Đề cương được trình bày cụ thể, rõ ràng, mục lục câu hỏi được bố trí ngay đầu trang một để thuận lợi theo rõi và tra cứu. Nội dung câu trả lời được tổng hợp dựa trên bài giảng của giảng viên cũng như các loại sách giáo trình, tài liệu tham khảo.
Trang 1TÔN GIÁO TÍN NGƯỠNG
Câu 1 Khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo 1
Câu 2 Hai quan điểm cơ bản về tôn giáo tín ngưỡng, so sánh tôn giáo với tín ngưỡng 2
Câu 3 Những điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa ảnh hưởng tới quá trình hình thành và phát triển tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam 3
Câu4 Đặc điểm cơ bản của tín ngưỡng tôn giáo tại Việt Nam 3
CÂU 5 Phật giáo 5
CÂU 6 ĐẠO CAO ĐÀI 9
Nội dung 1 1 số vấn đề lý luận chung về tôn giáo, tín ngưỡng
Câu 1 Khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo
1 Tín ngưỡng
Những khái niệm về tín ngưỡng :
- Theo Đào Duy Anh : tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với 1 tôn giáo hoặc 1 chủ nghĩa
- Theo GS Ngô Đức Thịnh : là lòng tin của con người về điều gì đó rất thiêng liêng, đối lập với thế giới trần tục
- Theo Manlinowski trong cuốn “ ma thuật, khoa học và tôn giáo” nói rằng :
ma thuật được sinh ra như một biện pháp để người ta thỏa thuận, giảng hòa , cầu mong từ thế lực siêu nhiên , có tác động rất mạnh mẽ đối với đời sống sinh hoạt, lao động của họ
Khái niệm về tín ngưỡng :
- Là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế giới
- Để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng
- Tín ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo nhưng k có hệ thống điều hành, tổ chức như tôn giáo
- Nếu có thì hệ thống đo cũng rời rạc, lẻ tẻ
- Tín ngưỡng nếu phát triển với mức độ nào đó sẽ trở thành tôn giáo
2 Tôn giáo
Trang 2- Khía cạnh thần học : tôn giáo là mối liên hệ của con người với thượng đế, thần linh, với cái tuyệt đối, với 1 lực lượng nào đó, với sự siêu việt hóa
- Quan điểm tâm lý học : tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình tôn giáo là cô đơn, nếu bạn chưa từng cô đơn thì chưa từng có tôn giáo
- Quan điểm của Các-Mác và Anghen : sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống lại sự nghèo nàn hiện thực đó
Tôn giáo là những tiếng than thở của người dân bị áp bức, là trái tim của 1 xã hội không có trái tim, là tinh thần của trật tự xã hội không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nd
Tóm lại : Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiên nhiên được chấp nhận 1 cách trực giác và tác động qua lại 1 cách
hư ảo, nhằm gt những vấn đề trên thế giới trần tục cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin đó được biểu hiện rất đa dạng, phụ thuộc vào những thời kỳ ls, hoàn cảnh địa lý và văn hóa khác nhau Các tôn giáo này được vận hành bằng các nghi
lễ, hành vi riêng biệt
Câu 2 Chức năng, vai trò của tín ngưỡng tôn giáo trong đời sống con người
Câu 2 Hai quan điểm cơ bản về tôn giáo tín ngưỡng, so sánh tôn giáo với tín ngưỡng
I 2 quan điểm về tôn giáo tín ngưỡng
II Phân biệt tín ngưỡng và tôn giáo
1 Giống nhau
- Có niềm tin vào đấng siêu nhiên
- Điều chỉnh hành vi của con người
2 Khác nhau
- Có đủ 4 yếu tố : giáo hội, giáo lý, giáo luật, tín đồ
Không có 4 yếu tố này
- Luôn có đủ hệ thống kinh điển
Không có hệ thống kinh điển
- Chỉ theo 1 tôn giáo Người có thể theo nhiều tín
ngưỡng khác nhau
Trang 3- Có các giáo sỹ hành nghề chuyên nghiệp suốt đời
Không có giáo sĩ hành nghề chuyên nghiệp suốt đời
- Có tính quốc tế, là bước phát triển cao hơn của tín ngưỡng
Thường gắn với 1 dân tộc cụ thể, là bước kém phát triển hơn của tôn giáo
Câu 3 Những điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa ảnh hưởng tới quá trình hình thành và phát triển tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam
1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý :
Câu4 Đặc điểm cơ bản của tín ngưỡng tôn giáo tại Việt Nam
-Một là, Việt Nam là một quóc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo
khác nhau đang tồn tại
Đó là do điều kiện địa lý nước ta thuận lợi cho việc giao lưu của nhiều luồng
tư tưởng, văn hoá khu vực và thế giới, lại chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh lớn của thế giới là Trung Hoa và Aán Độ
Nước ta có nhiều dân tộc cư trú(54 dân tộc) ở nhiều khu vực khác nhau, với điều kiện tự nhiên, khí hậu, lối sống, phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Hơn nữa, bản tính người Việt luôn cởi mở, khoan dung nên cùng một lúc họ có thể tiếp nhận nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau Từ những hình thức tôn giáotín ngưỡng sơ khai đến hiện đại, từ tôn giáo phương Đong cổ đại đến phương Tây cận, hiện đại, tất cả đã và đang cùng tồn tại bên cạnh tín ngưỡng dân gian, bản địa của nhiều dân tộc, bộ tộc khác nhau
-Hai là, Tính đan xen, hoà đồng, khoan dung của tín ngưỡng, tôn giáo Việt
Nam Điều đó được biểu hiện:
Trên điện thờ của một số tôn giáo có sự hiện diện của một số vị thần, thánh, tiên ,phật… của nhiều tôn giáo
- Ba là yếu tố nữ trong hệ thống tín ngưõng, tôn giáo ở Việt Nam
Lịch sử Việt Nam là lỉch sử chống ngoại xâm, người phụ nữ có vai trò quan trọng trong xã hội không chỉ vì họ gánh vác công việc nặng nề thay chồng nuôi con
ở hậu phương mà còn xông pha trận mạc
Trang 4Ở nước ta, dù mẫu quyền được thay thế bởi phụ quyền từ lâu, nhưng tàn dư chế độ này còn kéo dài dai dẵng đến tận ngày nay Hơn nữa, ở một xứ sở thuộc nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, vốn coi trọng yếu tố âm-đất-mẹ, người mẹ biểu tượng cho ước muốn phong đăng, phồn thực; hình tượng của sự sinh sôi, nãy
nở, sự trường tôn của giống nòi, sự bao dung của lòng đất Vì vậy, một trong những đặc điểm đáng quan tâm trong tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam là truyền thống tôn thờ yếu tố nữ
-Bốn là, thần thánh hoá những người có công với gia đình, làng, nước
Con người Việt Nam vốn có yêu nước, trọng tình “uống nước, nhớ nguồn”,
“ăn quả nhớ người trồng cây” nên tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam cũng thấm đượm tinh thần ấy Từ xưa, ở Việt Nam đã hình thành 3 cộng đồng gắn bó với nhau là gia đình, làng xóm và quốc gia
Gia đình là tế bào của xã hội, dù nghèo hay giàu, song nhà nào cũng có bàn thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ-những người đã khuất
Làng xóm có cơ cấu, thiết chế rất chặt chẽ Mỗ làg có phong tục, lối sống riêng Trong phạm vi làng xã từ lâu đã hình thành tục thờ cúng thần địa phương và việc thờ cúng này trở nên phổ biến ở nhiều tộc người
Những người có công với gia đình, làng xóm, đất nước đều được người Việt Nam tôn vinh, sùng kính
-Năm là, tín đồ các tôn giáo Việt Nam hầu hết là nông dân lao động
Nước ta là nước nông nghiệp, nông dân chiếm tỷ lệ rất lớn, nên tín đồ hầu hết
là nông dân Nhìn chung, tín đồ các tôn giáo Việt Nam hiểu giáo lý không sâu sắc nhưng lại chăm chỉ thực hiện những nghi lễ tôn giáo và sinh hoạt cộng đồng tín ngưõng một cách nhiệt tâm
-Sáu là, Một số tôn giáo bị các thế lực thù địch phản động trong và ngoài
nước lợi dụng vì mục đích chính trị
Tôn giáo nào cũng có 2 mặt: nhân thức tư tưởng và chính trị Chín vì vậy, tuy mức độ có khác nhau, nhưng giai đoạn lịch sử nào thì các giai cấp thống trị, bóc lột vẫn chú ý sử dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo
Các thế lực trong và ngoài nước đang âm mưu sử dụng ngọn cờ nhân quyền gắn với tôn giáo hong xóm xoá bỏ CNXH ở nước ta Vì vậy, một mặt phải đáp ứng
Trang 5đúng như cầu tín ngưỡng chính đáng của nhân dân, mặt khác phải luôn cảnh giác với âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch
-Bảy là, hoạt động tôn giáo trong những năm gần đây có biểu hiện mang tính
chất thị trường
Những năm qua, nhờ có công cuộc đổi mới mà đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao nhưng cũng kéo theo nhưng hoạt động của các tôn giáo sôi nổi hơn trước, việc xây mới, sửa chũa cơ sở thờ tự diễn ra khó kiểm soát Hiện tượng “buôn thần, ban thánh” có dấu hiệu bùng phát làm tiêu tốn tiền bạc, thời gian, sức khoẻ của nhân dân
Hiện nay đã xuất hiện một số chức sắc, tín đồ các tôn giáo có biểu hiện suy thoái đạo đức, lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền mê tín-dị đoan, kiếm tiền bất chính
Nội dung 2 CÁC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
CÂU 5 Phật giáo
1 Quá trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Việt Nam
Đạo Phật ra đời ở Ấn Độ từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên, trong điều kiện
xã hội phân chia theo chế độ đẳng cấp bất bình đẳng Đạo Phật ra đời là sự kế thừa, tiếp nối các trào lưu tôn giáo, triết học nổi tiếng của Ấn Độ cổ đại và được coi là một trong những học thuyết xã hội chống lại sự bất công trong xã hội đương thời
Quá trình du nhập Phật giáo ở Việt Nam
Du nhập theo đường biển :
Phật giáo du nhập vào văn hóa Việt Nam vào khoảng thế kỷ II TCN, do các thương gia Ấn Độ trực tiếp truyền đạo thông qua con đường buôn bán
- Trên đất Giao Chỉ vốn đã hình thành một nền tín ngưỡng bản địa Đối với người dân nơi nàỵ, Ông Trời là một đấng ở trên cao, thấu hiểu mọi việc, biết rõ người tốt kẻ xấu, từ đó mà phù giúp người hiền, trừng phạt kẻ ác Quan niệm này khiến cư dân Giao Chỉ dễ tiếp nhận thuyết nhân quả, nghiệp báo của nhà Phật
- Sự hòa hợp giữa tín ngưỡng bản địa có sẵn với những sinh hoạt văn hóa, giáo lý cơ bản của Phật giáo đã hình thành nên một loại tín ngưỡng Phật giáo bình dân trong những thế kỷ đầu tiên của công lịch
- Đầu công nguyên, trung tâm của Phật giáo là Luy Lâu ở Thuận Thành, Bắc Ninh
Trang 6 Du nhập theo đường bộ :
Từ Trung Hoa, Phật giáo được truyền vào VN qua việc gia lưu văn hóa vào thế kỷ V
Sự thâm nhập của Phật giáo phương Bắc thể hiện ở các vị thiền sư với các thiền phái lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam là Tì Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông
Quá trình phát triển : chia làm 4 giai đoạn
Giai đoạn 1 : từ khi du nhập đến thế kỷ 10
- Giai đoạn Phật giáo du nhập và tạo được sự ảnh hưởng trong nhân dân
- Phật giáo giai đoạn này gắn với tên tuổi của 1 số nhà sư Ấn Độ ( Khâu Đà
La, Khương Tăng Hội…) và 1 số nhà sư Trung Quốc : Mâu Bác, Du Pháp Lan…
- Một số phái thiền Trung Quốc du nhập vào Việt Nam : Tỳ ni đa lưu chi, Vô Ngôn Thông
Giai đoạn 2 : từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 15
Phật giáo được sự ủng hộ của các vương triều với những chính sách nhằm nâng đỡ, khuyến khích Phật giáo phát triển
Đạo Phật được sử dụng trong quá trình xây dựng và củng cố địa vị thống trị của giai cấp phong kiến
Có ảnh hưởng sâu rộng tới mọi lĩnh vực của đời sống : kinh tế, chính trị, văn hóa
Giai đoạn 3 : từ thế kỷ 15 đến thế kỳ 19 Phật giáo VN đi vào suy thoái
- Phật giáo lan tỏa vào khối quần chúng bình dân làng xã
- Phật giáo vẫn âm thầm phát triển : nhiều chùa được xây dựng và trùng tu, Phật giáo thâm nhập vào xứ Đàng Trong
- Thời kỳ này có 2 môn phái thiền ở TQ được truyền vào Việt Nam là thiền Tào Động và thiền Lâm Tế
Giai đoạn 4 : thế kỷ XX cho đến nay
- Phong trào “ chấn hưng Phật giáo” từ những năm 30 của thế kỷ 20
- Năm 1981, “ giáo hội Phật giáo Việt Nam” ra đời và tổ chức Phật giáo thống nhất trong cả nước
- Hiện nay, Phật giáo là tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam với số lượng tín đồ đông đảo nhất
Trang 72 Thực trạng Phật giáo ở Việt Nam
Theo thống kê, ở Việt Nam hiện nay, chỉ tính những tôn giáo được Nhà nước công nhận đã lên con số 13 tôn giáo với 37 tổ chức tôn giáo Trong các tổ chức tôn giáo đó, Phật giáo là một trong những tôn giáo có số lượng tín đồ đông đảo
Trước bối cảnh hội nhập quốc tế, Phật giáo Việt Nam có sự chuyển mình
về các phương diện như: gia tăng số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở tự viện và cơ
sở đào tạo; gia tăng các hoạt động hoằng dương đạo pháp; và đặc biệt là gia tăng các hoạt động đối ngoại quốc tế của Giáo hội Việt Nam
Theo số liệu điều tra của Tổng Cục Thống kê, trong vòng 10 năm (2001-2011), tín đồ Phật giáo Việt Nam tăng hơn 1 triệu, chiếm 1/8 dân số Việt Nam hiện nay Còn nếu tính số lượng tín đồ theo nhiều hình thức tập hợp thì số lượng tín đồ Phật giáo chiếm hơn ½ dân số Việt Nam
Trong những năm gần đây, hoạt động đối ngoại quốc tế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thể hiện rõ sự chuyển biến tích cực mối quan hệ giữa Nhà nước với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Điều này nằm trong sự đổi mới về nhận thức, đường lối và chính sách tôn giáo, những nỗ lực về phương diện luật pháp tôn giáo
Do đó, trước bối cảnh toàn cầu hóa, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã chủ động tham gia vào các hoạt động đối ngoại quốc tế nhằm mục đích đoàn kết, hữu nghị hợp tác với cộng đồng các nước trong khu vực và quốc tế vì hòa bình thế giới, tham gia các hoạt động hướng tới lợi ích mang tính toàn cầu Những hành động đó được thể hiện như sau:
Về hợp tác trao đổi kinh nghiệm tu tập: Giáo hội Phật giáo Việt Nam
đã tăng cường, hợp tác trao đổi kinh nghiệm tu tập giữa Giáo hội, tăng, ni, phật
tử Việt Nam với Giáo hội, các truyền thống hệ phái Phật giáo và tăng, ni, phật
tử các nước trong khu vực ASEAN, châu Á, châu Âu, châu Mỹ và các quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới
Tham gia tổ chức Ni giới thế giới:
Theo thống kê của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ở nước ngoài có khoảng
500 Tăng Ni Việt Nam, với hơn 1 triệu Phật tử, hơn 300 ngôi chùa Việt Nam trên nhiều quốc gia khác nhau.Phần lớn các Tăng Ni, Phật tử Việt Nam sống ở nước ngoài đều có thái độ ôn hòa, tình cảm đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Trang 8Tồn tại những mặt tiêu cực :
- Sự hiểu biết về đạo Phật còn chưa thấu đáo
- Tính thực dụng, vụ lợi của những người theo đạo lên chùa
- Đội ngũ chức sắc còn mỏng, sự suy đồi phẩm chất, đạo đức của 1 số bộ
phận hàng ngũ tín đồ
- Các chùa kinh doanh : tổ chức cầu siêu , cúng sao giải hạn, cầu an, bói
toán …
3 Vai trò của Phật giáo ở Việt Nam
- Phật giáo là nơi bảo lưu các giá trị văn hóa tâm linh của người Việt
Đối với đa số người Việt, chùa Phật là không gian thiêng liêng để con người gửi gắm niềm tin, niềm tin vào sự linh thiêng nhân quả của Đạo Phật , niềm tin ở
sự ở hiền gặp lành, tin vào đức Phật từ bi cứu khổ
Người được ông bà cha mẹ “ gửi bán” vào chùa mong được che chở, hưởng phúc của Phật
Người chết được nhà sưu làm lễ tiễn đưa về cõi Phật cho được siêu sinh Chùa là không gian thiêng liêng mang lại cho con người sự cân bằng tĩnh lặng
về tâm trí sau những ngày vất vả
- Phật giáo với phong tục tập quán : ăn chay, niệm Phật, bố thí, cúng ngày rằm, mồng một, đi lễ chùa…
- Nghệ thuật tạo hình ở nhiều thời kỳ lịch sử cũng chịu ảnh hưởng giáo lý nhà Phật
+ kiến trúc cộng sinh ( đưa thiên nhiên vào bố cục kiến trúc )
+ quan niệm Thiên nhân hợp nhất đã được thể hiện trong sự hòa nhập kiến trúc Phật giáo với cảnh quan thiên nhiên ( nơi chọn chùa thường là phong cảnh hữu tình, có khí thiêng sông núi…)
- ảnh hưởng của Phật giáo qua các loại hình diễn xướng dân gian : chèo, âm nhạc, cải lương
- nền văn học Phật giáo với hệ thống từ ngữ, văn học, thơ ca, truyện kể dân gian
- đạo đức tôn giáo : giáo dục điều thiện, hướng con người sống từ bi, bác ái, yêu thương lẫn nhau
- lễ hội chùa- sinh hoạt văn hóa của cộng đồng : lễ hội Vu lan báo hiếu, lễ Phật đản, hội chùa Hương, hội Yên Tử, hội chùa làng ở các địa phương
Trang 9CÂU 7 ĐẠO CAO ĐÀI
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠO CAO ĐÀI
Ở VIỆT NAM
1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
Tiền đề chính trị-xã hôi:
Đầu thế kỷ XX, chính quyền thực dân Pháp và triều đình phong kiến nhà Nguyễn tăng cường áp bức bóc lột, vơ vét tài nguyên, đàn áp nhân dân để phục vụ lợi ích của chúng Cuộc sống của nhân dân lao động, đặc biệt là người nông dân Nam bộ bị bần cùng hoá, phải đi làm thuê, làm mướn Các cuộc đấu tranh của nhân dân đều thất bại Bất lực trong cuộc sống, khủng hoảng về tư tưởng, đồng thời các tôn giáo và đạo lý đương thời bị suy thoái đây là tiền đề và điều kiện thuận lợi cho
sự ra đời của đạo Cao đài
Tục cầu hồn, cầu tiên, phong trào Thần linh học du nhập từ Phương Tây tạo nên phong trào cầu cơ chấp bút ( Cơ bút ) Có thể nói, Cơ bút là nền tảng căn bản cũng như mọi yếu tố liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của tôn giáo Cao Đài từ quá khứ đến hiện tại, từ việc thu nhận tín đồ, phong chức sắc, ban hành luật đạo, các nghi thức cúng tế, phẩm phục, kinh điển, thậm chí đến các thiết kế cơ
sở thờ tự cũng được thông qua bởi hình thức Cơ bút
Người sáng lập đạo: Ngô Văn Chiêu là người được thiên phong phẩm vị
giáo tông đầu tiên của đạo Cao Đài
Ngoài ra còn có: Lê Văn Trung, Phạm Công Tắc, Vương Quan Kỳ, Phạm Quỳnh Cư
Và ngày 18/11/1926 đạo Cao Đài ra đời ở Tây Ninh
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
Sau ngày khai đạo, những chức sắc lãnh đạo giáo hội Cao đài tiến hành xây dựng Toà thánh, phát triển các thánh thất, điện thờ, xây dựng giáo lý, giáo luật, lễ nghi
và tổ chức Giáo hội Trong 2 năm 1926 - 1927, thông qua cơ bút đạo Cao đài đã tập trung xây dựng xong hai văn bản quan trọng qui định luật lệ, lễ nghi và tổ chức Giáo hội là Pháp Chánh truyền và Tân luật Vì vậy, đến năm 1930 hoạt động tại Toà thánh dần dần được củng cố và đi vào nề nếp, những chức sắc thường trực đã thực hiện theo đúng chức năng nhiệm vụ, các cơ sở đạo phát triển, tổ chức Giáo hội hình thành từ Trung ương đến cơ sở theo 5 cấp hành chính đạo
Trang 10Từ 1931 đến 1934, mâu thuẫn giữa một số chức sắc Hiệp Thiên đài và Cửu Trùng đài ngày càng nặng nề, tình hình nội bộ Giáo hội mất đoàn kết ngày càng tăng, một số chức sắc cao cấp bất đồng với Toà thánh đã tự hoạt động theo ý riêng, tiến hành lập nhiều đàn cơ để lôi kéo tín đồ Vì vậy, nội bộ chức sắc xuất hiện tư tưởng ly khai khỏi Toà thánh như các ông Nguyễn Văn Ca, Nguyễn Hữu Chính, Trần Đạo Quang, Nguyễn Ngọc Tương, Lê Bá Trang, các vị chức sắc rời Toà thánh Tây Ninh về các địa phương lập ra các chi phái Cao đài mới như: Cao đài Ban Chỉnh đạo, Cao đài Tiên Thiên, Cao đài Chơn lý, Cao đài Minh Chơn đạo, Cao đài Bạch y
Giai đoạn từ 1935 đến 1975, đạo Cao đài phát triển mạnh mẽ nhất nhưng cũng xảy ra tình trạng phân chia thành nhiều chi phái, đã có lúc lên đến hơn 30 phái Cao đài khác nhau Số lượng tín đồ đạo Cao đài cũng phát triển nhanh chóng đến hơn 2 triệu người, tập trung chủ yếu ở Nam bộ và một vài tỉnh ở miền Trung, miền Bắc
Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: sau năm 1975, các phái Cao đài không hoạt động theo mô hình tổ chức cũ Các Hội thánh Cao đài xây dựng tổ chức hành chính đạo theo hai cấp: cấp Trung ương là Hội thánh, cấp cơ sở là Họ đạo Từ năm 1995 đến năm 2000, lần lượt 09 Hội thánh Cao đài có đông chức sắc, tín đồ tổ chức Đại hội thông qua Hiến chương, chương trình hành đạo, xây dựng tổ chức giáo hội 2 cấp, hoạt động theo 3 Hội: Thượng hội, Hội thánh, Hội Nhơn sanh và xác định đường hướng hành đạo “Nước vinh, Đạo sáng”
Hiện nay, đạo Cao đài có 09 Hội thánh có tổ chức giáo hội gồm: Cao đài Tây Ninh, Cao đài Ban Chỉnh đạo, Cao đài Tiên Thiên, Cao đài Minh Chơn đạo, Truyền giáo Cao đài, Cao đài Cầu Kho Tam Quan, Cao đài Chơn lý, Cao đài Chiếu Minh Long Châu, Cao đài Bạch y
III Giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức của đạo Cao Đài
1 Tổ chức
Mô hình tổ chức của đạo Cao đài theo 3 đài: Bát Quát đài là đài vô vi thờ Đức Chí Tôn (Thiên nhãn) và Phật, Tiên, Thánh, Thần; Hiệp Thiên đài là cơ quan bảo pháp có hai chức năng thông công giữa Bát Quát đài và Cửu Trùng đài và bảo vệ pháp luật Đạo, đồng thời giám sát các hoạt động của cơ quan Cửu Trùng đài, đứng đầu Hiệp Thiên đài là phẩm Hộ pháp; Cửu Trùng đài là cơ quan hành pháp, tổ chức hữu hình của đạo Cao đài, gồm 09 Viện và 9 phẩm, đứng đầu Cửu Trùng đài
là phẩm Giáo tông
Về phương diện Lễ nghi thờ phượng, ĐĐTKPĐ là một tôn giáo đặc biệt thờ
Thiên Nhãn, biểu tượng Đức Thượng Đế tối cao duy nhứt đúng theo tôn chỉ: Qui