50 2.3.1 Phương pháp xác định áp lực của quần legging ở 8 tư thế vận động cơ bản khi mặc, xác định ảnh hưởng của các trạng thái sử dụng áp lực của quần legging lên cơ thể người.. Do đó v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
ĐINH THỊ THANH LƯƠNG
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ĐO ÁP LỰC CỦA QUẦN ÁO BÓ SÁT LÊN CƠ THỂ NỮ THANH NIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỘ
TUỔI TỪ 18 ĐẾN 25
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU DỆT MAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU DỆT MAY
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS TS PHAN THANH THẢO
Hà Nội – Năm 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tác giả xin cam đoan toàn bộ nội dung luận văn thạc sĩ kỹ thuật “Nghiên cứu
thực nghiệm đo áp lực của quần áo bó sát lên cơ thể nữ thanh niên thành phố Hồ Chí Minh độ tuổi từ 18 đến 25” là công trình nghiên cứu của tác giả dưới sự hướng
dẫn tận tình của PGS TS Phan Thanh Thảo
Các nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là do chính tác giả tiến hành thực hiện và không sao chép bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu có sai phạm tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 20 tháng 09 năm 2018
Tác giả luận văn
Đinh Thị Thanh Lương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin gửi đến lòng biết ơn chân thành sâu sắc nhất tới PGS TS Phan Thanh Thảo, người Cô đã hết lòng tận tâm tận tụy hướng dẫn, động viên cũng như khích lệ và dìu dắt tôi trên con đường tiếp thu học hỏi thêm kiến thức, giúp tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ kỹ thuật này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của Viện Dệt May – Da giầy và Thời trang, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức rất bổ ích trong suốt hai năm học vừa qua Những kiến thức này sẽ là hành trang giúp tôi thêm vững tin vào sự nghiệp con đường mình đã chọn
Tôi xin chân thành cảm ơn nhóm nghiên cứu của PGS TS Phan Thanh Thảo, các thầy cô trong Khoa Công nghệ May và các em sinh viên trường Cao đẳng Công nghệ
và Quản trị Sonadezi đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị em đồng nghiệp và bạn
bè đã động viên, khích lệ, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn! Tác giả luận văn
Đinh Thị Thanh Lương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN a LỜI CẢM ƠN b MỤC LỤC c DANH MỤC CÁC BẢNG f DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ ĐỒ THỊ g
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài: 1
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 1
3 Tóm tắt cô đọng các nội dung chính và đóng góp mới của tác giả: 2
4 Phương pháp nghiên cứu: 2
CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 3
1.1 Giới thiệu về quần áo bó sát 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Phân loại 3
1.2 Sản phẩm quần legging 8
1.2.1 Khái niệm quần legging 8
1.2.2 Lịch sử phát triển quần legging 8
1.2.3 Yêu cầu kỹ thuật của quần legging 11
1.2.4 Đặc điểm điều kiện sử dụng quần legging 12
1.2.5 Phương pháp gia công may 14
1.3 Vật liệu sử dụng 18
1.3.1 Khái niệm, phân loại vải dệt kim 18
1.3.2 Đặc trưng cấu trúc, tính chất vải dệt kim 19
1.3.3 Phạm vi ứng dụng của vải dệt kim 24
1.4 Đặc điểm nhân trắc học phần chân của nữ thanh niên Việt Nam 25
1.4.1 Xương chân dưới 25
1.4.2 Cơ chân dưới 29
1.5 Phương pháp xác định áp lực của quần áo bó sát lên cơ thể người 32
1.5.1 Khái niệm về áp lực, áp lực tiện nghi 32
1.5.2 Phương pháp đo áp lực, áp lực tiện nghi 33
1.5.3 Các phương pháp xác định áp lực của quần áo bó sát lên cơ thể người 34
Trang 51.6 Tổng quan các công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài trong và ngoài
nước 35
1.6.1 Công trình 1 35
1.6.2 Công trình 2 39
1.6.3 Công trình 3 41
1.7 Kết luận chương 1 42
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
44
2.1 Nội dung nghiên cứu 44
2.2 Đối tượng nghiên cứu 44
2.2.1 Đối tượng đo 44
2.2.2 Sản phẩm quần bó sát 47
2.2.3 Thiết bị đo 48
2.3 Phương pháp nghiên cứu 50
2.3.1 Phương pháp xác định áp lực của quần legging ở 8 tư thế vận động cơ bản khi mặc, xác định ảnh hưởng của các trạng thái sử dụng áp lực của quần legging lên cơ thể người 50
2.3.2 Phương pháp khảo sát đánh giá chủ quan xác định áp lực tiện nghi khi mặc quần legging ở các trạng thái vận động cơ bản 53
2.3.3 Phương pháp xác định áp lực tiện nghi khi mặc quần legging ở các tư thế vận động cơ bản 53
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu thực nghiệm 54
2.4 Kết luận chương 2 55
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 56
3.1 Kết quả xác định áp lực của quần legging lên cơ thể người mặc ở các tư thế vận động cơ bản 56
3.2 Đánh giá sự tương quan ảnh hưởng của các yếu tố tới áp lực của quần legging lên cơ thể người mặc 67
3.3 Kết quả xác định áp lực tiện nghi khi mặc quần legging lên cơ thể người mặc ở các tư thế vận động cơ bản 69
3.4 Kết luận chương 3 76
KẾT LUẬN 78
Trang 6HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC 83
Trang 7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Khoảng giá trị áp lực tiện nghi lên các vòng cơ thể người mặc 39
Bảng 2.1: Ch số BMI của đối tượng nghiên cứu 46
Bảng 2.2: Thông số kỹ thuật của quần legging nghiên cứu 48
Bảng 2.3: Bảng kí hiệu các điểm đo 52
Bảng 3.1: Bảng kết quả đo áp lực của quần legging lên phần chân cơ thể người tại 20 điểm đo và 8 tư thế vận động cơ bản 57
Bảng 3.2: Bảng giá trị áp lực trung bình của 3 quần legging lên 6 đối tượng đo 63
Bảng 3.3: Bảng giá trị áp lực của quần size S lên 2 đối tượng đo L1 và L2 ở 8 tư thế vận động cơ bản tại 20 điểm đo 65
Bảng 3.3’: Bảng giá trị áp lực trung bình của quần size S lên đối tượng đo L1 và L2 66 Bảng 3.4: Bảng phân tích tương quan giữa áp lực của quần legging lên phần thân dưới cơ thể đối tượng người mặc và các yếu tố ảnh hưởng 68
Bảng 3.5: Bảng tổng hợp mức cảm nhận áp lực tại 20 điểm đo trên cơ thể người ở 8 tư thế vận động cơ bản 69
Bảng 3.6 Bảng tần số thống kê đánh giá cảm nhận chủ quan của đối tượng đo về mức độ thoải mái khi mặc 3 size quần ở các vị trí đo trên cơ thể ở 8 tư thế vận động 71
Bảng 3.7 Bảng tần số thống kê các mức cảm nhận áp lực chủ quan của các đối tượng đo khi mặc 3 size quần legging ở 8 tư thế vận động 73
Bảng 3.8: Bảng phân vị 25 đến phân vị 75 của áp lực trung bình của 3 quần tại các vị trí của cơ thể 76
Bảng 3.9 Khoảng giá trị áp lực tiện nghi của quần legging nghiên cứu lên các vùng phần thân dưới cơ thể 76
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Tất chân (vớ) ngày nay 4
Hình 1.2: Hình ảnh chiếc quần tất đầu tiên xuất hiện vào những năm 20-30 của thế kỷ trước 5
Hình 1.3: Hình ảnh quần tất dành cho phái nữ 6
Hình 1.4: Hình ảnh quần tất dành cho nam giới 7
Hình 1.5: Hình ảnh quần tregging 7
Hình 1.6: Hình ảnh quần skinny 8
Hình 1.7: Hình ảnh quần legging 8
Hình 1.8: Quần legging ban đầu ch dành cho đàn ông 9
Hình 1.9: Quần legging phiên bản hai mảnh rời 9
Hình 1.10: Quần legging và xu hướng "đồ tập" lên ngôi trong thập niên 1980 10
Hình 1.11: Quần legging mặc với váy, áo rộng những năm 1990 10
Hình 1.12: Quần legging hiện đại 11
Hình 1.13: Quần legging mang phong cách thời trang 12
Hình 1.14: Quần legging thể thao 13
Hình 1.15: Quần legging trị giãn tĩnh mạch 13
Hình 1.16: Quần legging giảm béo 14
Hình 1.17: Mũi móc xích đơn 14
Hình 1.18: Mũi may móc xích kép 15
Hình 1.19: Dạng mũi may 503 16
Hình 1.20: Dạng mũi may 504 16
Hình 1.21: Mũi may chần diễu 602 18
Hình 1.22: Vòng sợi 19
Hình 1.23: Hàng vòng – cột vòng 20
Hình 1.24: Hình khung chậu 25
Hình 1.25: Hình ảnh xương đùi 26
Hình 1.26: Hình ảnh xương chày 28
Hình 1.27: Hình ảnh xương bánh chè 29
Hình 1.28: Hình ảnh các cơ vùng mông 30
Hình 1.29: Hình ảnh các cơ vùng đùi 31
Trang 9Hình 1.30: Hình ảnh các cơ vùng cẳng chân 32
Hình 1.31: Đặc điểm hình dáng sản phẩm 37
Hình 1.32: Các tư thế vận động cơ bản 37
Hình 1.33: Các vị trí đo 37
Hình 1.34: Áp lực trung bình lớn nhất lên các phần khác nhau của cơ thể người mặc 38
Hình 1.35: Biểu đồ áp lực tiện nghi theo mức 1, 2 và 3 tại các vị trí trên cơ thể người mặc 38
Hình 1.36: 10 tư thế vận động cơ bản hằng ngày 40
Hình 2.1: Hình ảnh đối tượng đo 45
Hình 2.2: Hình ảnh mô tả quần legging thử nghiệm 47
Hình 2.3: Thiết bị đo áp lực 48
Hình 2.4: Mặt cảm biến áp khí 48
Hình 2.5: Thiết bị đo kết nối với máy tính 49
Hình 2.6 Cảm biến áp lực Silic MPX10DP 49
Hình 2.7 Hình ảnh mô tả 8 tư thế vận động cơ bản của con người sử dụng trong nghiên cứu 50
Hình 2.8 Vị trí các vòng đo 51
Hình 2.9 Thang đánh giá áp lực chủ quan 54
Hình 2.10: Xử lí số liệu trên excel 55
Hình 2.11: Xử lí số liệu trên phần mềm SPSS 55
Hình 3.1: Biểu đồ giá trị áp lực trung bình của 3 mẫu quần lên 6 đối tượng đo 65
Hình 3.2: Biểu đồ giá trị áp lực trung bình lớn nhất tại các điểm đo 68
Hình 3.3: Biểu đồ tần số các mức cảm nhận chủ quan áp lực tại các vị trí đo trên cơ thể người mặc 71
Hình 3.4 Biểu đồ thống kê tần số các mức độ cảm nhận áp lực chủ quan tại các vị trí đo trên cơ thể người ở 8 tư thế vận động khi mặc quần size S 72
Hình 3.5 Biểu đồ thống kê tần số các mức độ cảm nhận áp lực chủ quan tại các vị trí đo trên cơ thể người ở 8 tư thế vận động khi mặc quần size M 73
Hình 3.6 Biểu đồ thống kê tần số các mức độ cảm nhận áp lực chủ quan tại các vị trí đo trên cơ thể người ở 8 tư thế vận động khi mặc quần size L 73
Trang 10Hình 3.7 Biểu đồ tần số các mức cảm nhận chủ quan áp lực của 3 mẫu quần lên cơ thể người mặc 74 Hình 3.8 Biểu đồ áp lực tiện nghi tại các vị trí đo trên cơ thể người mặc 76
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Quần áo bó sát là dòng sản phẩm thời trang có tính năng sử dụng cao, là một phần không thể thiếu trong các bộ trang phục của chị em phụ nữ Các sản phẩm quần áo bó sát bên cạnh chức năng che chắn, bảo vệ, giữ ấm cho cơ thể còn có công dụng làm đẹp, ôm sát tạo hình cơ thể, làm tôn lên vóc dáng thon gọn của người mặc, mang lại cho họ sự tươi tắn, thoải mái, năng động, trẻ trung nhưng vẫn không làm mất đi sự gợi cảm và nữ tính của người mặc
Tuy nhiên, trong cuộc sống hằng ngày, cơ thể chúng ta luôn trong các trạng thái vận động di chuyển thường xuyên, khi đó việc chọn sai kích cỡ các sản phẩm quần áo
bó sát, mặc quá chật và quá ôm sát cơ thể trong một thời gian dài sẽ gây ra những tác hại nghiêm trọng tới sức khỏe người mặc Nhất là đối với các sản phẩm quần bó sát,
vì quần bó sát ngày nay được chị em phụ nữ sử dụng thường xuyên trong cuộc sống,
dễ dàng phối với các sản phẩm áo khác nhau, nó ôm sát đôi chân, giúp đôi chân thon gọn, tôn lên vóc dáng người sử dụng Nhưng nếu mặc quần quá chật, quá bó sát vô chân, thì khi chúng ta vận động sẽ tạo nên cảm giác khó chịu, mà lâu dần sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe người mặc
Do đó việc nghiên cứu xác định áp lực tiện nghi của quần bó sát lên cơ thể người mặc ở các tư thế vận động cơ bản là cơ sở cho việc nghiên cứu, thiết kế, chế tạo sản phẩm may mặc có chất lượng tốt nhất, mang đến tính tiện nghi, sự thoải mái và tính thẩm mỹ cao cho người mặc, giúp cho người tiêu dùng dễ dàng chọn được một chiếc quần bó sát phù hợp, vừa có khả năng tạo dáng cơ thể, vừa thoải mái khi vận động
Đó là lí do tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu xác định áp lực tiện nghi của quần bó sát lên cơ thể nữ sinh viên thành phố Hồ Chí Minh độ tuổi từ 18 đến 25” và để tìm hiểu và nghiên cứu đề tài này tác giả chọn sản phẩm quần bó sát legging để tiến hành nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu được tác giả trình bày trong luận văn là xác định áp lực tiện nghi của quần legging lên cơ thể nữ sinh viên thành phố Hồ Chí Minh làm cơ sở cho việc nghiên cứu, thiết kế, chế tạo sản phẩm quần legging có chất lượng tốt, mang đến tính tiện nghi, thoải mái và tính thẩm mỹ cao cho người mặc
Trang 12Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nữ sinh viên thành phố Hồ Chí Minh độ tuổi
từ 18 đến 25, sản phẩm quần được chọn trong nghiên cứu này là quần legging lưng thun sản xuất tại Việt Nam
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tác giả chọn phần chân từ eo dọc theo chân đến cổ chân của nữ sinh viên
3 Tóm tắt cô đọng các nội dung chính và đóng góp mới của tác giả:
- Xác định áp lực của quần legging lên phần thân dưới cơ thể người mặc tại các vùng eo, bụng, hông, mông, đùi, đầu gối, bắp chân, cổ chân ở 8 tư thế vận động cơ bản
- Đánh giá tiện nghi áp lực bằng phương pháp đánh giá chủ quan cảm nhận của người mặc lên từng vùng cơ thể khi mặc quần legging ở 8 tư thế vận động cơ bản
- Xác định áp lực tiện nghi khi mặc quần legging lên cơ thể người mặc ở 8 tư thế vận động cơ bản
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp xác định áp lực của quần legging ở 8 tư thế vận động cơ bản khi mặc, xác định ảnh hưởng của các trạng thái sử dụng áp lực của quần legging lên
Trang 131 CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu về quần áo bó sát
1.1.1 Khái niệm:
Quần áo bó sát là một loại trang phục được thiết kế ôm sát cơ thể, với cách thiết
kế áo ôm sát phần trên của người mặc, quần với phần chân và ống quần nhỏ, sử dụng chất liệu có tính chất co giãn nhằm tôn dáng, tạo sự năng động khỏe khoắn thoải mái, bên cạnh đó quần áo bó sát còn có tác dụng giữ ấm cơ thể
người mặc
1.1.2 Phân loại:
Quần áo bó sát rất đa dạng như: tất, quần tất, áo lót ngực, quần legging, quần
tregging, quần skinny
1.1.2.1 Tất [11]
- Từ tất chân (vớ) xuất phát từ tiếng Anh cổ (socc) nghĩa là một loại dép đi
trong nhà, nó được bắt nguồn từ chữ Soccus trong tiếng La-tinh
- Tất chân đã phát triển qua nhiều thế kỷ, những mẫu sớm nhất được làm
từ da động vật và buộc xung quanh cổ chân
- Trong thế k thứ 8 trước Công Nguyên, người Hy Lạp cổ đại đã sử dụng tất làm từ lông động vật để giữ ấm đôi chân Còn người La Mã lại sử
dụng chất liệu là da hoặc lông động vật được thêu dệt kĩ càng
- Tất chân được tạo ra từ rất nhiều nguyên vật liệu khác nhau Một số chất liệu có thể kể đến như: cotton, lông cừu, sợi acrylic, sợi polyester… Để đôi tất nhẹ hơn, người ta sử dụng lụa, vải lanh, len casomia hay n
angora
- Chuyển biến lớn tiếp theo xảy ra vào năm 1938, là thời gian mà nylon được phát minh Nylon tạo nên sự khởi đầu của việc trộn hai hay nhiều loại sợi trong quá trình sản xuất tất chân Từ đó bắt đầu tạo nên một câu chuyện thần tiên hơn bao giờ hết đối với thế giới phụ kiện của nguời phụ
nữ: bóng như lụa, mềm mịn như tơ nhân tạo nhưng khó bị thấm ướt hơn
- Ngày nay với sự phát triển của công nghệ hiện đại đã có tạo ra nhiều hơn các chất liệu như tất nano, tất than hoạt tính, Màu sắc cũng rất đa dạng,
nhiều đôi tất còn kết hợp hoa văn, họa tiết rất lạ mắt
Trang 14Hình 1.1: Tất chân (vớ) ngày nay [11]
- Tất có nhiều kiểu dáng như:
+ Kiểu cổ điển với cổ cao đến đầu gối, thường dùng đi với giày da
+ Kiểu thể thao với cổ ngắn, ch cao trên mắt cá một chút, thường dùng
để đi với các loại giày thể thao, giày vải, giày bata, dùng để tập thể dục, thể thao, đi dã ngoại, đi dạo phố
+ Kiểu thời trang thường có các kiểu đặc biệt như là các loại cực ngắn chưa đến mắt cá chân, nhiều màu sắc sặc sỡ, các kiểu phá cách như tất hình lưới,…
+ Các loại tất chuyên dụng nhằm phục vụ cho các yêu cầu sử dụng khác như: tất chống thấm nước, tất chịu nhiệt, chống cháy, chống axit, tất dùng trong y tế
1.1.2.1 Quần tất [12]
- Sau khi tất chân ra đời, với hình dáng độ dài của tất thay đổi qua các năm khi các phái nữ mặc trên mình những chiếc váy ngày càng ngắn, nhưng
Trang 15họ vẫn chưa đủ tự tin để lộ ra đôi chân trần, vì thế họ vẫn phải cần đến sự giúp đỡ của những đôi tất có chất liệu dày, thường được làm từ lụa hoặc sợi tổng hợp, lúc này vai trò của đôi tất là ch để che chân chứ chưa có tác dụng làm đẹp Với những chiếc tất dài đến đùi để giúp cho những đôi tất này không bị tụt xuống, các nhà thiết kế dùng một số khuy cài đặc biệt, nối tất dài vào nội y nhưng không có tính thẩm mỹ cao
Hình 1.2: Hình ảnh chiếc quần tất đầu tiên xuất hiện vào những năm 20-30 của
thế kỷ trước [12]
- Năm 1953, Allen Gant đưa ra một mẫu quảng cáo về những chiếc quần tất được gọi là “panti – legs” Năm 1959, những sản phẩm này mới được đưa ra thị trường Và cũng trong khoảng thời gian này, nhà thiết kế Ernest G Rice đã tự mình thiết kế ra chiếc quần tất (có chất liệu và kiểu dáng tương tự như ngày nay) Hai sản phẩm tương tự như nhau, nhưng được thiết kế bởi hai người khác nhau nên đã dẫn đến nhiều vụ kiện tụng sau này về mặt bản quyền, và ch chấm dứt khi Ernest G Rice qua đời
- Từ khoảng những năm 50 đến đầu 60, dù những chiếc quần tất đã ra đời nhưng không được ưa chuộng nhiều do giá thành cao, chất liệu còn chưa được hoàn thiện, dễ dẫn đến sự khó chịu khi sử dụng Và ch khi công nghệ dệt may thêm phát triển, với chất liệu sợi thun siêu mỏng giúp dệt
ra những quần tất mềm mại, mỏng manh, co giãn, cộng với sự phát triển mạnh của những chiếc váy ngắn, khiến lượng tiêu thụ quần tất trở nên tăng vọt
Trang 16- Vào năm 1970, tại Mỹ, lần đầu tiên, lượng quần tất tiêu thụ vượt mức những loại tất ngắn với chất liệu tương tự và điều này duy trì cho đến ngày hôm nay, khi những người phụ nữ lựa chọn những chiếc quần tất quanh năm cho hầu hết các loại váy từ ngắn đến dài
- Sự ra đời của những chiếc quần tất gắn liền với các xu thế thời trang diễn
ra trên toàn thế giới Để giúp doanh thu của những chiếc quần tất được
ổn định và có được sự gia tăng nhất định, các nhà sản xuất đã không ngừng thiết kế ra các kiểu dáng mới để thu hút khách hàng như quần tất lưới, cạp thấp, có họa tiết và các loại tất màu, ánh kim, quần tất xỏ ngón… đều là những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu làm đẹp đôi chân của phái đẹp
Hình 1.3: Hình ảnh quần tất dành cho phái nữ [12]
- Quần tất không ch dành cho phái nữ mà vào năm 1999 một loại quần tất đặc biệt ch dành riêng cho nam giới là do việc tạo áp lực lên chân giúp tăng cường khả năng tuần hoàn máu, tăng cường hoạt động cơ bắp đặc biệt là các cơ ở chân, lần đầu tiên được bán trên thị trường
Trang 17Hình 1.4: Hình ảnh quần tất dành cho nam giới [12]
1.1.2.2 Quần tregging [13]
Là kiểu quần sử dụng chất liệu dày và có thêm chi tiết vải giúp thiết kế quần không có cảm giác quá mỏng, thường được may chủ yếu tập trung vào chất liệu mềm, bó như da, da lộn, vải bò, nylon hoặc cotton Quần tregging
có các túi đa phần là túi giả
Hình 1.5: Hình ảnh quần tregging [13]
1.1.2.3 Quần skinny
Là một dạng quần có đủ túi trước, túi sau, sử dụng các chất liệu rất đa dạng và cứng hơn chất liệu để may quần tregging
Trang 18Hình 1.6: Hình ảnh quần skinny [13]
1.2 Sản phẩm quần legging
1.2.1 Khái niệm quần legging [14]
Là dạng quần ôm, bó sát vào thân người mặc bắt đầu từ đường eo xuống tới mắt
cá hoặc cổ chân Từ phần thân cho đến ống quần không có bất kỳ điểm nhấn nào trong thiết kế Quần legging dày hơn quần tất và không che hết bàn chân thường được may bằng các loại vật liệu như thun lycra - loại thun bó, mịn, có độ co giãn tốt
Hình 1.7: Hình ảnh quần legging [14]
1.2.2 Lịch sử phát triển quần legging [14]
Vào thế kỷ thứ 14 quần legging xuất hiện lần đầu tiên tại Scotland, vào thời
Trang 19Hơn thế nữa, quần legging còn được sử dụng như một trang phục trong quân đội, thường thấy ở trang phục của các hiệp sĩ, được làm từ da
Vào thế kỷ 15 và 16, trong suốt thời kỳ Phục hưng, chúng tiếp tục được sử dụng rộng rãi bởi đàn ông tại châu Âu và độ phổ biến tiếp tục lan rộng cho đến thế kỷ 17, thời đại của Shakespeare
Hình 1.8: Quần legging ban đầu chỉ dành cho đàn ông [14]
Đến thế kỷ 19, quần legging phổ biến trên toàn cầu và bắt đầu được phái nữ sử dụng, tuy nhiên vẫn là phiên bản hai mảnh rời
Hình 1.9: Quần legging phiên bản hai mảnh rời [14]
Vào năm 1960, quần legging bắt đầu trở thành một trào lưu Các hãng thời
trang bắt đầu sản xuất quần legging dạng liền, bó hơn, giống như loại ngày nay chúng
ta sử dụng Sự phát triển này đã làm quần legging trở nên phù hợp với quần áo của phái nữ, chúng được sử dụng như quần Capri và chủ yếu cho mục đích thể thao
Vào những năm 1980, những vận động viên đã biến đồ tập thể thao thành trang phục thời trang và làm chúng trở nên hợp thời Mốt mới này nổi lên và là một trong
Trang 20những loại trang phục đặc trưng của thập niên này Vào thời gian này, quần legging được mặc như quần bình thường với T-shirt rộng hay crop-top với xu hướng “phòng tập” Sau thời kì này, chúng được xem như một trang phục hằng ngày và được sử dụng nhiều vì độ thoải mái và linh hoạt
Hình 1.10: Quần legging và xu hướng "đồ tập" lên ngôi trong thập niên 1980 [14]
Đến thập niên 1990, quần legging đã lan rộng, chúng thường được mặc cùng với váy ngắn, đầm, T-shirt rộng và trở thành trang phục không thể thiếu trong bất cứ tủ đồ của cô gái nào Vào giữa những năm 1990, quần legging được tiêu thụ vượt qua jeans tại Mỹ, điều đó đủ để chứng tỏ quần legging được yêu thích đến mức nào Sau thời kì
“hoàng kim”, quần legging chìm vào quên lãng trong một thời gian dài
Hình 1.11: Quần legging mặc với váy, áo rộng những năm 1990 [14]
Đến năm 2005 quần legging lại hồi sinh mạnh mẽ, trở lại trên cả những sàn diễn thời trang cao cấp Khác với cách mặc trong thập niên 1980, quần legging được mặc dưới những loại quần áo khác chứ không đơn giản là một chiếc quần riêng biệt
Trang 21cùng những chiếc áo oversized, áo len dài, denim mini skirt, chân váy ca-rô hay shorts ngắn
Hình 1.12: Quần legging hiện đại [14]
Trãi qua quá trình dài hình thành và phát triển để có được vị trí như ngày nay, quần legging đã trở thành một loại trang phục phải có của bất cứ ai Nhờ sự phổ biến
đó, quần legging khá đa dạng chủng loại, từ chất liệu, màu sắc đến hoa văn, kiểu dáng
1.2.3 Yêu cầu kỹ thuật của quần legging
Điểm đặc biệt của quần legging là ôm sát cơ thể người mặc, càng ôm sát thì mặt vải càng cọ sát vào da, làm tăng tiết mồ hôi và chất dầu cho quá trình hoạt động của
vi khuẩn, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người mặc Do đó để đảm bảo cho sức khỏe người mặc thì quần legging phải đạt được các yêu cầu kỹ thuật sau:
- Tính chức năng: Quần legging có độ bó sát cao hoàn toàn tiếp xúc trực tiếp với
cơ thể người mặc giúp cơ thể người mặc trở nên thon gọn, làm tôn thêm vóc dáng người mặc mà vẫn không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe người sử dụng,
Do đó, việc lựa chọn vật liệu sử dụng làm quần legging rất quan trọng phải đảm bảo an toàn để sản xuất, vật liệu có độ co giãn nhất định, độ đàn hồi tốt, đảm
bảo độ bó sát của quần vào cơ thể người mặc
- Tiện nghi về cử động: Do sản phẩm mặc ôm sát người nên chất liệu vải phải đảm bảo tính tiện nghi về cử động, là phải có độ co giãn, độ đàn hồi lớn, để tạo
ra sự thoải mái dễ chịu cho người mặc trong các quá trình vận động hằng ngày
của cơ thể
Trang 22- Tiện nghi về tiếp xúc: Bên cạnh tính tiện nghi về cử động, sản phẩm có thêm tính tiện nghi về tiếp xúc, do sản phẩm mặc ôm sát tiếp xúc trực tiếp với da, nên yêu cầu của nó phụ thuộc vào cấu trúc, nguyên liệu và bề mặt chất liệu của vải,
có độ hút ẩm tốt, thấm hút mồ hôi nhanh, thoáng mát, thoải mái cho người sử
dụng
- Tính kinh tế: Thể hiện qua giá thành sản phẩm phải phù hợp với các tính năng
trên
1.2.4 Đặc điểm điều kiện sử dụng quần legging
Quần legging với tính năng ôm sát cơ thể từ eo đến mắt cá hoặc cổ chân, với chất liệu sử dụng là thun có độ co giãn đàn hồi tốt, nên ngày nay quần legging được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau
- Thời trang: Với cách thiết kế ôm sát cơ thể, khả năng tạo dáng tốt nên quần legging được dùng nhiều trong lĩnh vực thời trang không ch được kết hợp với các loại short hay váy, mà còn kết hợp với áo sơ mi, jacket hay áo crop-top, mang lại cho người mặc sự năng động, khỏe khoắn, trẻ trung, giúp tôn dáng người mặc, che khuyết điểm đôi chân, tăng tính thẩm mỹ
Hình 1.13: Quần legging mang phong cách thời trang [15]
- Thể thao: Quần legging đã được sử dụng trong thể thao từ những năm 80 khi trào lưu tập thể dục, thể dục nhịp điệu phát triển mạnh mẽ Với thiết kế ôm sát, chất liệu co giãn cao để không hạn chế vận động, thấm hút mồ hôi nhanh, khô thoáng, độ bền tốt nên quần legging là sự lựa chọn tốt nhất cho các môn thể thao vì nó tạo cảm giác thoải mái và tăng hiệu quả luyện tập hơn khi mặc
Trang 23Hình 1.14: Quần legging thể thao [16]
- Y học hỗ trợ điều trị suy giãn tĩnh mạch: Hiện nay quần legging là một trong những biện pháp điều trị bệnh giãn tĩnh mạch hay được sử dụng, quần legging không ch bó sát, có độ co giãn cực tốt, mà quan trọng là quần phải tạo được độ dốc áp lực thì mới có tác dụng điều trị bệnh suy tĩnh mạch Độ dốc áp lực là áp lực ép lên tĩnh mạch giảm dần một cách đều đặn dọc theo chiều dài chân, từ cổ chân đến đùi
Hình 1.15: Quần legging trị giãn tĩnh mạch [17]
- Quần legging giảm béo: Với cách thiết kế từ phần eo dưới đến chân có tác dụng massage và giảm béo vùng bụng dưới phần hông, phần đùi và các bắp chân, bên cạnh đó nhờ sự chuyển động liên tục của cơ thể, quần legging giảm béo tác động vào các vùng thô giúp loại bỏ mỡ thừa, ngăn chặn việc tích lũy mỡ, lưu thông máu, bài trừ độc hại và làm da trở lên mịn màng hơn đem đến cảm giác
Trang 24thoải mái, thoáng mát cho người sử dụng
Hình 1.16: Quần legging giảm béo [18]
1.2.5 Phương pháp gia công may [2]
Vật liệu sử dụng của quần legging là vải dệt kim có tính co giãn cao bởi các liên kết vòng nên các đường may sử dụng phải có độ đàn hồi lớn do đó các đường may thường được dùng cho vải dệt kim là các đường may móc xích, các đường may vắt
xổ, các đường may chần diễu
Mũi may móc xích 1 ch (móc xích đơn):
- Kết cấu: Mũi may móc xích đơn được tạo thành bởi 1 ch của kim, tự thắt với nhau bằng những móc xích ở mặt dưới nguyên liệu may
Hình 1.17: Mũi móc xích đơn [2]
- Kí hiệu: 1**
Trong đó: 1 là kí hiệu họ mũi may móc xích 1 ch
** là đặc trưng cho dạng tết ch
Một số đường may họ mũi may móc xích một ch thường gặp:
+ 101: Đường may thẳng cơ bản
+ 103: Đường may dấu mũi
+ 104: Đường may đan ngang ở máy đính cúc mũi móc xích 1 ch
+ 130: Đường may ziczac ở máy thùa khuy mũi móc xích 1 ch
+ 131: Đường may ngược của 101
Trang 25- Đặc điểm, công dụng:
+ Mũi may có độ đàn hồi lớn, thích hợp cho các nguyên liệu có tính co giãn cao
+ Chiều dài đường may không bị giới hạn bởi thoi suốt
+ Bộ tạo mũi đơn giản, chiếm ít không gian, ít bị hư hỏng
+ Độ tiêu hao ch cao
+ Độ bền mũi may kém, dễ bị tuột ch Khi bị đứt ch nửa chừng phải may lại
Các kiểu đường may móc xích 2 ch thông dụng:
+ 401: Đường may móc xích 2 ch cơ bản
+ 402: Đường may 2 ch kim và 1 ch móc
+ 403: đường may chần 3 kim 3 móc
+ 404: Đường may 401 may ziczac
+ 405: Đường may 402 may ziczac
+ 406: Đường may 2 kim 3 ch
+ 407: Đường may chần 3 kim 4 ch
Trang 26+ 408: Đường may chần diễu 2 kim 5 ch
+ 410: Đường may 4 kim 5 ch
+ 430: Đường may với móc xích nằm trên nguyên liệu, thường thấy ở máy thùa khuy đầu tròn
- Đặc điểm, công dụng:
+ Mũi may có độ đàn hồi lớn
+ Đường may không bị giới hạn
+ Bộ tạo mũi đơn giản chiếm ít không gian nên có thể thực hiện nhiều đường may cùng lúc
+ Mũi may có độ bền ổn định, khó bị tự tháo
+ Tiêu hao ch lớn
+ Không thực hiện được mũi may lùi
+ Mũi may móc xích 2 ch được dùng trong các máy may nhiều đường song song (may chần) cho tất cả các vật liệu
+ Mũi may móc xích 2 ch còn có thể được dùng trong các máy may chuyên dùng không yêu cầu bước may quá nhỏ như ở máy vắt sổ
Các mũi may vắt sổ:
- Kết cấu: Mũi may vắt sổ là mũi may được phát triển từ mũi may móc xích, trong đó một nhánh ch được đan từ mặt dưới lên mặt trên nguyên liệu, bọc lấy mép nguyên liệu
Hình 1.19: Dạng mũi may 503 [2] Hình 1.20: Dạng mũi may 504 [2]
- Kí hiệu: 5**
Trong đó: 5 là kí hiệu họ may vắt sổ
** là đặc trưng cho kết cấu mũi may
Một số dạng thường gặp ở họ mũi may vắt sổ:
Trang 27+ 501: Mũi may vắt sổ 1 ch được phát triển từ mũi may móc xích 1 ch 101 với 1 nhánh ch được kéo dài ra choàng từ mặt dưới lên mặt trên bao lấy mép nguyên liệu
+ 502, 503: Mũi may vắt sổ 2 ch được phát triển từ mũi may móc xích 2 ch 401 với một nhánh ch của móc được kéo dài ra choàng từ mặt dưới lên mặt treenbao lấy mép nguyên liệu
+ 504, 505: Mũi may vắt sổ 3 ch (1 ch kim, 2 ch móc) được phát triển từ mũi may móc xích 2 ch 401 cộng thêm 1 ch của móc đan ch từ mặt dưới lên mặt trên bao lấy mép nguyên liệu
+ 507: Mũi may vắt sổ 4 ch , gồm một đường may móc xích 2 ch 401 và một đường vắt sổ 2 ch 502, 503
+ 516: Mũi may vắt sổ 5 ch , gồm một đường may móc xích 2 ch 401 và một đường vắt sổ 3 ch 504, 505
+ 517: Mũi may vắt sổ cộng mũi may thắt nút, gồm một đường may thắt nút 301
và một đường vắt sổ 3 ch 504, 505
- Đặc điểm, công dụng:
+ Độ đàn hồi mũi may lớn, trừ đường may 517 (có mũi may thắt nút)
+ Đường may không giới hạn chiều dài
+ Đòi hỏi cơ cấu dao xén mép nguyên liệu trước khi tạo mũi may
+ Ch được thực hiện theo một chiều
+ Họ mũi may vắt sổ được dùng để bọc mép nguyên liệu chống tuột sợi, dùng
để thực hiện đường may vừa may vừa vắt sổ ở các nguyên liệu có độ co giãn cao
Các mũi may chần diễu (đánh bông):
- Kết cấu: Mũi may chần diễu được phát triển trên cơ sở mũi may chần nhiều kim
họ mũi may móc xích 2 ch nhưng có thêm cơ cấu móc ch đan phía trên mặt nguyên liệu tạo thành những đường diễu phía trên
Trang 28Hình 1.21: Mũi may chần diễu 602 [2]
- Kí hiệu: 6**
Trong đó: 6 là kí hiệu cho mũi may chần diễu
** đặc trưng cho dạng diễu
Một số dạng đườn may chần diễu thường gặp:
+ 602: Mũi may 2 kim 4 ch , trong đó 1 ch diễu
+ 603: Mũi may 2 kim 5 ch , trong đó 2 ch diễu
+ 605: Mũi may 3 kim 5 ch , trong đó 1 ch diễu
+ 606: Mũi may 4 kim 9 ch , trong đó 1 ch diễu
+ 607: Mũi may 4 kim 4 ch , trong đó 1 ch diễu
+ Đặc điểm, công dụng: Là dạng mũi may phức tạp nhất Mũi may chần diễu được dùng trong các máy may nối kết các mảnh vật liệu nối tiếp giáp mí, máy may nối các tấm vải trong công nghiệp dệt nhuộm
1.3 Vật liệu sử dụng
Vật liệu sử dụng cho quần legging là vải dệt kim
1.3.1 Khái niệm, phân loại vải dệt kim
1.3.1.1 Khái niệm [19] [1]
Vải dệt kim là vải được tạo thành bởi sự liên kết một hệ thống các vòng sợi với nhau, được sản xuất bằng công nghệ dệt kim Các vòng sợi được liên kết với nhau theo quy luật tạo vòng nhờ một hệ thống kim dệt giữ vòng sợi trước trong khi các vòng sợi mới được hình thành ở phía trước các vòng sợi cũ Các vòng sợi cũ sau đó được lồng qua vòng các sợi mới để tạo thành vải Các vòng sợi này tạo ra nhờ cơ cấu chuyển động nâng lên, hạ xuống và kết hợp đóng mở kim của hệ thông kim dệt và cam dệt trên máy dệt kim
1.3.1.2 Phân loại [1]
Theo phương pháp tạo vải: Vải dệt kim được chia thành hai nhóm lớn là vải dệt
Trang 29kim đan ngang và vải dệt kim đan dọc
- Vải dệt kim đan ngang: Các vòng sợi được liên kết liền với nhau theo hướng ngang, mỗi hàng vòng thường do 1 sợi tạo thành, các vòng sợi trong cùng một hàng vòng được tạo thành nối tiếp nhau trong quá trình dệt
- Vải dệt kim đan dọc: Các vòng sợi được liên kết liền với nhau theo hướng chéo hoặc hướng dọc, mỗi hàng vòng được tạo thành bằng một hoặc nhiều hệ sợi, trong đó mỗi sợi ch tạo ra một vòng sợi của hàng vòng Tất cả các vòng sợi của một hàng vòng đều đồng loạt được tạo thành trong quá trình dệt
Theo kiểu dệt: Bằng các quy luật liên kết khác nhau của các vòng sợi có thể tạo
ra các kiểu dệt cơ bản như kiểu dệt một mặt phải (Single), kiểu dệt hai mặt phải (Rib), kiểu dệt Interlock, kiểu dệt hai mặt trái; kiểu dệt dẫn xuất, kết hợp với việc làm biến dạng các vòng sợi có thể tạo ra hàng loạt kiểu dệt khác nhau
1.3.2 Đặc trƣng cấu trúc, tính chất vải dệt kim [1]
1.3.2.1 Đặc trƣng cấu trúc của vải dệt kim
- Đơn vị cấu trúc nhỏ nhất của vải dệt kim là vòng sợi Vòng sợi trong vải có dạng đường cong không gian và được chia làm 3 phần như hình 1.22
Trang 30- Vòng sợi có thể có dạng vòng kín hoặc vòng hở
- Vòng sợi còn có thể có dạng có dạng vòng dệt phải hoặc vòng dệt trái
- Hàng vòng là các vòng sợi kề tiếp nhau theo hàng ngang và theo hàng dọc được gọi là cột vòng
1.3.2.2 Tính chất vải dệt kim
Khối lượng riêng của vải:
Khối lượng riêng g/m2 là một trong các thông số kỹ thuật quan trọng của vải, bởi nó không ch biểu lộ đặc trưng sử dụng của vải mà còn cho biết lượng nguyên vật liệu tiêu hao còn 1m2 vải và tính kinh tế của quá trình sản xuất (chi phí nguyên vật liệu ước chiếm trên 50% giá thành của vải thành phẩm)
Khối lượng riêng g/m2 của vải có thể được xác định bằng phương pháp thực nghiệm hoặc bằng phương pháp tính toán lý thuyết nếu như biết trước các thông
số hình học của vải và chi số sợi sử dụng Từ định nghĩa về độ mảnh của sợi ta
Trang 31= m = l = , g/
Tính chất biến dạng của vải dệt kim
Cũng tương tự như ở vật thể dạng tấm phẳng, biến dạng của vải dệt kim có thể
được tạo ra bằng các phương pháp sau:
Kéo: Các đặc trưng biến dạng kéo của vải có thể được xác định thông qua các quá trình thử kéo một chiều hoặc hai chiều
Uốn: Để xác định các đặc trưng biến dạng uốn của vải, mẫu thử có thể được gây tải bằng moomen (uốn ngang) hoặc bằng lực nén trong mặt phẳng vải (nén chính tâm)
Trượt: Để xác định biến dạng trượt (biến dạng góc) của vải, mẫu thử được gây tải bằng ứng suất tiếp
Nén ngang: Để xác định sự thay đổi độ dày của vải, mẫu thử được gây tải bằng lực nén vuông góc với mặt phẳng vải
Các phương pháp tạo biến dạng thuần túy nêu trên thường được kết hợp với nhau Ngoài ra, các biến dạng còn có thể diễn ra:
Trong ½ chu kỳ
Trong một chu kỳ
Trong nhiều chu kỳ:
Tính ổn định kích thước của vải dệt kim
Một trong những nhược điểm khá rõ nét của vải dệt kim là tính kém ổn định về kích thước Hình dạng của các sản phẩm dệt kim nói chung luôn có xu hướng tự thay đổi theo thời gian Trên thực tế, trong quá trình gia công và sử dụng, vải dệt kim phải trải qua hàng loạt trạng thái khác nhau Ở đây, ch có một số trong các trạng thái đó
sẽ được đề cập và đánh giá sơ bộ về tính ổn định kích thước của vải
Vải trong quá trình dệt trên máy:
Có thể nói trong quá trình dệt, vải luôn ở trong trạng thái bất ổn định Vải trên máy thường bị co nên các thông số hình học của vải cũng sẽ thay đổi theo Sau khi đi qua các trục kéo vải, vải cơ bản được giảm tải (ch còn bị kéo căng nhẹ trong cuộn vải)
Vải xuống máy:
Vải xuống máy dần đi vào trạng thái ổn định tương đối, còn được gọi là trạng
Trang 32thái phục hồi khô khi nó được để hoàn toàn tự do một thời gian đủ dài, tốt nhất là trong môi trường tiêu chuẩn và thường kéo dài khoảng một tuần
Trong suốt cả giai đoạn này, vải luôn được duy trì trong trạng thái không chịu lực kể cả trọng lượng của chính bản thân nó
Do bị kéo dọc trong quá trình dệt nên trong quá trình hồi phục, sự co dọc của vải thường được diễn ra khá mãnh liệt, còn sự co ngang thường diễn ra không rõ rệt
và có thể có giá trị dương hoặc âm
Sau giai đoạn hồi phục khô, vải cũng ch mới ở trong trạng thái ổn định tương đối Có nghĩa là, mọi sự thay đổi về hình dạng và kích thước sẽ không xảy ra ch khi các điều kiện tồn tại của vải không thay đổi
Vải sau hồi phục ướt:
Ở công đoạn hồi phục ướt, vải trong trạng thái không tải được ngâm một thời gian đủ dài trong nước có chất thấm (thường 40oC và 0,1% chất thấm) và sau đó cũng trong trạng thái không tải, vải được sấy khô
Sau giai đoạn này, vải cũng vẫn còn ở trong trạng thái ổn định tương đối nhưng
ở mức độ hồi phục cao hơn Trạng thái ổn định kích thước tương đối này cũng có thể đạt được khi vải được giặt ở các nhiệt độ khác nhau trong các máy giặt kiểu thùng quay Trạng thái sau giặt, đặc biệt là giặt nhiều lần trên thực tế đã gần tiếp cận được với trạng thái hồi phục hoàn toàn của vải Đó là trạng thái mà vải có nội năng biến dạng nhỏ nhất, chính vì vậy mà vải có xu thế thay đổi hình dạng nhỏ nhất và độ ổn định kích thước cao nhất
Trạng thái phục hồi hoàn toàn của vải:
Tuy được đặc trưng bằng lượng nội năng biến dạng cực tiểu trong vải nhưng trạng thái hồi phục hoàn toàn không phải là một trạng thái duy nhất Ảnh hưởng của các trở lực trong vải, trong sợi và cả trong xơ không ch làm cấu trúc vải bị biến dạng dẻo ngay trong quá trình dệt và về sau này mà còn tạo ra một số lượng vô cùng lớn trạng thái hồi phục hoàn toàn khác nhau của vải
Nhiệm vụ của quá trình hồi phục là loại trừ các nội lực cản trở vải đạt đến trạng thái hồi phục hoàn toàn Phần lớn các công đoạn gia công hoàn tất vải là các quá trình hồi phục vải Giặt nhiều lần kết hợp với sấy khô trong trạng thái không tải tuy cho kết quả hồi phục tốt nhưng năng suất lao động thấp giá thành quá cao, đương nhiên sẽ không được chấp nhận trong sản xuất công nghiệp
Trang 33 Tính tuột vòng của vải dệt kim
Tính tuột vòng cũng là một trong các nhược điểm lớn của vải dệt kim Nó có ảnh hưởng xấu không ch đến các tính chất gia công mà còn cả đến các tính chất sử dụng của vải Ở vải dệt kim, các vòng sợi có cung kim tự do đều có nguy cơ bị tuột vòng Sự tuột vòng làm cho vải bị phá hủy dần ngay cả khi sợi không bị đứt Sự tuột vòng của vải dệt kim ch có thể được khắc phục triệt để bằng các phương pháp phi dệt kim, ví dụ bằng các phương pháp dính kết… Tính tuột vòng có thể được hạn chế bằng sự lựa chọn hợp lý về nguyên liệu dệt, cấu trúc và các thông số kĩ thuật của vải (vải dệt càng dày vòng sợi càng khó tuột) hoặc bằng phương pháp xử lý định hình vải
Vải dệt kim có thể có các biên không tuột vòng, ví dụ đầu tấm và hai biên dọc Ở biên ngang trên, sau khi được trút khỏi các kim, các vòng sợi đều có cung kim tự do nên đều có nguy cơ bị tuột vòng Để khắc phục hiện tượng này, đối với các sản phẩm cắt may hoặc xâu sợi qua cá cung sợi tự do Để quá trình tuột vòng thật sự diễn ra cần hội tụ hai điều kiện:
- Trong vải phải có nguồn tuột vòng (các biên tuột vòng hoặc sợi bị đứt…)
- Vải phải được cung cấp năng lượng cần thiết để tháo tuột vòng sợi, thường vải
ch cần được kéo căng là đủ
Tính quăn mép của vải dệt kim
Tính quăn mép là một nhược điểm của vải dệt kim Tuy nhiên không phải tất cả các loại vải dệt kim đều có tính quăn mép Tính chất này được biểu hiện rõ rệt nhất ở vải một mặt phải Ngoài ra, một số loại vải khác cũng có thể có tính quăn mép Tính quăn mép của vải được tạo ra bởi nội lực biến dạng đàn hồi của sợi Ở vải một mặt phải dệt trơn các mép biên ngang có xu hướng quăn sang mặt phải, còn các mép dọc
có xu hướng quăn sang mặt trái của vải Hai xu hướng biến dạng đối lập nhau này sẽ triệt tiêu lẫn nhau ở phần giữa của mảnh vải nên ở đó không xuất hiện hiện tượng
“quăn mép”
Các loại vải kép với hai mặt vải (trước và sau) giống nhau hầu như không bị quăn mép Hiện tượng quăn mép có chăng ch được biểu hiện dưới dạng uốn sóng của các hàng vòng đối với vải hai mặt phải hoặc của các cột vòng đối với vải hai mặt trái Sự cân bằng của hai mặt vải có thể sẽ bị phá vỡ nếu như chúng được tạo ra bằng các vòng sợi có chiều dài khác nhau hoặc bằng các phần tử có cấu trúc khác nhau Trong trường
Trang 34hợp như vậy kể cả các loại vải đan ngang hai mặt phải, Interlock, đan ngang hai mặt trái hay đan dọc hai mặt phải cũng đều có thể bị quăn mép Thế nhưng cũng không loại trừ trường hợp hai mặt vải tuy khác nhau nhưng vải lại không bị quăn mép, nếu như các xu thế biến dạng được tạo ra đối lập nhau
Tính kéo rút sợi của vải dệt kim
So với vải dệt thoi, tính kéo rút sợi của vải dệt kim biểu hiện rõ rệt và nguy hiểm hơn Hiện tượng kéo rút sợi xảy ra với xác suất khá cao và thường gây cho vải các dạng lỗi về cấu trúc rất khó khắc phục Xu thế tạo ra sự kéo rút sợi ra từ vải chịu ảnh hưởng của hai yếu tố quan trọng sau:
Trở lực chống lại sự kéo rút sợi ra từ vải: Lực cần thiết để kéo rút đoạn sợi với chiều dài nhất định ra từ vải trước hết phụ thuộc vào:
- Nguyên liệu sử dụng
- Cấu trúc vải
- Mật độ dệt
Sợi được kéo rút càng dễ dàng hơn, tính kéo sợi của vải càng cao
Xác suất xảy ra sự vướng mắc ngẫu nhiên của vải vào các vật kéo và hiện tượng kéo rút sợi ra từ vải: Xác suất này phụ thuộc vào độ nhám bề mặt vải và đặc biệt
là chiều dài của các đoạn sợi nằm tự do trên các bề mặt đó
1.3.3 Phạm vi ứng dụng của vải dệt kim
Vải dệt kim nhờ có độ đàn hồi, độ co giãn lớn, khả năng giữ nhiệt và thấm hút
mồ hôi tốt nên thường được sử dụng trong may mặc như:
- Vải dệt kim một mặt phải (Single): Được dùng để may áo T-shirt, polo shirt, áo lên, đồ lót, đồ thời trang
- Vải dệt kim hai mặt phải (Rib Fabric): Được dùng làm cổ áo, tay áo, bo áo, quần áo mặc sát người
- Vải dệt kim hai mặt trái (Purl Fabric): Được dùng để may quần áo trẻ em, các
Trang 351.4 Đặc điểm nhân trắc học phần chân của nữ thanh niên Việt Nam
1.4.1 Xương chân dưới [20]
1.4.1.1 Xương chậu
Là một xương dẹt, do 3 xương nhỏ tạo thành: xương cánh chậu ở trên, xương
mu ở trước dưới, xương ngồi ở sau dưới Trung tâm chắp nối của 3 xương là đáy ổ khớp
Đặt xương theo chiều thẳng đứng, mặt có hỏm khớp ra ngoài, khuyết ở vành hỏm khớp xuống dưới, bờ có khuyết to ra sau Xương chậu do 3 xương hợp thành, trung tâm tiếp nối là đáy ổ cối Xương giống như hình cánh quạt có 2 mặt, 4 bờ và 4 góc
là mặt ngoài xương cánh chậu (mặt mông), còn gọi là hố chậu ngoài, có các diện để cho 3 cơ mông bám
- Mặt trong: Có gờ vô danh, mào eo trên chia mặt trong thành 2 phần:
+ Phần trên là hố chậu trong có phần chậu của cơ thắt lưng chậu bám, lồi chậu, phía sau có diện nhĩ
Trang 36+ Phần dưới có diện vuông (ứng với đáy ổ cối ở mặt ngoài) và lỗ bịt
- Bờ trên: Còn gọi là mào chậu, cong hình chữ S, bắt đầu từ gai chậu trước trên đén gai chậu sau trên đay ở phía trước và phía sau, mỏng ở giữa
- Bờ dưới: Do ngành dưới mu và thân xương ngồi tạo nên
Bốn góc:
- Góc trước trên là gai chậu trước trên
- Góc trước dưới là gai mu
- Góc sau trên là gai chậu sau trên
- Góc sau dưới là ụ ngồi
1.4.1.2 Xương đùi
Là một xương dài to và nặng nhất cơ thể, hơi cong lõm ra sau Đầu có chỏm lên trên, chỏm hướng vào trong, đường ráp của thân xương ra sau
Hình 1.25: Hình ảnh xương đùi [21]
Trong đó: 1 – Mấu chuyển lớn 5 – Đường ráp
2 – Chỏm đùi 6 – Lồi cầu trong
3 – Thân xương đùi 7 – Lồi cầu ngoài
4 – Cổ khớp
Trang 37Gồm có thân xương dài và hai đầu
Thân xương: Hình lăng trụ tam giác có 3 mặt, 3 bờ
- Mặt trước nhẵn, hơi lồi Mặt ngoài và trong lồi, rộng ở trên hơn ở dưới
- Bờ ngoài và trong không rõ, bờ sau sắc tạo thành đường ráp của xương đùi Đầu trên đường ráp chia ra làm 3 ngành: Một ngành chạy vào mấu chuyển to, một ngành chạy vào mấu chuyển nhỏ và một ngành chạy vào cổ xương, còn đầu dưới đường ráp chia làm 2 ngành đi xuống tận hai lồi cầu, ở đường ráp có nhiều cơ bám
Hai đầu xương
- Đầu dưới: gồm 2 lồi cầu trong và ngoài
+ Lồi cầu trong: Lồi tròn tiếp khớp với mâm chày, mặt trong phía trên có lồi
củ cơ khép lớn
+ Lồi cầu ngoài: Lồi tròn tiếp khớp với mâm chày
+ Phía trước, giữa 2 lồi cầu có rãnh ròng rọc tiếp khớp với xương bánh chè
+ Phía sau, giữa 2 lồi cầu là nghẽn lồi cầu
Trang 38Hình 1.26: Hình ảnh xương chày [21]
Trong đó: A – Nhìn từ trước 3 – Mắt cá trong
B – Nhìn từ phía ngoài 4 – Đầu trên
C – Nhìn từ phía sau 5 – Thân xương
1 – Lồi củ chày 6 – Đầu dưới
2 – Mặt trong 7 – Mặt sau
- Thân xương: Hình lăng trụ tam giác có 3 mặt, 3 bờ
+ Mặt trong phẳng, nằm ngay dưới da
+ Mặt ngoài lõm thành rãnh ở trên, ở dưới lồi
+ Mặt sau có đường bám của cơ dép ở 1/3 trên chạy chếch xuống dưới vào trong, dưới đường chéo có lỗ nuôi xương
- 3 bờ: Bờ trước (mào chày) cong hình chữ S, sắc ở giữa, nhẵn ở 2 đầu Bờ trong mờ ở trên rõ ở dưới Bờ ngoài sắc có màng liên kết cất bám
- Hai đầu:
+ Đầu trên: To hình khối vuông Mặt trên, ở giữa có 2 gai chày (lồi gian lồi cầu), có diện trước gai và diện sau gai Hai bên là 2 mâm chày, hơi lõm tiếp khớp với 2 lồi cầu xương đùi Ở phía trước dưới và giữa hai mâm chày có lồi củ chày trước Ở phía sau ngoài lồi cầu ngoài có diện khớp với xương mác Giữa diện khớp với xương mác và lồi củ chày trước có lồi củ Gerdy + Đầu dưới: Nhỏ hơn đầu trên, cũng có hình khối vuông Mặt dưới tiếp khớp với ròng rọc của xương sên, ở phía sau có 1 phần xương xuống thấp hơn gọi
là mắt cá thứ 3 Mặt trước và mặt sau lồi, tròn Mặt ngoài có diện khớp với xương mác Mặt trong có mắt cá trong (mặt ngoài mắt cá trong tiếp khớp với xương sên)
1.4.1.4 Xương mác
Trang 39Là một xương dài, mảnh ở cẳng chân, nằm ngoài xương chày
- Thân xương: Hình lăng trụ tam giác có 3 mặt, ba bờ
+ Mặt ngoài ở trên phẳng ở dưới lõm thành rãnh Mặt trong có 1 mào thẳng Mặt sau lồi và gồ ghề
+ Bờ trước mỏng và sắc Bờ trong sắc ở giữa Bờ ngoài tròn và nhẵn ở dưới
- Hai đầu: Đầu trên là chỏm xương mác, mặt trong chỏm có diện khớp với xương chày Đầu dưới tạo nên mắt cá ngoài, mắt cá ngoài xuống thấp hơn mắt cá trong, mặt trong có diện khớp với xương chày
1.4.1.5 Xương bánh chè
Là một xương vừng hơi dẹt, nằm trong gân cơ tứ đầu đùi Hình tam giác, nền ở trên, đ nh ở dưới Mặt trước hơi lồi có nhiều khía và rãnh Mặt sau có 1 gờ ngang chia thành 2 phần, phần trên tiếp khớp với ròng rọc của xương đùi phần dưới gồ ghề liên quan với khối mỡ ở đầu gối
Hình 1.27: Hình ảnh xương bánh chè [20]
1.4.1.6 Các xương cổ chân: Gồm 7 xương sắp xếp thành hai hàng:
- Hàng sau: Có hai xương là xương sên và xương gót
- Hàng trước: Có 5 xương là xương ghe, xương hộp và ba xương chêm
Xương đốt bàn chân: Có 5 xương đốt bàn kể từ trong ra ngoài là xương đốt bàn I, đốt bàn V Mỗi xương có nền, thân và chỏm
Xương: Mỗi ngón chân có ba xương là xương đốt ngón gần, đốt ngón giữa
và đốt ngón xa Ngoại trừ ngón I ch có hai xương là xương đốt ngón gần và đốt ngón xa Mỗi xương cũng có ba phần là nền đốt ngón, thân đốt ngón và chỏm đốt ngón
1.4.2 Cơ chân dưới [22]
1.4.2.1 Cơ vùng mông
Vùng mông là một vùng có nhiều mạch máu và thần kinh quan trọng từ chậu
Trang 40hông đi qua để xuống chi dưới Cơ vùng mông có thể chia làm 2 loại:
- Loại cơ chậu hông mấu chuyển gồm cơ căng mạc đùi, 3 cơ mông (to, nhỡ, bé) và cơ hình lê hay cơ tháp Đây là những cơ duỗi, dạng và xoay đùi
- Loại cơ ụ ngồi mấu chuyển gồm cơ sinh đôi, cơ bịt trong, cơ bịt ngoài và cơ vuông đùi Các cơ này có động tác chủ yếu là xoay ngoài đùi
Cơ vùng mông được xếp thành 3 lớp
- Lớp nông gồm cơ mông to có tác dụng dạng và duỗi đùi, cơ căng mạc đùi có tác dụng căng mạc đùi, gấp đùi duỗi cẳng chân
- Lớp giữa gồm cơ mông nhỡ có tác dụng dạng đùi, bó trước gấp và xoay trong đùi, bó sau xoay ngoài đùi, ngoài ra còn nghiêng chậu hông
- Lớp sâu gồm cơ mông nhỏ, cơ hình quả lê có tác dụng xoay ngoài đùi, cơ sinh đôi trên, cơ bịt trong có công dụng xoay ngoài đùi, duỗi và dạng đùi khi đùi ở tư thế gấp, cơ sinh đôi dưới, cơ vuông đùi có tác dụng xoay đùi ra ngoài, cơ bịt ngoài
Hình 1.28: Hình ảnh các cơ vùng mông [22]
1.4.2.2 Cơ vùng đùi
Vùng đùi sau được giới hạn: trên bởi nếp lằn mông, dưới bởi một đường ngang trên nếp gấp khoeo 3 khoát ngón tay, bên ngoài bởi đường nối từ mấu chuyển to đến mỏm trên lồi cầu ngoài xương đùi, bên trong bởi đường nối từ bờ dưới khớp mu đến lồi cầu trong xương đùi
Vùng đùi trước được giới hạn: trên là nếp lằn bẹn, dưới là đường ngang phía trên nền xương bánh chè 2 khoát ngón tay, phía ngoài là đường kẻ từ gai chậu trước trên tới lồi cầu ngoài xương đùi, phía trong là đường kẻ từ sau khớp mu tới lồi cầu trong xương đùi