạnh ở đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây nguyên, Tây Bắc; cộng đồng người Chăm theo Bà La Môn, Chăm Bà Ni, Chăm IsLam…
Trang 8Câu 7: Các tín ngưỡng ở Vn : thờ cúng tổ tiên, thành hoàng làng, mẫu
- Nguồn gốc, bản chất
- Đặc điểm: điện thờ, nghi lễ, nghi thức
- Thực trạng trong xh xưa và nay
- Quá trình thiêng hóa nhân vât đc thờ
A Thờ cúng tổ tiên
1 Nguồn gốc:
Có ý kiến cho rằng hình thành vào thời Bắc Thuộc cùng với những ảnh hưởng của VH Hán
- Quan niệm tâm linh của con người về TG:
Vạn Vật hữu linh/Sự tồn tại bất diệt của linh hồn/sự nhìn nhận về cái chết/mối liên hệ giữa người sống và người chết
- Cơ sở kinh tế xã hội
+ Xã hội cổ truyền ng Việt với nền KT tiểu nông tự cung, tự cấp ->là môi trường cho sự hình thành và duy trì tín ngưỡng thờ tổ tiên
+ Lối sống ổn định, gắn bó giữa các thành viên cùng một thế hệ và giữa các thế hệ -> Hình thành ý thức thờ tín ngưỡng, thờ tổ tiên, làng xã
- Hình thức tổ chức XH:
+ Theo tokarep (nhà dth ng Nga): Thờ cúng linh vật xuất hiện mẫu hệ, thờ cúng tổ tiến gắn với thời phụ hệ
+ Ng đàn ông làm chủ gia đình, nắm giữ quyền hành quán lý gia đình,
có vai trò quan trọng trong hoạt động kt
+ Vợ con phải phục tùng và tôn trọng uy quyền
- Tư tưởng Nho Giáo
+ Vănhóa Hán với cơ sở lý luận Nho giáo đã tạo điều kiện thuận lợi cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tồn tại, duy trì và phát triển
+ Ý thức về tổ tiên và mối liên hệ giữa con cháu với tổ tiên được lễ thức hóa
+ Quan niệm về giữ Hiếu
+ Học thuyết có tính lí luận về gia đình - tế bào của xã hội và “tề gia” được coi là 1 nấc thang trong quá trình tu thân
2 Bản chất: Thờ những người đã khuất trong gia đình
3 Đặc điểm:
+ Bao nhiêu con cháu dòng dõi trong một hộ lập chung 1 nhà thờ (từ đường)
+ Có hộ xây một cái bàn lộ thiê, dựng bia đá, ghi tên thụy hiệu
+ Ngày nay có ban thờ trong mỗi gia đình; có ba bát hương trên ban thờ
+ Các ngày lễ, tết, ngày giỗ mọi người tụ họp gặp gỡ lễ lạc tại các nơi để thờ
Trang 9+ Các hành vi thờ thường vái lạy…