Tính cấp thiết của đề tài Trong đời sống con người, tôn giáo là một cộng đồng xã hội, có vai trò quyết định đối với sự phát triển của mỗi đất nước trong các hoạt động kinh tế, chính trị
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
ĐỀ TÀI :
PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ TÔN GIÁO LIÊN HỆ VỚI ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO
Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Thế Hùng
Sinh viên thực hiện : Vũ Thị Chi
Lớp : PLT09A07
Mã sinh viên : 24A4070517
Hà nội, ngày 02 tháng 04 năm 2022
Trang 2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
Phần 1 Phần lý luận 3
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo 3
1.1.1 Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo 3
1.1.2 Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 5
1.1.3 Những nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 5
1.2 Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta 7
Phần 2: Liên hệ thực tiễn 8
2.1 Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống tín ngưỡng của nhân dân ta 8
2.2 Vấn đề lợi dụng tôn giáo để chống phá sự nghiệp xây dựng Xã hội chủ nghĩa của nước ta 10
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined.
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống con người, tôn giáo là một cộng đồng xã hội, có vai trò quyết định đối với sự phát triển của mỗi đất nước trong các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa- xã hội và trong quá trình hội nhập quốc tế Đây là vấn đề nhạy cảm với nhiều quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Việt Nam là một quốc gia đa dạng các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo và là nước đang phát tiển trong quá trình hội nhập quốc tế thì những hiểu biết về vấn đề tôn giáo trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa và nắm rõ những chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước là thực sự cần thiết đối với tất cả mọi người dân Việt Nam
Nhiệm vụ: Tìm hiểu quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề tôn giáo, những mặt tích cực, hạn chế trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật trong việc chỉ rõ quan
điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề tôn giáo trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Bài tiểu luận giúp chúng ta hiểu rõ về vấn đề cơ bản của tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chính sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ đó Từ đó chúng ta có
sự hiểu biết đúng đắn về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo từ đó đưa ra những biện pháp phù hợp trong vấn đề tôn giáo hiện nay
Trang 4NỘI DUNG Phần 1 Phần lý luận
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo
1.1.1 Bản chất, nguồn gốc và tính chất của tôn giáo
a, Bản chất của tôn giáo
Chủ nghĩa Mác – Lênin coi tín ngưỡng, tôn giáo là một loại hình thái ý thức
xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan Qua hình thức phản ánh của tôn giáo, những hiện tượng tự nhiên trở thành siêu nhiên Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, văn hóa, lịch sử, một lực lượng xã hội trần thế Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, một lực lượng và thông thường để chỉ một niềm tin tôn giáo Theo đó, tôn giáo
là một hình thức tín ngưỡng có quan niệm, ý thức, hành vi và các tổ chức tôn giáo Tôn giáo thường có: giáo lý, giáo luật, lễ nghi và các tổ chức giáo hội Tín ngưỡng và tôn giáo có sự khác nhau song lại có quan hệ chặt chẽ mà ranh giới để phân biệt giữa chúng chỉ là tương đối
Mê tín dị đoan là một hiện tượng xã hội tiêu cực, là niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên đến mức độ mê muội, cuồn tin, với những hành vi cực đoan, thái quá, phi nhân tính, phản văn hóa Mê tín dị đoan thường xen vào
cã hình thức sinh hoạt tôn giáo, gây hiệu quả tiêu cực đến đời sống xã hội
Xét về mặt bản chất thì tôn giáo là hiện tượng xã hội phản ánh sự bế tắc, bất lực của con người trước tự nhiên, xã hội Tôn giáo là sản phẩm của con người gắn liền với những điều kiện lịch sử tự nhiên và lịch sự xã hội
Xét về phương diện thế giới quan, thế giới quan duy vật của Mác xít và thế giới quan tôn giáo là đối lập nhau Tuy nhiên, những người cộng sản có lập trường Mác xít và chủ nghĩa Mác Lênin luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng (không mê tín) của nhân dân
b, Nguồn gốc tôn giáo
Trang 5Thứ nhất, nguồn gốc kinh tế - xã hội
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, đời sống con người rất thấp nên người nguyên thủy đã gán cho thiên nhiên những sức mạnh siêu nhiên
Khi xã hội xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì xã hội có giai cấp hình thành mang lợi ích đối kháng nhau Ở đó, tồn tại những quan hệ xã hội phức tạp và chịu nhiều tác động của nhiều yếu tố nằm ngoài ý muốn và khả năng điều chỉnh với những hiệu quả khó lường Điều này làm nảy sinh những bần cùng về kinh tế, nạn áp bức về chính trị, sự bất bình đẳng xã hội dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp bị trị là nguồn gốc sâu xa của tôn giáo
Thứ hai, nguồn gốc nhận thức của tôn giáo
Chức năng khoa học là khám phá ra những điều mà nhân loại chưa biết song
ở thời kì lịch sử cụ thể thì khoảng cách giữa “biết”, “chưa biết” vẫn tồn tại điều
mà khoa học chưa giải thích được hoặc giải thích hư ảo qua tôn giáo Ngay cả khi khoa học đã chứng minh dược những vấn đề đó nhưng trình độ dân trí thấp kém dẫn đến tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển Và con người có khả năng nhận thức đầy đủ, sâu sắc hoặc khả năng xa rời, phản ánh sai lệch hiện thực
Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo
Sự sợ hãi trước sức mạnh siêu nhiên đã dẫn đến con người nhờ cậy vào thần
linh, những tình cảm tâm như tình yêu, lòng biết ơn, kính trọng trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên được thể hiện qua tín ngưỡng, tôn giáo
c, Tính chất của tôn giáo
Thứ nhất, tính lịch sử: Sự hình thành có quá trình tồn tại và phát triển lâu dài nhưng không phải là hiện tượng xã hội vĩnh cửu, bất biến mà sẽ mất đi khi con người không chỉ mưu sự mà con làm cho thành sự nữa
Tính quần chúng: Biểu hiện ở số lượng tín đồ các tôn giáo chiếm tỷ lệ cao và
sinh hoạt văn hóa, tinh thần của một số bộ phận quần chúng nhân dân lao động
Trang 6Khi thể hiện tính quần chúng, tôn giáo thường có tính nhân văn, nhân đạo, hướng thiện Cần nhận thức rõ, đa số quần chúng tín tìm tới tôn giáo nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần nhưng cũng có các tín đồ tôn giáo khác bị các lực lượng xấu sử dụng cho mục đích trái pháp luật
1.1.2 Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Thứ nhất, giai đoạn đầu của thời ký quá độ lên chủ nghĩa xã hội tồn tại nhiều thành phần kinh tế với những lợi ích khác nhau của giai tầng xã hội tạo nên sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội đưa đến những cuộc đấu tranh giữa các lực lượng xã hội làm cho tình hình tôn giáo diễn biến phức tạp,
Thứ hai, sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường khiến con người đang chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố ngẫu nhiên thì rơi vào tâm lý thụ động, nhờ cậy vào thế lực siêu nhiên
Thứ ba, hiện thức khách quan là vô cùng, đặt ra nhiều vấn đề mà hiện tại khoa học chưa thể làm rõ, do đó niềm tin vào sức mạnh tự phát của tự nhiên, xã hội vẫn chưa có thể được gạt bỏ hết khỏi ý thức của nhiều người trong xã hội Thứ tư, nhiều nguyên nhân khiến cho nhiều nhà nước xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng khủng hoảng, dẫn đến sự sụp đổ, các cán bộ trong bộ máy nhà nước thoái hóa, biến chất, Đó là điều kiện cho tôn giáo phát triển
1.1.3 Những nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
a, Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới
Theo chủ nghĩa Mác Lênin, muốn thay đổi ý thức xã hội cần thay đổi bản thân tồn tại xã hội, muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy Điều cần thiết trước hết là phải xác lập được một thế giới hiện thực không có áp bức, bất công, nghèo đói và thất học cùng những tệ nạn nảy sinh trong xã hội Đó là quá trình lâu dài không thể thực hiện được nếu tách rời việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới
Trang 7b, Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, không tín ngưỡng của nhân dân
Sự phân biệt hoặc lợi dụng tín ngưỡng là nguy cơ xảy ra những xung đột, những cuộc xung đột, chiến tranh dưới hình thức tôn giáo
Nội dung cơ bản của quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng: Bất kì ai cũng được tự do theo tôn giáo nào đó hoặc không theo Việc vào đạo, chuyển đạo hay bỏ đạo theo quy định của pháp luật hiện hành là quyền tự do của mỗi người Mọi người cần có ý thức tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người khác, đồng thời chống lại những phần tử lợi dụng tôn giáo để hoạt động,
đi ngược lại với lợi ích của dân tộc
c, Quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo
Ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối với đời sống xã hội không như nhau Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo
sĩ, giáo dân về các lĩnh vực đời sống xã hội luôn có sự khác biệt Có những tôn giáo khi mới xuất hiện bảo vệ lợi ích của người nghèo nhưng rồi lại biến thành công cụ của giai cấp bóc lột Có những giáo sĩ suốt đời hành đạo luôn đồng hành cùng với dân tộc nhưng cũng có những người hợp tác với thế lực phản động, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc Vì vậy, cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể để giải quyết những vấn đề có liên quan đến tôn giáo
d, Phân biệt rõ mối quan hệ giữa hai mặt chính trị và tư tưởng trong giải quyết vấn đề tôn giáo
Trong xã hội công xã nguyên thủy, tín ngưỡng tôn giáo chỉ biểu hiện thuần túy về tư tưởng Nhưng khi xã hội có giai cấp xuất hiện thì chính trị ít nhiều có trong tôn giáo Từ đó hai mặt chính trị, tư tưởng có mối quan hệ trong tôn giáo Phân biệt hai mặt chính trị, tư tưởng là phân biệt tính chất khác nhau của hai loại mâu thuẫn luôn tồn tại trong tôn giáo Mặt chính trị phản ánh mẫu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế của giai cấp và lợi dụng tôn giáo chống lại sự nghiệp cách mạng, lợi ích của nhân dân lao động Mặt tư tưởng phản ánh mâu thuẫn
Trang 8không mang tính đối kháng giữa người theo và không theo tín ngưỡng và những người có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau
1.2 Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, do đó các chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay thể hiện theo ba quan điểm chỉ đạo sau:
Thứ nhất, công tác tôn giáo vừa phải quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phá hoại cách mạng
Thứ hai, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là vận động quần chúng sống
“tốt đời, đẹp đạo”, góp phần bảo vệ và xây dựng Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Thứ ba, làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo
Hầu hết các tín đồ tôn giáo đều là nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột bởi chế độ cũ, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nên họ có nhu cầu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Xuất phát từ lòng yêu nước, cần cù lao động, mơ ước về một xã hội bình đẳng, tự do, bác ái, đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo đã góp phần cùng nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng
xã hội mới
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới do Đảng ra khởi xướng và lãnh đạo, đồng bào có tín ngưỡng nhìn chung là phấn khởi, tin tưởng vào chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Nhiều giáo dân, giáo sĩ, tu sĩ thể hiện tinh thần yêu nước, tham gia các hoạt động xã hội, vận động quần chúng thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước làm cho nền kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng được ổn định
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ rõ:
“Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Thực hiện
Trang 9nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng Chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá, nâng cao đời sống của đồng bào Ngiêm cấm lợi dụng các vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẻ nhân dân, chia rẻ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.”
Những năm gần đây, cùng với quá trình đổi mới và dân chủ hóa đời sống xã hội, nhìn chung các hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật, gắn bó với dân tộc Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hủ tục lạc hậu gây tốn kém tiền của, thời gian, sức lực và nhiều hậu quả tiêu cực khác như: dị đoan, ngu dân, “ buôn thần bán thánh” để mưu lợi vật chất
Phần 2: Liên hệ thực tiễn
2.1 Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống tín ngưỡng của nhân dân ta
Phật giáo là một tôn giáo xuất hiện ở Ấn Độ từ thế kỷ VI trước Công nguyên
và được truyền vào Việt Nam những thế kỷ đầu Công nguyên Quá trình tồn tại, phát triển của Phật giáo gắn liền với dân tộc, góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển đạo đức, tâm lý, phong tục tập quán, văn hóa của nhân dân ta
Số lượng tín đồ Phật giáo ở nước ta hiện nay có khoảng trên 10 triệu
Từ thuở ban đầu, người Việt Nam đã tín ngưỡng, tôn thờ những sức mạnh thiên nhiên mà họ cho là đã giúp đỡ họ hoặc làm hại đến cuộc sống họ như mây, mưa, sấm, gió Trong đời sống tín ngưỡng ấy, Phật Giáo đã xuất hiện và nhanh chóng trở thành hình ảnh đầu tiên của những bộ tượng Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp
Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điễn) ở chùa Dâu - ngôi chùa Phật Giáo đầu tiên của nước
ta và từ đó Phật giáo du nhập vào nước ta và phát triển rộng khắp
Từ xa xưa, hoạt động của Phật Giáo có mặt ở khắp mọi nơi, làng nào cũng có chùa có đình, hội hè, biểu diễn múa nước, họp chợ ngay ở trước cổng chùa hay chính hình ảnh của ngôi đình đầu làng đã trở thành hình ảnh quen thuộc đối với mọi người dân Việt Ảnh hưởng của Phật giáo trong một số tập tục ở nước ta:
Trang 10Thứ nhất, tập tục ăn chay, thờ phật, phóng sinh và bố thí: Ăn cháy và thờ phật
là hai việc đi đôi với nhau trong văn hóa của Đạo Phật Ăn chay xuất phát từ quan niệm từ bi của Phật giáo: không sát sinh hại vật, không ăn thịt, phải thể hiện lòng thương yêu mọi loài Những người xuất gia thì ăn chay trường còn phật tử thì ăn chay kỳ Thông thường, cả phật tử và người không phải phật tử, họ thường ăn chay mỗi tháng hai ngày vào ngày mồng một và ngày rằm mỗi tháng Hầu hết những tín đồ phật tử hoặc không theo đạo Phật dùng tượng phật hoặc tranh ảnh có yếu tố phật giáo để chiêm ngưỡng, trang trí cho cảnh nhà thêm trang nghiêm, linh thiêng Cũng xuất phát từ lòng từ bi, tục bố thí, phóng sinh đã ăn sâu vào trong đời sống sinh hoạt của quần chúng nhân dân lao động: đến ngày rằm hoặc mồng một, người Việt thường mua chim, cá, rùa để đêm về chùa chúc nguyện rồi mang đi phóng sinh Cùng với đó là truyền thống đạo lý
“lá lành đùm lá rách” của dân tộc ta sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó, hoạn nạn, thiên tại , điều này được hưởng ứng rộng khắp trong quần chúng nhân dân
Thứ hai, tục cúng rằm và lễ chùa: Tục cúng ngày rằm, mồng một âm lịch là
lúc để thần thánh, tổ tiên có thể thông thương với con người, những ngày này, những tín đồ về chùa tham dự lẽ sám hối, cầu nguyện, họ còn chuẩn bị hương hoa, lễ quả, nhang khói để dâng cúng tổ tiên Ông bà, tổ tiên thể hiện lòng tôn kính, báo hiếu, thương nhớ cho những người quá cố, cụ thể hóa hành vi tu tâm dưỡng tính, thể hiện đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn” tốt đẹp bao đời của dân tộc ta từ ngàn năm
Vào những ngày lễ lớn như đầu xuân năm mới, rằm tháng giêng, lễ Phật Đản,
lễ Vu lan , nhân dân lao động và những tín đồ Phật thường đi viếng chùa, lễ Phật Đây là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Việt Đặc biệt trong ngày lễ lớn của Phật giáo, của dân gian, những ngày kỷ niệm lớn của lịch sử dân tộc (giỗ tổ Hùng Vương), đông đảo tầng lớp nhân dân
sẽ quy tụ về trước cánh cửa thiền môn với lễ hoa, mâm quả cùng với sự trang nghiêm, thành tâm tạo bầu không khí ấm cúng, linh thiêng, thể hiện lòng thành