Lý luận tâm lý học về hành vi văn minh đô thị đang rất cần được nghiên cứu để làm cơ sở cho việc đề xuất các phương pháp nghiên cứu, phát động thực hiện nếp sống văn minh và hình thành c
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ LINH TRANG
NGHIÊN CỨU HÀNH VI VĂN MINH ĐÔ THỊ
CỦA THANH NIÊN THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành
Mã số: 62 31 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRẦN QUỐC THÀNH
HÀ NỘI – 2013
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi và tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung của luận án này trước Hội đồng
Trang 3Trang Lời cam đoan
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ HÀNH VI VĂN MINH
ĐÔ THỊ CỦA THANH NIÊN
07
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi văn minh đô thị của thanh niên 45
CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
57
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG BIỂU HIỆN HÀNH VI VĂN
MINH ĐÔ THỊ CỦA THANH NIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ
86
Trang 43.1 Thực trạng biểu hiện hành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố
Hồ Chí Minh
86
3.1.1 Nhận thức của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh về văn minh đô thị 86 3.1.2 Thái độ của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh về văn minh đô thị 92
3.1.3 Động cơ thực hiện hành vi văn minh đô thị 96
3.1.4 Biểu hiện bên ngoài hành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố
3.5 Một số biện pháp kích thích việc thực hiện hành vi văn minh đô thị của
thanh niên thành phố Hồ Chí Minh
135
Trang 5Bảng 2.1: Độ tin cậy của thang đo 65
Bảng 2.3: Cách cho điểm các câu hỏi trong phiếu trưng cầu ý kiến 75 Bảng 3.1: Nhận thức chung của thanh niên TPHCM 86 Bảng 3.2: Nguồn tìm hiểu để nhận biết văn minh đô thị, HVVMĐT 87 Bảng 3.3: Nhận thức về HVVMĐT trong mối quan hệ với người khác 88 Bảng 3.4: Nhận thức về HVVMĐT trong quan hệ với bản thân 89 Bảng 3.5: Nhận thức về HVVMĐT trong quan hệ với môi trường 90 Bảng 3.6: Thái độ chung đối với việc thực hiện HVVMĐT 92 Bảng 3.7: Thái độ đối với hành vi thuộc nhóm quan hệ với người khác 93 Bảng 3.8: Thái độ đối với hành vi thuộc nhóm quan hệ với bản thân 94 Bảng 3.9: Thái độ đối với hành vi thuộc nhóm quan hệ với môi trường 95 Bảng 3.10: Động cơ nói chung khi thực hiện HVVMĐT 96 Bảng 3.11: Ứng xử khi đèn tín hiệu giao thông đỏ lên 97 Bảng 3.12 : Ứng xử khi bị kẹt xe ngoài đường phố 98 Bảng 3.13: Ứng xử khi có người cần được trợ giúp 99 Bảng 3.14: Ứng xử khi thấy người bẻ hoa trong công viên 99 Bảng 3.15: Động cơ thực hiện hành vi thuộc nhóm quan hệ với người khác 100 Bảng 3.16: Động cơ thực hiện hành vi thuộc nhóm quan hệ với bản thân 101 Bảng 3.17: Động cơ thực hiện hành vi thuộc nhóm quan hệ với môi trường 102 Bảng 3.18: Mức độ biểu hiện HVVMĐT trong mối quan hệ với người
khác theo điểm trung bình
103
Trang 6chính bản thân
Bảng 3.20: Mức độ biểu hiện HVVMĐT của thanh niên TPHCM thuộc
nhóm quan hệ với môi trường
116
Bảng 3.22: Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến HVVMĐT của thanh niên
Trang 7Biểu đồ 3.3: So sánh điểm trung bình động cơ thực hiện HVVMĐT của
thanh niên TPHCM theo 3 nhóm hành vi
102
Biểu đồ 3.4: Mức độ thực hiện HVVMĐT tổng hợp theo các nhóm 120
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hành vi của con người trong các lĩnh vực hoạt động được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Đặc biệt trong bối cảnh tính ứng dụng của tâm lý học ngày càng được khẳng định và mang lại những kết quả rất tốt cho đời sống xã hội nói chung và cho từng cá nhân nói riêng Những vấn đề xã hội đang được các chuyên gia phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó góc độ tâm lý đang được chú ý nhiều hơn Những cách thức lý giải về các loại hành vi phù hợp hoặc không phù hợp với chuẩn mực xã hội được chú ý từ khía cạnh tâm lý học đang là một xu hướng ngày càng rõ nét
Những hành vi cụ thể trên từng thể loại cần được đầu tư nghiên cứu một cách có hệ thống để góp phần làm sáng tỏ các cơ sở tâm lý học của hành vi, những đặc trưng của các hành vi cụ thể để định hướng và thích ứng với sự biến đổi không ngừng và rất đa dạng của xã hội đương đại Lý luận tâm lý học về hành vi văn minh đô thị đang rất cần được nghiên cứu để làm cơ sở cho việc đề xuất các phương pháp nghiên cứu, phát động thực hiện nếp sống văn minh và hình thành các hành vi văn minh đô thị trong giai đoạn hiện nay Hành vi văn minh đô thị thể hiện trình độ văn hóa, thể hiện giá trị cá nhân, biểu thị các phẩm chất nhân cách của từng chủ thể, phản ánh lối sống của người dân đô thị và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thực hiện các yêu cầu của một xã hội hiện đại, một xã hội công dân Tuy vậy, lý luận tâm
lý học về hành vi văn minh đô thị còn chưa được đề cập và nghiên cứu một cách thỏa đáng Nghiên cứu hành vi văn minh đô thị dưới góc độ tâm lý học sẽ góp phần làm rõ cơ sở lý luận về sự hình thành, phát triển và biểu hiện của loại hành vi này Nghiên cứu hành vi văn minh đô thị thực sự là vấn đề của tâm lý học hiện đại Văn minh là thước đo cơ bản của một xã hội hiện đại Một đô thị hiện đại, trước hết
đô thị ấy phải là đô thị văn minh Văn minh đô thị không phải tự nhiên hình thành
mà nó được xây dựng từ nỗ lực và quyết tâm của những người sống trong đô thị đó, được khơi nguồn từ ý thức người dân trong cộng đồng Lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh đã xác định: “Sử dụng các biện pháp tổng hợp với nhiều hình thức sinh động
để giáo dục, thực hiện nếp sống văn minh” [61,tr 84] Hiện nay việc nhận thức về
Trang 9văn minh đô thị, nếp sống và hành vi văn minh đô thị của các đối tượng công dân chưa được nghiên cứu một cách cơ bản để có cơ sở đánh giá và đề xuất các biện pháp xây dựng các hành vi văn minh đô thị phù hợp, đặc biệt là đối với giới trẻ Số lượng người nhập cư vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống có khuynh hướng gia tăng hàng năm, điều này càng làm cho thành phố “giãn” ra về mặt địa lý, đông nhân khẩu hơn, phố phường chật chội hơn, các nếp sinh hoạt càng được yêu cầu cao hơn Hàng ngày có thể nhận thấy sự bức xúc của nhiều người khi chứng kiến cảnh chen lấn xô đẩy ngột ngạt tại các bến tàu, bến xe, nhà ga, cảnh xả rác bừa bãi tại các nơi công cộng, cảnh lớn tiếng trong đêm khuya Đặc biệt trong các dịp lễ hội như Tết nguyên đán, ngày lễ giải phóng đất nước hay ngày Quốc khánh, lễ Noel việc nhiều người thoải mái thể hiện sự tự do vô tổ chức qua các hành vi cá nhân, với những thói quen vốn có trong sinh hoạt ở nông thôn, tại nơi tôn nghiêm, nơi công cộng đã làm bức tranh văn minh đô thị càng trở nên lộn xộn hơn nữa Những diễn biến mới về phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng dân số cũng như tốc độ đô thị hoá gần đây đã làm cho những bất bình đẳng ngày càng gia tăng, sự bất bình đẳng ngay trong nội bộ một đô thị cũng đang ngày càng trở thành mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà hoạt động thực tiễn Với tốc độ phát triển đô thị hiện tại, nếu không nhanh chóng xác định cách sống phù hợp để đáp ứng yêu cầu của xã hội mới thì sự phát triển chắc chắn sẽ gặp những trở ngại nhất định
Những kết quả nghiên cứu về hành vi văn minh đô thị sẽ giúp các cơ sở đào tạo, các
cơ quan thông tin, truyền thông vận dụng thực hiện chức năng của mình có hiệu quả trong vấn đề xây dựng, rèn luyện hành vi văn minh đô thị cho các đối tượng công dân Nghiên cứu và đề xuất hệ thống biện pháp xây dựng hành vi văn minh đô thị ở thành phố Hồ Chí Minh không chỉ hướng tới việc xây dựng một nếp sống đô thị hiện đại mà còn có ý nghĩa tích cực tác động, ảnh hưởng đến sự chuyển biến trên nhiều lĩnh vực khác của thành phố trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh trở thành một thành phố văn minh hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc không chỉ là nguyện vọng của cư dân thành phố mà còn là một cơ
sở vững chắc để tiến hành hiện đại hóa, văn minh hóa các thành phố khác trên cả nước
Trang 10Thanh niên là lực lượng nòng cốt của xã hội, là những người rất nhạy bén với sự mới mẻ, là những người rất dễ thích ứng và thích ứng nhanh chóng với những thay đổi Đối tượng thanh niên ngày nay với các đặc điểm tâm - sinh lý phong phú, phức tạp thể hiện các hành vi văn hóa nói chung và hành vi văn minh đô thị nói riêng chưa thực sự thường xuyên và tạo ra một phong trào rộng khắp, do đó việc nghiên cứu hành vi văn minh đô thị của thanh niên rất cần thiết vì thanh niên có vai trò đặc biệt trong việc thực hiện các chương trình hoạt động thực tế của xã hội
Tại thành phố Hồ Chí Minh, quận 1 là địa phương đầu tiên phát động việc thực hiện các hành vi văn minh đô thị, đã thực hiện đề án: “Xây dựng nếp sống văn minh đô thị trên địa bàn quận 1, thành phố Hồ Chí Minh” Ủy ban nhân dân quận 1
đã có những nhận xét hết sức đáng chú ý trong báo cáo sơ kết đề án này: “Vẫn còn các khu dân cư có tệ nạn xã hội, vẫn còn thái độ thiếu tôn trọng nhân dân ở các công sở, vẫn còn tình trạng kẹt xe gây tắc nghẽn giao thông do phóng nhanh vượt
ẩu, vẫn còn tình trạng khạc nhổ, xả rác ra đường và các hành vi khiếm nhã nơi công viên, đặc biệt là đối với thanh niên Ý thức của một bộ phận dân chúng về giữ gìn
vệ sinh văn minh đường phố chưa cao, hiện tượng chèo kéo khách du lịch tranh mua, giành bán, lang thang ăn xin trên đường phố ở một vài nơi vẫn còn làm hạn chế kết quả thực hiện nếp sống văn minh đô thị trên địa bàn quận”
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu hành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận tâm lý học về hành vi văn minh đô thị, chỉ rõ thực trạng hành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh và những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi văn minh của họ Từ đó, đề xuất các biện pháp xây dựng hành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh theo hướng tích cực
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện hành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Khách thể nghiên cứu
Trang 111120 thanh niên sống tại thành phố Hồ Chí Minh, (gồm học sinh, sinh viên, thanh niên địa bàn dân cư), 30 thanh niên được chọn làm nghiệm thể thực nghiệm tác động
4 Giả thuyết khoa học
Thanh niên thành phố Hồ Chí Minh nhận thức chưa rõ về hành vi văn minh đô thị,
có thái độ chưa tích cực về việc thực hiện hành vi văn minh đô thị và có động cơ thực hiện hành vi văn minh đô thị chưa mạnh Biểu hiện hành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh trên 3 nhóm: quan hệ giữa thanh niên với bản thân, quan hệ giữa thanh niên với người khác và quan hệ giữa thanh niên với môi trường ở mức độ trung bình
Nếu có biện pháp nâng cao nhận thức, xác định rõ giá trị bản thân, hình thành thói quen văn minh đô thị và cải thiện điều kiện cơ sở vật chất tại nơi làm việc và nơi công cộng thì thanh niên thành phố Hồ Chí Minh sẽ thực hiện hành vi văn minh đô thị tốt hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản của tâm lý học về hành vi, hành
vi văn minh đô thị của thanh niên
5.2 Đánh giá thực trạng mức độ biểu hiện hành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi văn minh đô thị của
họ
5.3 Đề xuất và tổ chức thực nghiệm biện pháp nhằm giáo dục và rèn luyện hành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Về đối tượng nghiên cứu
Chỉ nghiên cứu hành vi văn minh ở đô thị của thanh niên trong mối quan hệ với người khác, với môi trường sống trực tiếp hàng ngày của thanh niên và với chính bản thân thanh niên
6.2 Về địa bàn nghiên cứu
Trang 12Đề tài lựa chọn nghiên cứu thanh niên của 5 quận nội thành: 4 quận đại diện cho các quận cũ của nội đô, 1 quận mới hình thành sau đổi mới và 2 huyện ngoại thành
6.2 Về khách thể nghiên cứu
Khách thể được giới hạn trong độ tuổi đầu thanh niên (16 - 22) Chọn mẫu tại các quận, huyện đoàn Riêng khách thể thực nghiệm chọn lớp tập huấn kỹ năng sống được tổ chức cho thanh niên tại trường Đoàn Lý Tự Trọng - thành phố Hồ Chí Minh
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1 Tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách
7.1.2 Tiếp cận hệ thống
7.1.3 Tiếp cận liên ngành
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
7.2.4 Phương pháp chuyên gia
7.2.5 Phương pháp quan sát
7.2.6 Phương pháp thực nghiệm tác động
7.2.7 Xử lý số liệu bằng thống kê toán học, trợ giúp bằng phần mềm SPSS
8 Đóng góp mới của luận án
8.1 Đóng góp mới về mặt lý luận
Làm phong phú thêm lý luận tâm lý học về hành vi và hành vi văn minh đô thị của thanh niên thể hiện trong ứng xử với môi trường sống, với những người xung quanh nơi công cộng và với chính bản thân mình Hành vi văn minh ở đô thị là hành vi thể hiện trình độ văn hóa của chủ thể, là cơ sở để xây dựng phong cách ứng xử giữa con người với hiện thực chung quanh
Trang 13Cung cấp một số thông tin, tư liệu để hỗ trợ các nhà quản lý xã hội, các nhà giáo dục, các cán bộ đoàn thể tham khảo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình trong công tác thanh niên Kết quả nghiên cứu góp phần giúp các cơ sở giáo dục thanh thiếu niên nói chung trong công tác tuyên truyền, vận động để hình thành và củng cố hành vi văn minh đô thị của thanh niên và trong các khóa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đoàn, cán bộ hội tại trường Đoàn Lý Tự Trọng thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
9 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 3 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận tâm lý học về hành vi văn minh đô thị
- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm các biểu hiện hành
vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC
VỀ HÀNH VI VĂN MINH ĐÔ THỊ CỦA THANH NIÊN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Những nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến hành vi văn minh đô thị có 3 hướng nghiên cứu chính như sau: hướng nghiên cứu về hành vi của thanh niên và những hệ quả của các hành vi lệch chuẩn của thanh niên, hướng nghiên cứu về hành vi văn minh của con người và của thanh niên nói riêng và hướng nghiên cứu về các hành
vi của con người và của thanh niên trong cuộc sống đô thị ngày nay
1.1.1.1 Hướng nghiên cứu về hành vi của thanh niên và những hệ quả của
các hành vi lệch chuẩn
Tác giả Michael Rulter trong công trình “What do we mean by “Antisocial behavior” and “Young people”?” đã trình bày nhiều quan điểm về các hành vi chống đối xã hội của những người trẻ tuổi, đặc biệt là thanh niên Tác giả đặt ra những câu hỏi và lý giải về hiện tượng chống đối xã hội này Tại sao thanh niên lại
có những hành vi chống đối xã hội? Thanh niên hiện nay, họ là ai? Họ đang sống trong một hệ thống xã hội như thế nào? Làm thế nào để thay đổi hành vi của thanh niên trong vấn đề này? Công trình này đã khẳng định rằng “các hành vi chống đối
xã hội của thanh niên xuất phát từ các yếu tố xã hội là chủ yếu, từ sự bất bình đẳng trong mối quan hệ giữa người và người trong xã hội” [ 86]
Các tác giả Loeber và Hay của Viện nghiên cứu tâm thần Phương Tây nước Mỹ cho rằng, những hành vi lệch chuẩn của thanh niên, những hành vi thiếu kềm chế của giới trẻ phần lớn là do ảnh hưởng của môi trường sống, của những nhóm bạn hoặc những tác động tiêu cực từ cộng đồng hoặc ngay cả gia đình mà thanh niên đó sinh sống” [ 82]
Tác giả Spiros Tzelepis của Hội nghiên cứu Tâm lý học bang New York nước Mỹ
đã phân tích trong công trình “According to youth Risk behavior servey” nhiều vấn
đề cụ thể về các hành vi bạo lực của học sinh, sinh viên “Trong toàn nước Mỹ đã
Trang 15có trung bình 14.8% học sinh, sinh viên từng đánh nhau gây thương tích Nhìn chung, nam sinh viên (20%) có nhiều khả năng gây hấn và đánh nhau hơn so với học sinh nữ (8,6%) Sự khác biệt có ý nghĩa về vấn đề này cũng được xác định cho học sinh da trắng và gốc Tây Ban Nha và tất cả các nhóm lớp”[97]
Tác giả Diah Wisenberg Brin với bài “Internet changing young people’s thinking and behavior” trên tạp chí HP Magazin nước Anh cho rằng các phương tiện truyền thông hiện đại đã góp phần làm thay đổi nhận thức và hành vi của giới trẻ, đặc biệt
là internet, phương tiện làm thế giới xích lại quá gần nhau trên mọi phương diện”[74]
Nhóm tác giả thuộc khoa Giáo dục, đại học Cambrige với công trình nghiên cứu
“Hỗ trợ hành vi xã hội cho thanh niên” đã phân tích các hành vi của thanh niên dưới góc độ của nhà sư phạm và đề xuất một số cách thức hỗ trợ hành vi của thanh niên trong các cộng đồng và trong việc thực hiện các chương trình xã hội, tình nguyện.[69]
Tác giả Kent E Portney của Đại học Boston, Mỹ đã giới thiệu và phân tích sâu sắc
về các hành vi chính trị của những người trẻ tuổi ngày nay Sau khi giới thiệu về hành vi chính trị, tác giả cho rằng “Ngày nay sự tham gia các hoạt động chính trị của người trẻ được nhìn nhận như là một hiện tượng thông thường nhưng hiện nay, việc tham gia các hoạt động chính trị của giới trẻ có khác khá nhiều so với giới trẻ trước đây, đặc biệt là trong vấn đề thực hiện quyền của một cử tri khi tham gia các cuộc bầu cử, dù ở cấp nào cũng vậy” [80]
Liabo Kristin, Joanna Richardson, nhóm tác giả của “Child and Adolescent Mental Health Center” của Anh trong công trình nghiên cứu “Conduct Disorder and Offending Behavior in Young People” đã trình bày các tài liệu và một số kỹ thuật, phương pháp tiếp cận điều trị đối với rối loạn hành vi trẻ vị thành niên và người phạm tội trẻ tuổi Các tác giả cũng phản ánh một cái nhìn tổng quan của tình trạng này bao gồm các tiêu chí để chẩn đoán rối loạn hành vi, và các dịch vụ cho thanh thiếu niên Theo các tác giả này thì “các rối loạn và hành vi vi phạm ở những người trẻ tuổi là vấn đề hết sức phức tạp cần có sự hỗ trợ và giải quyết của nhiều cơ quan với những giải pháp đa dạng”[84]
Trang 16Trong công trình nghiên cứu “The theory of planned behavior applied to young people's use of social networking Web sites” tác giả Pelling EL thuộc Queensland University of Technology, Australia đã nhận định rằng “Nhìn chung, việc sử dụng mạng xã hội bị ảnh hưởng bởi thái độ, quy phạm, và các yếu tố thuộc về bản sắc của con người nói chung và giới trẻ nói riêng Việc phát hiện vấn đề này có thể được sử dụng để thiết kế các chiến lược nhằm mục đích để thay đổi mức độ sử dụng hoặc khuynh hướng gây nghiện mạng xã hội của giới trẻ.”[89] Tác giả Marthairvine của Đại học Chicago, Mỹ cho rằng “Nhiều nhà quản lý và những người khác tại nơi làm việc từ lâu đã cho rằng sinh viên đại học gần đây thường nói đến những kỳ vọng cao bất hợp lý đối với tiền lương sau khi ra trường và họ cũng không muốn có những lời chỉ trích đối với họ Rất nhiều trong số họ có một sự tự tin rằng chúng tôi muốn điều chúng tôi có, họ đã tự tin thái quá” [85] Nhà tâm lý học Jeffrey Arnett, một giáo sư nghiên cứu ở khoa tâm lý học tại Đại học Clark ở Massachusetts cũng nói “Nghiên cứu tuổi trẻ ngày nay như nghiên cứu "tuổi trưởng thành mới nổi", một thuật ngữ đã được đặt ra để mô tả khoảng thời gian từ 18 tuổi đến 29 khi nhiều người trẻ đang tìm kiếm vị thế của họ một cách mạnh mẽ và đầy tự tin” [68]
Trong công trình nghiên cứu “Young Adults' Information Behavior: What We Know So Far and Where We Need to Go from Here” của nhóm tác giả Denise E
Agosto, Advisory Board Member đăng trên “Journal of Research on Libraries and
Young Adults” University Illinois, Mỹ đã có những nhận xét rất cụ thể về các nhu
cầu thông tin của thanh niên thể hiện qua các hành vi thu nhận, xử lý thông tin Nghiên cứu này cho rằng, “thanh niên thường thiếu kiến thức nguồn, kiến thức nền
và thiếu kiến thức tình huống, một số thanh niên né tránh các thông tin về mình và một số thanh niên rơi vào tình trạng quá tải thông tin” [74]
Luận án tiến sĩ “Media influence on deviant behavior in middle school” của tác giả Adrian D Pearson thuộc North Carolina University cho rằng “Hiện đang có nhiều câu hỏi phải được trả lời: Tại sao nhiều hành vi lệch lạc của giới trẻ Mỹ có khuynh hướng gia tăng trong vòng mười đến mười lăm năm qua? Có một mối tương quan nào giữa sự gia tăng phương tiện truyền thông đến việc thực hiện các hành vi này không?” Luận án này đề cập đến những tác động tiêu cực từ các phương tiện truyền thông đến các hành vi chống đối xã hội, truyền thông như một yếu tố quan trọng
Trang 17góp phần làm các học sinh nghĩ đến việc chống đối xã hội và gây rối Luận án cũng cung cấp một cách tổng quan về các yếu tố khác được xác định trong vấn đề này, đó
là việc thiếu sự hỗ trợ của gia đình, một số học sinh ít có lòng tự trọng và ít có sự kiểm soát từ bên ngoài [ 63]
1.1.1.2 Hướng nghiên cứu về hành vi văn minh của con người nói chung và
của thanh niên nói riêng
Tác giả Anton Chekhov trong “A Life in Letters ” đã đề xuất 8 tiêu chí để xác định
hành vi của người văn minh:
- Họ tôn trọng con người như một cá nhân, luôn luôn khoan dung, nhẹ nhàng, lịch sự và tuân theo các qui định đã được xác lập
- Họ có lòng từ bi đối với người khác ngoài những người ăn xin và những con mèo Trái tim của họ bị lay động về những gì đang nhìn thấy bằng mắt thường gây cho họ sự xót xa
- Họ tôn trọng tài sản của người khác, và do đó trả nợ khi đến hạn
- Họ không quanh co, không nói dối ngay cả trong vấn đề tầm thường nhất Nói dối với một người nào đó là xúc phạm họ, họ cư xử trên đường phố như khi họ ở nhà
- Họ không hạ mình xuống để gây được cảm tình của người khác
- Họ tự hào về tài năng của mình nếu họ có tài
- Họ không sống bản năng.[ 65]
Ralph S Marston, Jr với bài viết “Civilized behavior” trong Daily Motivator 2004
đã cho rằng: “Để cho nền văn minh được chứng minh, chúng ta phải thực hành lịch
sự, tôn trọng hành vi của người khác để được người khác tôn trọng lại”[91]
Nhóm tác giả trong tác phẩm “Rules for civilized behavior” đã khẳng định “Khi thực hiện một hành vi được cho là văn minh, người ta phải lưu tâm đến giá trị của hành vi đó trong nhận thức của mình, sau đó họ phải lựa chọn cách ứng xử phù hợp với mình”[97] Các tác giả cho rằng những hành vi văn minh được các cá nhân thực hiện lúc nào cũng phụ thuộc vào sự hiểu biết, về trình độ lượng giá vấn đề của cá nhân đó trong một tình huống cụ thể
Trang 18Tác giả Lucinda Holdforth trong cuốn sách “Why Manners Matter: The Case For Civilized Behavior in a Barbarous World” đã trình bày và phân tích khá sâu sắc về những ứng xử văn minh trong một tình huống bất thường hoặc “không văn minh” Tác giả cho rằng, người ta phải lịch sự với người khác vì ứng xử lịch sự với người khác như là một nhu cầu của mình vậy Không nên có cách suy nghĩ và ứng xử kiểu như: Tôi muốn làm những gì tôi muốn cho tôi mặc dù có thể làm cho bạn lâm vào cảnh khốn cùng.”[83] Đề cập đến các hành vi văn minh dưới góc nhìn văn hóa - tâm lý, tác giả cho rằng “Hành vi văn minh là cách thức cư xử hiện đại, là triết lý của các nhà tư tưởng về cuộc sống hiện đại”.[83]
Tác giả Jame Mann trong tác phẩm “Civilized behavior – Truth to power” khi phê bình các hành động của chiến tranh có nhận xét rằng “Một hành vi nếu mâu thuẫn với hành vi văn minh thì không thể nói đó là một hành vi yêu nước được”[78] Còn tác giả Keith Thomas trong “Toward civilized behavior” đề cập đến hành vi văn minh như là nói đến mối quan hệ và ứng xử giữa Người với Người, trong đó các hành vi thông thường như ăn uống, thích ứng với môi trường được thực hiện như thế nào để người khác không cảm thấy lố bịch [81] Đối với tác giả Itzkoff Seymour W trong “The making of the civilized mind” thì đề cập đến hành vi văn minh như là một hành vi có tính trí tuệ cao [77]
1.1.1.3 Hướng nghiên cứu về hành vi của con người trong đô thị ngày nay
Samual P Huntingtion với “Civilizations and the recreating of world order” [Penguin group] cho rằng “Hành vi văn minh tại đô thị phụ thuộc vào môi trường và
có tác động đến môi trường, mối quan hệ giữa hành vi văn minh và môi trường rất đặc biệt.”[96] Milgram Stanley trong bài viết “What are the differences between urban and rural behavior?” mô tả các hành vi văn minh trong môi trường đô thị bắt đầu từ sự thay đổi lối sống, nếp sống, đặc biệt là đối với mối quan hệ ứng xử giữa người với người trong môi trường đô thị [76]
ý thức bản thân” trong quá trình hình thành các hành vi văn minh, lối sống văn minh ở đô thị [95]
Tác giả Ahmed A L Mahbub Uddin trong “Weber’s perspective on the city and culture” cho rằng những yếu tố văn hóa có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành
Trang 19những khuôn mẫu ứng xử, những khuôn mẫu ứng xử này quay lại ảnh hưởng đến việc duy trì các giá trị văn hóa.[66]
Công trình nghiên cứu “Suicidal Behavior in Urban American Indian” của tác giả Freedenthal S của hiệp hội nghiên cứu tự tử Mỹ “The American Association of Suicidology” năm 2004 cho rằng, những người tự tử trẻ tuổi ở đô thị thường có vấn
đề về tâm lý và phần lớn mang màu sắc lạm dụng [73]
Tác giả SE McKinney trong nghiên cứu qua đánh giá xếp loại ABC giáo viên trường phổ thông “Managing Student Behavior in Urban Classrooms: The role of Teachers” đã nhận định rằng, muốn quản lý hành vi, ứng xử của học sinh trong lớp học theo các chuẩn mực thì người giáo viên phải am hiểu những diễn biến tâm lý
và các tình trạng xã hội khác từ phía gia đình, bè bạn của học sinh” [98]
Có thể nhận thấy rằng, các khuynh hướng nghiên cứu trên đây của các tác giả nước ngoài có đề cập đến hành vi của thanh niên dưới góc nhìn tâm lý học, văn hóa học nhưng phần lớn ở dạng mô tả và trình bày những thông tin trong nghiên cứu thực tiễn Những hành vi văn minh được các tác giả nước ngoài trình bày khá chi tiết trên các bình diện ứng xử của con người nhưng cũng mang tính khái quát, chưa phân tích cụ thể mối quan hệ giữa các chủ thể với hiện thực chung quanh Những hành vi trong môi trường đô thị hiện đại được các tác giả nước ngoài phân tích khá rõ, đặc biệt là những tác động khách quan đến các hành vi văn minh Đây cũng là cơ sở để tham khảo nghiên cứu vấn đề văn minh đô thị hiện nay và hành vi văn minh đô thị của thanh niên hiện nay cho luận án
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, có thể lưu ý đến 2 hướng nghiên cứu: hướng nghiên cứu về hành vi, hướng nghiên cứu về hành vi văn minh đô thị
1.1.2.1 Hướng nghiên cứu về hành vi
Ở Việt Nam, tác giả Phạm Minh Hạc đã có công trình “Hành vi và hoạt động” khẳng định phương pháp tiếp cận hoạt động – nhân cách, định hướng cho nghiên cứu tâm lý học lý luận và ứng dụng ở Việt Nam Những vấn đề lý luận về hành vi của mỗi trường phái tâm lý học còn nhiều điều khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận, do đó việc định hướng nghiên cứu từng loại hành vi cụ thể của con người có sự
Trang 20khác nhau, hệ thống các cách thức điều khiển, thích ứng hành vi cũng sẽ khác nhau.[12]
Trong lĩnh vực tâm lý học ứng dụng, các hành vi được xem xét là những biểu hiện bên ngoài chịu sự tác động từ những động cơ bên trong với những công trình nghiên cứu về hành vi tổ chức, hành vi tiêu dùng, hành vi khách hàng, hành vi tài chính, hành vi tội phạm, hành vi tình dục Đặc biệt gần đây các tác giả Việt Nam đã có nhiều quan tâm đến hành vi tiêu dùng và hành vi khách hàng Một số công trình nghiên cứu về hành vi tiêu dùng ở Việt Nam đã tham khảo ý tưởng về lý thuyết “tài chính hành vi” khi cho rằng “Tài chính hành vi” là một hệ lý thuyết kinh tế đòi hỏi phải hiểu và dự đoán được những ẩn ý trong hệ thống thị trường tài chính của việc đưa ra những nhận định và quyết định cụ thể [23] Bằng cách hiểu hành vi của con người và cơ chế tâm lý khi đưa ra các quyết định tài chính, những mẫu tài chính chuẩn có thể được nâng cao để phản ánh và giải thích tốt hơn thực tế phát triển của thị trường ngày nay “Tài chính hành vi” là một bộ phận của các môn học về tài chính, các nội dung này là cơ sở giúp con người hiểu và dự đoán được các dấu hiệu của hệ thống thị trường tài chính để có các quyết định tâm lý “Tài chính hành vi gần như bao gồm cả hành vi con người và hiện tượng thị trường và sử dụng các kiến thức có được từ ngành tâm lý học và lý thuyết tài chính” [94]
Cũng trong xu thế ứng dụng tâm lý học hành vi, tác giả Nguyễn Như Chiến với luận
án tiến sĩ “Nghiên cứu hành vi chấp hành luật giao thông đường bộ của học sinh trung học cơ sở khi tham gia giao thông” đã có những phân tích khá rõ nét về diễn biến hình thành và biểu hiện hành vi tham gia giao thông của học sinh nói riêng và con người xã hội nói chung Luận án của tác giả Nguyễn Như Chiến đã chỉ ra thực trạng hành vi chấp hành luật giao thông đường bộ của học sinh trung học cơ sở (THCS) khi tham gia giao thông dựa trên số liệu thu được từ nhiều nguồn thông tin khác nhau; phân tích các yếu tố tâm lý, xã hội ảnh hưởng đến hành vi chấp hành luật giao thông của học sinh THCS Các phân tích, so sánh được tiến hành theo nhiều chiều cạnh khác nhau như: theo biến số lớp học, theo giới tính, theo học lực, hạnh kiểm của học sinh, theo khu vực trường… đã làm rõ được các mức độ chấp hành, những sai phạm luật giao thông của học sinh.[4]
Trang 21Tài liệu tham khảo Tạp chí Giáo dục mầm non tháng 2/2008 với chuyên đề “Giáo dục hành vi văn hóa cho trẻ” không chỉ đề xuất những yêu cầu cho trẻ mà cho cả người lớn, cho thầy cô giáo để ứng xử có văn hóa với những hành vi văn hóa Các công trình nghiên cứu trên đây đã có những phân tích khá chi tiết về những vấn đề
lý luận về hành vi, cơ cấu hành vi, những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của từng đối tượng, đặc biệt phác thảo thực trạng thực hiện hành vi với những nội dung đa dạng
1.1.2.2 Những nghiên cứu về hành vi văn minh đô thị
Việc nghiên cứu những vấn đề tâm lý văn hóa, tâm lý đô thị ở Việt Nam chưa được khai phá và đầu tư thỏa đáng, ngoài những nghiên cứu về giao tiếp, về tâm lý cộng đồng, tâm lý học về hành vi tiêu dùng những nghiên cứu hành vi văn hóa, văn minh nói chung, hành vi văn minh đô thị vẫn còn khá ít ỏi
Ở Việt Nam, vấn đề nếp sống thị dân và văn minh đô thị đã được nhiều tác giả đề cập trong các công trình nghiên cứu, các bài báo và các ý kiến phát biểu của nhiều nhà nghiên cứu thực tiễn dưới nhiều góc độ khác nhau Đặc biệt khi Hội đồng nhân dân (HĐND) thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) lấy năm 2008 và tiếp tục năm 2009
là năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị thì vấn đề càng được quan tâm nhiều hơn, rộng hơn và sâu sắc hơn Có thể nói rằng các công trình nghiên cứu trong nước đã mở ra nhiều hướng tiếp cận để tiếp tục nghiên cứu môi trường đô thị đang càng ngày càng định hình rõ nét hơn ở TPHCM nói riêng và cả nước nói chung Các nghiên cứu trong nước tuy rất đa dạng và hết sức phong phú nhưng có thể khái quát trên các vấn đề sau đây:
- Một số nội dung, khái niệm về nếp sống văn minh, thực trạng nếp sống xã hội hiện nay Nhiều nghiên cứu nêu những bức xúc cần giải quyết trong xây dựng nếp sống văn minh, xác định hệ chuẩn mực nếp sống văn minh trong giai đoạn mới Một số lý luận về xây dựng nếp sống văn minh trong bối cảnh hiện nay và dự báo
về nếp sống đô thị của dân tộc Việt đến năm 2020 Những hệ chuẩn mang tính qui tắc của nếp sống văn minh đô thị - những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng nếp sống văn minh đô thị Các tác giả trong nước cũng đề cập đến những thay đổi bộ mặt của đô thị Việt Nam trong những năm qua dẫn đến những thay đổi về cách sống, về lối sống để thích nghi với “xã hội mới” Trong xu hướng này có đề tài khoa
Trang 22học của tác giả Hà Học Hợi “Một số vấn đề lý luận về xây dựng nếp sống văn minh Xây dựng nếp sống văn minh trong bối cảnh dân tộc và thời đại hiện nay” năm
2003 Cũng trong năm này, công trình nghiên cứu “Nghiên cứu, xây dựng chương trình giáo dục nếp sống văn minh thí điểm trên truyền hình” của tác giả Nguyễn Nghĩa Trọng thuộc Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương đã được nghiệm thu và đưa vào ứng dụng Ngoài ra còn có đề tài của tác giả Nguyễn Thế Cường năm 2002
“Xây dựng trật tự đô thị TPHCM từ cách tiếp cận văn hóa xã hội” nói lên được một
số khía cạnh của những hành vi bảo đảm trật tự đô thị
- Khuynh hướng nghiên cứu về việc điều chỉnh chính sách quản lý đô thị trong tình hình mới, từ việc điều chỉnh qui hoạch hạ tầng đến qui hoạch dân cư và các khu vực chuyên biệt khác, từ việc hình thành các khu đô thị tự phát đến việc định hướng phát triển đô thị có sự kiểm soát Nhiều tác giả cũng đề cập đến khả năng quản lý đô thị của Việt Nam để đề xuất các giải pháp quản lý đô thị phù hợp, trong đó có đề cập đến việc hình thành lối sống mới, hình thành các thói quen sinh hoạt ở đô thị và trở thành hành vi văn minh đô thị “Sự thay đổi chức năng từ đô thị hành chính sang đô thị kinh tế - chính trị - văn hóa, kết hợp với việc mở rộng diện tích cùng xu thế nhà cửa phố xá được tổ chức, xây dựng hiện đại hơn, hệ thống giao thông hoàn thiện hơn dẫn đến việc hình thành một tiền đề vật chất quan trọng để các tầng lớp dân cư đô thị thiết kế một sinh hoạt kiểu mới và hình thành các thói quen ứng xử mới ở đô thị, điều đó như sự đan xen hiển nhiên giữa nền văn minh nông nghiệp và văn minh công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa đất nước.”[33] Cũng trong hướng này tác giả Trần Ngọc Khánh đã phân tích các yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của con người trong xã hội hiện đại, xã hội đang đô thị hóa mạnh mẽ với đề tài “Văn hóa đô thị và vấn đề đô thị hóa từ thực tiễn đời sống văn hóa của TPHCM.”
- Khuynh hướng đề cập đến những vấn đề nhận thức về một thành phố phát triển năng động, đông dân với những nhận định về hiện trạng và hướng phát triển trong tương lai của TPHCM Những định hướng, giải pháp quy hoạch đúng đắn và khả thi cho thành phố để TPHCM trở thành một thành phố văn minh – hiện đại – văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc Những phương pháp tiếp cận mới mang tính hệ thống nhằm cải tiến hệ thống qui hoạch và quản lý đô thị trong thời kỳ
Trang 23chuyển đổi (gắn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)) nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của thành phố, trong đó yếu tố con người đóng vai trò là hạt nhân chủ thể Trong khuynh hướng này có đề tài “Xác định các luận cứ cho các giải pháp kiến trúc - quy hoạch xây dựng TPHCM văn minh - hiện đại - văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc” của tác giả Lưu Trọng Hải năm
2001
- Khuynh hướng nói đến sự chuyển động đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ cùng những việc chỉnh trang qui hoạch đô thị ngày càng dồn dập trong giai đoạn phát triển đô thị hiện nay của TPHCM đưa ra những vấn đề cần giải quyết của việc phát triển đô thị tại TPHCM nhằm định hướng cho việc xây dựng tính nhân văn và bền vững của thành phố Những thay đổi giá trị sống như là điều tất yếu, trong đó
có sự thay đổi về lối sống, nếp sống; sự phân tầng xã hội, sự xã hội hóa lối sống ngày càng mạnh mẽ và do vậy các yếu tố văn hóa của lối sống, nếp sống, hành vi văn minh hiện đại càng phải được coi trọng Hướng nghiên cứu này có đề tài của tác giả Tôn Nữ Quỳnh Trân “Vấn đề phát triển đô thị bền vững tại TPHCM và những kinh nghiệm từ một số thành phố lớn ở Đông Nam Á.”
- Những nghiên cứu, bài viết hoặc các bài phát biểu của các vị lãnh đạo, quản
lý nhà nước về môi trường đô thị, về việc thực hiện nếp sống văn minh đô thị… Một số bài viết phê phán mạnh mẽ lối sống vô tổ chức, thiếu văn minh của một bộ phận cộng đồng dân cư Những nghiên cứu và bài viết đề cập đến các giải pháp chung và khái quát về việc vận động cư dân, vận động cộng đồng tham gia quản lý
xã hội và ủng hộ cho chủ trương hình thành chính quyền đô thị với lối sống mới (Đời sống thị dân: văn minh đô thị bắt đầu từ đâu? Tác giả Nguyễn Minh Hòa.)
“Phát triển văn hoá đồng bộ, tương xứng với phát triển kinh tế để tạo dựng sự phát triển đô thị bền vững - Trường hợp TPHCM” của tác giả Trần Trọng Đăng Đàn Tạp chí Khoa học chính trị, 2005
Tóm lại, vấn đề hành vi văn minh đô thị đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó đề cập đến định nghĩa hành vi văn minh, ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa đến việc hình thành những ứng
xử văn minh, những biểu hiện của nếp sống văn minh đô thị Các tác giả cũng đề cập đến những tác động tích cực lẫn tiêu cực từ sự phát triển đô thị ngày càng nhanh
Trang 24chóng đối với việc hình thành các thói quen mới, những hành vi đáp ứng yêu cầu mới của xã hội phát triển Tuy nhiên việc nghiên cứu sự hình thành những hành vi văn minh đô thị trong những bối cảnh, hoàn cảnh hoặc địa phương cụ thể chưa được
đề cập một cách rộng rãi, các mức độ thực hiện hành vi văn minh đô thị của các nhóm dân cư cụ thể chưa được xem xét chi tiết
Về phương diện tâm lý học, việc nghiên cứu hành vi văn minh đô thị của một đối tượng cụ thể nào từ trước đến nay vẫn còn khá mới và chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này Đề tài “Nghiên cứu hành vi văn minh đô thị của thanh niên TPHCM” sẽ cụ thể hóa vấn đề này không phải dưới góc độ văn hóa - xã hội học mà chủ yếu trên bình diện tâm lý học
ra được những sản phẩm đặc trưng cho cử động hành vi Cử động hành vi không phải là phản ứng sinh lý học, vì vậy phải nghiên cứu hành vi tổng thể bằng con đường riêng với các yếu tố trung gian của chủ thể trong sơ đồ S - R Trong lúc đó, K.Hull (1884-1953) lại cho rằng: hành vi là cử động có thể làm cho các nhu cầu của
cơ thể được thỏa mãn, là hành vi do các biến số nhu cầu cơ thể và môi trường ngoài
cơ thể tạo nên, tuy nhiên hành vi này vẫn nằm trong mối liên hệ trực tiếp S - R.[13] Thông qua kết quả các thực nghiệm của mình, B.F.Skinner đã phát biểu: “cường độ của hành vi tạo tác tăng lên nếu hành vi (tác động) được kèm theo kích thích củng
cố Sự củng cố trong bộ máy khái niệm của B.F.Skinner, hai khái niệm chủ yếu là phản ứng tạo tác và củng cố hành vi Không có củng cố trực tiếp thì không thể có hành vi tạo tác Có củng cố là có sự xuất hiện phản ứng Xác suất xuất hiện phản ứng, tần số, và cường độ phản ứng hoàn toàn tùy thuộc vào củng cố và cách củng
cố Theo B.F.Skinner, hậu quả hành vi – những cái củng cố - là các lực kiểm soát rất mạnh mẽ, vì vậy mà kiểm soát được củng cố thì sẽ kiểm soát được hành vi
Trang 25Nhà tâm lý học J.Mid (1863-1931) làm việc ở đại học tổng hợp Chicago, một trung tâm của tâm lý học chức năng đã tính đến tính độc đáo quyết định luận hành vi con người J.Mid gọi đó là thuyết hành vi xã hội Theo ông, cần chấp nhận hành động của nhóm có một ý nghĩa đặc biệt, nghĩa là có tính biểu tượng – “cử chỉ có ý nghĩa” hay “vận động có biểu cảm” Chỉ có khi đặt mình vào vị trí của người khác, mỗi người mới hiểu được suy nghĩ cũng như những phản ứng của họ Gần hơn nữa đó là quá trình giao tiếp, con người có thể nhận ra chính họ là ai? Chủ thể trong mắt người khác như thế nào? Và từ đó, mỗi người hiểu ra bản thân mình là gì trong cái nhìn của chính mình
A Adler (1870 - 1937) là nhà tâm lý học người Áo với thuyết tâm lý học cá nhân cho rằng tất cả hành vi của con người đều chịu ảnh hưởng bởi xã hội Nhân cách thống nhất với hoàn cảnh và môi trường xã hội A.Adler vẫn cho vô thức bản năng hay năng lượng tâm hồn là những cơ chế của tính tích cực, xung đột và bảo vệ Theo A.Adler, con người luôn muốn hơn người khác, khi có nhược điểm trong lĩnh vực này lại siêu đẳng trong lĩnh vực khác Đó là cơ chế bù trừ xuất phát từ động cơ
xã hội Những sự bù trừ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố xã hội có tính chất quyết định Ở đây, Adler đã quá thổi phồng tính chất bù trừ trong con người, mà không thấy vai trò của hoạt động con người [29]
Dưới góc nhìn khoa học, có thể cho rằng ngày nay, các nhà nghiên cứu có thể kế thừa những vấn đề hợp lý trong quan điểm của các tác giả trước đây để đề xuất những vấn đề mới Sự kế thừa này có ý nghĩa trong quá trình nghiên cứu sự hình thành hành vi của các đối tượng ngày nay, trong đó có hành vi văn minh đô thị, trong đó có giải pháp tập luyện để hạn chế những tác động của bản năng, sự hòa nhập vào các mối quan hệ xã hội để thích ứng với tính văn minh trong một đô thị phát triển
Theo A Maslow, hành vi của con người không chỉ gồm các hành vi quan sát được
mà là những phản ứng không quan sát được, những trải nghiệm chủ quan của con người Nếu tâm lý học hành vi lấy điều kiện bên ngoài làm nguyên tắc quyết định cho hành vi con người thì phân tâm học lấy điều kiện bên trong làm nguyên tắc quyết định Động cơ chính trong cuộc đời là khuynh hướng tự thể hiện mình,
Trang 26khuynh hướng này là bẩm sinh và không ngừng thúc đẩy con người hướng đến hoạt động, thể hiện hành vi giúp họ tự khẳng định mình.[18]
Qua xem xét lý luận về hành vi của các trường phái trong tâm lý học phương Tây, các trường phái này đều có những điểm hợp lý, họ đã khắc phục được cách nhìn duy tâm về hành vi người, đã có những đóng góp tích cực cho việc nghiên cứu hành
vi con người Tuy vậy lý luận của các trường phái này vẫn chưa hoàn toàn lý giải được một cách đầy đủ những vấn đề cốt lõi về hành vi con người Trình bày các quan điểm của những trường phái trên nhằm hiểu thêm về những vấn đề cần bổ sung cho nghiên cứu về hành vi, luận án sẽ kế thừa những giá trị tích cực và hợp lý
để tiếp tục nghiên cứu về hành vi văn minh đô thị của thanh niên ngày nay
L.X Vygotsky với bài báo nổi tiếng “Ý thức là vấn đề của tâm lý học hành vi” được xem là cương lĩnh đầu tiên của lý thuyết về tâm lý học hoạt động đã xác định hành
vi là “cuộc sống” là “lao động” là “thực tiễn” nghĩa là phải hiểu hành vi là hoạt động với đơn vị của nó là hành động trong cuộc sống, tâm lý, ý thức[18]
Đặc biệt chú ý đến luận điểm của A.N.Leonchiev khi cho rằng, trong bản thân ý thức có cái “nghĩa” và cái “ý” Quan điểm này rất quan trọng khi xem xét hành vi thích ứng của con người trong xã hội Điều này giúp chúng ta giải thích các hành vi phức tạp của con người trước các lựa chọn nhất định, trong đó có hành vi văn minh
đô thị, hành vi mà chủ thể phải hết sức cố gắng lựa chọn là phải làm gì trong tình huống cụ thể
Như vậy, có thể nói các nhà Tâm lý học hoạt động đều có chung một quan điểm cho rằng: ý thức là chức năng tâm lý cấp cao chỉ có ở người và hành vi đặc trưng của con người là hành vi do ý thức định hướng, điều khiển, điều chỉn
ý thức, được chủ thể thực hiện trong điều kiện chủ thể xác định được mình là ai, hành vi được thực hiện trong hoàn cảnh nào Có thể xem cách tiếp cận hành vi của các nhà Tâm lý học hoạt động là nền tảng để kế thừa và tiếp tục nghiên cứu Dưới góc độ nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu đồng quan điểm: hành vi của con người là hành vi có ý thức Tính có ý thức của hành vi con người thể hiện ở chỗ: trước khi thực hiện hành vi con người có suy nghĩ, con người nhận thức được hoàn cảnh và sử dụng kiến thức, kinh nghiệm của mình để hình thành
Trang 27nên các mô hình tâm lý của hành vi (kế hoạch thực hiện hành vi) Mô hình tâm lý này sẽ trải dọc hành vi, định hướng, điều khiển hành vi
Từ những vấn đề lý luận của các trường phái tâm lý học về hành vi, luận án xây dựng khái niệm cụ thể về hành vi để có những luận cứ phân tích về hành vi văn minh đô thị với tư cách là khái niệm công cụ của luận án
Năm 1843, khi đưa ra khái niệm “tập tính học”, John Stuart Mill đã nói đến “hành vi” như là một thói quen tập thành Khái niệm hành vi được bàn đến rất nhiều trong tâm lý học từ khi thuyết hành vi trở thành một trường phái tâm lý học, lấy hành vi con người làm đối tượng nghiên cứu [9, tr 34]
Theo A.N Leonchiev, “hành vi con người không phải là những phản ứng máy móc của một cơ thể sinh vật mà hành vi phải được hiểu là hoạt động”[18, tr222] Cũng trong khuynh hướng này, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng “Hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động và bao giờ cũng gắn liền với động cơ, mục đích”[18,tr 222] Theo Hersey và Hard thì “Đơn vị cơ sở của một hành vi là một hành động Toàn bộ hành vi là một chuỗi hành động” [41]
Tác giả Robert L Berger, Ronald C Federico, James T McBreen trong tác phẩm
“Human Hehavior - third Edition” thì cho rằng “hành vi được hiểu là những gì con người hành động, mặt khác hành vi luôn chứa đựng nhận thức và cảm xúc của con người đó” [93,tr 2] Tác giả Fred Dretske trong “Explaining Behavior” đã phân biệt hành vi và những cử động của một con người, trong đó tác giả nhấn mạnh có hành
vi do các tác động bên ngoài nhưng có nhiều hành vi do các tác động bên trong cá nhân [75,tr 2-9] Quan niệm của Fred Dretske rất gần với quan điểm của Leonchiev
và Phạm Minh Hạc về hành vi, xem hành vi như hoạt động hay là sự biểu hiện bên ngoài của hoạt động
Tác giả Charles Zastrow và Karen K Kirst - Ashman trong tác phẩm
“Understanding Human behavior and the Social environment” đã mô tả “hành vi con người là những phản ứng từ kết quả tác động của các yếu tố sinh lý - tâm lý -
xã hội và môi trường của con người, hành vi không phải là một thao tác mà là một tiến trình”[70,tr14] Tác giả John M Ivancevich và Michael T Matteson trong Orgaizational Behavior and Management cho rằng “hành vi của con người luôn được kích thích bởi những động cơ cụ thể, kích thích hành vi tức là phải kích thích
Trang 28động cơ” [79,tr 92] Nhóm tác giả chủ biên “Abnormal Psychology” cho rằng hành
vi không chỉ được tri giác như những phản ứng bên ngoài khi có các kích thích, muốn hiểu hành vi bất thường cần tìm kiếm những tác động từ bên trong cá nhân nữa”[92,tr 65]
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì “Hành vi là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định”[42,tr 423] Cách hiểu này đề cập đến hoàn cảnh của sự xuất hiện hành vi và hành vi ở đây phải là những hành xử mà người khác có thể quan sát được Trong từ điển Tâm lý học của tác giả Nguyễn Khắc Viện thì từ tiếng Anh
“Behavior” thường dùng trong các tài liệu tâm lý học có thể dịch sang tiếng Pháp với hai từ khác nhau là “compoterment” và “conduit”, qua tiếng Việt cũng thành hai
từ là “ứng xử” và “hành vi” trong đó từ “ứng xử” tương đương với từ
“compoterment”[62,tr 142] Theo từ điển Giáo dục học thì “Hành vi của con người
là hệ thống các hành động của một nhân cách có ý thức, trong đó thể hiện trước hết những mối quan hệ của con người với môi trường xã hội”[35,tr 175]
Trên cơ sở phân tích, đối chiếu các quan điểm của nhiều tác giả và trên cơ sở
của tâm lý học hoạt động, có thể hiểu: Hành vi là sự ứng xử của chủ thể đối với môi
trường, đối với bản thân họ và đối với người khác do ý thức định hướng, điều khiển, điều chỉnh
Ngoài các cơ sở sinh lý học, hành vi của con người còn dựa trên các cơ sở tâm lý học và đây được xem là những vấn đề chủ yếu định hướng hành vi con người Theo từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên) thì “Khái niệm cơ sở định hướng của hành động đã được nhà tâm lý học Xô Viết P.La Ganperin đề xuất trong
lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn Nội dung của cơ sở định hướng của hành động ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của hành động Nếu có
cơ sở định hướng đầy đủ, hành động sẽ được thực hiện tốt trong một phạm vi các tình huống.” [7,tr125] Cơ sở định hướng của hành động là một tập hợp các định hướng và chỉ dẫn cho chủ thể cụ thể
Cũng theo thuyết này thì có 3 dạng chính xây dựng sơ đồ cơ sở hành động tương ứng với 3 dạng hoạt động
Trang 29- Chủ thể không có được hệ thống đầy đủ các điều kiện nên buộc phải bổ sung nó theo phương pháp “thử và sai” Do vậy cấu trúc đầy đủ của hành động được hình thành một cách chậm chạp và chủ thể cũng không nhận thức được nó một cách đầy đủ Trong trường hợp này, hành động rất dễ chịu ảnh hưởng của các tác động bên ngoài
- Chủ thể định hướng trên một hệ thống đầy đủ các điểm, vật chuẩn định hướng và trù tính đến toàn bộ hệ thống điều kiện thực hiện đúng hành động, bảo đảm ngay từ đầu không có sai sót Trong sơ đồ này, cơ sở định hướng của hành động hoặc là xuất hiện với dạng vốn sẵn có, hoặc được các chủ thể xác lập
- Định hướng đầy đủ của cá nhân không phải là vào điều kiện thực hiện một hành động cụ thể nào đó mà là vào các đơn vị cấu thành và vào các qui luật liên kết những đơn vị đó Cơ sở định hướng của hành động dạng này bảo đảm cho việc phân tích một cách sâu sắc tài liệu nghiên cứu và hình thành động cơ nhận thức Những định hướng này xuất phát từ một số cơ sở tâm lý học cụ thể, những cơ sở thúc đẩy hành vi của con người trong các mối quan hệ xã hội
Bàn về việc thỏa mãn nhu cầu với tư cách là một yếu tố tạo nên động cơ hành
vi, H.Hipso và M.Phorvec đã cho rằng “Khác với động vật, những nhu cầu cơ thể của con người được thỏa mãn một cách gián tiếp chứ không phải trực tiếp”
“Phương tiện thỏa mãn là sản xuất ra những sản phẩm cần thiết cho cuộc sống trong điều kiện hợp tác Thực tại đầu tiên và điều kiện tất yếu không thể thiếu của sự sống con người là lao động, sản xuất xã hội tiến hành trong xã hội Lao động là cội nguồn của hành vi xã hội, vì thế hành vi xã hội là “được kích thích” từ bên ngoài và không nghi ngờ gì, tạo nên cơ sở con người” [ 40,tr 128]
Theo H.Hipso và Phorvec thì: “Bản chất xã hội của con người, cả hành vi xã hội của họ đều không thể chứa đựng sẵn những hành vi trong cấu trúc sinh vật học của
nó dưới dạng những cơ chế điều chỉnh có sẵn Có chăng thì có thể tìm sự thể hiện của cấu trúc bản chất xã hội này trong cấu trúc sinh vật học chung của con người Song không thể cho rằng luận điểm này là trong quá trình phát sinh lúc đầu cấu trúc chung này hình thành, rồi lao động và hình thức xã hội của đời sống phát triển là hậu quả của cấu trúc chung Cả hai quá trình đều hình thành cùng nhau trong điều kiện ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình sinh ra con người” [40, tr 129]
Trang 301.2.2 Văn minh
Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, văn minh W Summer và A Keller cho rằng “Tổng thể những sự thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa hay văn minh Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa”[1,tr 16] Như vậy, với nhận định này, các tác giả đã đồng nhất văn minh với văn hóa
Xem xét nguồn gốc từ “văn minh”, người ta nhận thấy Văn minh là từ Hán - Việt trong đó “văn” là vẻ đẹp, “minh” là vẻ sáng, nó chỉ một trạng thái phát triển rực rỡ của văn hóa Trong nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, từ “văn minh” không phải là từ mới, vì trong Kinh Dịch, ở Quẻ Kiều, người ta đã đọc thấy hai chữ “văn minh” ở câu “ Hiện long tại điều thiên hạ hữu văn minh (nghĩa là như con rồng hiện
ra trên mặt cánh đồng, tức là lúc thiên hạ văn minh) Trong Kinh Lễ cũng có câu
“Tình thâm nhi văn minh” (nghĩa là lòng cảm động càng sâu thì vẻ ngoài mới sáng tỏ)[1,tr 23] Nhiều tác giả cũng cho rằng “Văn minh” theo nghĩa hiện nay là do người Nhật mượn trong kho từ vựng của Trung Quốc, dùng để dịch từ “civilisation” trong tiếng Pháp hay từ “civilization” của tiếng Anh Các từ này lại bắt nguồn từ ngữ căn La tinh là “civis” và từ ngữ căn này đã hình thành nên các từ có liên quan như “civilis”(công dân) và civitas”(đô thị) Năm 1776, khi bộ Bách khoa từ điển của nhóm Diderot xuất hiện, Holbach là người biên soạn trực tiếp từ mục này, thuật ngữ
“civilization” mới được mọi người chấp nhận và sử dụng một cách phổ biến như hiện nay Theo đó, văn minh là trạng thái xã hội của một cộng đồng nhân loại đã được khai hóa, đã tiến bộ và trái với trạng thái dã man hay bán khai Như vậy, với phân tích này, chúng ta có thể hiểu văn minh là phù hợp với sự phát triển, là những nhân tố hiện đại, tiến bộ Cùng quan niệm này, tác giả người Mỹ W.Durant đã nhận định “Văn minh là trật tự xã hội gợi lên sự sáng tạo văn hóa, nó bắt đầu từ khi sự hỗn độn và tình trạng bất an chấm dứt”[1,tr24] Trong khi đó thì các tác giả từ nước Anh định nghĩa “Văn minh là thời đại lý tưởng của văn hóa nhân loại, với đặc trưng
là hoàn toàn không còn tình trạng dã man và những hành vi phi lý Trong xã hội đó
đã có sự vận dụng toàn bộ những nguồn năng lực trí tuệ, vật lực và văn hóa của con người, cũng như sự hoàn thiện đối với cá nhân con người Như vậy, theo dòng phân
Trang 31tích này, văn minh trước hết và cơ bản là khái niệm đặc trưng cho trình độ của con người trong việc chiếm lĩnh thế giới nói chung “Văn minh là xã hội đã đạt tới một trình độ nhất định về lý tính và công bằng”[1,tr 25]
Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì “văn minh là nền văn hóa đã đạt tới một trình độ nhất định, với những đặc trưng riêng, tiêu biểu cho một xã hội rộng lớn, một thời đại hoặc cho cả nhân loại” Trong lúc đó Từ điển học sinh (nxb Giáo dục HN 1971) thì “văn minh là trình độ phát triển cao của nền văn hóa tinh thần và vật chất của xã hội loài người ở một giai đoạn nhất định” Trong tác phẩm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” tác giả đã cho rằng “Văn minh thể hiện một trình độ phát triển nhất định của nền văn hóa, đặc biệt là trình độ phát triển có liên quan đến các giá trị vật chất và cả những tiến bộ kỹ thuật mà chính những hành động sáng tạo văn hóa của cộng đồng người đã mang lại cho xã hội Văn minh chỉ những thành tựu hoạt động sáng tạo khoa học kỹ thuật, sáng tạo văn hóa tinh thần của con người” [1,tr24] Chúng ta nhận thấy khái niệm văn minh dùng để chỉ những giá trị vật chất hoặc tinh thần tiến bộ theo hướng xóa bỏ những lạc hậu, thấp kém, hướng tới sự phát triển, sự hoàn thiện Với bài báo “What is civilization?” thì văn minh được tiếp cận khá đơn giản “Con người khác thú vật chỉ bởi có nền giáo dục, vốn có thể được định nghĩa như là phương pháp chuyển giao nền văn minh”[76]
Trong từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Thanh Hóa thì “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” và “Văn minh là trình độ phát triển đạt đến một mức nhất định của xã hội loài người, có nền văn hoá vật chất và tinh thần với những đặc trưng riêng” Vậy văn hóa và văn minh giống và khác nhau như thế nào? Trước hết văn hóa và văn minh giống nhau là đều do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử, nhưng khác nhau ở một số điểm Văn hóa là độ dày quá khứ, lịch sử, văn minh chỉ là một lát cắt trong lịch sử Nói đến văn hóa là nói đến năm tháng, nhiều thế kỉ, thiên niên
kỉ, nhiều triều đại, trải qua quá trinh tích lũy, sửa đổi bổ sung chứ không phải chốc lát mà có được Nhưng văn minh lại thiên về những phát minh trong tiến trình phát triển của nhân loại, giúp con người sống tốt hơn, sung sướng hơn, tiện lợi hơn Văn hóa mang tính quốc gia, dân tộc riêng biệt còn văn minh lại mang tính chất toàn cầu Văn hóa là đặc trưng cho một dân tộc, một quốc gia còn văn minh lại đặc
Trang 32trưng cho từng thời kì Văn minh là phương tiện bởi văn minh nói đến trình độ phát triển của xã hội loài người, nói đến những tiến bộ của loài người, nhờ những phát minh, sáng chế mà con người có thể sống tốt hơn Văn hóa là ứng xử, không chỉ là giữa con người với con người mà giữa con người với tự nhiên Văn hóa không có tiến bộ hay lạc hậu nhưng văn minh có tiến bộ và ngày càng tiến bộ Văn minh là toàn bộ những phát minh của con người dựa trên quá trình tìm tòi và khám phá ra các
“quy luật của tự nhiên” Văn minh còn bao gồm toàn bộ “kỹ thuật sinh sống” và “tổ chức xã hội” nhằm thiết lập nên những “thiết chế” xã hội mang tính hiện đại, giúp cho con người thực hiện được quyền sống, quyền tự do và quyền dân chủ của mỗi cá nhân và cả cộng đồng - xã hội
Như vậy, với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, nhưng khái niệm văn minh của nhiều tác giả đều có chung ý tưởng là: văn minh hướng đến sự thay đổi tích cực, văn minh là khái niệm phản ánh sự hiện đại, sự hợp lý, sự tiến bộ, sự hợp thời Văn minh thể hiện qua những cách thức thích ứng phù hợp các giá trị đương đại của con người
Hành vi văn minh: Là sự ứng xử mang tính ý thức cao, tự giác cao, phù hợp
với chuẩn mực xã hội của chủ thể đối với công việc, người khác, với bản thân và đối với môi trường
1.3 Văn minh đô thị và hành vi văn minh đô thị
1.3.1 Văn minh đô thị
Cuộc sống hiện nay vẫn còn có thể phân biệt về lối sống, nếp sống ở vùng đô thị và vùng nông thôn hay vùng đang đô thị hóa Văn minh đô thị được hiểu là những giá trị tiến bộ, hiện đại, hợp lý, thuận lợi thể hiện trong cuộc sống của xã hội hiện đại
ở đô thị Văn minh đô thị là khái niệm chỉ các giá trị hướng đến những cách thức cư
xử đẹp đẽ, lịch sự, mang lại sự thuận lợi cho nhiều người trong môi trường xã hội
đô thị hiện đại
trường phái “Sinh thái học nhân văn” (Human ecology)
Trang 33(The City: suggestions for the investigation of human behavior in the
“Nguồn gốc của thị dân; sự phân bố dân cƣ thành thị trên địa bàn; sự thích ứng của các nhóm xã hội để hoà nhập vào xã hội đô thị hiện đại; những thay đổi trong đời sống gia đình, trong các thiết chế giáo dục, tín ngƣỡng; vai trò của báo chí trong công luận và dẫn dắt tình cảm của công chúng đô thị”[95]
lợi kinh tế Vấn đề chính tạo nên sự khác biệt giữa ứng xử ở đô thị với nông thôn là
vấn đề từ sự khác biệt văn hóa nữa
Trang 34dưới áp lực của mệnh lệnh và khi không phải chịu trách nhiệm cá nhân, những n
cộng đồng đô thị tạo nên “sự quá tải” cho tâm lý của thị dân Người dân thành thị tham gia vào các quan hệ hời hợt, đứt
đoạn, ngắn ngủi và thậm chí là phi nhân văn là do tính cách thích nghi với sự quá
tải tâm lý do quy mô, sự đông đúc và sự đa dạng tạo ra [87] Trong
Metropolis and mental life” George Simmel đã c
, và tính phức tạp của đô thị
-) -
Tác giả Nguyễn Huỳnh Thanh cho rằng “Nếp sống đô thị là một trong những giá trị tinh thần của thị dân có đặc điểm hình thành không dễ dàng trong tiến trình đô thị hóa Bởi nếp sống đô thị là một giá trị tổng hợp, có trình tự về thời gian ra đời gần như muộn nhất so với các giá trị vật chất và giá trị tinh thần khác, có ý nghĩa thước
đo trình độ của tiến trình đô thị hóa Tuy không tất yếu phải chờ một sự phát triển chín muồi của hệ thống các giá trị vật chất cũng như sự phát triển thật cao của một
số giá trị tinh thần khác, song nếp sống đô thị cũng chỉ có thể bắt đầu được xây dựng trên những hạ tầng kinh tế - xã hội - kỹ thuật và thượng tầng kiến trúc nhất định trong tiến trình đô thị hóa Sau khi hình thành, với vai trò là một giá trị bậc
Trang 35cao, nếp sống đô thị sẽ chi phối, tác động trở lại và cùng với các giá trị khác, tạo thành một hệ thống giá trị nội sinh của tiến trình phát triển đô thị bền vững”[50]
Từ đó có thể thấy: Văn minh đô thị là lối sống hướng đến sự thay đổi tích cực
trong sinh hoạt, đời sống ở đô thị Văn minh đô thị là khái niệm phản ánh sự hiện đại, sự hợp lý, sự tiến bộ, sự hợp thời của cuộc sống đô thị Văn minh đô thị thể hiện qua những cách thức thích ứng phù hợp các giá trị đương đại của người dân
đô thị
1.3.2 Hành vi văn minh đô thị
1.3.2.1 Khái niệm hành vi văn minh đô thị
Hành vi văn minh đô thị (HVVMĐT) là một khái niệm tương đối mới khi xã hội ngày nay được xem là một xã hội văn minh với những sự thay đổi nhanh chóng về các chuẩn giá trị và thói quen sinh hoạt Những ứng xử của cư dân đô thị trong một
xã hội văn minh được khá nhiều người quan tâm và đã có nhiều công trình nghiên cứu về nếp sống văn minh đô thị dưới nhiều góc độ như xã hội học, văn hóa học HVVMĐT có xuất phát điểm từ các nhu cầu xã hội của con người, trong đó các nhu cầu khẳng định giá trị và nhu cầu được tôn trọng được xem là những thúc đẩy mạnh
mẽ để cá nhân thực hiện nó Thông qua quá trình lao động, học tập, rèn luyện, các nhu cầu này sẽ có điều kiện để thỏa mãn và lúc đó các HVVMĐT sẽ được hình thành góp phần làm cho hoạt động của cá nhân ngày càng phù hợp với chuẩn mực
xã hội HVVMĐT có khởi đầu là hành vi của người người sống trong môi trường
đô thị và chịu ảnh hưởng của lối sống thị dân, được hình thành qua nhiều giai đoạn lịch sử phát triển đô thị Văn minh đô thị được hiểu theo theo nghĩa là “văn minh” ở
“đô thị” Khi “văn minh đô thị” đã trở thành thói quen chung của mọi người thì nó trở thành “nếp sống” Như vậy, thực hiện HVVMĐT là xây dựng thói quen, lối ứng
xử văn minh ở đô thị
Trên cơ sở những phân tích về hành vi và văn minh đô thị, có thể hiểu rằng:
Hành vi văn minh đô thị là những ứng xử hiện đại, hợp lý, tiến bộ, hợp thời đối với cuộc sống đô thị của chủ thể đối với môi trường, với người khác và đối với bản thân thể hiện qua những hành động cụ thể phù hợp với các tiêu chuẩn văn minh, phù hợp với giá trị tiến bộ của xã hội đô thị hiện đại
1.3.2.2 Đặc điểm của hành vi văn minh đô thị
Trang 36HVVMĐT là những ứng xử cụ thể của cá nhân được thể hiện trên những hành động phù hợp với các chuẩn mực hiện đại trong bất kỳ tình huống nào, trong bất kỳ môi trường nào Hành vi được cho là văn minh trong môi trường đô thị có một số đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Tính hợp pháp
HVVMĐT trước hết phải là những hành vi hợp pháp, đó là những hành vi không đi ngược lại những qui định của pháp luật hay các qui định trong nội qui hoặc qui chế hoạt động của cộng đồng Các cộng đồng dân cư hoặc các tổ chức xã hội đều có những qui định cụ thể về các tiêu chuẩn và giới hạn hoạt động trong phạm vi của mình nhưng tất cả những qui định đó đều phản ánh tính hợp pháp của các dạng hoạt động, qua đó thể hiện tính hợp pháp của hành vi cá nhân trong môi trường hoạt động, thể hiện tính hợp pháp của hành vi văn minh trong môi trường đô thị hiện đại Những hành vi hợp pháp được hiểu là những ứng xử bắt buộc trong những trường hợp cụ thể được thể hiện trong các qui định trong cả bình diện tích cực và không tích cực, nghĩa là có những hành vi được phép thực hiện và cả những hành vi không được phép hoặc bị cấm trong những trường hợp cụ thể
- Tính lợi ích
HVVMĐT là những hành động của chủ thể được mọi người trong cộng đồng thừa nhận và đánh giá cao khi chủ thể thực hiện hành vi ấy phù hợp với các tiêu chuẩn văn minh, thể hiện sự hài hòa về lợi ích vật chất lẫn lợi ích tinh thần giữa cá nhân và cộng đồng, giữa lợi ích cục bộ và lợi ích của toàn xã hội
- Tính cân bằng
HVVMĐT thể hiện sự hợp lý về mặt thao tác và cân bằng về mặt môi trường, đặc biệt là môi trường xã hội Môi trường xã hội đa dạng tác động đến các chủ thể và chủ thể phải thích ứng với những tác động này nhưng không làm phá vỡ mối quan hệ tích cực và biện chứng giữa các môi trường, không làm mất đi sự thống nhất về giá trị giữa các chuẩn mực chung thể hiện trong các giá trị của môi trường xã hội vi mô (gia đình, nhà trường, nhóm bạn, cộng đồng dân cư )
- Tính phù hợp
HVVMĐT luôn hướng đến sự hợp lý, phù hợp với kỳ vọng của xã hội và phản ánh tính hiện đại trong cách thức ứng xử của mỗi cá nhân HVVMĐT là hành
Trang 37vi cá nhân nhưng bao giờ cũng chịu sự chi phối bởi mong đợi và áp lực của cộng đồng
- Tính thẩm mỹ
HVVMĐT luôn hướng tới vẻ đẹp của con người, của xã hội, đó là những hành vi đẹp cả về hình thức thể hiện lẫn đẹp về các giá trị bên trong nó
- Tính đại diện
HVVMĐT là những hành vi xã hội, là hành vi của nhóm xã hội, trong đó các
cá nhân thực hiện hành vi này thể hiện được tính đại diện của mình HVVMĐT của thanh niên là hành vi đại diện cho những người trong độ tuổi thanh niên phản ánh những đặc điểm tâm lý - xã hội của thanh niên và được thể hiện trong từng cá nhân HVVMĐT là của mỗi cá nhân mang tính đặc trưng của hành vi xã hội, do đó chịu ảnh hưởng của các đặc điểm tâm lý chủ quan của thanh niên, ảnh hưởng bởi kỳ vọng, yêu cầu của xã hội đối với thanh niên
- Tính chuẩn mực
HVVMĐT là hành vi thể hiện và bảo đảm các chuẩn mực của hành vi HVVMĐT với ý nghĩa là hành vi xã hội, là hành vi của một chủ thể được thể hiện trong mối liên hệ với người chung quanh và chịu ảnh hưởng, chi phối bởi các chuẩn mực xã hội Chuẩn mực xã hội sẽ định hướng và điều chỉnh hành vi của con người khi cá nhân thực hiện các hành vi trong cộng đồng hay trong một nhóm xã hội Sự sai lệch chuẩn hành vi cũng có nhiều mức độ khác nhau Thông thường có hai mức
độ sai lệch:
Ở mức độ thấp: Là những hành vi không bình thường nhưng không ảnh hưởng chung tới cộng đồng, đến đời sống cá nhân hay cộng đồng
Ở mức độ cao là hầu hết các hành vi của cá nhân, từ hành vi trong sinh hoạt đến lao động sản xuất, vui chơi giải trí Những hành vi sai lệch này ảnh hưởng đến
cá nhân và đời sống chung của cả cộng đồng Trường hợp này thường là do rối loạn hành vi bệnh lý, cần phải được khám và điều trị ở các tổ chức y tế
1.3.2.3 Tiêu chí hành vi văn minh đô thị
- HVVMĐT là những hành vi được thực hiện một cách thường xuyên không phụ thuộc vào tính chất của tình huống hay của môi trường hoặc các yếu tố bất thường nào khác HVVMĐT là những hành vi mang tính nhận thức cao
Trang 38- HVVMĐT là những hành vi thể hiện đặc điểm của người dân đô thị, phù hợp với các đặc trưng của đô thị, phù hợp với chuẩn mực luật pháp
- HVVMĐT là những hành vi thể hiện văn hóa của chủ thể, phản ánh trình
độ văn hóa của chủ thể, không phụ thuộc vào các đặc tính xã hội cá nhân của chủ thể, không phụ thuộc vào thành phần xuất thân của chủ thể
- HVVMĐT là những hành vi có tính tự giác cao
1.4 Hành vi văn minh đô thị của thanh niên
1.4.1 Khái niệm hành vi văn minh đô thị của thanh niên
Hành vi cá nhân là kết quả của sự tác động qua lại của các nhân tố chủ quan của chủ thể và các nhân tố khách quan của môi trường Hành vi cá nhân luôn chứa đựng sắc thái và tính chất, trình độ phát triển của xã hội Môi trường đô thị với những đặc điểm sinh hoạt không giống khu vực nông thôn, các quan hệ đa chiều giữa người với người dựa trên nền tảng của yêu cầu kỹ thuật, trên các ý tưởng thiên
về cá nhân, do đó sẽ ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành các thói quen ứng
xử cụ thể
Chủ thể của hành vi có thể là một cá nhân và có thể là một nhóm xã hội HVVMĐT của thanh nhiên là hành vi của thanh niên được biểu hiện thông qua hành vi cụ thể của các thanh niên phản ánh nhận thức, thái độ và ý chí của thanh niên Trong giới hạn của luận án, chỉ quan tâm đến HVVMĐT của thanh niên với tư cách là hành vi của bản thân thanh niên thực hiện trong những hoàn cảnh khác nhau
Có thể nói, HVVMĐT của thanh niên là những hành vi của thanh niên sống ở môi trường đô thị, là những ứng xử phù hợp chuẩn mực văn minh đô thị giữa thanh niên với chính bản thân mình, giữa thanh niên với người khác và giữa thanh niên với môi trường đô thị chung quanh
Với cách đặt vấn đề như trên, khái niệm được xác định rõ: Hành vi văn minh
đô thị của thanh niên là sự ứng xử mang tính ý thức cao, tự giác cao, phù hợp với chuẩn mực xã hội của thanh niên đối với người khác, với bản thân và đối với môi trường đô thị
Hình thành hành vi là một quá trình lâu dài và quá trình này chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhất định, trong đó có các yếu tố chủ quan (bên trong chủ thể: nhận thức, thái độ, đặc điểm tâm lý - xã hội cá nhân,…) và yếu tố khách quan (bên ngoài
Trang 39chủ thể: môi trường, điều kiện sinh hoạt, hoàn cảnh xã hội,…) Như vậy HVVMĐT nói chung và HVVMĐT của thanh niên nói riêng được hình thành từ hiệu ứng tích hợp của hành vi cá nhân và từ tác động của các định chế qui định hay những qui
định ép buộc từ các yếu tố bên ngoài cá nhân
HVVMĐT của thanh niên là hành vi văn minh của thanh niên đang sinh sống tại đô thị, chịu ảnh hưởng bởi một số nét đặc thù của các đô thị trong sự phát triển kinh tế
- xã hội
1.4.2 Cơ sở xác định các hành vi văn minh đô thị của thanh niên
Xuất phát từ quan điểm tiếp cận hoạt động - nhân cách, có thể xác định và phân loại một số HVVMĐT của thanh niên theo đối tượng của hoạt động và trên cơ sở các tiêu chí đã được trình bày ở trên từ mức độ nhận thức rõ ràng, thái độ tích cực và biểu hiện bên ngoài cụ thể
Về mặt đối tượng, như trên đã đề cập, theo tác giả Samual P Huntington thì
“HVVMĐT phụ thuộc vào môi trường, tác động đến môi trường Mối quan hệ giữa hành vi văn minh ở đô thị với môi trường rất đặc biệt” [96] Các tác giả của Georgetown trong “What are the differences between urban and rural behavior” cũng cho rằng: “Sự khác biệt giữa hành vi văn minh giữa nông thôn và thành thị phụ thuộc vào tính chất mối quan hệ giữa con người với môi trường, giữa cách thức con người ứng xử với môi trường”[77] Ứng xử với môi trường là một trong những tiêu chí để xác định chủ thể có văn minh hay không, trong đó có cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Các tác giả của công trình “Urban vs rural behavior”
trọng, việc hình thành các hành vi văn hóa, văn minh của con người tại nông thôn hay thành thị có ảnh hưởng rất lớn và rõ ràng của tự ý thức của mỗi cá nhân”[83] Trong một khía cạnh khác, các tác giả của tác phẩm “Understanding behavior in the environment” đặt vấn đề rằng “mối quan hệ ứng xử giữa người với người sẽ thiết lập một hình thức sống động để con người hành động có văn hóa với nhau, hình thành những hành vi tích cực hướng tới sự hợp tác thân thiện”[71] C.Mac cho rằng
“Con người sinh ra không phải là một triết gia theo trường phái Phixtơ rằng con người nhìn thấy bản thân như nhìn vào trong gương, thông qua những người khác,
Trang 40và chỉ khi nào con người đối xử với người khác như là một người giống với mình thì lúc đó nó mới đối xử với bản thân như là đối xử với một con người” [59,tr 57] Trong Từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên) “Hành vi đặc thù của cá nhân phụ thuộc vào tính chất mối quan hệ qua lại với nhóm mà anh ta là thành viên, vào chuẩn mực nhóm, vào định hướng giá trị và sự ấn định vai Tính không thích hợp của hành vi (được thể hiện một phần ở chỗ nhân cách đánh giá quá cao các khả năng của mình, tách rời ngôn ngữ và thực tiễn, làm suy giảm tính phê phán khi kiểm soát việc hiện thực hóa các chương trình hành vi) thể hiện một cách tiêu cực trong mối quan hệ liên nhân cách”[8,tr 260]
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận như trên cùng với kết quả của việc thăm dò ý kiến sơ
bộ và ý kiến chuyên gia, người nghiên cứu chọn lựa một số HVVMĐT phản ánh đối tượng hoạt động của thanh niên và mang tính chất phổ biến trong thời kỳ đô thị phát triển để nghiên cứu, từ đó tìm kiếm các biện pháp kích thích hình thành thói quen cho thanh niên để trở thành những ứng xử văn hóa, văn minh trong hoạt động và sinh hoạt hàng ngày của họ Những HVVMĐT của thanh niên được xem xét dưới hình thức là những hành vi tự giác chấp hành các qui định về nếp sống văn minh, đó
là những hành vi có tính chất phổ biến và được nhắc đi nhắc lại nhiều lần Nghiên cứu HVVMĐT của thanh niên là nghiên cứu những hành vi cá nhân của các chủ thể
cụ thể, là những hành động, ứng xử quan sát được của những cá nhân nhất định trong những cộng đồng nhất định
HVVMĐT là những ứng xử phù hợp với môi trường xã hội hiện đại và phát triển,
có rất nhiều yêu cầu về các HVVMĐT, có nhiều biểu hiện của HVVMĐT, trong đó
có thể xem xét trên ba biểu hiện cụ thể: Quan hệ giữa chủ thể với người khác, với bản thân mình và với môi trường đô thị
1.4.3 Một số hành vi văn minh đô thị cụ thể của thanh niên
Thanh niên đô thị sống trên địa bàn dân cư và chịu tác động bởi nhiều yếu tố, lối sống của họ bị ảnh hưởng khá rõ từ môi trường chung quanh Ở đây lựa chọn nghiên cứu một số HVVMĐT đặc trưng của thanh niên thể hiện trong hoạt động hàng ngày của họ như trong học tập, sinh hoạt cộng đồng và lao động nghề nghiệp Các mức độ biểu hiện của các hành vi được xác định dựa trên các tiêu chí: mức độ