Biểu đồ 4 Kiến thức của SV về những cách thức phá thai an toàn phân theo giới tính 36 Biểu đồ 5 Thái độ của SV về người chủ động trong QHTD phân theo giới tính 42 Bảng 2 Mức độ hiểu biết
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN KHOA/BỘ MÔN: XÃ HỘI HỌC
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH
VIÊN CẤP TRƯỜNG NĂM 2015
ĐỀ NẠO PHÁ THAI THEO CÁCH TIẾP CẬN GIỚI - NGHIÊN CỨU TẠI LÀNG ĐẠI HỌC THỦ ĐỨC TP HỒ CHÍ MINH
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Nguyễn Hoàng Cường, Xã hội học, khóa 2011-2015 Thành viên: Lê Thị Hồng Tiên, Xã hội học, khóa 2011-2015
Người hướng dẫn: PGS TS Trần Thị Kim Xuyến
Trang 2MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 7
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: 7
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài 17
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn: 17
7 Kết cấu của đề tài 17
CHƯƠNG I MÔ TẢ KIẾN THỨC CỦA SINH VIÊN LÀNG ĐẠI HỌC THỦ ĐỨC VỀ NẠO PHÁ THAI THEO CÁCH TIẾP CẬN GIỚI VÀ VAI TRÒ CỦA XÃ HỘI HÓA CÁ NHÂN 18
1.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu 18
1.2 Mô tả mẫu nghiên cứu 19
1.3 Kiến thức của SV về các BPTT và vai trò của xã hội hóa cá nhân trong việc cung cấp thông tin về BPTT cho SV 20
1.4 Kiến thức của SV về mang thai – dấu hiệu có thai và vai trò của xã hội hóa cá nhân 28
1.5 Kiến thức của SV về NPT – phá thai an toàn và vai trò của xã hội hóa cá nhân trong việc cung cấp kiến thức về NPT – phá thai an toàn cho SV 32
CHƯƠNG II TÌM HIỂU THÁI ĐỘ VỀ TÌNH DỤC VÀ NẠO PHÁ THAI TRƯỚC HÔN NHÂN CỦA SINH VIÊN LÀNG ĐẠI HỌC THỦ ĐỨC38 2.1 Thái độ của SV về trinh tiết và tình dục trước hôn nhân 38
2.2 Thái độ về NPT của SV 43
KẾT LUẬN 50
1 Tổng hợp nội dung nghiên cứu 50
2 Đánh giá mức độ đạt yêu cầu 51
3 Những phát hiện mới 53
KHUYẾN NGHỊ 54
1 Về phía gia đình 54
Trang 33 Về phía bản thân SV 55
4 Hướng mở rộng của đề tài 55
Trang 4Biểu đồ 4 Kiến thức của SV về những cách thức phá thai an toàn
phân theo giới tính
36
Biểu đồ 5 Thái độ của SV về người chủ động trong QHTD phân theo
giới tính
42
Bảng 2 Mức độ hiểu biết về các biện pháp phòng tránh thai của SV
phân theo giới tính và trường học
24
Bảng 8 Kiến thức của SV về đối tượng sử dụng VTTT phân theo
giới tính và trường học
25
Bảng 9 Đánh giá của SV về vai trò của các môi trường xã hội hội
hóa trong việc cung cấp kiến thức về BPTT
Trang 5Bảng 13 Đánh giá của SV về vai trò của các môi trường xã hội hội
hóa trong việc cung cấp kiến thức về mang thai và dấu hiệu
Bảng 17 Kiến thức của SV về thời điểm phá thai an toàn phân theo
giới tính
36
Bảng 18 Đánh giá của SV về vai trò của các môi trường xã hội hội
hóa trong việc cung cấp kiến thức về NPT và NPT an toàn
xung quanh đến quyết định NPT
Bảng 26 Tình trạng trao đổi của SV với gia đình về chuyện tình yêu 46
Bảng 28 Lý do SV không trao đổi với gia đình về vấn đề tình yêu và
Trang 61 BCS Bao cao su
2 BPTT Biện pháp tránh thai
3 ĐH KHTN Đại học Khoa học Tự Nhiên
4 ĐH KHXH – NV Đại học Khoa học Xã hội – Nhân văn
11 SAVY 1 Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên năm 2003
12 SAVY 2 Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên năm 2008
Trang 7Tóm tắt công trình: Việt Nam là nước có tỉ lệ NPT nhất khu vực châu Á và là một trong 5 nước có tỉ lệ NPT cao nhất trên thế giới Đặc biệt, tỉ lệ nạo phá thái ở trẻ vị thành niên, thanh niên đang có dấu hiệu tăng gia tăng liên tục qua các năm gần đây Theo Chi cục Dân số - KHHGĐ, TP Hồ Chí Minh là một trong những tỉnh thành có tỉ lệ nạo phá thai cao nhất cả nước Làng Đại học Thủ Đức với qui mô SV lớn sống xen lẫn với dân nhập cư nên tồn tại nhiều vấn đề bất cập Hạn chế về các dịch vụ CSSKSS và chưa có nhiều nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau nên NPT là vấn đề cần được quan tâm Trong bối cảnh xã hội còn tồn tại nhiều định kiến giới, thì vấn đề tình yêu – tình dục nói chung và nạo phá thai nói riêng ít nhiều cũng sẽ bị ảnh hưởng Do đó, đề tài “Kiến thức và thái độ của SV về vấn đề nạo phá thai theo cách tiếp cận giới – Nghiên cứu tại Làng Đại học Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh” được thực hiện nhằm chỉ ra mối tương quan trong kiến thức, thái độ, hành vi của nam và nữ
SV đối với vấn đề nạo phá thai Đề tài sử dụng phương pháp thu thập thông tin của xã hội học gồm 180 bảng hỏi và 7 cuộc PVS có chỉ tiêu tại 3 trường ĐH tại Làng Đại học Thủ Đức Kết quả sau khi xử lí cho thấy, SV trong phạm vi nghiên cứu có thái độ cởi mở hơn về tình dục nhưng cả hai giới đều thiếu kiến thức xung quanh vấn đề NPT Điều này, sẽ làm gia tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn Đánh giá về vai trò của xã hội hóa, SV đặt kỳ vọng cao vào vai trò của gia đình, nhà trường và PTTTĐC Trong đó, PTTTĐC phát huy tốt vai trò của mình song gia đình, nhà trường vẫn chưa đáp ứng được mức độ kỳ vọng của SV Đặc biệt, tổ chức Đoàn – Hội trong trường ĐH vẫn chưa được xếp ở vị trí quan trọng so với các nhân tố khác trong trường như thầy cô, bạn bè Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đề xuất những khuyến nghị đối với những môi trường chưa phát huy vai trò trong việc cung cấp thông tin cho SV Làng Đại học và đưa ra hướng mở rộng của cho những nghiên cứu tiếp theo
Trang 8ở độ tuổi 15 - 19, trong đó 60 - 70% là học sinh, SV (SV) Đánh giá của Tổng cục Dân
số - KHHGĐ mặc dù tỷ lệ phá thai ở Việt Nam trong 10 năm gần đây giảm, nhưng tỷ
lệ NPT ở trẻ vị thành niên (VTN) - thanh niên lại có dấu hiệu tăng lên liên tục qua các năm: 2,2% (2010), 2,4% (2011) và 2,3% (2012)1 Theo Chi cục Dân số - KHHGĐ TP.Hồ Chí Minh, hiện nay TP.Hồ Chí Minh là một trong những tỉnh, thành phố có tỷ
lệ phá thai cao nhất cả nước, trong đó phải kể đến sự gia tăng đột biến về tình trạng NPT ở lứa tuổi thanh niên trong vòng 2 năm (2011-2012) từ 2,2% lên 6,8%2
Hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, SV Việt Nam nói chung và nhất là tại các đô thị lớn như TP Hồ Chí Minh, quan niệm về tình dục trước hôn nhân có phần được cởi mở hơn Tuy nhiên, SV còn thiếu kiến thức về SKSS đặc biệt là hậu quả của NPT, số liệu thống kê ghi nhận có đến 31% SV phá thai khi tuổi thai đã lớn (trên 17 tuần tuổi), dẫn đến nhiều hệ quả như vô sinh, thậm chí tử vong3 Điều này, sẽ làm gia tăng nguy cơ NPT và phát thai không an toàn trong SV Phá thai không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới cá nhân mà về lâu dài, điều đó còn ảnh hưởng đến
sự phát triển của xã hội như mức sinh, chất lượng dân số, sự phát triển nguồn nhân lực
và quá trình phát triển kinh tế của toàn xã hội.v.v Các số liệu thống kê ghi nhận, phá thai ngoài ý muốn đã làm giảm đi một nửa số trẻ em được sinh ra hàng năm4, người mang thai có tỷ lệ tử vong do NPT cao hơn nhiều so với sẩy thai5 Đứng trước thực trạng này, việc nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành vi NPT ở thanh thiếu niên, đặc biệt ở nhóm SV là hết sức cần thiết
Làng Đại học Thủ Đức là nơi tập trung của nhiều trường đại học đào tạo nguồn nhân lực lớn nhất ở phía Nam như: Đại học Bách Khoa (ĐH BK), Đại học Khoa Học
Tự nhiên (ĐH KHTN), Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân văn (ĐH KHXH – NV),
1 Vụ Sức khỏe Bà mẹ -Trẻ em (Bộ Y tế)
2 Thống kê của bệnh viện Từ Dũ, TP Hồ Chí Minh
3 Nguyễn Thị Bích, ảnh hưởng của NPT tới SKSS tuổi VTN ở nước ta hiện nay
4 Niên giám thống kê – Bộ y tế các năm 1990-1994, Đỗ Trọng Hiếu và cộng sự 1993
5 Bộ y tế, Niêm giám thống kê năm 1993
Trang 9Kinh tế - Luật, Quốc Tế, Công nghệ Thông tin.v.v Với số lượng lớn SV đang theo học và sinh sống, Làng Đại học Thủ Đức tồn tại nhiều vấn đề bất cập như: Ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội song NPT vẫn chưa được quan tâm và
tiến hành nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau Do đó, đề tài “Kiến thức và thái độ của SV về vấn đề NPT theo cách tiếp cận giới - Nghiên cứu tại Làng Đại học Thủ Đức,
TP Hồ Chí Minh” được thực hiện Nghiên cứu có sự kế thừa cách tiếp cận kiến thức –
thái độ - hành vi nhưng có lồng ghép nhãn quan giới mà các đề tài trước đó đã bỏ qua hay chỉ đề cập một cách rất mờ nhạt Đây được xem là điểm mạnh để phát hiện thực trạng về kiến thức – thái độ của của SV về vấn đề NPT Trên cơ sở đó đề xuất những khuyến nghị góp phần nâng cao kiến thức – thái độ về vấn đề này trong SV
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài:
Ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ XX, hàng loạt các cuộc nghiên cứu về SKSS đã được thực hiện Song do tính chất nhạy cảm nên NPT chưa trở thành vấn đề quan tâm chính của các nhà nghiên cứu, đa phần mới chỉ được lồng ghép trong những
đề tài về chăm sóc SKSS Do đó, hai nội dung được xem là có liên quan nhiều nhất
đến đề tài này là kiến thức của thanh niên xung quanh vấn đề NPT và thái độ về tình dục trước hôn nhân, NPT
Về nội dung kiến thức của thanh niên xung quanh vấn đề NPT các kết quả
nghiên cứu cho thấy đa phần thanh niên biết đến ba BPTT hiện đại Thể hiện trong
nghiên cứu “Kiến thức và nguy cơ về SKSS của thanh niên Việt Nam” của Ths Lưu
Bích Ngọc, 2004: thanh niên biết đến biện pháp BCS (88,7%), tiếp sau là VTTT (68,5%) và vòng tránh thai (32,4%) Điều này cũng được nhắc đến trong kết quả
nghiên cứu năm 2013 của Nguyễn Thanh Phong, Phạm Huy Hiền Hào “Nghiên cứu nhận thức, thái độ và thực hành về một số BPTT của SV trường cao đẳng Y Tế Hà Nội” có đến (99,3%) SV biết ít nhất một BPTT, các biện pháp được SV biết đến nhiều
nhất là bao cao su (BCS) (96,8%) VTTT khẩn cấp (82,1%), VTTT hàng ngày (54,6%) Tuy nhiên, Ths Lưu Bích Ngọc cũng chỉ ra rằng chỉ có (12%) thanh niên biết tên các BPTT truyền thống6 Đặc biệt chỉ có 44,6% thanh niên có kiến thức về chu kỳ kinh nguyệt liên quan đến khả năng mang thai ở người phụ nữ Kết quả này cũng không có
sự khác biệt lớn so với “Điều tra quốc gia về VTN và thanh niên” (SAVY 1)7, 2003
6 Các BPTT truyền thống: Xuất tinh ngoài âm đạo, tính vòng kinh, kiêng quan hệ tình dục
7 Bộ Y tế, Tổng cục thống kê và ổ chức WHO thực hiện “Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên”
Trang 104 khi có tới 2/3 nữ thanh niên còn hiểu biết hạn chế về thời điểm dễ có thai nhất trong
chu kỳ kinh nguyệt Còn theo “Khảo sát đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi về SKSS của VTN thanh niên 15-24 tuổi vùng ven biển, đầm phá, vạn đò tỉnh Thừa Thiên Huế”
của Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh Thừa Thiên Huế, 2010 có 74% trả lời là không biết thời điểm dễ thụ thai trong khi hiện nay QHTD trước hôn nhân đang có xu hướng gia tăng
Mặc dù thanh niên đã có những hiểu biết nhất định về BPTT song mức độ hiểu biết còn hết sức nông cạn nhất là cách sử dụng Có tới (73,9%) SV không biết thời điểm chính xác cần sử dụng VTTT, (10,4%) cho rằng BCS được dùng sau khi QHTD hoặc trước khi xuất tinh và (11,1%), SV không biết thời điểm sử dụng BCS (49%) 8 Hơn nữa SV còn có những quan niệm chưa đúng về các BPTT khi cho rằng BPTT hiện nay
có nhiều tác dụng phụ và nguy cơ, đồng nhất BCS với những quan hệ không đàng hoàng9 Những điều này đã làm giảm đi hiệu quả và tỷ lệ sử dụng các BPTT trong quan hệ tình dục
Kết quả “Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên” (SAVY 2) do Bộ Y tế,
Tổng cục thống kê và tổ chức WHO thực hiện năm 2008, phản ánh trong khi gần 2/3
số vị thành niên (VTN) và thanh niên đã dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ tư vấn và chăm sóc SKSS thì vẫn còn 1/3 gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ này Đáng lo lắng là còn tồn tại lỗ hổng nghiêm trọng trong thanh niên về kiến thức SKSS khi có tới 23,6% các em cho rằng việc nói chuyện, cầm tay, ôm hôn nhau vẫn có thể
có thai10 Kết quả cuộc điều tra cũng chỉ ra rằng, có sự khác biệt về mức độ QHTD phân theo giới tính trong đó nam thanh niên có quan hệ tình dục cao gấp 2 lần so với
nữ (13,6% so với 5,2%) Tuy có mức độ cao và luôn là người giữ vai trò chủ động trong QHTD nhưng lại thiếu kiến thức về SKSS so với nữ giới (36,2% so với 52,7%) điều này dễ dẫn đến quyết định về hành vi tình dục không an toàn Các kết quả nghiên cứu của Goodkind và Phan Thục Anh, 1997 (Những lý do cho việc thúc đẩy sử dụng BCS ở Việt Nam); của Belanger và Khuất Thu Hồng, 1999 (Trải nghiệm tình dục và nạo phá thai của những phụ nữ chưa chồng ở Hà Nội, Việt Nam).v.v cũng đã khẳng
8 Nguyễn Thanh Phong, Phạm Huy Hiền Hào, Nghiên cứu nhận thức, thái độ và thực hành về một số biện pháp tránh thai của SV trường cao đẳng Y Tế Hà Nội (Tạp chí phụ sản, 2013)
9 Bộ Y tế, Tổng cục thống kê và tổ chức WHO, Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên
(SAVY 1), 2003
10 Chi cục Dân số- Kế hoach hóa gia đình tỉnh Thừa Thiên Huế Khảo sát đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản của vị thành niên thanh niên 15-24 tuổi vùng ven biển, đầm phá, vạn đò tỉnh Thừa Thiên Huế”, 2010
Trang 11định tình trạng ngày một gia tăng những hành vi tình dục không an toàn ở thanh thiếu niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Với nội dung thái độ đối về tình dục trước hôn nhân và NPT: Đa phần các nghiên
cứu đều phản ánh thanh niên có cách nhìn thoáng hơn về tình dục trước hôn nhân nhưng quan niệm này có sự khác biệt phân theo khu vực và giới tính Tác giả Nguyễn
Thị Phương Yến với đề tài “Nhận thức của thanh niên về tình dục” nghiên cứu tại
Long An (xã Khánh Hậu, thị xã Tân An) và TP Hồ Chí Minh (phường 6, quận Tân Bình), 2011: tỉ lệ thanh niên đồng tình với quan niệm trên ở xã Khánh Hậu là (35,6%) thấp hơn ở phường 6 (45,0%), nam giới dễ chấp nhận tình dục trước hôn nhân hơn so với nữ giới Thái độ thoáng hơn còn được tác giả đề cập trong quan niệm của thanh niên về giá trị của trinh tiết Hiện nay, họ không còn coi trinh tiết là giá trị quan trọng nhất của người con gái, cụ thể nam thanh niên khi được hỏi về tiêu chuẩn quan trọng
trong việc lựa chọn bạn đời thì trinh tiết chỉ đứng vị trí thứ tám Dẫu biết rằng “Trinh
cũng không thể phủ nhận rằng, hiện nay một bộ phận thanh niên đang dần thoát ra
khỏi sự ám ảnh về giá trị của trinh tiết và khi“Trinh tiết không còn gắn liền với phẩm
dục vẫn chưa bước ra khỏi sự kiểm soát của thiết chế xã hội khiến thanh niên đang phải đấu tranh trong nhận thức về việc nên hay không QHTD trước hôn nhân Điều
này được thể hiện rõ hơn trong nghiên cứu “Quan điểm của thanh niên về cuộc sống tình dục tiền hôn nhân” của Nguyễn Thị Oanh 2010 Đa phần thanh niên không đồng
ý với cuộc sống tình dục trước hôn nhân vì không phù hợp với thuần phong mỹ tục nhưng kết quả lại có đến (46,2%) thanh niên trên địa bàn TP Đà Nẵng chấp nhận cuộc sống tình dục trước hôn nhân, xem đây như là hệ quả tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa Như vậy, trước bối cảnh giao thời thì việc chấp nhận hay bác bỏ tình dục trước hôn nhân của thanh niên đang đứng trước sự mâu thuẫn giữa các thiết chế xã hội chính thống và những quan niệm giá trị đang thay đổi Mâu thuẫn này được hóa giải bằng sự cam kết được đảm bảo bằng hôn nhân và sự bù đắp cho trinh tiết bị mất trước hôn
11 Khuất Thu Hồng - Lê Bạch Dương – Nguyễn Ngọc Hường, Tình dục chuyện dễ đùa khó nói, NXB Tri Thức, chương 2 Trinh tiết của phụ nữ và tình dục trước hôn nhân
12 Khuất Thu Hồng - Lê Bạch Dương – Nguyễn Ngọc Hường, Tình dục chuyện dễ đùa khó nói, NXB Tri Thức, chương 2 Trinh tiết của phụ nữ và tình dục trước hôn nhân
Trang 126 nhân là một đám cưới hợp thức13 Chiến lược giải quyết mâu thuẫn của thanh niên hiện nay được Khuất Thu Hồng nhắc đến chính là hạn chế mà Nguyễn Thị Oanh chưa đề cập trong nghiên cứu của mình
Bên cạnh đó, đề tài có tổng quan thêm một vài nghiên cứu mang tính chuyên sâu
về NPT được xem là có sự liên quan gần nhất với đề tài của mình đó là: “Phá thai ở
nữ VTN” (Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh), tác giả Phạm Thanh Hải tiếp tục khẳng
định vấn đề QHTD trước hôn nhân của thanh thiếu niên có thật và đang có xu hướng gia tăng Trong khi thanh niên lại thiếu những kiến thức và có những quan niệm sai lệch về SKSS đặc biệt là các BPTT và tình dục an toàn, họ coi việc không dùng các BPTT là cách thể hiện sự trong sáng về mặt đạo đức, lòng tin và sự chân thành đối với bạn tình Bên cạnh đó, kiến thức mơ hồ về hậu quả của NPT (trong số 91,3% học sinh
cho rằng NPT có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, có 22,1% trong số đó lại không biết ảnh hưởng xấu như thế nào, còn lại là 66,9% học sinh cho là có thể gây vô sinh, có thể
bị nhiễm trùng 48,3%, ảnh hưởng tâm lý 44,7% và tử vong 38,3%) Thanh niên cho
rằng phá thai chính là một chiến lược để đạt được sự an toàn và yên ổn về mặt xã hội
vì thế mà nhiều thanh niên chọn NPT như là một biện pháp phòng tránh thai khi có thai ngoài ý muốn điều này làm cho tình trạng NPT liên tục tăng trong những năm gần đây
“Các yếu tố nguy cơ của phá thai to của vị thành niên” của Huỳnh Thanh Hương
(Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, 2005) Bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp đối tượng bằng bảng câu hỏi soạn sẵn trên 158 nữ vị thành niên phá thai to và 158 nữ vị thành niên đến khám thai tại bệnh viện Từ Dũ Nghiên cứu làm rõ các yếu tố nguy cơ liên quan đến quyết định phá thai to ở nữ vị thành niên: nơi cư ngụ, tình trạng hôn nhân và nghề nghiệp Cụ thể nữ VTNCT ở nông thôn có nguy cơ phá thai to gấp 6 lần
nữ VTNCT ở thành thị, nữ VTNCT chưa lập gia đình có nguy cơ phá thai to gấp 17 lần nữ VTNCT đã lập gia đình Nữ VTNCT chưa có nghề nghiệp có nguy cơ phá thai
to cao gấp 10 lần nữ VTNCT đã có nghề nghiệp
Những đề tài kể trên tuy có phần liên hệ nhưng nhìn nhận một cách cụ thể thì việc nghiên cứu NPT vẫn còn mờ nhạt và chỉ mới tập trung ở nhóm VTN – thanh niên mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu ở đối tượng SV Về mặt phương pháp, chúng tôi có kế
13 Khuất Thu Hồng - Lê Bạch Dương – Nguyễn Ngọc Hường, Tình dục chuyện dễ đùa khó nói, NXB Tri Thức, chương 2 Trinh tiết của phụ nữ và tình dục trước hôn nhân
Trang 13thừa hướng tiếp cận từ những đề tài đi trước theo trục kiến thức – thái độ - hành vi nhưng điểm mới là có lồng ghép nhãn quan giới mà các nghiên cứu trước đó đã bỏ
qua Vì vậy, đề tài nghiên cứu Kiến thức và thái độ của SV về vấn đề NPT theo cách tiếp cận giới - Nghiên cứu tại Làng Đại học Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh được triển
khai sẽ có sự độc đáo về cả về nội dung và phương pháp Kết quả nghiên cứu sẽ làm tiền đề về mặt lý luận cũng như phương pháp luận đối với những đề tài nghiên cứu sau này
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:
3.1 Mục tiêu chung:
- Tìm hiểu thực trạng kiến thức và thái độ của SV về vấn đề NPT theo cách tiếp cận giới Trên cơ sở đó đề xuất những khuyến nghị góp phần nâng cao kiến thức, thái
độ cho SV về vấn đề này
3.2 Mục tiêu cụ thể và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mô tả kiến thức của SV làng Đại Học Thủ Đức về NPT theo cách tiếp cận giới
và vai trò của xã hội hóa:
+ Kiến thức của SV về các BPTT và vai trò của xã hội hóa cá nhân trong việc cung cấp thông tin về BPTT cho SV
+ Kiến thức của SV về mang thai – dấu hiệu có thai và vai trò của xã hội hóa cá nhân
+ Kiến thức của SV về NPT – phá thai an toàn và vai trò của xã hội hóa cá nhân trong việc cung cấp kiến thứcvề NPT – phá thai an toàn cho SV
- Tìm hiểu thái độ về tình dục và NPT trước hôn nhân của SV Làng Đại học Thủ Đức, bao gồm:
+ Thái độ của SV về trinh tiết và tình dục trước hôn nhân
+ Thái độ của SV về vấn đề NPT trước hôn nhân
- Đề xuất những khuyến nghị góp phần nâng cao kiến thức, thái độ cho SV về vấn đề NPT
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
4.1.1 Lý thuyết áp dụng:
Trang 148 Thuật ngữ xã hội hóa cá nhân được sử dụng trong xã hội học để chỉ quá trình chuyển biến từ chỉnh thể sinh vật có bản chất xã hội với các tiền đề tự nhiên đến một chỉnh thể đại diện của xã hội loài người14 Hay nói cách khác, theo tác giả TS Trần Thị
Kim Xuyến, Ths Nguyễn Thị Hồng Xoan, “Nhập môn Xã Hội Học” xã hội hóa là khái
niệm quyết định trong xã hội học Nó quan tâm đến vấn đề cơ bản của quá trình cá nhân hòa nhập vào xã hội và có được những phẩm chất xã hội mong muốn Tức là quá trình cá nhân, dần dần nhập tâm những giá trị và chuẩn mức mà xã hội đề ra để biến chúng thành những giá trị và chuẩn mực của mình Chính quá trình xã hội hóa, được thực hiện thông qua “cá nhân hóa” các giá trị luân lý và các qui tắc ứng xử xã hội
Xã hội hóa là quá trình cá nhân con người lĩnh hội một hệ thống nhất định những tri thức, giá trị, chuẩn mực cho phép cá nhân đó hoạt động như một thành viên của xã hội Là quá trình con người tiếp nhận nền văn hóa để gia nhập vào xã hội
Các nhà xã hội học thống nhất với nhau về ba giai đoạn của quá trình xã hội hóa là giai đoạn xã hội hóa trong gia đình, trong trường học và trong môi trường xã hội15:
Giai đoạn xã hội hóa trong gia đình: Quá trình xã hội hóa của một người từ
những năm tháng đầu tiên của cuộc đời có ảnh hưởng quyết định tới thái độ và hành vi khi đã lớn Đây là môi trường có tầm quan trọng chủ yếu của giai đoạn xã hội hóa đầu tiên Sự tiếp thu trong giai đoạn đầu của xã hội hóa không đơn thuần thông qua những
sự răn dạy bằng lời nói mà còn thông qua các thành viên trong gia đình Khi đưa trẻ lớn lên một chút, môi trường tiếp xúc đã được mở rộng hơn, khi đi chơi, đi nhà trẻ, chúng đã bắt đầu tiếp nhận những tác động từ môi trường ngoài phạm vi gia đình
Giai đoạn xã hội hóa trong trường học: Trong một xã hội phát triển, phân hóa
cao, những kỹ năng, kiến thức nếu chỉ được truyền đạt bằng gia đình và những phương tiện xã hội hóa không chính thức (phim ảnh, sách báo,.v.v ) thì không đủ Xã hội càng phức tạp, càng đòi hỏi nhiều kỹ năng bao nhiêu thì càng có nhiều thiết chế được lập ra một cách có chủ đích (trường phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học.v.v ) để phổ biến các kiến thức và kỹ năng cần thiết một cách chính bấy nhiêu Khi đứa trẻ đến trường, nó không chỉ tiếp thu các kiến thức khoa học, những môn truyền thống của nhà trường mà cả những qui tắc và những các thức qui định hành vi bởi xã hội Vì vậy, ở
14 Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng, Xã Hội Học, NXH Đại Học Quốc Gia Hà Nội
15 TS Trần Thị Kim Xuyến, Ths Nguyễn Thị Hồng Xoan, Nhập môn Xã Hội Học, NXB Đại Học Quốc
Gia TP Hồ Chí Minh
Trang 15môi trường này, quá trình xã hội hóa được thực hiện như kết quả của mọi tương tác giữa các thành viên
Giai đoạn xã hội hóa trong môi trường xã hội: Phần lớn quá trình xã hội hóa khi
các nhân trưởng thành cũng không chính thức thông qua các chuẩn mực phi chính thức trong nội bộ các nhóm Những thành viên của mỗi nhóm đều mong đợi các cá nhân trong nhóm tuân thủ những khuôn mẫu này, chừng nào còn muốn là thành viên của nhóm đó Sức ép của nhóm đòi hỏi các khuôn mẫu hành vi thường vượt lên những giá trị do bên ngoài đặt ra
Phạm vi chung nhất là quá trình xã hội hóa thực hiện được là việc phổ biến chung cho toàn xã hội một cách có tổ chức, có định hướng Đó là thông tin đại chúng với mọi hình thức: sách báo, tạp chí, phim ảnh.v.v là các cơ chế ảnh hưởng để phổ biến tư tưởng, giá trị và niềm tin mà xã hội mong muốn Yếu tố tác động này, của quá trình xã hội hóa, không chỉ giới hạn trong một giai đoạn riêng biệt, nó tác động đến kiến thức
xã hội của con người trong cả ba giai đoạn của cuộc đời con người
Việc tiếp cận các kiến thức về NPT là một diễn tiến lâu dài Vì thế, nhóm nghiên cứu áp dụng lý thuyết này để tìm hiểu nguồn gốc kiến thứcc của SV tại Làng đại học Thủ Đức về mang thai và NPT thông qua 3 môi trường xã hội hóa (gia đình, nhà trường và xã hội) Đồng thời, tìm hiểu sự chủ động của SV trong việc trang bị những kiến thức xung quanh vấn đề NPT thông qua sự trao đổi với các môi trường xã hội hóa
đó
Định nghĩa của nhà xã hội học người Đức M Weber được coi là hoàn chỉnh nhất
về hành động xã hội ở thế kỷ XX Ông cho rằng hành động xã hội là một hành vi mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định Weber nhấn mạnh đến “động cơ” bên trong chủ thể như là nguyên nhân của hành động Vì thế Ông cũng cho rằng “khi chúng ta hiểu được động cơ, chúng ta có thể giải thích được hành động đó” Weber đã phân tích và đưa ra bốn loại động cơ khác nhau và tương ứng là bốn loại hành động xã hội khác nhau16:
- Hành động cảm tính (xúc cảm): Là hành động của con người thực hiện theo cảm xúc nhất thời không cân nhắc, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động
16 Phạm Tất Dong – Lê Ngọc Hùng, Xã Hội Học, NXH Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Trang 16Mô hình hành động xã hội của M Weber
Đề tài vận dụng mô hình hành động xã hội của M Weber để tìm hiểu cách lý giải của SV về nguồn gốc của hành vi NPT Cụ thể là những điều kiện sống và động cơ bên trong đã thôi thúc họ ra sao để đi đến quyết định NPT khi mang thai ngoài ý muốn
4.1.2 Thao tác hóa khái niệm:
Năm 1994, hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển tại Carô – Ai Cập đã định
nghĩa “SKSS là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những
gì liên quan tới bộ máy sinh sản chứ không phải là là không có bệnh hoặc tàn phế của
17 TS Trần Thị Kim Xuyến, Ths Nguyễn Thị Hồng Xoan, Nhập môn Xã Hội Học, NXB Đại Học Quốc
Gia TP Hồ Chí Minh
Hoàn cảnh (điều kiện sống)
Trang 17hệ thống sinh sản Điều này cũng hàm ý là mọi người, kể cả nam và nữ đều có quyền được nhận thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, có hiệu quả và chấp nhận được theo sự lựa chọn của mình, bảo đảm cho người phụ nữ trải qua thai nghén an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng cơ may tốt nhất để sinh được đứa con lành mạnh”
NPT được định nghĩa y học như thuật ngữ về một sự kết thúc thai nghén bằng cách loại bỏ hay lấy phôi hay thai nhi khỏi tử cung trước khi đến hạn sinh nở Nó thể xảy ra theo 2 cách: ngẫu nhiên hoặc có mục đích Hầu hết các vụ phá thai đều có mục đích
Những trường hợp ngoại lệ tức là những vụ phá thai vì “tai nạn”, được thể hiện do khuyết tật của người mẹ hoặc đứa con, đôi khi hoặc do cả hai thì được gọi là trường hợp phá thai “bộc phát” để phân biệt với các trường hợp không phải là tai nạn hay còn gọi bằng tên khác là “phá thai có chủ đích” hay “cố ý phá thai”18 Nhóm nghiên cứu sử dụng khái niệm NPT có chủ đích trong nghiên cứu này
Khái niệm phá thai an toàn:
Phá thai an toàn là phương pháp chấm dứt thai nghén do người cung cấp dịch vụ được đào tạo, có kỹ năng tốt thực hiện tại cơ sở y tế đạt chuẩn với đầy đủ các trang thiết bị, dụng cụ trong môi trường vệ sinh đảm bảo Phá thai an toàn sẽ hạn chế được tối đa các tai biến và biến chứng, điều kiện sức khỏe của thai sản cho phép thực hiện phá thai và tuổi thai chưa quá lớn, trong vòng từ 7-8 tuần19
Khái niệm phá thai không an toàn:
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa phá thai không an toàn là "một quá trình được thực hiện bởi những người thiếu các kỹ năng cần thiết hay trong một môi trường không đáp ứng các tiêu chuẩn y tế tối thiểu, hay cả hai" Chúng có thể được thực hiện
bởi chính người phụ nữ, bởi một người khác không có kinh nghiệm y khoa, hay bởi một cơ sở y tế hoạt động trong các điều kiện dưới chuẩn Phá thai không an toàn vẫn là một mối lo ngại cho sức khỏe cộng đồng bởi phạm vi tác động lớn và tính chất nghiêm trọng của các biến chứng liên quan tới nó, như sót thai, nhiễm trùng, xuất huyết và gây tổn thương các cơ quan nội tạng
Do hạn chế trong việc tiếp cận được định nghĩa về phá thai tích cực, tiêu cực một cách rõ ràng Nên dựa trên hai khái niệmphá thai có chủ đích (hành vi cố ý phá thai) và
18 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
19 Bệnh viện Từ Dũ
Trang 1812 phá thai an toàn, bằng cách hiểu của mình chúng tôi tạm thời đặt tên một khái niệm mới là “Phá thai tiêu cực” có nghĩa là hành vi phá thai cố ý do thiếu kiến thức về mang thai và phá thai an toàn Vì thế, nội dung của khái niệm “phá thai tiêu cực” chỉ mang tính khái quát trong phạm vi cuộc nghiên cứu này
Theo từ điển Tiếng việt, thái độ là “cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình”20
Thái độ“là những biểu hiện cơ bản trong các quan hệ ứng xử của con người Những biểu hiện đó bao gồm sự lý giải những dấu hiệu của quá trình biến đổi các giá trị, chuẩn mực”21
Thái độ và kiến thức có sự liên quan mật thiết với nhau, nếu cá nhân có kiến thức đúng đắn thì họ sẽ có thái độ phù hợp, chuẩn mực và ngược lại nếu cá nhân có kiến thức sai sẽ dẫn đến thái dộ tiêu cực, bảo thủ Thái độ đúng đắn giúp cá nhân nâng cao kiến thức và khả năng nhìn nhận một vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau
Hành vi “bao gồm một chuỗi hành động nối tiếp nhau một cách tương đối nhằm
Nhu cầu tạo nên động cơ thúc đẩy hành vi Hành vi bao giờ cũng hướng đến mục đích Mục đích là đối tượng mà con người cần thỏa mãn, chiếm đoạt, sử dụng, xác lập
sở hữu, hoặc giải phóng con người23
Kết luận của Ủy ban Kinh tế - xã hội của LHQ tháng 2/1997 như sau: “Lồng ghép giới/tiếp cận giới là quá trình đánh giá những tác động đối với phụ nữ và nam giới của bất kỳ quá trình hoạch định chính sách nào, bao gồm cả luật pháp, chính sách hay chương trình trong tất cả các lĩnh vực và tất cả các cấp độ Đó là chiến lược để đưa ra những mối quan tâm và kinh nghiệm của cả phụ nữ và nam giới thành một bộ phận không thể tách rời của công tác thiết kế, thực hiện, kiểm tra đánh giá các chính sách, chương trình ở mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội với mục đích phụ nữ cũng như
20 GS – PTS Nguyễn Như Ý, Đại từ điển Tiếng việt, NXB Văn hóa – Thông tin, 1998
21 Nguyễn Thị Nha Trang, Chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước và sau khi sinh của phụ nữ nông thôn,
Nghiên cứu trường hợp tại huyện Gio Linh, Quảng Trị, 2011
22 TS Vũ Gia Hiền, Tâm lý học và chuẩn mực hành vi, NXB Lao động
23 TS Vũ Gia Hiền, Tâm lý học và chuẩn mực hành vi, NXB Lao động
Trang 19nam giới tham gia và thụ hưởng một cách bình đẳng những thành quả và sự bất bình đẳng sẽ không tồn tại Mục đích cuối cùng là đạt được sự bình đẳng giới” 24
Từ công cụ phân tích giới có thể tiến hành lồng ghép giới ở dạng đơn giản Hiện nay trong khoa học về giới đang tồn một số khung phân tích như: Khung phân tích giới Havard, Khung Moser (của Caroline O N Moser), Khung sơ đồ phân tích giới (Gender Analysis Matric - GAM), Khung tăng quyền năng cho phụ nữ (của Sara Longwe) Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài áp dụng Khung phân tích giới Havard với
công cụ “Quá trình ra quyết định” theo mô hình: quá trình, ai là người ra quyết
định, ai bị tác động bởi quyết định và ai được tư vấn (ai tư vấn cho quá trình ra quyết
4.1.3 Mô hình phân tích:
24 GS.TS Lê Thị Quý, Xã Hội Học về giới, NXB Giáo Dục Việt Nam tr 92
25 GS.TS Lê Thị Quý, Xã Hội Học về giới, NXB Giáo Dục Việt Nam tr 86
Trang 2014
An toàn về mặt xã hội
Thuận lợi cho cuộc sống cá nhân
Thái
độ về tình dục trước hôn nhân
Thái
độ về trinh tiết
Quyền
ra quyết định
Sử dụng BPTT
Kiến thức
về phòng tránh thai
Kiến thức về mang thai và dấu hiệu mang thai
Kiến thức
về hậu quả của nạo phá thai
Kiến thức
về nạo phá thai
an toàn
Tình dục không an toàn
NẠO PHÁ THAI
Hoàn cảnh
Kiểm soát
xã hội
Nguồn lực bản thân
Luật nạo phá thai
Dư luận xã hội
Trang 214.1.4 Giả thuyết nghiên cứu:
- Kiến thức xung quanh vấn đề NPT của SV Làng Đại học Thủ Đức còn nhiều hạn chế Trong đó, nam SV có kiến thức kém hơn so với nữ về vấn đề này
- SV Làng Đại học Thủ Đức có thái độ cởi mở hơn về vấn đề tình dục nhưng lại thiếu kiến thức xung quanh vấn đề NPT sẽ làm gia tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn
- Nam SV luôn chủ động hơn trong quan hệ tình dục nhưng lại thiếu kiến thức về mang thai và NPT
- Môi trường xã hội hóa chưa phát huy vai trò của mình trong việc cung cấp kiến thức NPT cho SV Làng Đại học Thủ Đức
- SV thiếu kiến thức về SKSS được SV Làng Đại học Thủ Đức cho là nguyên nhân của NPT
4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin:
Sử dụng phương pháp thu thập thông tin của xã hội học
Phân tích tài liệu là phương pháp thu thập thông tin gián tiếp thông qua nguồn tài liệu có sẵn Những nguồn tài liệu này đã có trước khi nghiên cứu
Để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện đầy đủ nội dung và thông tin phong phú, nhóm nghiên cứu đã khai thác thu thập và xử lý thống kê được từ nhiều nguồn khác nhau Các tư liệu sẵn có mà chúng tôi sử dụng trong đề tài này là: Một số tài liệu liên quan tới SKSS như: Tạp chí xã hội học, tạp chí Dân số và Phát triển, tài liệu chuyên ngành dân số, y tế… Các nghiên cứu có liên hệ gần và trực tiếp với nội dung NPT, các
tư liệu thuộc lý thuyết xã hội học Từ đó, chúng tôi có được cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu ở lĩnh vực này tại địa bàn Làng Đại học Thủ Đức, làm cơ sở để chúng tôi đi sâu tìm hiểu và thực hiện đề tài của mình
Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi là công cụ tiêu chuẩn trong thiết kế các nghiên cứu thuộc lĩnh vực y tế sức khỏe và các chương trình tăng cường sức khỏe Bảng hỏi khảo sát gồm các câu hỏi một lựa chọn, nhiều lựa chọn, câu hỏi đóng (trả lời có/không) và một số ít câu hỏi mở được thiết kế dựa trên những câu hỏi lớn (câu hỏi
Trang 2216 mang tính khái quát) của đề tài từ đó chẻ nhỏ thành những câu hỏi mang tính cụ thể và
đi sâu vào từng vấn đề
Với dung lượng mẫu là 180 bảng hỏi (chọn mẫu phi xác suất) được tiến hành khảo sát ở những SV đang sống tại Làng Đại học Thủ Đức với mục đích thu thập thông tin
về bối cảnh chung của tình trạng NPT trong thời điểm nghiên cứu Thông tin bảng hỏi được thu thập theo phương thức phỏng vấn viên sẽ trực tiếp hướng dẫn đáp viên trả lời theo trình tự của bảng hỏi khi tham gia phỏng vấn
Đề có thêm những thông tin sâu hơn của SV Làng Đại học về quan niệm, nguyên nhân của tình trạng NPT chúng tôi tiến hành 7 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc được lấy ra từ mẫu khảo sát của bảng hỏi theo tiêu chí:
SV nam chưa kết hôn đang sống
Những thông tin thu thập được từ bảng hỏi sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20, từ đó sẽ có những số liệu cụ thể, chi tiết về thực trạng kiến thức, thái độ
và hành vi của SV khu vực Làng Đại học Thủ Đức về vấn đề NPT và những hậu quả của hiện tượng này
4.2.2.3 Xử lý thông tin định tính:
Gỡ băng và phân nhóm các vấn đề để tiện làm dẫn chứng khi phân tích Những thông tin định tính này sẽ được cụ thể hóa trong phần kết quả nghiên cứu của đề tài
Trang 235 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài:
Kiến thức và thái độ của SV về vấn đề NPT theo cách tiếp cận giới
SV sinh sống trên địa bàn Làng Đại học Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh
5.3.1 Địa bàn nghiên cứu:
Khu vực Làng Đại học Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh
5.3.2 Thời gian nghiên cứu:
Tiến hành xây dựng và thực hiện đề tài từ tháng 9/2014 đến tháng 3/2015 Thông tin phục vụ cho cuộc nghiên cứu được thu thập từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 9 của toàn quá trình nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn:
Qua nghiên cứu thực tế, nhóm nghiên cứu muốn kiểm nghiệm, bổ sung và hoàn chỉnh thêm các kiến thức xã hội học giới Đồng thời chúng tôi mong muốn tìm ra những nét quy luật mới, góp phần làm phong phú thêm cho hệ thống lý luận xã hội học Kết quả nghiên cứu của đề tài, sẽ làm tiền đề về mặt lý luận cũng như phương pháp luận đối với những đề tài nghiên cứu sau này
Tìm hiểu thực trạng kiến thức, thái độ của SV về vấn đề NPT, theo cách tiếp cận giới trên cơ sở đó đề xuất những khuyến nghị nhằm góp phần nâng cao kiến thức, thái độ cho SV về vấn đề này
7 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị Nội dung đề tài gồm có 2 chương sau:
- Chương 1: Mô tả kiến thức của SV Làng Đại học Thủ Đức về NPT theo cách
tiếp cận giới và vai trò của xã hội hóa cá nhân
- Chương 2: Tìm hiểu thái độ về tình dục và NPT trước hôn nhân của SV Làng
Đại học Thủ Đức
Trang 2418
CHƯƠNG I
MÔ TẢ KIẾN THỨC CỦA SINH VIÊN LÀNG ĐẠI HỌC THỦ ĐỨC VỀ NẠO PHÁ THAI THEO CÁCH TIẾP CẬN GIỚI VÀ VAI TRÒ CỦA XÃ
HỘI HÓA CÁ NHÂN
1.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu
Với diện tích 643.700 ha26, Làng Đại học Thủ Đức có tổng cộng 7 trường thuộc khối Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Mình (ĐH BK, ĐH KHTN, ĐH KHXH – NV, ĐH Quốc tế, ĐH Công nghệ Thông tin, ĐH Kinh tế - Luật và Viện Môi trường – Tài nguyên) và một số trường ĐH khác (ĐH Thể dục Thể thao TP Hồ Chí Minh, ĐH Nông lâm TP Hồ Chí Minh,.v.v ) Làng Đại học Thủ Đức hiện là nơi sinh sống của nhiều SV thuộc các trường Đại học trọng điểm phía Nam cùng đông đảo dân cư của địa phận quận Thủ Đức và thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Đây là khu vực thuộc sự quản lý cuả nhiều cơ quan chức năng bao gồm phường Linh Trung, quận Thủ Đức, thị
xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và sự quản lý của Đại học Quốc gia Tp HCM Tuy nhiên,
do sự quản lí chồng chéo, địa bàn này thường xuyên xảy ra nhiều vấn đề về an ninh trật tự, môi trường, tai nạn giao thông.v.v
26 Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,
http://www.vnuhcm.edu.vn/Default.aspx?PageId=c486f71d-a0ad-4389-b6f2-6362a49b7d0a
Trang 25Bản đồ Làng Đại học Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh
Nguồn: http://www.vnuhcm.edu.vn/Modules/Map/images/map.jpg
1.2 Mô tả mẫu nghiên cứu
Do giới hạn về qui mô và phạm vi nghiên cứu, trong đề tài này nhóm tác giả áp dụng cách chọn mẫu phi xác suất theo cách chọn chỉ tiêu Các tiêu chí được lưu ý khi chọn mẫu là cân bằng giới tính và chọn SV thuộc 3 trường ĐH BK; ĐH KHTN; ĐH KHXH – NV Do vậy, kết quả nghiên cứu này chỉ phản ánh đặc trưng của mẫu nghiên cứu (Xem bảng mô tả mẫu nghiên cứu)
Tổng số bảng hỏi trong toàn cuộc nghiên cứu là 180 bảng hỏi cho đối tượng là SV chưa kết hôn và đang sinh sống tại Làng Đại học Thủ Đức Bảng hỏi được phân loại
và cân bằng về số lượng theo hai tiêu chí:
- Giới tính: Bao gồm nam và nữ - 90 bảng hỏi/mỗi giới
- Trường học: Khảo sát tại ba trường đại học nằm trong Làng Thủ Đức đào tạo
những nhóm ngành có đặc trưng về kĩ thuật, khoa học tự nhiên, và khoa học xã hội là ĐH BK; ĐH KHTN; ĐH KHXH – NV
Trang 26Ở nhà thuộc khu vực Làng Đại học Thủ Đức
1.3 Kiến thức của SV về các BPTT và vai trò của xã hội hóa cá nhân trong việc
cung cấp thông tin về BPTT cho SV
1.3.1 Kiến thức của SV về các BPTT
Để đo lường mức độ hiểu biết của SV Làng Đại học về các BPTT, nhóm nghiên cứu
sử dụng thang đo mức độ với hai đầu mút tăng dần từ hoàn toàn không biết đến rất hiểu biết Giá trị trung bình thu được từ bảng 1 cho thấy, SV có hiểu biết còn hạn chế
về các BPTT và chỉ biết 3 trong 11 biện pháp được nêu ra SV “Hoàn toàn không biết”
tới biện pháp: Màng ngăn âm đạo (1,57/5); Thuốc tiêm tránh thai (1,77/5); Thuốc diệt tinh trùng (2,22/5) Phần lớn hiểu biết về BCS (3,82/5); hiểu biết ở mức trung bình là Viên thuốc tránh thai (VTTT) và Kiêng QHTD (3,26/5 và 2,68/5) Như vậy, SV biết đến các BPTT hiện đại nhiều hơn so với các BPTT truyền thống Minh họa kết quả
này, phỏng vấn sâu (PVS) nữ SV năm thứ 2, trường ĐH BK “[ ] Em biết được là dùng thuốc tránh thai, BCS [ ] những biện pháp truyền thống thì em không biết, em
chỉ biết những cách mà em nêu thôi ” (PVS số 6) “Thực ra mình cũng có nghe sơ sơ nhưng mà không biết chính xác về biện pháp truyền thống” (PVS số 2, nam SV năm
thứ nhất, trường ĐH BK) Phát hiện này tương tự như kết quả nghiên cứu của tác giả
Lưu Thị Bích Ngọc (2004), Kiến thức và nguy cơ về SKSS của thanh niên Việt Nam:
thanh niên biết đến biện pháp BCS là nhiều nhất (88,7%), tiếp sau là VTTT (68,5%) và
Trang 27vòng tránh thai (32,4%) nhưng chỉ có 12% thanh niên biết tên các BPTT truyền thống27
Bảng 2 Mức độ hiểu biết về các biện pháp phòng tránh thai của SV Làng Đại học
quả PVS cho thấy “[ ] BCS thì dành cho nam” (PVS số 2, nam SV năm 2, trường ĐH BK) Hay “[ ] BCS thì em có biết sơ đó là dành cho nam giới” (PVS số 6, nữ SV năm
thứ 2, trường ĐH BK)
Bảng 3 Kiến thức của SV về đối tượng sử dụng BCS phân theo giới tính
Trang 28Về thời điểm sử dụng BCS, dữ liệu khảo sát cho thấy SV giữa hai nhóm giới tính
có kiến thức đúng và khá tương đồng khi được hỏi Trong nghiên cứu của Nguyễn
Thanh Phong, Phạm Huy Hiền Hào, “Nghiên cứu nhận thức, thái độ và thực hành về một số biện pháp tránh thai của SV trường cao đẳng Y Tế Hà Nội”(Tạp chí phụ sản,
2013) có tới 49% SV không biết chính xác thời điểm sử dụng BCS, 10,4% cho rằng BCS được sử dụng sau khi QHTD hoặc trước khi xuất tinh là 11,1% So sánh với kết quả này, SV được khảo sát có kiến thức tốt hơn về thời điểm sử dụng BCS, trên 90%
SV biết chính xác thời điểm sử dụng là “Trước khi QHTD cho đến khi kết thúc”
Bảng 4 Kiến thức của SV về thời điểm sử dụng BCS phân theo giới tính
Bảng 5 Đánh giá của SV về hiệu quả sử dụng của BCS
Hiệu quả của việc sử dụng BCS được SV đánh giá ở mức cao (62,9%) nên phần lớn
đồng tình với nhận định “Sử dụng BCS là lựa chọn tốt nhất cho các bạn trẻ” (4,05/5 – Bảng 5) Lý giải điều này nam SV, năm thứ 2, trường ĐH KHXH – NV cho biết “Thứ nhất là nó tiện lợi Thứ hai là giá thành rẻ mà dễ sử dụng Còn mấy cái khác như thắt
Trang 29ống dẫn tinh thì thắt nó khó lắm [ ] còn tránh lây nhiễm bệnh qua đường tình dục và
không làm cho người phụ nữ có thai” (PVS số 1) Bên cạnh đó, SV có quan niệm tích
cực như không cảm thấy xấu hổ khi mua BCS và không đồng nhất việc sử dụng BCS với những người không đàng hoàng (2,33/5 và 1,41/5) SV cho rằng việc mua những sản phẩm tránh thai là cách thể hiện ý thức bảo vệ cho bản thân và bạn tình khi QHTD
nên không cảm thấy xấu hổ “[ ] Theo em suy nghĩ thì việc mua những sản phẩm để
phục vụ cho việc tránh thai cũng là việc bình thường thôi Vì mỗi người thì có những nhu cầu khác nhau nhưng mà họ đã có ý thức tránh thai như thế thì nghĩa là trong tiềm thức của họ đã ý thức trước được việc QHTD sẽ ảnh hưởng tới họ” (PVS số 7, nữ
SV năm thứ nhất, trường ĐH KHTN) Khác với kết quả báo cáo của Bộ Y tế, Tổng cục
thống kê và tổ chức WHO, “Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên” (SAVY
1), 2003, SV còn có những quan niệm chưa đúng về các BPTT khi đồng nhất BCS với những quan hệ không đàng hoàng28 Nghiên cứu của Phạm Thanh Hải “Phá thai ở nữ VTN” (Tạp chí y học TP Hồ Chí Minh) cũng cho thấy thanh niên không chỉ thiếu
những kiến thứcvề SKSS mà còn có những quan niệm sai lệch về các BPTT và tình dục an toàn, họ coi việc không dùng các BPTT là cách thể hiện sự trong sáng về mặt đạo đức, lòng tin và sự chân thành đối với bạn tình
Bảng 6 Mức độ đồng tình của SV với các nhận định
1 Sử dụng BCS là lựa chọn tốt nhất cho các bạn trẻ 4.05
3 BCS chỉ dành cho những người không đàng hoàng 1.41
4 Việc sử dụng BPTT để lại nhiều biến chứng 3.68
Nguồn: số liệu xử lý SPSS, 2/2015
Đối với VTTT thì không có sự khác biệt về mức độ hiểu biết giữa nam và nữ, tuy nhiên, nam SV có kiến thức đầy đủ hơn về thời điểm sử dụng VTTT khẩn cấp ở
phương án “Sau mỗi lần QHTD có dùng BPTT mà thất bại” nhiều hơn nữ là 33,3%
So sánh giữa các trường trong địa bàn nghiên cứu, nam SV trường ĐH KHTN có kiến thức đầy đủ nhất về thời điểm sử dụng VTTT khẩn cấp (76,7% và 46,7%) Trong khi đây là biện pháp dành cho nữ giới nhưng vẫn còn 16,7% nữ SV trường ĐH KHXH – NV; 23,3% ĐH BK ; 23,3% ĐH KHTN không biết đến thời điểm sử dụng VTTT khẩn
28 Bộ Y tế, Tổng cục thống kê và tổ chức WHO, Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên
(SAVY 1), 2003
Trang 3024 cấp Đáng quan tâm là vẫn còn SV ở cả 3 trường cho rằng VTTT khẩn cấp được dùng trước mỗi lần QHTD, điều này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của việc sử dụng VTTT
Bảng 7 Kiến thức của SV về thời điểm sử dụng VTTT khẩn cấp phân theo giới
Sau mỗi lần QHTD có dùng BPTT mà thất bại 30 33.3 31.7
2 ĐH KHTN Trước mỗi lần QHTD 16.7 23.3 20
Sau mỗi lần QHTD mà không sử dụng các BPTT
76.7 60 68.3
Sau mỗi lần QHTD có dùng BPTT mà thất bại 46.7 33.3 40
3 ĐH KHXH – NV Trước mỗi lần QHTD 16.7 33.3 25
Sau mỗi lần QHTD mà không sử dụng các BPTT
53.3 66.7 60
Sau mỗi lần QHTD có dùng BPTT mà thất bại 36.7 13.3 25
Nguồn: số liệu xử lý SPSS, 2/2015
Trên 90% những người được hỏi cho rằng VTTT là biện pháp dành cho nữ nhưng vẫn còn 4,5% và 11,5% nam SV trường ĐH BK, ĐH KHTN cho rằng đây là biện pháp dùng cho cả 2 giới
Trang 31Bảng 8 Kiến thức của SV về đối tượng sử dụng VTTT phân theo giới tính và
Đa phần SV đều đồng tình với nhận định “Việc sử dụng các BPTT để lại nhiều
biến chứng” (3,68/5 – bảng 5) Trong đó, SV cho rằng thuốc tránh thai “Nếu lạm dụng
sẽ giảm trí nhớ, khả năng sinh sản hoặc các biến chứng phụ như là người mệt mỏi” (PVS số 4, nữ SV năm thứ 2, trường ĐH KHXH – NV) Nam SV cũng đồng tình “Ừ
nó có thể ảnh hưởng tới sức khỏe và hệ tiêu hóa, ảnh hưởng tới khả năng có con sau này” (PVS số 2, nam SV năm nhất, trường ĐH BK) Cùng phản ánh điều này, kết quả báo cáo của Bộ Y Tế Tổng cục thống kê và tổ chức WHO, “Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên” (SAVY 1) 2003, cho thấy SV còn có những quan điểm chưa
đúng về các BPTT khi cho rằng BPTT hiện nay có nhiều tác dụng phụ và nguy cơ Điều này sẽ ảnh hưởng đến tâm lý sử dụng các BPTT trong QHTD
Như vậy, cả hai giới đều có kiến thức chưa đầy đủ và sâu sắc về các BPTT SV cho rằng cả nam và nữ là người đưa ra quyết định sử dụng các BPTT trong QHTD nhưng cả hai đều có kiến thức còn hạn chế Điều này sẽ ảnh hưởng đến tính an toàn khi có quyết định QHTD Cụ thể, BCS mặc dù là biện pháp phổ biến nhất nhưng cả nam và nữ SV đều chỉ biết đối tượng sử dụng là dành cho nam Do đó, tất yếu sẽ làm
giảm việc sử dụng BPTT này trong nữ giới Vì tính chất nhạy cảm của câu hỏi “Bạn
đã từng quan hệ tình dục với người khác giới chưa” (Xem câu 40 – Bảng hỏi ở phần
phụ lục) nên phần lớn đáp viên trả lời theo kỳ vọng xã hội Chỉ có 4/180 SV trả lời đã từng QHTD trước hôn nhân, do đó thực trạng này chưa được phản ánh đầy đủ Trong 4
SV thì có 2 nam SV cho biết là không sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên với lý
do là “không có sẵn để dùng” (được hiểu là các BPTT hiện đại – 50%) và “không biết
Trang 32Đáng quan tâm là SV còn thiếu trách nhiệm đối với bản thân trước quyết định QHTD Cụ thể, PVS nam SV đã từng có QHTD về hoàn cảnh của hành vi đó thì SV cho biết hành động này bị chi phối bởi tình cảm nên mang tính bộc phát và không có
sự chuẩn bị các BPTT Chính vì thế, nam SV có tâm lí lo lắng Hành động theo bản năng cảm xúc trong khi lại thiếu hiểu biết về BPTT là nguyên nhân làm gia tăng nguy
cơ mang thai ngoài ý muốn
Như vậy, SV có kiến thức còn hạn chế về các BPTT đặc biệt là các BPTT truyền thống Vì thế vẫn còn SV thường xuyên sử dụng biện pháp Xuất tinh ngoài âm đạo khi QHTD trong khi đây không là biện pháp được các chuyên gia khuyến cáo bởi hiệu quả
để tránh thai thấp và không ngăn ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục.29 Không có sự khác biệt nhiều về kiến thức phân theo giới Nam và nữ SV đều có kiến thức chưa đầy đủ về đối tượng sử dụng BCS và thời điểm sử dụng VTTT khẩn cấp Trong số 4 SV trả lời đã từng QHTD trước hôn nhân, thì có 2/4 có sử dụng BPTT Thiếu trách nhiệm trước quyết định QHTD và kiến thức về phòng tránh thai còn hạn chế là nguyên nhân khiến SV không sử dụng các BPTT trong lần QHTD đầu tiên Điều này sẽ làm gia tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn
1.1.2 Vai trò của xã hội hóa cá nhân trong việc cung cấp thông tin về BPTT cho
SV
29 Bách Khoa toàn thư mở, Wikipedia
“Cái này là do bộc phát thôi, nhưng trong hành vi bộc phát đó cũng có tình cảm, cũng có chi phối về tình cảm (Hỏi tiếp có chuẩn bị các BPTT không) Cái đó thì
không có mang dụng cụ (Cảm thấy thế nào khi không dùng BPTT) Dạ! Cũng hơi
lo nhưng mà không lo lắm Cũng lo nhưng mà mình quan hệ xong mình xuất tinh
ngoài tử cung chắc sẽ không có bầu”
(PVS số 1, nam SV năm thứ 2, trường ĐH KHXH – NV)
Trang 33Bảng 9 Đánh giá của SV về vai trò của các môi trường xã hội hội hóa trong việc
cung cấp kiến thức về BPTT Nguồn thông tin Nguồn cung cấp thông tin Mức độ quan
trung bình là 3,21/5 Phù hợp với kết quả này, nam SV trường ĐH BK cho rằng “vai trò của gia đình rất quan trọng, chẳng hạn như biện pháp giáo dục này kia không có, nếu như gia đình không quan tâm thì coi như các bạn trẻ sẽ không biết nhiều về vấn đề đấy và không biết cách nào để tránh” (PVS số 2, nam SV năm nhất) SV lấy thông tin
về kiến thức phòng tránh thai nhiều nhất từ PTTTĐC là 90% Mặc dù gia đình được đánh giá là quan trọng nhất trong việc cung cấp kiến thứcvề BPTT nhưng chỉ 43,9%
SV cho biết được cung cấp thông tin từ cha, mẹ Về vai trò của nhà trường, SV lấy thông tin từ thầy cô nhiều nhất là 55%, kế đến là bạn bè 48,3%, thấp nhất từ tổ chức
Đoàn – Hội là 28,3% Theo ý kiến của SV nữ trường ĐH BK “ [ ] do gia đình và nhà
trường không tác động vào đầu em mà chủ yếu là ti vi, các thông tin trên ti vi, rồi báo chí đặc biệt là từ bạn bè Bạn bè thì hơi nhiều, từ khi vô làng ĐH đi chơi với các bạn
nữ trường khác các bạn rất am hiểu về vấn đề này” (PVS số 6, SV nữ năm thứ 2,
trường ĐH BK)
Như vậy, so với PTTTĐC thì gia đình và nhà trường chưa phát huy vai trò của mình trong việc cung cấp kiến thức về BPTT cho SV Kiến thức về BPTT mà SV có được chưa phải là kết quả toàn diện từ các môi trường xã hội hóa Do đó, SV có kiến thức còn hạn chế, chưa đầy đủ và sâu sắc về các BPTT, ngay cả đối với những biện pháp
Trang 3428 phổ biến nhất như BCS; VTTT Vì vậy, môi trường xã hội hóa chưa đáp ứng được sự
kỳ vọng của SV về vai trò trong việc cung cấp kiến thức này
1.4 Kiến thức của SV về mang thai – dấu hiệu có thai và vai trò của xã hội hóa
cá nhân
1.4.1 Kiến thức của SV Làng ĐH Thủ Đức về mang thai – dấu hiệu có thai
1.4.1.1 Kiến thức của SV về mang thai
Biểu đồ 1 Kiến thức của SV về giai đoạn dễ có thai của phụ nữ phân theo giới
“Giao hợp trong thời hành kinh thì không thể có thai” Kết quả này cũng đã được ghi nhận trong “Khảo sát đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi về SKSS của VTN thanh niên 15-24 tuổi vùng ven biển, đầm phá, vạn đò tỉnh Thừa Thiên Huế” của Chi cục
2 Sau hành kinh
1 Trước hành
kinh
3 Giữa hai kì 4 Không biết kinh
Trang 35Dân số - KHHGĐ tỉnh Thừa Thiên Huế (2010), có 74% trả lời là không biết thời điểm
dễ thụ thai trong khi hiện nay QHTD trước hôn nhân đang có xu hướng gia tăng
Có 58,3% trong tổng số SV được hỏi không biết đến thời điểm dễ có thai, trong đó tính riêng nhóm nam, có đến 61,1% trả lời không biết Vì vậy, khi được hỏi về thời điểm an toàn khi QHTD dựa theo chu kì kinh nguyệt, nhiều nam SV không nắm rõ
thông tin “Theo em thì hình như là tính vòng kinh là tính từ ngày có kinh nguyệt cho tới 14 ngày sau là ngày nguy hiểm” (PVS số 1, nam SV năm thứ 2, trường ĐH KHXH
– NV) Dù nữ SV có hiểu biết về giai đoạn dễ có thai nhiều hơn nhưng vẫn còn tới ½ trả lời không biết Vì thế, cùng nội dung câu hỏi như nam về cách tính chu kinh nguyệt
thì vẫn còn nữ SV trả lời rằng “Cách tính thời gian chu kì kinh nguyệt dấu hiệu có thai thì mình không được rõ lắm” (PVS số 5, nữ SV năm thứ 2, trường ĐH KHXH – NV)
“Điều tra quốc gia về VTN và thanh niên” (SAVY 1, 2003) cũng phản ánh với kết quả
là có tới 2/3 nữ thanh niên còn hiểu biết hạn chế về thời điểm dễ có thai nhất trong chu
kì kinh nguyệt
Ngoài ra, đáng chú ý khi có tới 38,9% SV trả lời sai nhận định “Không giao hợp
mà chỉ tiếp xúc giữa các bộ phận sinh dục với nhau thì vẫn có thể có thai” So sánh
theo giới tính người trả lời, nam SV chọn phương án này nhiều hơn so với nữ (48,9%
so với 28,9%) Đặc biệt, tuy chiếm tỉ lệ không nhiều nhưng vẫn còn một số nam SV
“không biết cầm tay có thể có thai hay không” và “con gái ở tuổi dậy thì thì không biết
có thể có thai hay không” (tỉ lệ phần trăm lựa chọn tương ứng là 1,1% và 3,3%)
Bảng 11 Kiến thức của SV về nội dung nhận định phân theo giới tính Không giao hợp mà chỉ tiếp xúc giữa các bộ phận sinh
dục với nhau thì vẫn có thể có thai
Trang 36Biểu đồ 2 Kiến thức của SV về dấu hiệu mang thai phân theo giới tính
Nguồn: số liệu xử lý SPSS, 2/2015
Về cách thức phát hiện có thai, đa phần biết đến Que thử thai là 91,7%, kế đến là Siêu âm và Xét nghiệm máu (63,3% và 16,7%) Biện pháp Que thử thai được SV biết đến nhiều nhất là phù hợp vì đây là cách thức phổ biến và dễ dàng tiếp cận hơn Mặc
dù đây là biện pháp dành cho nữ, nhưng nam SV giữa các trường có hiểu biết khá tốt
về sử dụng Que thử thai “Cách sử dụng que thử thai thì sử dụng bằng nước tiểu nếu hai vạch thì có thai còn một vạch thì không có thai Mà trong hai đến ba tuần đầu là không thể xác định được vì lúc đó là nó non nên sau ba tuần sau mới phát hiện được”
(PVS số 1, nam SV năm thứ 2, trường ĐH KHXH – NV) Còn nam SV năm thứ 2,
trường ĐH KHTN cho rằng “Thử nước tiểu, khi có thai có một hóc môn, nếu có thai thì hoc môn này tăng cao” (PVS số 3) Khi so sánh giữa nam và nữ, nhìn chung nữ SV
nguyệt nhiều
Trang 37có hiểu biết về cách thức giúp phát hiện có thai tốt hơn so với nam, cụ thể nữ hiểu biết
về Que thử thai nhiều hơn nam là 96,7% so với 86,7% Tương tự Siêu âm (66,7% so với 60%) Đặc biệt là có sự chênh lệch lớn trong kiến thức về cách thức Xét nghiệm máu (28,9% so với 4,4%)
Bảng 12 Kiến thức của SV về cách thức phát hiện có thai phân theo giới tính
nữ (61,1% so với 55,6% - bảng 9) Dù nữ SV có hiểu biết về kiến thức này nhiều hơn nhưng vẫn còn hơn ½ trả lời không biết đến thời điểm dễ có thai Nam SV có hiểu biết
kém hơn còn thể hiện qua lựa chọn nhận định “Không giao hợp mà chỉ tiếp xúc giữa các bộ phận sinh dục với nhau thì vẫn có thể có thai” nhiều hơn so với nữ (48,9% so
với 28,9%) Tương tự như vậy, nữ SV có kiến thức về dấu hiệu và cách thức phát hiện
có thai tốt hơn so với nam, biểu hiện rõ nhất là dấu hiệu chậm kinh nguyệt nhiều hơn (56,7% so với 34,4%) và cách thức xét nghiệm máu (28,9% so với 4,4%)
1.4.2 Vai trò của xã hội hóa cá nhân trong việc cung cấp kiến thức về mang thai
và dấu hiệu có thai cho SV
Giống như đánh giá của SV về vai trò của môi trường xã hội hóa trong việc cung cấp thông tin về các BPTT SV có sự kỳ vọng cao nhất vào môi trường gia đình là 4,26/5, kế đến là PTTTĐC (4,16/5); Thầy cô (3,5/5) Còn bạn bè và tổ chức Đoàn – Hội chỉ ở mức trung bình (3,34/5 và 2,98/5) Tuy nhiên, SV được cung cấp thông tin nhiều nhất về kiến thức mang thai và dấu hiệu có thai từ PTTTĐC (89,9%) Dù mức
độ kỳ vọng ở gia đình và thầy cô cao nhưng SV nhận được thông tin chưa nhiều (52,5% và 43,6%) So với việc cung cấp kiến thức về phòng tránh thai từ Đoàn – Hội (28,3% - Bảng 8) thì SV nhận thông tin về mang thai và dấu hiệu có thai từ môi trường
Trang 3832 này cũng không nhiều (20,1%) Mặc dù nữ SV có hiểu biết về mang thai và dấu hiệu
có thai nhiều hơn so với nam nhưng không có sự khác biệt về việc được lấy thông tin
từ môi trường xã hội hóa Như vậy, gia đình và nhà trường cũng chưa phát huy vai trò của mình trong việc cung cấp các kiến thức về mang thai và dấu hiệu có thai cho SV
Bảng 13 Đánh giá của SV về vai trò của các môi trường xã hội hội hóa trong việc
cung cấp kiến thức về mang thai và dấu hiệu có thai Nguồn thông tin Nguồn cung cấp thông tin Mức độ quan
trọng Tần suất Tỉ lệ (%)
1.5 Kiến thức của SV về NPT – phá thai an toàn và vai trò của xã hội hóa cá
nhân trong việc cung cấp kiến thức về NPT – phá thai an toàn cho SV
1.5.1 Kiến thức của về NPT – phá thai an toàn
Bảng 14 Kiến thức của SV về hậu quả của NPT
Hậu quả về xã hội
11 Ảnh hưởng xấu đến nguồn nhân lực 2.81 7
Nguồn: số liệu xử lý SPSS, 2/2015
Trang 39SV trong mẫu nghiên cứu hiểu được bản chất của việc NPT Tuy nhiên mức độ hiểu biết về hậu quả của NPT còn nhiều hạn chế SV chỉ biết được 3 hậu quả về thể chất là
vô sinh (3,86/5); sẩy thai (3,64/5) Tử vong là nguy hiểm nhất nhưng lại hiểu biết thấp hơn là 3,43/5 Trong đó nam SV có kiến thức về hậu quả tử vong cao hơn so với nữ (33,3% so với 21,1%) SV không biết những biến chứng và rủi ro của NPT như: sót nhau; sang chấn tử cung là 2,04/5 và 2,52/5 Đặc biệt nữ SV có kiến thức thấp hơn nhiều so với nam về hậu quả là băng huyết (25,6% so 41,1%) và có thai ngoài tử cung
(26,7% so 33,3%) “Những rủi ro thì nhiều lắm như băng huyết, mà nhiều quá thì sẽ khiến cho người phụ nữ tử vong Ngoài băng huyết, tử vong thì còn viêm nhiễm, mỏng thành tử cung hay cổ tử cung thì sau này sẽ khó mang thai hơn” (PVS số 1, nam SV năm thứ 2, trường ĐH KHXH – NV) “Có thể bị nhiễm trùng, dẫn tới vô sinh hoặc bị viêm tử cung, sức khỏe sẽ bị yếu đi” (PVS số 4, nữ SV năm thứ 2, trường ĐH KHXH
– NV) Trong khi nữ giới là người mang thai nhưng có hiểu biết kém về hậu quả nghiêm trọng của NPT, thì dễ có quyết định NPT Do đó, khi được hỏi bạn sẽ làm gì khi mang thai ngoài ý muốn có đến 35,6% nữ SV lựa chọn giải pháp là NPT Ngoài ra,
SV có nhận thức rằng NPT sẽ tạo ra áp lực tâm lý (3,92/5) NPT phá thai không chỉ là vấn đề của riêng cá nhân, mà về lâu dài điều đó còn ảnh hưởng của toàn xã hội nhưng
SV được hỏi hiểu biết còn mơ hồ về hậu quả như: Giảm mức sinh dân số (2,69/5); Ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nhân lực (2,8/5)
Bảng 15 Mức độ hiểu biết của SV về hậu quả của NPT phân theo giới tính
Mức độ hiểu biết về hậu quả băng huyết
Trang 4034
Mức độ hiểu biết về hậu quả mang thai ngoài tử cung
Tóm lại, SV trong mẫu nghiên cứu có hiểu biết còn hạn chế về hậu quả của NPT
SV biết đến hậu quả nhiều nhất là áp lực về tâm lý, vô sinh, sẩy thai và tử vong Trong
đó, nam SV có kiến thức về hậu quả NPT tốt hơn nữ Mặc dù là nguồn nhân lực tương lai của đất nước, nhưng SV chưa ý thức được vai trò của mình trong việc tìm hiểu các kiến thức đúng về hậu quả của NPT đối với sự phát triển của xã hội 32,2% SV cho rằng nên NPT khi mang thai ngoài ý muốn là con số đáng quan tâm khi mà kiến thức
về hậu quả của NPT còn nhiều hạn chế
Bảng 16 Kiến thức của SV về NPT an toàn
1 Do người cung cấp dịch vụ được đào tạo, có kỹ năng
tốt để thực hiện tại các cơ sở y tế đạt chuẩn 139 77.2
2 Hạn chế được tối đa các tai biến và biến chứng 30 16.7
3 Điều kiện sức khỏe của thai sản cho phép thực hiên
phá thai và tuổi thai chưa quá lớn trong vòng 7 - 8
1 NPT Để sinh 3
con
Khác
2