Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh

Một phần của tài liệu Nghiên Cứu Hành Vi Văn Minh Đô Thị Của Thanh Niên Thành Phố Hồ Chí Minh (Trang 121 - 130)

HÀNH VI VĂN MINH ĐÔ THỊ CỦA THANH NIÊN

3.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi văn minh đô thị của thanh niên thành phố Hồ Chí Minh

Khảo sát các yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng đến HVVMĐT của thanh niên TPHCM, kết quả thu đƣợc nhƣ sau:

Bảng 3.22. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến HVVMĐT của thanh niên TPHCM

Yếu tố Mức độ quan trọng ( % ) TB Thứ

hạng

5 4 3 2 1

Ý thức tự giác của thanh niên 45.26 34.91 32.58 04.64 00.44 4.20 2 Nhận thức của thanh niên về

VMĐT

64.55 09.73 18.39 03.66 02.76 4.26 1 Đặc điểm tâm ý tuổi thanh niên 02.05 09.37 59.73 16.87 11.96 2.72 6 ý thức về giá trị của mình 43.66 26.78 18.12 05.98 05.44 3.97 3 Khả năng thích nghi xã hội 35.80 27.76 18.66 06.42 11.33 3.70 5 Đặc điểm hoạt động của thanh

niên

36.60 31.16 18.03 04.91 09.28 3.80 4 Số liệu trên bảng 3.22 cho thấy, có hai yếu tố ảnh hưởng rất rõ ràng đến HVVMĐT của thanh niên TPHCM là “Nhận thức của thanh niên về văn minh đô thị” (TB 4.26

> 4.2) và “Ý thức tự giác của thanh niên” (TB 4.2). Đây là hai yếu tố phản ánh mặt

bên trong của HVVMĐT. Nhiều bạn thanh niên cho rằng, một khi thanh niên đã không nhận thức rõ về văn minh, văn minh đô thị thì họ sẽ rất khó khăn trong việc thực hiện vì họ không biết thế nào là văn minh, thế nào là không văn minh khi sống ở đô thị. Nhận thức là nền tảng của các hành vi và điều này đƣợc các bạn thanh niên nhất trí rất cao. Bạn Nguyễn Dương H., thanh niên tạm trú từ miền Trung vào TPHCM cho rằng “Cần phải hết sức tự giác mới có thể thực hiện sự văn minh ở chốn đông người. Nếu không tự giác, mọi người đều xả rác, mọi người cùng hái hoa thì chắc rằng TP sẽ chẳng bao giờ trở nên văn minh đƣợc”. Trong các yếu tố chủ quan, chỉ có yếu tố “Đặc điểm tâm lý tuổi thanh niên” có điểm trung bình thấp, dù cũng ở mức trung bình (TB 2.72), tất cả các yếu tố còn lại đƣợc thanh niên TPHCM đánh giá là có ảnh hƣiởng quan trọng, rõ rệt đến các HVVMĐT của họ. (tất cả các yếu tố đều có điểm trung bình lớn hơn 3.4).

Nhƣ vậy có thể khẳng định rằng, các yếu ý thức bản

thân và mức độ nhận thức của thanh niên về văn minh đô thị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành, thực hiện các HVVMĐT.

Bảng 3.23:các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến HVVMĐT của thanh niên TPHCM

Yếu tố Mức độ quan trọng TB Thứ

hạng

5 4 3 2 1

Sự gương mẫu của người lớn 38.30 32.85 13.66 08.83 06.33 3.87 4 Công tác truyền thông 10.62 33.21 36.69 09.28 10.17 3.24 8 Công tác giáo dục tại các trường 15.26 18.92 45.26 17.85 02.67 3.26 7 Sinh hoạt của Đoàn TNCS 03.03 09.10 60.44 17.50 09.91 2.77 9 Dƣ luận xã hội 36.60 31.16 18.03 04.91 09.28 3.80 5 Điều kiện kinh tế xã hội 35.80 27.76 18.66 06.42 11.33 3.70 6 Các qui định thực hiện hành vi

VMĐT

43.66 26.78 18.12 05.98 05.44 3.97 2 24.64 19.73 33.66 11.25 10.71 2.91 3 Điều kiện vật chất đầy đủ (đủ

thùng chƣa rác, nơi đậu xe rộng rãi…)

63.12 11.25 19.73 02.76 03.12 4.28 1

Bảng số liệu cho thấy yếu tố khách quan ảnh hưởng rõ nhất đến HVVMĐT của thanh niên TPHCM là điều kiện vật chất đầy đủ, nghĩa là có đủ thùng rác, có nơi đậu xe thông thoáng… với TB 4.28 > 4.2, tức ở mức độ rất quan trọng. Sau đó là yếu tố “Các qui định thực hiện HVVMĐT (TB 3.97). Có hai yếu tố có ảnh hưởng ở

mức trung bình, vừa phải là “Truyền thống văn hóa dân tộc” (TB 2.92) và “Sinh hoạt của đoàn TNCS” (TB 2.77). Điều này cho thấy, tác dụng của các buổi sinh hoạt đoàn không cao đối với việc thực hiện các HVVMĐT. Sinh viên năm thứ 3 trường đại học KHXHNV Hồ Ngọc T. cho rằng “Khi thanh niên tự giác thì việc thực hiện các HVVMĐT có thể dễ dàng, nhƣng nếu tình trạng cơ sở vật chất quá tồi tệ thì sẽ chẳng có ai trở nên văn minh, lịch sự. Đường phố không có nhà vệ sinh thì làm sao văn minh được? Nhà trường thiếu thùng rác thì làm sao sạch đẹp được?”.

Bạn Nguyễn Thanh H. ở quận Bình Thạnh cho rằng “Nếu không xử phạt một cách nghiêm minh, nếu luật pháp bị xem thường thì sẽ không có hành vi tích cực nào được duy trì vì lâu dần, người ta thấy có chấp hành tốt cũng như không chấp hành chẳng có gì khác nhau, mình chấp hành mà người khác làm ngược lại thì sẽ không bao giờ có thể có hành vi tốt đƣợc”. Bạn Trần Tấn Th. ngụ ở quận Tân Phú thì thẳng thắn: “Nếu cứ hô hào phải văn minh, lịch sự mà không có thùng rác thì mọi người sẽ bỏ rác đi đâu, nếu cứ chỉ nói suông mà không có nhà vệ sinh công cộng thì thử hỏi lúc đó làm sao người ta không đi bậy...?”.

Tiến hành khảo sát ý kiến của thanh niên về những nơi có những biểu hiện văn minh đô thị nhiều nhất, rõ nhất, kết quả nhƣ sau:

Bảng 3.24.: Biểu hiện HVVMĐT ở một số nơi cụ thể

Nơi biểu hiện Mức độ ( % ) TB

5 4 3 2 1

Gia đình 23.75 35.08 26.96 08.92 04.82 3.64 Cộng đồng dân cƣ 16.51 35.62 33.12 08.66 06.07 3.47 Trường học 22.76 32.58 34.55 09.10 00.98 3.67 Bệnh viện 21.42 30.80 26.78 15.44 05.53 3.47 Nhà ga, bến xe 01.78 02.86 33.57 31.33 30.44 2.14 Công viên, khu vui chơi 03.57 01.69 31.42 34.55 28.75 2.16 Rạp chiếu phim 07.84 31.07 33.12 16.07 12.67 3.07 Thƣ viện, bảo tàng 13.48 30.80 35.71 14.91 05.08 3.32 Đường phố 01.51 04.46 25.80 37.76 30.44 2.00 Với 5 mức độ rất tốt, tốt, bình thường, không tốt và rất không tốt, các số liệu được thể hiện ở bảng 3.24 cho thấy, trường học là nơi các thành viên thể hiện các HVVMĐT rõ nhất và ở mức độ rất tốt với TB 3.67, sau đó là gia đình (TB 3.64).

Bệnh viện và cộng đồng dân cƣ cũng có điểm trung bình cao (TB 3.47>3.4) nghĩa là cũng ở mức rất tốt. Đường phố là nơi thể hiện các hành vi văn minh ở mức rất thấp

(TB 2.00), dưới mức trung bình, sau đó là ở nhà ga, bến xe. Số liệu này dẫn đến một vấn đề: phải chăng thanh niên nói riêng và người dân ở TPHCM nói chung cần có một môi trường được giám sát chặt chẽ với những quy định cụ thể để có thể thực hiện HVVMĐT?!

Nhiều bạn khi được hỏi đã trả lời rất thành thật rằng “Nhà ga, bến xe và đường phố chẳng có ai kiểm soát, cũng chẳng có nhiều thùng rác hoặc ở những nơi đó không sạch sẽ nên mọi người sẵn sàng xả rác thoải mái”. Như vậy, nếu không được kiểm tra, nhắc nhở hoặc không đủ điều kiện, phương tiện vật chất thì việc thực hiện các HVVMĐT sẽ rất khó khăn. Bạn Phương Thị Th., sinh viên trường đại học Khoa học tự nhiên thì cho rằng “Không ai muốn nhà mình dơ bẩn, lộn xộn, học sinh trong trường học luôn được lưu ý phải ứng xử văn minh lịch sự, đó cũng là tiêu chí đánh giá điểm thi đua, bệnh viện luôn có các cô nhân viên quét dọn và do đó, người ta không muốn và không thể xả rác hoặc làm điều gì đó vô văn hóa”. Kết quả khảo sát và những ý kiến này cho thấy, điều kiện, phương tiện vật chất rất quan trọng và việc nhắc nhở, kiểm tra cũng góp phần làm cho mọi người thực hiện HVVMĐT.

Bằng câu hỏi mở, thông tin thu đƣợc từ 1120 phiếu điều tra cũng cho biết một số nguyên nhân của thực trạng tiêu cực trong hành vi văn minh đô thị của thanh niên TPHCM.

Nguyên nhân của thực trạng tiêu cực

- Các quy định về pháp luật chƣa cụ thể, một số quy định chƣa rõ ràng, còn nhiều chồng chéo. Các bạn thanh niên cho rằng, có rất nhiều qui định về thực hiện các hành vi văn hóa nhƣng rất chung chung và đƣợc rất nhiều ngành đề cập nhƣng lại không có những chỉ dẫn cụ thể.

- ý thức tự giác thực hiện HVVMĐT của

thanh niên thành phố chưa cao. Đặc biệt là thiếu ý thức vệ sinh, bảo vệ môi trường, giữ gìn an toàn giao thông, trật tự an ninh xã hội. Thanh niên tuy có nhận thức đƣợc về tầm quan trọng của việc thực hiện các HVVMĐT nhƣng chỉ mới dừng lại ở việc biết đƣợc, hiểu đƣợc mà chƣa thực sự có nhu cầu, có ý định thực hiện các HVVMĐT một cách thường xuyên.

- Các biện pháp, phương thức vận động, giáo dục chưa được sâu rộng, thiếu tính sinh động, không phong phú, không đa dạng về cả nội dung lẫn hình thức do

vậy hiệu quả mang lại không cao. Phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cƣ tuy có những chuyển biến nhƣng trong thực tế vẫn còn nặng tính thành tích.

- Cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc thực hiện HVVMĐT chƣa đủ và chƣa tốt;

chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân và yêu cầu phát triển đô thị .

- Các biện pháp xử lý tình trạng vi phạm các qui định, qui chuẩn về văn minh đô thị chƣa rõ ràng và đƣợc thực hiện chƣa triệt để. Công tác kiểm tra vẫn còn đang khá lúng túng và chƣa có một sự điều hành thống nhất, nhất quán

3.3. Kết quả thực nghiệm tác động

3.3.1. Kết quả thực nghiệm vòng 1:

Kiểm chứng sự thay đổi nhận thức, xu hướng hành vi của thanh niên sau những tác động bằng việc tổ chức giảng dạy, tập huấn nội dung, kỹ năng thực hiện HVVMĐT gồm lý thuyết và thực hành trong vòng 30 tiết.

Trước khi thực nghiệm, hai nhóm thực nghiệm và đối chứng trả lời các câu hỏi của một bảng hỏi để chứng minh sự đồng nhất về mặt nhận thức cũng nhƣ xu hướng HVVMĐT của thanh niên ở 2 nhóm.

Kết quả trước khi tác động:

X1: Trung bình của nhóm thực nghiệm X2: Trung bình của nhóm đối chứng

Tiến hành so sánh nhận thức, thái độ và xu hướng hành vi giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước khi tác động, kết quả thống kê toán học cho thấy: với giá trị tới hạn tα= 2.76 mức ý nghĩa 0.01, t < tα, có thể nói trước khi thực nghiệm hai nhóm không có những khác biệt đáng kể và có thể xem nhƣ có xuất phát điểm về nhận thức, thái độ nhƣ nhau.

Số liệu so sánh đƣợc thể hiện cụ thể ở bảng sau:

Bảng 3.25: So sánh nhận thức, thái độ và xu hướng hành vi của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước khi tác động

TT Hành vi X1 X2 X1-X2 (X1-X2)2

01 Dừng xe khi đèn đỏ 1.84 1.92 -0.08 0.064

02 Xếp hàng khi mua hàng 1.56 1.45 0.09 0.081

03 Đóng cửa khi ra vào phòng máy lạnh 1.23 1.18 0.05 0.025 04 Để xe đúng nơi qui định 0.98 1.01 -0.03 0.009

05 Bỏ rác vào thùng 1.67 1.72 -0.05 0.025

06 Đi học, đi làm đúng giờ 1.11 1.13 -0.02 0.004

07 Giờ nào việc đó 0.14 0.16 -0.02 0.004 08 Xuống xe khi ra vào cơ quan 0.77 0.39 0.38 0.140

09 Dừng xe đúng tuyến 1.20 1.17 0.03 0.009

10 Bảo vệ cây xanh 0.78 0.81 -0.03 0.009

11 Nhường đường khi chạy xe ngoài phố 1.01 0.91 0.10 0.010 12 Nhường ghế cho người lớn tuổi 1.13 1.15 0.02 0.004 13 Hướng dẫn người già qua đường 0.97 0.97 0.00 0.000 14 Không nói lớn tiếng trong đêm khuya 0.58 0.62 0.04 0.016

15 Không dẫm đạp lên cỏ 0.75 0.70 0.05 0.025

16 Không chạy xe trên vỉa hè 1.34 1.45 -0.11 0.010 17 Không nói chuyện điện thoại lớn tiếng 0.88 0.90 -0.02 0.004 18 Không chạy xe hàng hai hàng ba 0.21 0.19 0.02 0.004 19 Không chê bai người khác 1.33 1.63 -0.30 0.090

20 Tiết kiệm điện 2.12 2.02 0.10 0.010

21 Giữ vệ sinh chung 1.22 1.16 0.06 0.036

22 Giữ yên lặng nơi công cộng 1.88 2.00 -0.12 0.014 23 Tập thể dục giữ gìn sức khỏe 2.09 2.13 -0.04 0.001 24 Giúp đỡ người khuyết tật 1.96 1.98 -0.02 0.004 25 Thân thiện với hàng xóm 2.14 2.34 -0.20 0.040 26 Phơi quần áo đúng nơi qui định 2.06 2.11 0.05 0.002 27 Sắp xếp mùng màn ngăn nắp 2.10 1.98 0.12 0.014 28 Không bóp còi xe tùy tiện 2.00 2.00 0.00 0.000

29 Không phóng uế bừa bãi 2.65 2.75 -0.10 0.010

30 Không lớn tiếng ở nơi công cộng 2.33 2.23 0.10 0.010

Tổng 42.03 42.0 0.07 0.376

t = 2.12

Kết quả thực nghiệm sau khi tác động:

Nhóm thực nghiệm tham gia vào chương trình học 30 tiết được Ban giám hiệu trường Đoàn Lý Tự Trọng đồng ý đưa vào chương trình chính khóa và được xem là một học phần thực hành chính thức của chương trình kỹ năng công tác Đoàn. Thời lƣợng học đƣợc phân bổ trong 6 tuần, mỗi tuần 5 tiết/buổi gồm giới thiệu lý thuyết, sau đó người học thảo luận và bày tỏ ý kiến riêng của mình. Ngoài ra người học còn tham gia một số trò chơi, hoạt động để tạo ấn tƣợng về nội dung trong quá trình học tập. Phương pháp thảo luận sẽ tác động đến việc xác định giá trị của người học trong cộng đồng và sẽ hình thành đƣợc quyết tâm cao hơn để thực hiện HVVMĐT.

Bảng 3.26: So sánh nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau khi tác động

TT Hành vi X1 X2 X1-X2 (X1-X2)2

01 Dừng xe khi đèn đỏ 2.23 1.82 0.41 0.16

02 Xếp hàng khi mua hàng 2.40 2.00 0.40 0.16

03 Đóng cửa khi ra vào phòng máy lạnh 2.16 1.40 0.76 0.57

04 Để xe đúng nơi qui định 1.94 1.00 0.94 0.88

05 Bỏ rác vào thùng 2.28 1.62 0.66 0.43

06 Đi học, đi làm đúng giờ 2.01 1.03 0.98 0.96

07 Giờ nào việc đó 1.04 0.67 0.37 0.13

08 Xuống xe khi ra vào cơ quan 1.55 1.59 -0.04 0.01

09 Dừng xe đúng tuyến 2.30 2.07 0.23 0.05

10 Bảo vệ cây xanh 1.98 0.95 0.03 0.01

11 Nhường đường khi chạy xe ngoài phố 2.08 1.21 0.87 0.75 12 Nhường ghế cho người lớn tuổi 2.24 1.89 0.35 0.12 13 Hướng dẫn người già qua đường 2.12 1.06 1.06 1.12 14 Không nói lớn tiếng trong đêm khuya 1.97 1.02 0.95 0.90

15 Không dẫm đạp lên cỏ 2.07 1.83 0.24 0.05

16 Không chạy xe trên vỉa hè 2.21 1.56 0.65 0.42 17 Không nói chuyện điện thoại lớn tiếng 1.99 1.21 0.78 0.60 18 Không chạy xe hàng hai hàng ba 1.86 1.13 0.73 0.53

19 Không chê bai người khác 2.46 1.98 0.48 0.23

20 Tiết kiệm điện 2.12 2.56 -0.44 0.19

21 Giữ vệ sinh chung 2.31 2.11 0.20 0.04

22 Giữ yên lặng nơi công cộng 2.37 2.07 0.20 0.04 23 Tập thể dục giữ gìn sức khỏe 2.79 2.35 0.44 0.19 24 Giúp đỡ người khuyết tật 2.45 2.48 -0.03 0.00

25 Thân thiện với hàng xóm 2.62 2.51 0.11 0.01

26 Phơi quần áo đúng nơi qui định 2.35 2.11 0.24 0.05 27 Sắp xếp mùng màn ngăn nắp 2.76 2.42 0.34 0.11 28 Không bóp còi xe tùy tiện 2.46 2.36 0.10 0.01

29 Không phóng uế bừa bãi 2.88 2.65 0.23 0.05

30 Không lớn tiếng ở nơi công cộng 2.56 2.55 0.01 0.00

Tổng 66.56 53.2 12.25 08.77

Bảng so sánh 3.26 trên đây thể hiện kết quả: t = 2.86, với mức ý nghĩa 0.01 tα=

2.76, vậy t > tα. Có thể nhận thấy rằng, tuy có một vài hành vi cả nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng không thể hiện sự khác biệt nhƣng hầu hết các hành vi đều thể hiện sự khác biệt sau khi tác động.

Sau khi tác động, nhóm thực nghiệm đã có những thay đổi tích cực về nhận thức, thái độ và xu hướng hành vi. Về nhận thức, các nghiệm thể đã thể hiện ý thức chấp hành các qui định về quản lý đô thị, thể hiện sự hiểu biết của mình về việc thực hiện các HVVMĐT. Các nghiệm thể cũng bày tỏ sự đồng tình và ủng hộ việc thực hiện các HVVMĐT thông qua các xu hướng hành vi tích cực. Một cách tổng thể, có thể nói rằng, sau khi đƣợc trang bị các kiến thức và thảo luận về việc thực hiện hành vi, nếp sống văn minh đô thị, các nghiệm thể đã có những chuyển biến tích cực về nhận

thức, thái độ và xu hướng hành vi. Nghĩa là, sau khi được tác động, các nghiệm thể đã sẵn sàng thực hiện các HVVMĐT một cách tích cực.

3.3.2. Kết quả thực nghiệm vòng 2

Quan sát khách quan, tìm ra sự khác biệt giữa hai nhóm nghiệm thể trên 30 ngày thực hiện quan sát. Kiểm chứng sự hình thành HVVMĐT của thanh niên trong điều kiện cơ sở vật chất đầy đủ hoặc không đầy đủ. Trong vòng 2 này, nhóm thực nghiệm trong vòng 1 (lớp kỹ năng sống) đƣợc chia thành 2 nhóm - nhóm 1 trở thành nhóm thực nghiệm vòng 2, nhóm 2 trở thành nhóm đối chứng vòng 2, thực nghiệm được tiến hành với nghiệm thể đã có những xu hướng hành vi tích cực. Mục đích của sự phân chia này nhằm kiểm định giả thuyết: Khi có nhận thức rõ ràng và thái độ tích cực, nếu thanh niên sinh hoạt trong môi trường được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ và sinh hoạt trong môi trường có tổ chức, được kiểm tra và động viên kịp thời thì thanh niên sẽ dễ dàng thực hiện HVVMĐT. Việc sinh hoạt của nhóm thực nghiệm vòng 2 được kiểm tra thường xuyên bởi những người là cán bộ của bộ phận giáo vụ của trường Đoàn Lý Tự Trọng.

Tiến hành quan sát việc thực hiện 3 HVVMĐT tiêu biểu đại diện cho 3 nhóm HVVMĐT là: “bỏ rác vào thùng”, “để xe đúng nơi qui định” và “giữ yên lặng sau 22h”, (đây chính là 3 hành vi có điểm trung bình thấp nhất của 3 nhóm hành vi, thể hiện sự chƣa tích cực của thanh niên TPHCM khi thực hiện những hành vi này trong kết quả nghiên cứu thực trạng), kết quả nhƣ sau:

Bảng 3.27: Kết quả quan sát thực nghiệm Ngày Bỏ rác vào

thùng

(d1-d2)2 Để xe đúng

nơi (d1-d2)2 Giữ yên lặng sau 22h

(d1-d2)2 TN2

d1

ĐC2 d2

TN2 D1

ĐC2 d2

TN2 d1

ĐC2 d2

01 08 04 16 06 04 04 03 05 04

02 07 05 04 06 04 04 04 07 09

03 08 05 09 09 06 09 04 08 16

04 10 05 25 12 08 16 02 07 25

05 05 05 00 09 07 04 04 04 00

06 13 08 25 11 08 09 02 06 16

07 06 08 04 09 07 04 03 07 16

08 13 10 09 10 08 04 01 04 09

09 10 06 16 12 12 00 02 05 09

10 09 07 04 10 09 01 05 06 01

11 11 09 04 07 09 04 03 06 09

12 08 05 09 15 13 04 00 04 16

13 08 12 16 09 11 04 03 03 00

14 09 08 01 10 07 09 02 06 16

15 09 09 00 12 09 09 01 04 09

16 12 09 09 12 13 01 03 05 04

17 09 05 16 10 13 09 02 06 16

18 10 07 09 12 09 09 03 07 16

19 06 10 16 11 10 01 01 03 04

20 13 11 04 12 09 09 03 05 04

21 10 10 00 09 07 04 01 05 16

22 11 12 01 13 10 09 03 06 09

23 10 13 09 09 12 09 03 05 04

24 11 09 04 10 08 04 01 03 04

25 12 10 04 09 08 01 00 01 01

26 09 09 00 13 10 09 00 03 09

27 11 10 01 13 11 04 02 06 16

28 10 08 04 11 09 04 03 06 09

29 14 11 09 11 10 01 00 04 16

30 12 10 04 10 08 04 01 05 16

Tổng 305 230 232 312 266 163 65 152 299

Với hành vi “bỏ rác vào thùng”, t = 2. 78

Với hành vi “để xe đúng nơi qui định”, t = 2. 81 Với hành vi “giữ yên lặng sau 22h”, t = 2.80

Với độ tin cậy 0.01, tất cả các giá trị t đều lớn hơn giá trị tới hạn tα = 2.76 nên có thể nói rằng, sự khác nhau giữa các trung bình các nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm là có ý nghĩa, điều này có nghĩa là: Sau khi tác động, các nghiệm thể của nhóm thực nghiệm đã có những thay đổi tích cực về hành vi, đã thể hiện HVVMĐT một cách rõ ràng hơn, cụ thể hơn so với nhóm đối chứng.

Những hành vi này đã đƣợc hình thành một cách căn bản từ việc tác động đến nhận thức, thái độ của thanh niên. Trên cơ sở thanh niên đã có nhận thức rõ ràng, thái độ ủng hộ, nếu có các điều kiện đầy đủ về vật chất và tổ chức thực hiện chu đáo qua việc kiểm tra, giám sát và động viên kịp thời thì thanh niên sẽ thực hiện các HVVMĐT một cách cụ thể và thường xuyên. Kết quả thực nghiệm cũng phản ánh đƣợc một quan điểm thực tế của các nhà giáo dục pháp luật, giáo dục hành vi vi phạm pháp luật là: Muốn các đối tƣợng không có hành vi vi phạm pháp luật thì hãy

bắt đầu từ một logic: Làm thế nào để họ KHÔNG MUỐN LÀM sau đó họ KHÔNG DÁM LÀM và cuối cùng là họ KHÔNG THỂ LÀM. Không muốn làm nghĩa là có tác động giáo dục nhận thức, thái độ để các đối tƣợng nhận thấy đƣợc tác hại, sự nguy hiểm của hành vi nào đó và họ không muốn làm điều họ cảm thấy không hay... Một khi đối tƣợng muốn làm điều sai trái gì đó nhƣng vì những hình phạt hoặc các biện pháp kỷ luật sẽ làm họ lo lắng và họ không dám làm điều đó. Một khi họ liều mạng làm điều gì đó thì với cách thức tổ chức chặt chẽ và nghiêm túc với các qui định cụ thể, họ không thể thực hiện được hành vi đó. Trong trường hợp thực hiện các HVVMĐT, khi chủ thể có nhận thức đầy đủ và ý thức đƣợc về tầm quan trọng, về giá trị của HVVMĐT, nếu có điều kiện vật chất phù hợp, có các biện pháp kích thích, kiểm tra giám sát chặt chẽ thì chủ thể sẽ dễ dàng hơn trong việc thực hiện HVVMĐT.

Nhƣ vậy, thực nghiệm cho thấy, một khi có các tác động giáo dục làm thay đổi nhận thức, thái độ, hình thành xu hướng hành vi tích cực thì thanh niên sẽ sẵn sàng thực hiện các HVVMĐT. Tuy nhiên, nếu trong hoàn cảnh thuận lợi với điều kiện cơ sở vật chất đầy đủ và phù hợp, có các biện pháp kích thích, động viên và kiểm tra giám sát chặt chẽ thì thanh niên mới có thể thực hiện các HVVMĐT một cách triệt để.

Điều này cho phép chúng ta có nhận định rằng: Nếu chỉ giáo dục, tuyên truyền suông thì thanh niên chỉ mới biết và ủng hộ suông và sẽ rơi vào tình trạng duy ý chí vì thanh niên, có tích cực hoặc rất có ý thức, họ vẫn không thể thực hiện các hành vi văn minh, đô thị khi môi trường vẫn cứ “không văn minh”.

Một phần của tài liệu Nghiên Cứu Hành Vi Văn Minh Đô Thị Của Thanh Niên Thành Phố Hồ Chí Minh (Trang 121 - 130)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(194 trang)