1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG

6 54 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 26,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chức năng Chức năng đền bù hư ảo Chủ nghĩa Mác cho rằng tôn giáo là một hiện tượng xã hội ,nguồn gốc của nó là ở trong những điều kiện tồn tại vật chất của xã hội trong những giai đoạn p

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG

I.Khái niệm:

tín ngưỡng: là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới và mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo và không có hệ thống điều hành, tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó rời rạc, lẻ tẻ tín ngưỡng phát triển đến một mức độ nào đó thì được goi là tôm giáo

tôn giáo: là niềm tin vào các lực lượng thiên nhiên, siêu hình mang tính thiêng liêng được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại 1 cách hư ảo nhằm giải thích những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, phụ thuộc vào những thời kì lịch sử, hoàn cảnh địa lí và văn hóa khác nhau Các tôn giáo này đều được vận hành ở các nghi lễ, các hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau

II Chức năng, vai trò của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống của con người (gắn với đời sống cụ thể của người Việt Nam xưa và nay).

1 Chức năng

Chức năng đền bù hư ảo

Chủ nghĩa Mác cho rằng tôn giáo là một hiện tượng xã hội ,nguồn gốc của nó là ở trong những điều kiện tồn tại vật chất của xã hội trong những giai đoạn phát triển xã hội nhất định ,nghĩa là ở các mối quan hệ hạn chế của con người trước những sức mạnh tự nhiên và đối với nhau Sự bất lực của con người trước những sức mạnh tự nhiên và xã hội đã nảy sinh ra nhu cầu đềnbù sự hạn chế của các mối quan hệ hiện thực ,quan hệ “trần gian”-thế giới bên kia Vì thế có thể gọi chức năng đền bù hư ảo là chức năng chủ yếu và đặc thù của tôn giáo

Luận điểm nổi tiếng của C Mác: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” đã làm nổi bật chức năng đền bù hư ảo của tôn giáo Giống như thuốc phiện, tôn giáo đã tạo ra cái vẻ bề ngoài của

“sự giảm nhẹ” tạm thời những nỗi đau khổ của con người, an ủi cho những sự mất mát, thiếu hụt của con người trong cuộc sống đồng thời gây ra những tác động có hại đối với con người khi tạo

ra ở họ nhu cầu thường xuyên tách khỏi hiện thực ,tiêm nhiễm cho họ những quan niệm phản khoa học Trong những điều kiện lịch sử cụ thể ,tôn giáo thậm chí có thể là chỗ dựa tinh thần cho những ước muốn chân chính của quần chúng bị áp bức ,phục vụ cho lợi ích của họ Chức năng đền bù hư ảo không chỉ là chức năng chủ yếu, đặc thù mà còn là chức năng phổ biến của tôn giáo Ở đâu có tôn giáo ở đó có chức năng đền bù hư ảo

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phức tạp, nó không chỉ thực hiện một chức năng mà gồm một

hệ thống chức năng xã hội Mặc dù là chức năng chủ yếu nhưng chức năng đền bù hư ảo không thể tách rời các chức năng khác của tôn giáo

Chức năng thế giới quan

Khi phản ánh một cách hư ảo hiện thực, tôn giáo có tham vọng tạo ra một bức tranh của mình về thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức của con người dưới một hình thức phi hiện thực Bức tranh tôn giáo ấy bao gồm hai bộ phận: thế giới thần thánh và thế giới trần tục và trên cơ sở đó

mà tôn giáo giải thích các vấn đề của tự nhiên cũng như xã hội Sự lý giải của tôn giáo về thế

Trang 2

giới nhằm hướng con người tới cái siêu nhiên , thần thánh, do đó nó đã xem nhẹ đời sống hiện thực Quan niệm này có thể tác động tiêu cực đến ý thức giáo dân, đến thái độ của họ đối với xung quanh

Chức năng điều chỉnh

Tôn giáo đã tạo ra một hệ thống các chuẩn mực, những giá trị nhằm điều chỉnh hành của những con người có đạo Những hành vi được điều chỉnh ở đây không chỉ là những hành vi trong thờ cúng mà ngay cả trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình cũng như ngoài xã hội của giáo dân

Vì vậy, hệ thống chuẩn mực, giá trị trong lý thuyết đạo đức và xã hội mà tôn giáo tạo ra đã ảnh hưởng quan trọng đến mọi hoạt động của con người Tất nhiên ở đây chúng ta cần phải chú ý rằng những chuẩn mực, giá trị tôn giáo đã bị tước bỏ khá nhiều những đặc trưng khách quan và phụ thuộc vào những giá trị siêu nhiên, hư ảo

Chức năng giao tiếp

Chức năng giao tiếp của tôn giáo thể hiện khả năng liên hệ giữa những người có chung một tín ngưỡng Sự liên hệ (giao tiếp) được thực hiện chủ yếu trong hoạt động thờ cúng, sự giao tiếp với thánh thần được coi là sự giao tiếp tối cao Ngoài mối liên hệ giao tiếp trong quá trình thờ cúng, giữa các giáo dân còn có sự giao tiếp ngoài tôn giáo như liên hệ kinh tế, liên hệ cuộc sống hàng ngày, liên hệ trong gia đình Những mối liên hệ ngoài tôn giáo có thể lại củng cố, tăng cường các mối liên hệ tôn giáo của họ

Chức năng liên kết

Trong các xã hội trước đây, tôn giáo với tư cách là bộ phận tất yếu trong cấu trúc thượng tầng đã đóng vai trò quan trọng của nhân tố liên kết xã hội, nghĩa là nhân tố làm ổn định những trật tự xã hội đang tồn tại, dựa trên những hệ thống giá trị và chuẩn mực chung của xã hội Tuy nhiên không nên quan niệm một cách sai lầm rằng tôn giáo bao giờ cũng là nhân tố liên kết xã hội chủ yếu, bảo đảm sự thống nhất của xã hội Sự thống nhất của xã hội trước hết được bảo đảm bởi hệ thống sản xuất vật chất xã hội chú không phải bằng cộng đồng tín ngưỡng Hơn nữa trong những điều kiện xã hội nhất định, tôn giáo có thể biểu hiện như là ngọn cờ tư tưởng của sự chống đối lại

xã hội, chống lại chế độ phản tiến bộ đương thời

Trên đây là hệ thống chức năng của tôn giáo, trong đó mỗi chức năng lại hàm chứa các chức năng khác

2 Vai trò tôn giáo

A ,Mặt tích cực

ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân

Hiện nay, trên tinh thần đổi mới nhận thức về tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta đã nhận đinh tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, trong tôn giáo có những giá trị tốt đẹp về đạo đức, văn hóa.Các giáo lý tôn giáo đều chứa đựng một số giá trị đạo đức nhân bản rất hữu ích cho việc xây dựng nền đạo đức mới và nhân cách con người Việt Nam hiện nay Giá trị lớn nhất của đạo đức tôn giáo là góp phần duy trì đạo đức xã hội, hoàn thiện nhân cách cá nhân, hướng con người

Trang 3

đến Chân - Thiện - Mỹ Trong Phát hiện ấn Độ, J.Nehru đã viết: "Rõ ràng là tôn giáo đã đáp ứng một nhu cầu trong tính chất con người và đa số người trên thế giới đều không thể không có một dạng tín ngưỡng nào đó Tôn giáo đã đưa ra một loại giá trị cho cuộc sống con người, mà dù một số chuẩn mực ngày nay không còn được áp dụng, thậm chí còn tai hại, nhưng những chuẩn mực khác vẫn còn là cơ sở cho tinh thần và đạo đức" Vấn đề đặt ra là, cần nhận điện đúng vai trò của đạo đức tôn giáo nhằm phát huy những giá trị tốt đẹp của tôn giáo và hạn chế những tác động tiêu cực của nó đối với việc hoàn thiện nhân cách con người hiện nay

B Mặt tiêu cực

Tuy nhiên, đạo đức tôn giáo cũng còn nhiều yếu tố tiêu cực, nó hướng con người đến hạnh phúc

hư ảo và làm mất tính chủ động, sáng tạo của con người Khi đã tin vào tôn giáo thì một số người trở nên quá phụ thuộc,bị động ,và có thể không kiểm soát được hành động của mình.Đặc biệt thì

có một số người đã không hiểu hết tôn giáo và họ trỏ thành những người trở nên mê tín dị

đoan.Trong khi tôn giáo bù đắp hư ảo cho con người ,hướng con người đến cái thiện khi con người sợ hãi đến sự tồn tại của mình tôn giáo vẽ ra những thế giới sau khi con ngườichết,trong khi đó thì mê tín đưa con người chìm sâu vào sự u mê không tin tưởng vào thế giới bên ngoài ,bị thụ động Về bản chất, chúng ta không thể quên rằng, thế giới quan tôn giáo là thế giới quan tiêu cực Một khi đã thâm nhập vào ý thức con người (các tín đồ, các giáo dân và quần chúng chịu ảnh hưởng của tôn giáo), nó sẽ làm cho con người lãng quên hiện thực, đặt tất cả tinh thần, tâm tưởng vào thần thánh hư ảo mà họ tin đó là giá trị đích thực

IV Trình bày 2 quan điểm cơ bản (2 xu hướng) về tôn giáo tín ngưỡng?

V So sánh sự giống và khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo (qua một số tiêu chí cơ bản)

* giống nhau:

- có niềm tin vào đấng siêu nhiên

- điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội

* khác nhau:

Có hệ thống giáo lí kinh điển, thể hiện quan

điểm vũ trụ và nhân sinh

Chưa có hệ thống giáo lí, chỉ có thần tích, huyền thoại, truyền thuyết

Có đủ 4 yếu tố cấu thành: giáo lí, giáo hội, giáo

luật, tín đồ

Không có

Thần điện đã thành hệ thống dưới dạng đa thần

hay nhất thần giáo

Chưa thành hệ thống thần điện, còn mang tính chất đa thần, tản mạn

Tách biệt thế giới thần linh và con người, xuất

hiện hình thức “cứu thế”, giải thoát

Còn có sự hòa nhập nhất định giữa thế giới thần linh và con người chưa mang tính cứu thế

Tổ chức giáo hội, hội đoàn khá chặt chẽ Hình

thành hệ thống giáo chức

Gắn với cá nhân, cộng đồng, làng xã Chưa thành giáo hội

Nơi thờ cúng riêng, nghi lễ thờ cúng chặt chẽ

(chùa, nhà thờ, thánh đường)

Nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán và chưa thành quy ước chặt chẽ

Ko mang tính dgian, có chăng chỉ là sự biến Mang tính chất dân gian, sinh hoạt của dgian,

Trang 4

dạng theo kiểu dgian hóa gắn vs đời sống nông dân

Chỉ theo 1 tôn giáo Có thể theo nhiều tín ngưỡng khác nhau Giáo sĩ chuyên nghiệp hành nghề suốt đời Không có giáo sĩ hành nghề chuyên nghiệp

suốt đời

Có tính quốc tế, là bước phát triển hơn của tín

ngưỡng

Gắn với 1 dân tộc cụ thể, mức kém phát triển hơn của 1 tôn giáo

VI Phân tích những điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hoá ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam?

* điều kiện tự nhiên:

Việt Nam là một quốc gia gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau và cũng là quốc gia

đa tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam nằm ở vị trí giữa ngã ba của Đông Nam Á, giáp biển Đông

-là nơi giao lưu của nhiều luồng tư tưởng văn hoá khác nhau và có vị trí thuận lợi cho việc tiếp thu hai nền văn minh ở phương Đông, đó là nền văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ Với địa hình đa dạng và phong phú, thuộc vùng nhiệt đới gió mùa nên thiên nhiên vừa ưu đãi vừa luôn đặt con người trước những nguy cơ, thiệt hại nặng nề của thời tiết khắc nghiệt Do đó, thường nảy sinh tâm lý sợ hãi dẫn đến nhu cầu cậy nhờ vào sự che chở của các lực lượng siêu nhiên Việt Nam vốn là nơi quần cư của nhiều tộc người, lại có sự pha tạp của nhiều dòng máu nên nhu cầu tâm linh cũng vô cùng phong phú, đa dạng

* lịch sử:

Lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nước gắn liền với quá trình giữ nước, ý thức chống giặc ngoại xâm đã trở thành ý thức thường trực trong mỗi người dân và của dân tộc, những người có công lớn trong việc giúp dân, cứu nước được cả cộng đồng tôn sùng và đời đời thờ phụng Trong tâm thức của người Việt luôn tiềm ẩn, chứa đựng đạo lý “uống nước, nhớ nguồn” Điều đó thể hiện rất rõ trong đời sống, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của họ

* văn hóa:

Trên toàn quốc, hiện nay có 95% dân số nước ta có đời sống tín ngưỡng Trong đó, có nhiều tín ngưỡng gắn với lễ và hội, mỗi tín ngưỡng, mỗi vùng lại có những lễ hội riêng mang đậm nét văn hóa của từng khu vực Các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền với đời sống kinh tế và tâm linh của mình

Ngoài ra, các truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc ta như Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ

kẻ trồng cây cũng a.h tới sự hình thành và phát triển của tôn giáo, tnguong ở nc ta

VII Những đặc điểm cơ bản của tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam?

Đặc điểm tự nhiên, lịch sử và văn hoá đó đã tác động sâu sắc đến tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, làm cho tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam có những đặc điểm sau:

1- Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau đang tồn tại: Đó là do điều kiện địa lý nước ta thuận lợi cho việc giao lưu của nhiều luồng tư tưởng, văn hoá khu vực và thế giới, lại chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh lớn của thế giới là Trung Hoa

Trang 5

và Ấn Độ Nước ta có nhiều dân tộc cư trú (54 dân tộc) ở nhiều khu vực khác nhau, với điều kiện

tự nhiên, khí hậu, lối sống, phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Hơn nữa, bản tính người Việt luôn cởi mở, khoan dung nên cùng một lúc họ có thể tiếp nhận nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Từ những hình thức tôn giáo, tín ngưỡng sơ khai đến hiện đại, từ tôn giáo phương Đông cổ đại đến phương Tây cận, hiện đại, tất cả đã và đang cùng tồn tại bên cạnh tín ngưỡng dân gian, bản địa của nhiều dân tộc, bộ tộc khác nhau

2- Tính đan xen, hoà đồng, khoan dung của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Yếu tố này thể hiện rõ nét ở sự hội nhập trên điện thờ, chùa chiền, đền đài, miếu phủ Ở đấy có thể thấy sự hiện diện của các thành thần, tiên phật của các tôn giáo chính và tín ngưỡng bản địa Người ta không chỉ thờ phụng ở đình, chùa, am, miếu, ma còn khấn vái “tứ phương”, kể cả những gốc cây, mô đất, khúc sông…

Về phía giáo sĩ: có nhiều tăng ni, phật tử thông thạo giáo lý Phật giáo, đồng thời nghiên cứu cả đạo giáo…

Giáo lý cùa các tôn giáo lớn ở Việt Nam có không ít những điều khác biệt và trong lịch

sử đã xuất hiện những mâu thuẩn nhất định, nhưng nhìn chung, chưa có sự đối đầu dẫn đến chiến tranh tôn giáo

Tín ngưỡng tôn giáo VN là hòa đồng, đan xen, hỗ trợ lẫn nhau Truyền thống “Tam giáo đồng nguyên”, “Ngũ chi hợp nhất” được kết tinh trong đạo Cao đài Những tôn giáo độc thần như: Công Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo du nhập vào nước ta cũng như tôn giáo nội sinh (Cao Đài, Hòa Hảo) ít nhiều đều có tính đan xen, hòa đồng dung hợp với nhau với tín ngưỡng bản địa

3- yếu tố nữ trong hệ thống tín ngưõng, tôn giáo ở Việt Nam: trong lỉch sử chống giặc ngoại xâm, người phụ nữ có vai trò quan trọng trong xã hội không chỉ vì họ gánh vác công việc nặng nề thay chồng nuôi con ở hậu phương mà còn xông pha trận mạc Dù mẫu quyền được thay thế bởi phụ quyền từ lâu, nhưng tàn dư chế độ này còn kéo dài dai dẵng đến tận ngày nay Hơn nữa, ở một xứ sở thuộc nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, vốn coi trọng yếu tố âm đất

-mẹ, người mẹ biểu tượng cho ước muốn phong đăng, phồn thực; hình tượng của sự sinh sôi, nãy

nở, sự trường tồn của giống nòi, sự bao dung của lòng đất Vì vậy, một trong những đặc điểm đáng quan tâm trong tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam là truyền thống tôn thờ yếu tố nữ

4- thần thánh hoá những người có công với gia đình, làng, nước: Con người Việt Nam vốn có lòng yêu nước, trọn tình “uống nước, nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” nên tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cũng thấm đượm tinh thần ấy Từ xưa, ở Việt Nam đã hình thành 3 cộng đồng gắn bó với nhau là gia đình, làng xóm và quốc gia

5- tín đồ các tôn giáo Việt Nam hầu hết là nông dân lao động Bởi vì: Nước ta là nước nông nghiệp, nông dân chiếm tỷ lệ rất lớn, nên tín đồ hầu hết là nông dân, có tinh thần lao động cần cù, yêu nước, căm thù giặc Nhìn chung, tín đồ các tôn giáo Việt Nam đến với tôn giáo ở cấp

độ tâm lý, tình cảm; hiểu giáo lý không sâu sắc nhưng lại chăm chỉ thực hiện những nghi lễ tôn

Trang 6

giáo và sinh hoạt cộng đồng tín ngưõng một cách nhiệt tâm, ít sùng tín, những cũng có một số ngộ nhận, cả tin khi bị lợi dụng tôn giáo

6- Một số tôn giáo ở Việt Nam bị các thế lực thù địch phản động trong và ngoài nước lợi dụng vì mục đích chính trị Tôn giáo nào cũng có 2 mặt: nhân thức tư tưởng và chính trị Chín vì vậy, tuy mức độ có khác nhau, nhưng giai đoạn lịch sử nào thì các giai cấp thống trị, bóc lột vẫn chú ý sử dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo

7- Hoạt động tôn giáo trong những năm gần đây có biểu hiện mang tính chất thị trường Một bộ phận lớn đồng bào dân tộc thiểu số theo tôn giáo, như: cộng đồng dân tộc khơ me ở Tây nam bộ theo phật giáo Nam tông; công giáo, tinh lành phát triển mạnh ở đồng bào dân tộc thiểu

số ở Tây nguyên, Tây Bắc; cộng đồng người Chăm theo Bà La Môn, Chăm Bà Ni, Chăm IxLan

Ngày đăng: 15/03/2021, 16:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w