Chuyên đề số 49 Quan điểm của Đảng và chính sách của nhà nước đối với tôn giáo, tín ngưỡng trong quá trình đổi mới Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo những năm gần đây được nhiều người quan tâm Có tình hình[.]
Trang 1Chuyên đề số 49
Quan điểm của Đảng và chính sách của nhà nước đối với tôn giáo, tín ngưỡng
trong quá trình đổi mới
Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo những năm gần đây được nhiều người quantâm Có tình hình đó không chỉ do sự phục hồi, phát triển mạnh mẽ của các hìnhthức tín ngưỡng, tôn giáo ở một số nước mà còn vì trong thời đại ngày nay, tôngiáo có liên quan đến những cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc đang diễn ra ở nhiềunơi; không chỉ vì nó có vai trò và tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực của đời sống
xã hội mà còn biểu hiện của sự bảo lưu, gìn giữ bản sắc văn hóa của từng cộngđồng dân tộc trước xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa hiện nay Tín ngưỡng, tôngiáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, nhưng lại liên quan đến cáclĩnh vực của đời sống xã hội tác động đến văn hóa, đạo đức, kinh tế, xã hội, anninh và quốc phòng
Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau
và đang có xu hướng phát triển Sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnhđạo là một quá trình Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, việc đổi mớinhận thức, đánh giá và ứng xử với tôn giáo cũng cần được đặt ra
I- CƠ Sở Đổi Mới TƯ DUY Về TÔN Giáo, Tín Ngưỡng Của Đảng TA
Đổi mới về tôn giáo là một quá trình lâu dài, quá trình ấy đòi hỏi phải từngbước được hoàn thiện Tuy nhiên, sự đổi mới đúng đắn và khoa học phải dựa trên
cơ sở lý luận và thực tiễn, đối với nước ta, trực tiếp nhất là tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề tôn giáo, những đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, kinh nghiệmgiải quyết vấn đề tôn giáo trong tiến trình cách mạng ở nước ta và hoàn cảnh lịch
sử trong nước cũng như quốc tế hiện nay
1- Cơ sở lý luận của việc xây dựng và thực hiện chính sách đối với tôn giáo ở Việt Nam
Trang 2Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác
-Lênin về tôn giáo trong điều kiện cụ thể phù hợp với điều kiện Việt Nam, trởthành cơ sở lý luận quan trọng cho việc đề ra chủ trương, chính sách tôn giáo hiệnnay
a - Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo, đoàn kết giữa các tôn giáovới nhau nằm trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Người Đoàn kết, theo tưtưởng Hồ Chí Minh, "Không những rộng rãi, mà còn đoàn kết lâu dài Đoàn kết làmột chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị Ta đoàn kết để đấutranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựngnước nhà Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhândân thì ta phải đoàn kết với họ"1
Tư tưởng đoàn kết lương giáo ở Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sởsau đây:
Một là, kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc và khoan
dung tôn giáo
Hai là, dựa vào vai trò của quần chúng trong sự nghiệp cách mạng trong chủ
Nhờ nêu cao tinh thần đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc nên Hồ Chủtịch đã tập hợp xung quanh mình nhiều giáo sĩ, giáo dân hết lòng phấn đấu cho sự
1 Hồ Chí Minh Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1996, tr.438.
Trang 3nghiệp cứu nước, kiến quốc, từ đó xóa dần những định kiến, mặc cảm do lịch sử đểlại và âm mưu chia rẽ của kẻ địch
Theo Hồ Chí Minh, muốn đoàn kết những người có và không có tín ngưỡngcũng như có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tìm được sự tương đồng về lợiích vật chất và tinh thần; phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tínngưỡng của nhân dân; khắc phục dần những mặc cảm, định kiến do lịch sử để lại.Muốn đoàn kết lương giáo phải phân biệt được nhu cầu tín ngưỡng chân chính củađồng bào có đạo để đáp ứng kịp thời với việc các phần tử phản động lợi dụng tínngưỡng, tôn giáo để phê phán, đấu tranh
Muốn đoàn kết phải chú ý kế thừa giá trị nhân bản của tôn giáo, trân trọngnhững người thành lập các tôn giáo lớn, tranh thủ giáo sĩ, quan tâm đến giáo dân;
độ lượng, vị tha với những người lầm lỗi; đấu tranh kiên quyết với bọn phản độnglợi dụng tôn giáo
b - Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời chống âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giá.
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo là một trongnhững quan điểm quan trọng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về tôn giáo Tưtưởng đó được thể hiện nhất quán cả trong lý luận và hoạt động thực tiễn củaNgười, và đã trở thành nguyên tắc nền tảng xuyên suốt trong chính sách đối vớitôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
Dù là Chủ tịch Đảng, người đứng đầu Chính phủ, hay với tư cách là mộtcông dân, Hồ Chí Minh luôn thể hiện là một người mẫu mực trong việc tôn trọng
tự do tín ngưỡng tôn giáo của quần chúng nhân dân
Nội dung về quyền tự do tín ngưỡng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đầy đủ,toàn diện và sâu sắc Điều này được thể hiện rõ trong Sắc lệnh 234/SL mà Người
ký năm 1955 Tuy nhiên, tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng phải kiên quyết trừng
Trang 4trị những kẻ lợi dụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân, tuyêntruyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâmphạm đến tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác hoặc làm những việctrái pháp luật Người đã nhấn mạnh: "Bảo vệ tự do tín ngưỡng, nhưng kiên quyếttrừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo để phản Chúa, phản nước"1
Bên cạnh việc thừa nhận những giá trị tốt đẹp về đạo đức, văn hóa của tôngiáo, tín ngưỡng truyền thống, Người cũng phê phán mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu
và nhắc nhở việc bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan phải đi đôi với việc xây dựng nếp
sống văn hóa mới, xây dựng thuần phong mỹ tục
c- Hồ Chí Minh xác định đúng đắn mối quan hệ giữa tôn giáo với các lĩnh vực của đời sống xã hội
Một là, Hồ Chí Minh về một số mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc
Theo Hồ Chí Minh, đối với người có tôn giáo thì đức tin tôn giáo và lòngyêu nước không mâu thuẫn, kính Chúa gắn liền với yêu nước, phụng sự thiên chúa
và phụng sự Tổ quốc Hồ Chí Minh không bao giờ xem nhẹ vấn đề tôn giáo, nhưng
trong mối quan hệ ấy, vấn đề dân tộc được đặt lên hàng ưu tiên, nước có vinh thìđạo mới sáng, nước có độc lập thì tín ngưỡng mới được tự do
Hai là, Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa đạo với đời
Tôn giáo là một trong những nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúngnhân dân Hồ Chí Minh luôn chú ý để đáp ứng cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinhthần cho đồng bào Nhưng nhu cầu vật chất luôn được ưu tiên đặt lên trên Ngườihướng tín đồ các tôn giáo sống tốt đời, đẹp đạo và nhắc nhở "các cấp ủy phải thực
sự quan tâm đến phần đời và phần đạo của đồng bào Công giáo" làm sao cho họ
"Phần xác ấm no phần hồn thong dong"
Ba là, Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa tôn giáo với văn hóa
Trang 5Hồ Chí Minh quan niệm tôn giáo vừa là một bộ phận cấu thành của văn hóavừa là di sản văn hóa của nhân loại Người rất chú ý khai thác những giá trị tốt đẹp
về văn hóa có trong tôn giáo để kế thừa, bổ sung làm giàu thêm nền văn hóa của ước nhà
n-Bốn là, Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa tôn giáo với đạo đức
Người đã khái quát giá trị đạo đức có trong tôn giáo: "Chúa Giê-su dạy: đạođức là bác ái
Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi
Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa "
Một mặt kế thừa, mặt khác, Hồ Chí Minh cũng phê phán đạo đức tôn giáokhi nó không còn phù hợp với đạo đức cách mạng
Năm là, Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị.
Là một chiến sĩ cách mạng, lẽ tất nhiên Người luôn đặt vấn đề tín ngưỡng,tôn giáo gắn liền với cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam Vì vậy,Người phải giải quyết một loạt vấn đề chính trị trong tôn giáo Qua hai cuộc khángchiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như công cuộc xây dựng CNXH
ở miền Bắc, Hồ Chí Minh đã động viên được nhiều chức sắc, tín đồ các tôn giáotham gia sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo
4- Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo có ý nghĩa lớn lao về lý luận Hồ Chí
Minh đã phát triển nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -Lênin về vấn đề tôn giáotrong điều kiện cụ thể ở Việt Nam Người đánh giá đúng mức vai trò, vị trí của tôngiáo trong đời sống xã hội với cả tính tích cực và tiêu cực của nó Hồ Chí Minh đãđặt nền móng cho việc Nhà nước quản lý tôn giáo
Gía trị và ý nghĩa thực tiễn: tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo có tính định
hướng cho việc giải quyết tôn giáo trong tiến trình cách mạng ở Việt Nam Quá
Trang 6trình hình thành tư tưởng của Người về tôn giáo gắn liền với thực tiễn đấu tranhgiải phóng dân tộc và xây dựng CNXH.
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là nhờ sức mạnh của đoàn kết, trong đó
có sự đóng góp của tư tưởng đoàn kết lương giáo của Hồ Chí Minh
2- Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và thực hiện chính sách đối với tôn giáo ở Việt Nam
a- Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Tôn giáo tồn tại ở một không gian cụ thể, việc xây dựng chính sách đối với
tôn giáo phải gắn liền với mảnh đất mà các tôn giáo đó đang tồn tại Quan điểm,chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta phải dựa vào đặc điểm tôngiáo, tín ngưỡng ở Việt Nam Tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam có một số đặcđiểm sau:
- Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau đang tồn tại
Nước ta là nơi thuận lợi cho việc giao lưu các luồng tư tưởng, văn hóa khácnhau ở khu vực và trên thế giới; lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của hai nền văn minhlớn là Trung Hoa và ấn Độ, đồng thời là một quốc gia có nhiều dân tộc cư trú ởnhững vùng với điều kiện tự nhiên, khí hậu, lối sống, phong tục, tín người, tôn giáokhác nhau Từ những hình thức tôn giáo, tín ngưỡng sơ khai đến hiện tại; từ tôngiáo phương Đông cổ đại đến phương Tây cận, hiện đại; tất cả đã và đang cùng tồntại bên cạnh tín ngưỡng dân gian, bản địa của nhiều dân tộc, bộ tộc khác nhau Lịch
sử đã từng chứng minh một số tôn giáo đã có ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần,nếp nghĩ và văn hóa của cả cộng đồng, đã góp phần nâng cao ý thức dân tộc Nhưngcũng có tôn giáo trong quá trình du nhập, hình thành và tồn tại đã bị các thế lựcchính trị lợi dụng vì mục đích ngoài tôn giáo Lịch sử hình thành và du nhập, số lư-ợng tín đồ, vai trò xã hội cũng như tác động chính trị của các tôn giáo ở nước tacũng rất khác nhau
Trang 7- Tính đan xen, hòa đồng, khoan dung của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
Trong lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của các hình thức tôn giáo, sự
kế thừa, bảo lưu, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau là xu hướng chung
Tính đan xen, hòa đồng của tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam được thể hiện ởmấy điểm sau:
+ Trên điện thờ của các tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống thường có sự hiệndiện của các vị thần, thánh, tiên, phật mà người ta gọi là hiện tượng "thờ phối"
+ Đối với người Việt Nam, không ít người sẵn sàng chấp nhận thờ cúng cảthần, thánh, tiên, phật lẫn các vị thần thuộc tín ngưỡng dân gian Người dân khôngchỉ thờ phụng ở những cơ sở thờ tự như: đình, chùa, đền, miếu, phủ, mà còn khấnvái "tứ phương"
+ Các triều đại phong kiến Việt Nam thường có thái độ mềm dẻo, khoandung tôn giáo
-Yếu tố nữ trong hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam có truyền thống tôn thờ yếu tố nữ
Từ Bắc đến Nam ở đâu cũng có nơi thờ tự: Phật bà, Thánh mẫu thu hútnhiều người đến cầu xin nữ thần
Một số tôn giáo, dù bản thân tôn giáo nơi sinh ra tôn giáo ấy có thái độ thếnào đối với nữ giới, thì khi du nhập vào nước ta cũng đã thay đổi ít nhiều cho phùhợp với văn hóa dân tộc
Nhiều nơi như đền, miếu, phủ trở thành nơi hương hoa, oản quả nhằm thờphụng những bậc thánh, thần thuộc giới nữ Thần thánh mang dạng nữ khá phổbiến, rất đa dạng và phong phú
- Tôn vinh những người có công với gia đình, làng xã và đất nước
Con người Việt Nam vốn yêu nước, trọng tình; luôn giữ truyền thống "uống
nước, nhớ nguồn", "ăn quả nhớ người trồng cây" Truyền thống ấy được thể hiện
Trang 8trong tín người thờ cúng Tổ tiên và tôn vinh những người có công với Tổ quốc vànhân dân
- Tín đồ các tôn giáo Việt Nam hầu hết là nông dân lao động
ở một nước nông nghiệp, nông dân chiếm tỷ lệ rất lớn nên Việt Nam hầu hếttín đồ các tôn giáo là nông dân lao động Nhìn chung, tín đồ là nông dân có lòngyêu nước, cần cù trong lao động, sống trọng tình nghĩa nhưng hiểu giáo lý khôngsâu sắc lắm, lại chăm chỉ thực hiện những nghi lễ tôn giáo và sinh hoạt cộng đồngtín ngưỡng một cách nhiệt tâm Họ cũng là những người dễ tin, có trường hợp bịbọn xấu kích động, lợi dụng
- Một số tôn giáo bị các thế lực phản động trong và ngoài nước lợi dụng vì mục đích chính trị
Nhìn chung, tôn giáo nào cũng có hai mặt: nhận thức tư tưởng và chính trị
Do hoàn cảnh lịch sử của dân tộc ta phải trải qua những thời kỳ chống ngoại xâmliên tục và kéo dài, nên tuy mức độ có khác nhau, nhưng giai đoạn lịch sử nào thìcác giai cấp thống trị bóc lột cũng vẫn chú ý sử dụng tôn giáo vì mục đích ngoàitôn giáo Thực tế ấy đã làm cho nhân dân ta luôn phải cảnh giác chống âm mưu lợidụng tôn giáo vì mục đích chính trị phản động Cho đến ngày hôm nay, cách mạngViệt Nam vẫn là đối tượng cho các lực lượng thù địch luôn có âm mưu chống phá
b- Những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc giải quyết vấn đề tôn giáo
trong lịch sử
Trong lịch sử dân tộc cũng như lịch sử Đảng ta, đã có nhiều bài học và kinh
nghiệm quý báu khi giải quyết vấn đề tôn giáo Đó là cơ sở thực tiễn cho việc đề rachủ trương, chính sách tôn giáo ở nước ta hiện nay
- Lịch sử dân tộc
Các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng thấy vai trò của tôn giáo giúpcho việc ổn định chính trị-xã hội, góp phần làm cho "quốc thái dân an" Dù cho có
Trang 9thời kỳ này, giai đoạn lịch sử khác có đề cao tôn giáo hoặc coi trọng một tôn giáonhất định, nhưng nhìn chung không coi tôn giáo ngoài quốc đạo là "tà giáo", "dịgiáo" tạo nên sự đối đầu như một số nước trên thế giới Chính sách khoan dung tôngiáo, ứng xử mềm dẻo với tôn giáo là bài học quý của lịch sử dân tộc Tuy nhiên,thái độ tả khuynh với tôn giáo ở thời Nguyễn đối với Công giáo, thời Ngô ĐìnhDiệm đối với Phật giáo cũng rút ra được bài học lịch sử cần thiết.
- Lịch sử Đảng
Từ khi ra đời cho đến quá trình lãnh đạo giành độc lập dân tộc và xây dựngCNXH, đối với tôn giáo, Đảng ta luôn có quan điểm nhất quán là: Đoàn kết tôngiáo, dựa vào cơ sở về tính thống nhất lợi ích, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng điliền với chống lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, luôn quan tâm đời sống vật chất vàtinh thần của đồng bào có đạo, bảo đảm bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi côngdân, không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo và các tôn giáo bình đẳng với nhau Tuynhiên, trong thực tiễn cũng có lúc, có nơi, có cán bộ, đảng viên biểu hiện "tả"khuynh với tôn giáo, làm ảnh hưởng xấu đến đoàn kết tôn giáo và dân tộc
c-Bối cách quốc tế và xu hướng của tôn giáo trong thời đại ngày nay
- Bối cảnh quốc tế và quan hệ đối ngoại của Việt Nam
Trong xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, việc hoạch định
và thực hiện chính sách tôn giáo không thể không tính đến yếu tố quốc tế và thờiđại Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độclập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hộinhập quốc tế với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy củatất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hhòabình, độc lập và pháttriển"
- Xu hướng của tôn giáo thế giới tác động đến tôn giáo ở Việt Nam hiện
nay
Trang 10Ngày nay, đang có sự biến đổi nhanh chóng và sâu sắc trên mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội và, do đó, tôn giáo cũng biến động theo Sự biến động ấy đangdiễn ra theo mấy xu hướng chủ yếu sau đây:
- Xu hướng đa dạng hóa tôn giáo
- Xu hướng thế tục hóa tôn giáo
- Xu hướng dân tộc hóa tôn giáo
-Xu hướng xuất hiện các "giáo phái mới", trong đó có một số giáo phái phinhân tính, phản văn hóa
Với tư cách là hình thái ý thức xã hội, thì tôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta sẽbiến đổi theo hoàn cảnh lịch sử mới, trong đó có tốt- xấu, tiêu cực - tích cực, cơhội- thách thức
II- QUAN Điểm Của Đảng Về TÔN Giáo, Tín Ngưỡng TRONG Thời Kỳ Đổi Mới
1- Những văn bản chủ yếu của Đảng thể hiện quan điểm, chủ trương đối với tôn giáo trong thời kỳ đổi mới
Qua các giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta có nhiều Thông tri, Chỉthị, Nghị quyết, Thông báo, Nghị định, Sắc lệnh… về tôn giáo, nhưng có một sốvăn bản quan trọng thể hiện sự đổi mới về nhận thức, quan điểm, chủ trương đốivới tôn giáo của Đảng ta trong những năm gần đây
Nhằm đáp ứng với yêu cầu quá trình đổi mới, tiếp tục phát huy lòng yêunước và động viên mọi tiềm năng, trí tuệ của đồng bào có đạo trong sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 16-10-1990 Bộ Chính trị có Nghịquyết số 24 - NQ/TW, ngày 21-03-1991, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Nghịđịnh 69-HĐBT "Quy định về các hoạt động tôn giáo" Ngày 2-7-1998 có Chỉ thị số
37 - CT/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới, ngày 19-4-1999, Chính phủ
ra Nghị định số 26/1999/NĐ-CP nêu rõ những quy định cụ thể của Nhà nước quản
lý những hoạt động tôn giáo
Trang 11Ngày 12-3-2003, tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa
IX đã ra Nghị quyết về công tác tôn giáo Sau đó, ngày 18-6-2004 tại phiên họp thứ 19 khóa XI, UBTVQH đã thông qua Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (Pháp
lệnh số 21/PL-UBTVQH), ngày 29-6-2004 Chủ tịch nước ký lệnh công bố và Pháplệnh có hiệu lực từ ngày 15-11-2004 Đến ngày 1-3-2005 Chính phủ ra Nghị định
số 22/2005/NĐ-CP, hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh tín ngưỡng, tôngiáo và Chỉ thị số 01/2005/CT- TTg ngày 04- 02- 2005 của Thủ tướng Chính phủ
về một số công tác đối với đạo Tin lành
Trên đây là những văn bản của Đảng và Nhà nước ta thể hiện quan điểm đổimới về tôn giáo hiện nay
2- Quá trình hình thành và những quan điểm mới của Đảng về tôn giáo
a- Đổi mới nhận thức và quan điểm về tôn giáo là nhu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới
Vào cuối thập kỷ 70 và nhất là giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX, hầu hết cácnước XHCN lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng kinh tế -xã hội kéo dài Cácnước này đều nỗ lực tìm kiếm một mô hình, con đường, cách thức và phương phápxây dựng CNXH phù hợp với thực tế và sự biến động nhiều mặt của thế giớiđương đại
Việt Nam, sau khi thống nhất đất nước, nhân dân ta đã bước sang giai đoạnlịch sử mới, đó là thời kỳ tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm
vi cả nước Nhưng, vào thập niên 80 của thế kỷ XX, như nhiều nước XHCN khác,Việt Nam cũng lâm vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế -xã hội
Trước tình hình đó, trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, trong Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta đã nêu nguyên nhân của tình trạng ấy là
do "bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, buông
Trang 12lỏng quản lý" Từ đó, Đảng đặt ra vấn đề cần đổi mới tư duy trên nhiều lĩnh vực,
trong đó có đổi mới nhận thức về vấn đề tôn giáo
b- Nghị quyết 24-NQ/TW- một dấu mốc thể hiện quan điểm mới của Đảng
ta về tôn giáo và công tác tôn giáo
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo được ghi nhận bắtđầu từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 Song, sự đổi mớinhận thức của Đảng ta trên lĩnh vực tôn giáo mới thực sự được đánh dấu ở Nghịquyết 24/NQ-TW năm 1990
Ngày 16-10-1990, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 24-NQ/TW được xem nhưdấu mốc thể hiện quan điểm mới của Đảng ta về tôn giáo và công tác tôn giáo mà
nổi bật là ba luận điểm quan trọng: "Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài Tín
ng-ưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo
có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới" Ngoài ra, Đảng ta còn
nêu ra 3 quan điểm chỉ đạo đổi mới công tác tôn giáo, 3 nhiệm vụ, 5 nguyên tắcchính sách và 5 chính sách cụ thể đối với tín đồ, với chức sắc, nhà tu hành, với tổchức giáo hội, với hoạt động từ thiện xã hội của tôn giáo, với hoạt động đối ngoại
và quan hệ quốc tế của tôn giáo đều thể hiện sự đổi mới trên lĩnh vực này
Từ Nghị quyết của Ban Bí thư số 40/NQ/TW ngày 1-10-1981 đến Nghịquyết của Bộ Chính trị số 24/NQ-TW ngày 16-10-1990, chưa đầy một thập niên
mà vấn đề tôn giáo đã có sự thay đổi rất lớn trong nhận thức và quan điểm
Chỉ trong vòng gần 10 năm, quan niệm về tôn giáo của Đảng ta đã thay đổiquan trọng Từ chú ý và khai thác sự khác biệt đến đề cao những điểm tương đồng
giữa cách mạng và tôn giáo, nhất là về đạo đức và văn hóa Từ tư tưởng cực đoan
muốn hạn chế tôn giáo đến thừa nhận sự tồn tại lâu dài là một bước tiến trong nhậnthức về tính lịch sử của tôn giáo Từ coi công tác tôn giáo chủ yếu nằm trong phạm
Trang 13trù an ninh sang xác định: "Cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quầnchúng"
Nghị quyết 24 đã làm thay đổi quan trọng về nhận thức và ứng xử với tínngưỡng, tôn giáo trong hệ thống chính trị và toàn dân -hướng tích cực Về cơ bản
đã tránh được khuynh hướng "tả khuynh vô chính phủ", khắc phục đáng kể nhữngcách hành xử thô bạo với hoạt động tôn giáo bình thường của đồng bào có đạo
c- Những quan điểm cơ bản của Đảng về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới
Trải qua gần 80 năm thành lập, chưa có thời kỳ lịch sử nào mà Đảng ta lại
có hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách hoàn chỉnh thể hiện sự vận dụngsáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo như thời kỳ1990-2008 Những quan điểm mới trên lĩnh vực tôn giáo vừa là sự vận dụng sángtạo và phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa là sự đúc rút từnhững bài học ở nhiều giai đoạn lịch sử, cũng như sự biến động của thế giới đươngđại
Cho đến nay, Nghị quyết số 25 - NQ/TW được coi là đỉnh cao cho sự tư duymới của Đảng trên lĩnh vực tôn giáo, trong đó nêu mấy quan điểm và chính sáchsau đây:
Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tínngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bìnhthường theo đúng pháp luật Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật,bình đẳng trước pháp luật
Hai là, Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn
dân tộc Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo
Trang 14tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Giữ gìn và phát huy những giá trị tích
cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc
và nhân dân Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng,
tôn giáo Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín
dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽnhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia
Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần
chúng Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làđiểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung Mọi côngdân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc
Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồng bào nêucao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc; thôngqua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, bảođảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào tôngiáo
Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị Công tác
tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp, các ngành,các địa bàn Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị
do Đảng lãnh đạo Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công táctôn giáo có trách nhiệm trực tiếp, cần được củng cố và kiện toàn Công tác quản lýnhà nước đối với các tôn giáo và đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để chốngđối chế độ chỉ thành công nếu làm tốt công tác vận động quần chúng
Năm là, vấn đề theo đạo và truyền đạo Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành
đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật