Nhưng thực tế, do yêu cầu về thời gian dành cho bài học còn hạn chế, do yêu cầu quy định về mức độ kiến thức dành cho đối tượng học sinh THCS nên sách giáo viên môn Ngữ văn hay trong tài
Trang 1- -
NHAN ĐỀ BÀI ĐỌC VĂN BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Kim Anh
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
HẢI PHÒNG, NĂM 2014
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là người bạn đồng hành không thể thiếu của con người Vì vậy con người luôn quan tâm đến nó và xây dựng cả một khoa học về nó Hiện nay việc nghiên cứu ngôn ngữ ngày càng dành được sự quan tâm đặc biệt Từ quan điểm ngôn ngữ học cấu trúc của Ferdinan de Sausure đến quan điểm ngôn ngữ học hiện đại của Charles William Morris, Charles Sanders Peirce là
cả một quá trình tìm hiểu đời sống của ngôn ngữ đi từ những quan hệ nội tại đến những quan hệ cả nội tại và ngoại tại của nó Có thể thấy, đời sống thực tế của ngôn ngữ thật phức tạp, phong phú, sinh động và tạo sự thu hút với các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về nó Sự phong phú, phức tạp của ngôn ngữ được thể hiện ở các mặt kết học, nghĩa học, dụng học của mỗi tín hiệu ngôn ngữ Nhận thức được điều đó, chúng tôi đặc biệt thích thú vấn đề này và muốn vận dụng lí thuyết về kết học, nghĩa học và một số kiến thức về dụng học để tìm hiểu nhan đề bài Đọc văn bậc THCS hiện hành
Nhan đề tác phẩm là cửa sổ nhìn thế giới do nghệ sĩ mở ra, là “chìa khoá nghệ thuật” giúp người đọc mở ra cánh cửa chìm của tác phẩm Nhan đề
là thuật ngữ dùng để gọi tên một văn bản, là một yếu tố chủ chốt của văn bản Nhan đề văn bản rất quan trọng đối với người tạo lập và cả người tiếp nhận Khi bắt tay vào văn bản hóa các ý tưởng của mình, người viết phải định hướng nội dung mà trong đó, nhan đề văn bản vừa là yếu tố mở đầu vừa là yếu tố kết thúc trong quá trình tạo lập văn bản Còn đối với người đọc, nhan
đề là việc tiếp xúc đầu tiên với tác phẩm, kí hiệu đầu tiên, thông tin đầu tiên
có vai trò định hướng đi sâu vào việc tìm hiểu nội dung, giá trị của văn bản
Nhan đề văn bản có vai trò quan trọng như vậy nên đã có một số người quan tâm nghiên cứu song những kết quả đạt được mới chỉ ở bước đầu Các tác giả mới chỉ đề cập đến một số vấn đề chung như khái niệm, đặc điểm,
Trang 3giá trị, vai trò của nhan đề nói chung để chủ yếu khái thác ý nghĩa có liên quan tới toàn bộ bài Đọc văn trong quá trình cảm thụ văn bản
Trong chương trình Ngữ văn (không chỉ riêng đối với bậc THCS), nhan
đề bài Đọc văn còn là một đơn vị kiến thức đầu tiên của bài học, bắt buộc người dạy, người học phải quan tâm tìm hiểu Tìm hiểu nhan đề văn bản là bước đầu tiên của quá trình đọc hiểu văn bản, có ý nghĩa định hướng nội dung
và phương pháp tổ chức hoạt động của giáo viên và học sinh trong giờ đọc hiểu Nhưng thực tế, do yêu cầu về thời gian dành cho bài học còn hạn chế, do yêu cầu quy định về mức độ kiến thức dành cho đối tượng học sinh THCS nên sách giáo viên môn Ngữ văn hay trong tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng, người dạy, người học thường chỉ dừng lại ở việc phác họa ý nghĩa cơ bản nhất của một vài nhan đề tác phẩm nghệ thuật được nhiều bạn đọc cho là hay, hoặc được người dạy, người học đoán định là sẽ nằm trong nội dung đề thi Phần lớn các nhan đề còn lại chỉ được đề cập một cách sơ lược hoặc bỏ qua
Từ thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy có nhiều con đường để tiếp cận với những giá trị của tác phẩm, trong đó có một phương pháp khá đơn giản và hữu hiệu là tiếp cận từ chính nhan đề của tác phẩm Như vậy, vấn đề phân tích, tìm hiểu các mặt kết học, nghĩa học và một phần kiến thức có liên quan đến dụng học để thấy được giá trị của nhan đề các bài đọc văn bậc THCS hiện hành một cách cụ thể, hệ thống chưa được một công trình nghiên cứu nào đề cập Điều này đã thôi thúc chúng tôi tiếp cận tiến hành nghiên cứu
đề tài này
2 Lịch sử vấn đề
tế là người sáng tác rất quan tâm đến việc đặt nhan đề cho các tác phẩm của mình Qua những suy tư trong sáng tạo, họ đã nhận thức sâu sắc về nhiều
phương diện của nhan đề văn bản Nhan đề, một yếu tố cận văn bản (cùng với
tiêu đề các chương, các lời tựa, bạt, lời đề từ, các lời bình luận in trên bìa sách, các ghi chú của người viết ) do tác giả đặt (hoặc bạn hữu/biên tập viên sành
Trang 4sỏi nào đó gợi ý), nhìn chung đều có dụng ý tư tưởng, thậm chí nó còn có chức năng định hướng cách đọc, sự tiếp nhận của độc giả đối với phần chính văn Như vậy, nhan đề tương ứng với ý tưởng và dự đồ sáng tác, nó loé sáng bất chợt và trở thành cái tứ của truyện, thúc đẩy nhà văn kiếm tìm, suy ngẫm liên tưởng, chi phối mạnh mẽ đến việc tổ chức thế giới nghệ thuật Nhan đề là
cái ý tưởng, ý tứ ban đầu thôi thúc nhà văn cầm bút Lưu Hi Tải tổng kết: Nếu
hình thành ý tứ trước khi viết, tác giả sẽ viết nhàn nhã Nếu cầm bút viết, rồi ý mới nảy sinh, thì chân tay lúng túng” (Nghệ khái văn khái)
Nhan đề như một một mã của thông điệp thẩm mỹ, một mô hình nghệ thuật, nó là cái biểu nghĩa của văn bản văn học, cho độc giả biết trước: văn bản này viết về cái gì, có thể đọc nó hoặc nên đọc văn bản như thế nào Nhưng cho đến nay, chưa thấy có tài liệu nào tổng kết về vấn đề chọn đặt nhan đề cho tác phẩm văn chương
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa do giáo sư
Hoàng Phê (chủ biên) (2000) có định nghĩa “ Nhan đề là tên đặt cho cuốn
sách hoặc bài viết”.Có thể thấy, trong giới ngôn ngữ học, nhan đề văn bản
được quan tâm có hệ thống hơn Năm 1978, trong bài “Phong cách ngôn ngữ
trong tên các bài báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh” trên tạp chí Ngôn ngữ số 3,
Bùi Khắc Việt đã khảo sát nhan đề văn bản trên các mục giá trị thông tin, giá trị biểu cảm, nguồn gốc của các nhan đề và tiếng cười của Bác “Thông qua một số nhan đề văn bản tiểu phẩm của Hồ Chí Minh dưới nhiều bút danh khác nhau, tác giả bài viết đã chỉ ra một số đặc điểm ngôn ngữ về mặt phong cách
cá nhân” [38, 9]
Chúng tôi đã căn cứ vào các công trình nghiên cứu khá cụ thể, chi tiết
về một số phương diện của nhan đề văn bản của theo các tác giả dưới đây:
Năm 1982, Hồ Lê dựa trên cứ liệu nhan đề văn bản các bài báo của Hồ Chí Minh đã phân tích những nguyên nhân dẫn đến tính hấp dẫn của nó thông qua
Trang 5phân tích sáu kiểu cấu tạo nội dung và hai kiểu cấu tạo hình thức “Đây là bài viết đầu tiên chú ý đến việc phân loại nhan đề văn bản về cấu tạo”
Năm 1982, Hoàng Tử Quân nhân bàn về “Ngữ pháp của cách nói: “vỡ đê, vỡ
bờ, vỡ mộng” có đưa ra một nhận định: “Tên của một tác phẩm trong cách nói ngắn
gọn và hàm súc của nó, thường cũng là một sự thông báo chung về chủ đề tác phẩm.”
Năm 1991, trong “Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyển 1, câu trong
tiếng Việt”, Cao Xuân Hạo nhân việc phân loại câu theo quan điểm ngữ pháp
chức năng đã xếp tất cả các loại nhan đề, trong đó có nhan đề văn bản phần lớn đều là loại câu đặc biệt
Năm 1992, Nguyễn Thị Tuyết Ngân lại chú ý đến mặt sử dụng nhan đề văn bản qua việc ngắt dòng không đúng chỗ trong việc trình bày mĩ thuật của nhan đề trên trang báo Tác giả cũng nêu lên ba trường hợp phân đoạn cú pháp sai, dẫn đến sự hiểu lầm có thể có trong tri giác nhan đề văn bản
Năm 1993, trong “Cú pháp tiếng Việt, quyển III, cú pháp tình huống”
(Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội), Hồ Lê “coi nhan đề văn bản là một phát ngôn, một biến thể của câu cơ sở như những phát ngôn khác, và tiến hành khảo sát văn cảnh và phát ngôn hội thoại với tất cả các đặc trưng bản thể của chúng”
Năm 1994, Đinh Trọng Lạc trong giáo trình “Phong cách học văn
bản” đã đề cập đến khái niệm đầu đề, nhan đề, vai trò của nhan đề văn bản và
khẳng định “nhan đề là bộ phận không thể tách rời của văn bản, là một thành
tố của văn bản” Khi bàn đến những chỉ dẫn về đầu đề văn bản, tác giả gọi nó bằng các tên gọi khác nhau: nhan đề, đầu đề, tên bài thơ Theo ông: “cái đầu
đề (hay nhan đề, tiêu đề) của tác phẩm (thơ cũng như văn xuôi) là một tín hiệu nghệ thuật mang tính khái quát, là một căn cứ để nhận biết tình hoàn chỉnh của văn bản.” Ông nhấn mạnh: “Tên bài thơ thường chứa đựng tứ thơ của toàn bài Nó đảm nhiệm vai trò tâm điểm của vòng tròn đồng tâm, từ đó cảm xúc tỏa ra và trở về hội tụ Nó “hướng dẫn” người đọc trong quá trình
Trang 6lĩnh hội tác phẩm Nó để lại trong người đọc những rung cảm và suy nghĩ sâu sắc
Năm 2001, Trịnh Sâm, trong công trình “Tiêu đề văn bản tiếng Việt”
(Nxb Giáo dục) đã đề cập một cách toàn diện bốn vấn đề về tiêu đề:
1 Miêu tả, phân loại các chủng loại tiêu đề như tiêu đề bảng hiệu, tiêu
đề các tổ chức xã hội, tiêu đề sản phẩm hàng hóa và nhấn mạnh đến tính chất tiêu biểu của tiêu đề văn bản
2 Chỉ ra cấu trúc - chức năng của tiêu đề văn bản trong các phong cách ngôn ngữ
3 Đề xuất một số nguyên tắc chung về mặt ngôn ngữ để một tiêu đề văn bản đạt tới yêu cầu đúng và hay, cũng như nêu ra một số nguyên tắc riêng đối với từng thể loại văn bản cụ thể, từng phong cách ngôn ngữ cụ thể
4 Nhận xét chung về đặc điểm phát triển của tiêu đề văn bản tiếng Việt
từ 1865 đến nay
Năm 2007, Đào Ngọc Đệ trong bài báo “Nhan đề, tiêu đề, tựa đề”
(“Lao động cuối tuần”), số 32, ngày 19-8-2007 cũng đã khẳng định: “Nhan
đề còn gọi là đầu đề, là tên, là cái “tít” chung của một văn bản, một tác phẩm
Nó như gương mặt con người, nổi bật nhất để phân biệt tác phẩm này với tác phẩm khác.”
Năm 2008, Hoài Nam trong bài“Phiếm luận về cái nhan đề”
(CAND.com.vn thứ tư ngày 19/3/2008) cho rằng “nhan đề của tác phẩm ( )
là một bộ phận không thể tách rời khỏi chỉnh thể tác phẩm”
Năm 2010, Dương Thị Liên trong khóa luận tốt nghiệp “Đặc điểm ngữ
nghĩa, cú pháp của loại tin An ninh - trật tự” đã dành 10 trang để bàn về tầm
quan trọng, đặc điểm cú pháp của tiêu đề loại tin này Trong khóa luận, tác giả cho rằng “Tiêu đề làm nên thành công bước đầu của bài báo” và đã khái quát được kiểu cấu tạo ngữ pháp của chúng là câu đặc biệt với 4 dạng kiến trúc ngôn ngữ là kiến trúc ngôn ngữ bỏ lửng, kiến trúc ngôn ngữ phiếm định, kiến trúc ngôn ngữ cố định, dân gian, kiến trúc ngôn ngữ ngược
Trang 7Như vậy, qua những nghiên cứu trên, có thể khẳng định rằng nhan đề văn bản nói chung, nhan đề văn bản văn chương nói riêng không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với một tác phẩm văn học mà còn rất quan trọng với cả người tạo lập và người đọc Nó rất cần được tìm hiểu một cách toàn diện, hệ thống
đề nhan đề văn bản nhưng phần lớn mới chỉ thấy vai trò của quan trọng của nhan đề với văn bản, mới chỉ tìm hiểu một số đặc điểm của nhan đề văn bản nói chung Như vậy, có thể khẳng định việc nghiên cứu vấn đề các mặt kết học, nghĩa học, dụng học của nhan đề bài Đọc văn bậc THCS và việc thực hiện các chức năng giao tiếp của các nhan đề đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đến
3 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng một số lí thuyết về nhan đề văn bản, lí thuyết về ba bình diện kết học, nghĩa học và một số kiên thức về dụng học của câu làm cơ sở, luận văn nhằm mục đích tìm hiểu các mặt kết học, nghĩa học và một phần kiến thức về dụng học của nhan đề các bài Đọc văn trong chương trình Ngữ văn bậc THCS hiện hành, đặc biệt cho độc giả trong nhà trường (giáo viên, học sinh) có thể lí giải được tại sao tác giả hay người biên soạn lại chọn nhan đề như vậy Những kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho chúng tôi và các đồng nghiệp có
ý thức hơn trong việc tìm hiểu nhan đề văn bản trong giờ đọc văn, hiểu sâu hơn giá trị của nhan đề văn bản, có cách tiếp cận nhan đề văn bản một cách khoa học, góp phần nâng cao hiệu quả giờ Đọc văn trong nhà trường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu nhan đề các bài Đọc văn bậc THCS hiện hành từ năm
2009 đến nay Nhan đề các bài Đọc văn được lấy từ các sách giáo khoa Ngữ văn 6,
Ngữ văn 7, Ngữ văn 8, Ngữ văn 9 của Nxb Giáo dục năm 2009, 2010, 2011, 2012
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 8- Hệ thống hóa các quan điểm về nhan đề văn bản; lí thuyết về ba bình
diện kết học, nghĩa học, dụng học của câu; tổng quan về bài dạy Đọc văn trong chương trình Ngữ văn bậc THCS hiện hành
- Khảo sát, thống kê, phân loại nhan đề các bài đọc văn trong chương trình Ngữ văn THCS về thể loại văn bản, về hoàn cảnh không gian, thời gian sáng tác, ; về ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học
- Tìm hiểu, phân tích nhan đề bài Đọc văn và việc thực hiện các chức năng giao tiếp trong nhà trường THCS hiện hành Từ đó đề xuất cách thức tìm hiểu giá trị của nhan đề bài đọc, cũng là cách thức tìm hiểu các tiêu điểm trọng yểu của một văn bản
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi áp dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
6.1 Phương pháp thống kê, phân loại: phương pháp này dùng để thống
kê, phân loại các nhan đề bài Đọc văn được dạy ở bậc THCS hiện hành từ lớp
6 đến lớp 9 phân chia chúng thành các kiểu loại nhan đề theo các tiêu chí khác nhau phục vụ cho triển khai đề tài
6.2 Phương pháp miêu tả: phương pháp này được vận dụng khi miêu tả cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa của các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nhan đề các bài Đọc văn THCS Mô hình hóa các kiểu cấu trúc này nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu
6.3 Phương pháp phân tích diễn ngôn: phương pháp này tiến hành việc phân tích ý nghĩa của các kiểu loại nhan đề, từng nhan đề cụ thể gắn liền với ngữ cảnh sinh tồn là bài Đọc văn bậc THCS hiện nay Ngoài ra, trong một số vấn đề cụ thể, việc phân tích làm nổi bật các khía cạnh ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của một số nhan đề bài Đọc văn, luận văn còn sử dụng các thủ pháp đặc thù của ngữ nghĩa, ngữ dụng và phân tích văn bản như cải biến, thay thế,
so sánh, đối chiếu ngữ cảnh sử dụng
7 Cấu trúc luận văn
Trang 9Luận văn gồm có 5 phần: Quy ước viết tắt, Mục lục, Chính văn, Phụ lục, Tài liệu tham khảo Phần Chính văn, ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận là phần Nội dung, phần này bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí thuyết và một số vấn đề có liên quan
- Chương 2: Bình diện kết học, nghĩa học của nhan đề bài Đọc văn bậc THCS hiện hành
- Chương 3: Nhan đề bài Đọc văn THCS và việc thực hiện các chức năng giao tiếp
Trang 10NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.1 Một số vấn đề chung về nhan đề của văn bản
Văn bản là một loại sản phẩm ngôn ngữ, mỗi văn bản thường có một cái tên, thường được gọi là “nhan đề” Nói cách khác, nhan đề là một thuật ngữ ngôn ngữ học thường dùng khi đặt tên hoặc giới thiệu cho một văn bản, một tác phẩm (thuộc các thể loại, viết về các lĩnh vực của đời sống) Vấn đề đặt tên gọi cho các sản phẩm liên quan đến việc định danh sự vật của tín hiệu ngôn ngữ Lâu nay, tên văn bản được giới nghiên cứu ngôn ngữ định danh bằng các thuật ngữ khác nhau như tiêu đề, tựa đề, đầu đề, tên bài, tít bài, nhan
đề Nhiều người không hiểu đúng các khái niệm này, nên có khi dùng sai Vì vậy, dựa theo sự phân tích của tác giả Nguyễn Thị Tâm làm cơ sở lí thuyết để nghiên cứu các nội dung trong những chương tiếp theo
1.1.1 Các thuật ngữ tiêu đề, tựa đề , đầu đề, tên bài, tít bài của văn bản
Tìm hiểu một số ý kiến về thuật ngữ tiêu đề, chúng tôi cùng đồng nhất với quan điểm của tác giả Nguyến Thị Tâm về ba loại quan niệm sau:
Quan niệm thứ nhất là của Hoàng Phê cùng nhóm tác giả Viện Ngôn ngữ học, Nguyễn Văn Đạm, Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phạm Xuân Thành:
tiêu đề có hai loại Chẳng hạn :" tiêu đề: 1 Lời đề ở đầu một tác phẩm, nêu
nội dung chủ yếu Quyển truyện có tiêu đề "tiểu thuyết tâm lí – xã hội" 2
Phần in sẵn ở bên trên các giấy tờ hành chính, giấy tờ giao dịch thương mại,
ghi tên cơ quan, thường có kèm địa chỉ Giấy viết thư có tiêu đề ghi rõ địa
chỉ" [39,990]
Hay:" tiêu đề: 1 Lời ghi kèm vào tên một mục, nêu lên cho người đọc
chú ý Đề xuất một sáng kiến mới dưới tiêu đề " đã nghiên cứu qua thử thách
thực tế"; 2 Phần in sẵn ở trên các giấy tờ hành chính, giấy tờ giao dịch
thương mại" [16,820] Hoặc : “Tiêu đề: 1 Lời đề trên cuốn sách (hoặc bài
viết) để gợi sự chú ý Quyển truyện có tiêu đề “Tiểu thuyết trinh thám” 2 Phần in
Trang 11sẵn ở bên trên các giấy tờ hành chính, giao dịch của một tổ chức, cơ quan Dùng giấy
có tiêu đề của cơ quan để đánh máy các công văn này” [65,1131]
Quan niệm thứ hai là của Trịnh Sâm: “Tiêu đề văn bản được hiểu theo nghĩa: a Tên gọi chính thức một văn bản như tên quyển sách, bài báo, bài thơ ; b Tên gọi chính thức một chương, một mục nào đó trong văn bản” [38,12]
Ví dụ: trên báo “Giáo dục thời đại” số ra ngày 18-11-2013 có bài báo mang tiêu đề như một vấn đề đặt ra cho tác phẩm “Hình tượng nhân vật ông giáo trong truyện ngắn Lão Hạc” (Trang 14), “Chiếc khăn của miền sông nước” (Trang 21); có bài mang tiêu đề chung là “Cơm chiến sĩ”, “Ấn tượng với bữa cơm giản dị”, “Đậm đà hương vị nguyên sơ” (trang 25); “Mai một tiếng đàn H’ra”, “Nhạc cụ độc đáo” “Tiếng đàn thay lời muốn nói’ (Trang 29)
Như vậy, theo ông, tiêu đề văn bản bao gồm các loại sau: tiêu đề duy nhất (ứng với một văn bản chỉ có một tiêu đề); tiêu đề của toàn văn bản và tiêu đề của chương mục; tiêu đề chính và tiêu đề phụ
Quan niệm thứ ba là của Đào Ngọc Đệ: “Nhan đề, tựa đề và tiêu đề là
ba khái niệm ngôn ngữ thường dùng khi tạo lập một văn bản, một tác phẩm (thuộc các thể loại, viết về các lĩnh vực của đời sống); hoặc khi giới thiệu một văn bản, một tác phẩm nào đó”[17] Vì quá bức xúc trước hiện tượng “nhiều người, trong đó không ít thuộc giới báo chí, nghệ thuật, học sinh, sinh viên, không hiểu đúng các khái niệm này, nên thường dùng sai”- đó là bài viết của Đào Ngọc Đệ “Nhan đề, tựa đề, tiêu đề” đăng trên báo “Lao động cuối tuần”
số 32 ra ngày 19 - 8 - 2007 nhằm phân biệt rõ ràng ba khái niệm đó Theo ông,
“Tiêu đề là cái nhan đề nhỏ, là tên của một chương mục trong chỉnh thể tác phẩm, hoặc tên của một văn bản Những văn bản dài, các tiểu thuyết hoặc phóng sự, v.v thường có các tiêu đề, để tách các phần, các chương, hoặc các
ý lớn, làm cho bố cục của tác phẩm trở nên rành mạch và người đọc dễ tiếp nhận Dưới mỗi tiêu đề là một vài đoạn văn, tạo thành một bộ phận của tác phẩm có ý nghĩa tương đối độc lập Các tiêu đề thường được đánh dấu: I,II,III
Trang 12hoặc A,B,C, ; được trình bày bằng chữ in hoa, hoặc chữ in đậm, hay chữ in nghiêng, nhưng cỡ chữ nhỏ hơn chữ ở nhan đề.” [17, 39]
Như vậy, theo Đào Ngọc Đệ, tiêu đề văn bản không phải là nhan đề lớn bao trùm toàn văn bản mà chỉ là cái nhan đề nhỏ - tên một chương mục trong văn bản
Về thuật ngữ tựa đề, nói chung, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều thống nhất rằng tựa đề không phải là nhan đề
Hoàng Phê cùng nhóm tác giả Viện Ngôn ngữ học định nghĩa “tựa (cũng như lời tựa) là bài viết ở đầu sách để trình bày một số điều cần thiết về cuốn sách đó Đề tựa cho các tác phẩm” [39,1078]
Đào Ngọc Đệ trong bài báo đã dẫn cũng chỉ rõ “Tựa đề còn gọi là đề tựa hay lời tựa, là những lời thường là của tác giả - viết dưới nhan đề (đầu đề),
để giới thiệu, hoặc để cho điều cần thiết, hệ trọng của một văn bản, một tác phẩm Tựa đề (lời thể tương đối dài, ở đầu một cuốn sách, là để giới thiệu cuốn sách đó ( ) Nhiều tựa đề chỉ là một, hai dòng ngắn gọn, nói lên chủ đích của tác giả, hoặc cảm hứng khởi nguồn cho tác phẩm của mình ( ) Như vậy tựa đề hoàn toàn không phải là nhan đề” [17,42] Ví dụ: dưới nhan đề bài thơ “Nhớ rừng”, Thế Lữ viết lời đề tựa “Lời con hổ ở vườn bách thú”
Nguyễn Văn Đạm quan niệm đầu đề “ như đầu bài” (tức là nội dung nếu vắn tắt hoặc thành câu hỏi cho học sinh hay thí sinh phát triển, trả lời, chủ yếu theo kiến thức đã học); hoặc “như đề tài” [16,255] Hoàng Phê cùng nhóm tác giả Viện Ngôn Ngữ học giải thích rộng hơn ở nghĩa 2 sau đây: “đầu đề: 1 Như đầu bài 2 Tên của một bài văn, thơ Đầu đề bài báo 3.3 Đề tài
Đầu đề của cuộc tranh luận” [39,299]
Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành thống nhất với Hoàng Phê nhưng có bổ sung: đầu đề: 1 Như đầu bài 2 Tên của bài thơ, văn, báo nhạc Đầu đề bài báo” [65,368]
Đào Ngọc Đệ cũng cho rằng đầu đề chính là nhan đề [17,39]
Trang 13Như vậy, Hoàng Phê cùng nhóm tác giả Viện Ngôn ngữ học, Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành, Đào Ngọc Đệ cùng thống nhất ở ý kiến đầu đề cũng chính là nhan đề
Hoàng Phê cùng nhóm tác giả Viện ngôn ngữ học định nghĩa : “tên: Từ hoặc nhóm từ dùng để chỉ một cá nhân, cá thể, phân biệt với cá nhân, cá thể khác cùng loại Ghi rõ họ và tên” [39,906]
Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành giải thích : “Tên: Từ hoặc nhóm từ dùng để định danh và xưng gọi một người, một vật, phân biệt người hoặc vật khác như “đặt tên cho con” [65, 1022]
Từ đó, ta có thể định nghĩa tên bài là từ hoặc nhóm từ dùng để chỉ định danh một văn bản cụ thể, phân biệt với những văn bản khác
Hoàng Phê cùng nhóm tác giả Viện ngôn ngữ học định nghĩa : “tít: Đầu
đề bài báo thường in chữ lớn Tít lớn chạy dài suốt bốn cột” [39, 1000]
Như thế, có nghĩa là các tác giả trên đã cho rằng tít bài là đầu đề, là nhan đề là tên của một bài báo (không phải là văn bản nói chung)
Nguyễn Văn Đạm định nghĩa :”tít” :vốn mượn từ tiếng Pháp Titre và tiếng Anh title ( ) được dùng rất phổ biến và quen thuộc trong làng báo Việt Nam từ những năm đầu thế kỉ XX.” [16,33]
1.1.2 Nhan đề văn bản
1.1.2.1 Khái niệm
Khái niệm về nhan đề văn bản cũng được tác giả Nguyễn Thị Tâm [56] trình bày rất cụ thể Trên cơ sở đó chúng tôi xem xét, kế thừa những nội dung chủ yếu sau:
Hoàng phê cùng nhóm tác giả Viện ngôn ngữ học định nghĩa nhan đề:
“Tên đặt cho cuốn sách hoặc bài viết”
Nguyễn Văn Đạm định nghĩa rộng hơn: “nhan đề: tên nói lên nội dung chính trong một sản phẩm của trí tuệ, nghiên cứu hay sáng tạo Nhan đề cuốn sách”
Trang 14Năm 1994, Đinh Trọng Lạc trong giáo trình “Phong cách học văn bản”
đã đề cập đến khái niệm đầu đề, nhan đề, vai trò của nhan đề văn bản Khi bàn đến những chỉ dẫn về đầu đề văn bản, tác giả gọi đầu đề bằng các tên gọi khác nhau: nhan đề, tiêu đề, tên bài thơ Như vậy, Đinh Trọng Lạc gọi nhan
đề là tiêu đề, đầu đề tên bài thơ
Đào Ngọc Đệ cũng khẳng định: “Nhan đề còn gọi là đầu đề, là tên, là cái “tít” chung của một văn bản, một tác phẩm” và nhan đề “dứt khoát không phải là tựa đề hoặc tiêu đề” [17, 45]
Năm 2007, Hoài Nam cho rằng, “nhan đề của tác phẩm ( ) là một bộ phận không thể tách rời khỏi tác phẩm”
Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá giải thích “nhan đề: (còn gọi là tựa đề) Thuật ngữ dùng đề gọi tên một tác phẩm văn học, một trong những yếu tố của cái cạnh văn bản, nhằm phân biệt tác
phẩm này với tác phẩm khác Ví dụ: Cảnh khuya và Đi đường là nhan đề hai
tác phẩm khác nhau của Hồ Chí Minh Có khi nhan đề chỉ tên các phần, các chương của truyện” Ví dụ: Nhiều tiểu thuyết chương hồi chia thành các hồi, mỗi hồi đều có một nhan đề riêng hay trong văn bản nghị luận có nhan đề “Thuế máu” lại có các tiêu đề thuộc các mục của mỗi phần bài Đọc “Chiến tranh và người bản xứ”, “Chế độ lính tình nguyện”, “Kết quả của sự hi sinh”
Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy về thuật ngữ nhan đề, có những quan niệm sau:
Quan niệm thứ nhất gồm Hoàng Phê cùng nhóm tác giả Viện ngôn ngữ học, Đào Ngọc Đệ cho rằng nhan đề không phải là tiêu đề, không phải là tựa
đề, mà là tên bài, đầu đề, tít bài
Quan điểm thứ hai gồm Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành cho rằng nhan đề không phải là tiêu đề, không phải là tựa đề mà là tên bài, đầu đề
Quan niệm thứ ba là của Nguyễn Văn Đam cho rằng nhan đề không phải là tiêu đề, không phải là tựa đề, không phải là đầu đề, mà là tên bài
Quan niệm thứ tư là của Trịnh Sâm cho rằng nhan đề là một loại tiêu đề
- tiêu đề lớn bao trùm toàn văn bản
Trang 15Quan niệm thứ năm là của Đỗ Đức Hiếu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá cho rằng nhan đề là tựa đề, là tên các phần trong tác phẩm văn học.” [56, 10,11]
Theo các quan niệm trên thì có thể thấy nhan đề không phải là tựa đề bởi vì tựa đề là lời giới thiệu văn bản, nằm dưới nhan đề; nhan đề không phải
là tiêu đề bởi vì chúng tôi cho rằng chỉ nên dùng tiêu đề để chỉ tên chương, mục, phần nằm trong văn bản; nhan đề là đầu đề (chỉ với nghĩa là “tên của văn bản”, không dùng với nghĩa “như đầu bài”, “đề tài”); nhan đề là tên văn bản nằm ở phần trước tiên của văn bản, ngăn cách với văn bản bằng một khoảng trống; nhan đề cũng là tít chung của văn bản
Như vậy, khi đi vào nghiên cứu các nội dung trong các chương tiếp theo, chúng tôi thống nhất dùng thuật ngữ nhan đề để chỉ tên gọi của các bài Đọc văn trong chương trình Ngữ văn THCS (bao gồm cả tên tác phẩm, tên đoạn trích văn học, tên các văn bản thuộc các thể loại khác nhau)
1.1.2.2 Đặc điểm, vai trò của nhan đề văn bản
a Đặc điểm của nhan đề
Nhan đề văn bản có hình thức cấu tạo ngữ pháp rất đa dạng, có dung lượng ngắn gọn Nó thường có cấu tạo là một từ, hay là một cụm từ, hoặc là một câu Trong nhan đề văn bản lại có mặt tất cả các loại từ như thực từ, hư từ Do mục đích giao tiếp, chi phối mà nhan đề văn bản thường có hình thức thật ngắn gọn, có “tính nén chặt” [38, 168] Về cấu tạo ngữ pháp, nhan đề thường được diễn đạt nhiều nhất là bằng một danh
từ, một cụm danh từ; có khi bằng một động từ, một tính từ, một cụm động
từ Cách tạo nhan đề bằng một câu có đầy đủ chủ ngữ - vị ngữ thường rất
ít gặp, và chỉ nên dùng khi thật sự cần thiết
Ví dụ: nhan đề là một danh từ “Thạch Sanh”, nhan đề là một cụm danh
từ “Mùa xuân nho nhỏ”, nhan đề là một câu “Mẹ hiền dạy con”, “Thầy bói xem voi” nhan đề là một ngữ cố định, “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng” là nhan
đề gồm nhiều danh từ (cụm D đẳng lập) Tất cả các nhan đề này đều ngắn gọn
Trang 16Nhan đề văn bản có nội dung mang tính hàm súc Nó có sức diễn đạt được nhiều phương diện Nó có thể là chủ đề của văn bản (báo “Khoa học và đời sống” số ra 30-05-2014 có bài “Khôn khéo dẹp loạn”- trang 15; báo “An ninh Hải Phòng” số ra ngày 04-06-2014 có bài “Thủ đoạn cũ, nạn nhân mới” - trang 6), có thể là nội dung tổng quát của văn bản (“Thông tin về ngày trái đất năm 2000”- Ngữ văn 8, tập 1), có thể là một chi tiết đáng chú ý nhất trong văn bản (báo “Giáo dục thời đại” số ra 25-11-2013 có bài “Sự thật về miếu Ba Cô”- trang 21 ), có khi nó là một hình tượng biểu trưng cho nội dung cơ bản của toàn văn bản (“Đoàn thuyền đánh cá”- Ngữ văn 9, tập 2), là tên nhân vật chính (“Sọ Dừa”- Ngữ văn 6, tập 1), là một tình huống cuộc đời (báo “Giáo dục và thời đại” số ra 25-11-2013 có bài “Giáo viên đang “chạy” sau công nghệ”- trang 6, “Giáo dục đánh thức khă năng sáng tạo”- trang 5), là tiếng cười chiết xuất từ nội dung văn bản (“Lợn cưới áo mới”- Ngữ văn 6, tập 1), v.v Nhan đề (đầu đề) thường do người viết đặt ra - như người bố, người mẹ đặt tên cho đứa con của mình; nhưng cũng có khi do người khác (cán bộ biên tập) đặt hộ, hoặc đổi tên đi cho hay, cho phù hợp với chủ đề của tác phẩm Có những bài nói, bài viết không có nhan đề, nhưng khi đăng báo, toà soạn phải đặt tên cho Vì thế, ở phía dưới có ghi chú: Nhan đề (tên bài, đầu đề) do toà soạn đặt
Đặt được một nhan đề cho một văn bản, một tác phẩm sao cho đúng, cho hay, cho độc đáo - không phải dễ Nhan đề phải khái quát ở mức cao về nội dung tư tưởng của văn bản, của tác phẩm; phải nói cô đọng được cái
"thần", cái "hồn" của tác phẩm
Nhan đề như thế mới hay và bản thân nó đã có sức thu hút người đọc, người xem Nhiều nhà báo, nhà văn (và các tác giả khác) đã phải trăn trở, hoặc phải thay đổi nhiều lần cho một cái tên tác phẩm của mình
Nhan đề văn bản thể hiện nhiều đặc điểm phong cách ngôn ngữ Có nhan đề mang màu sắc phong cách sinh hoạt như nhan đề “Nhờ phải bợm”
Trang 17trong báo “An ninh Hải Phòng”- trang 6 , số ra ngày 16-5-20154 đã cho người đọc cái nhìn chân thực về các thủ đoạn của những kẻ thản nhiên lợi dụng sự tin tưởng của người khác để chuộc lợi ; có nhan đề mang màu sắc phong cách hành chính như “Đề nghị mức án 30 năm tù đối với với bầu Kiên” trong bài
“ Khoa học và đời sống”- trang 22, số ra ngày 20-05-2014 cho thấy thái độ của mọi người trước những vấn nạn xã hội; có nhan đề mang màu sắc phong cách khoa học như “Cần có giải pháp kịp thời để phục hồi kinh tế” trong báo
“An ninh Hải Phòng”- trang 2, số ra ngày 14-5-2014 đề cập đến vấn đề đang được quan tâm đặc biệt và mong muốn có một sự thay đổi tích cực góp phần phục hồi nền kinh tế đất nước; có nhan đề mang màu sắc phong cách báo chí như “Cần xử phạt nghiêm hơn” - trang 28, trong báo “ Giáo dục và thời đại”
số ra ngày 18-11-2013 là lời cảnh tỉnh trước những hành vi của những kẻ cố ý
vi phạm pháp luật; có nhan đề mang màu sắc phong cách đầy ngôn ngữ nghệ thuật như “Gieo sáng tạo, gặt mùa vàng”- trang 11 trong báo “Văn nghệ” số
ra ngày 15-11-2913 bày tỏ thái độ ngợi ca, tôn vinh trước những sáng tạo tuyệt vời của con người, v.v Có thể nói, những nhan đề này đã được đánh dấu khá rõ về đặc điểm phong cách văn bản
Nhan đề văn bản xuất hiện trong các kiểu văn bản khác nhau xét về phương thức biểu đạt: có loại thuộc văn bản thuyết minh “Những món ăn thuần Việt trên quê hương Trạng Trình” nhằm giới thiệu cho người đọc về một số món ăn độc đáo, bình dị mà đậm chất quê hương của vùng đất Vĩnh Bảo ; có nhan đề thuộc văn bản miêu tả như: “Cây tre Việt Nam” giúp người đọc, người nghe hình dung về cuộc sống làng quê Việt vốn gắn bó với lũy tre ; có nhan đề thuộc văn bản tự sự như “Chuyện người con gái Nam Xương” là câu chuyện bất hạnh về người con gái Vũ Thị Thiết ; có nhan đề thuộc văn bản biểu cảm như “Nhớ rừng" mang tâm tư, nỗi niềm của vị mãnh chúa chốn rừng già, nhưng hơn hết là tâm trạng của những người dân mất nước phải sống trong cảnh mất tự do; có nhan đề thuộc văn bản lập luận như
“Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” là một áng văn nghị luận mẫu mực với
Trang 18hệ thống luận điểm chặt chẽ nhằm khẳng định, ngợi ca truyền thồng yêu nước của nhân dân ta
Nhan đề văn bản thường hấp dẫn, không chỉ đúng, phù hợp với nội dung, phong cách văn bản, đặc điểm thể loại của văn bản nó định danh mà còn phải hay, thu hút sự chú ý của người tiếp nhận, có tính gợi mở và sức lan tỏa rộng rãi, nhất là tên gọi của các tác phẩm văn học Sức hấp dẫn của nhan
đề có thể toát ra từ kiểu cấu tạo nội dung, kiểu hình thức ngôn ngữ, từ sự phù hợp với mục đích sử dụng và đối tượng tiếp nhận văn bản, từ quan hệ giữa nhan đề với ngữ cảnh và với toàn văn bản Việc đặt nhan đề cho văn bản đã trở thành một “nghệ thuật” phức tạp giống như việc sử dụng một biện pháp tư
từ để đem lại những giá trị tu từ Ví dụ: nhan đề “Ôn dịch, thuốc lá”: “thuốc lá” là cách nói của tệ nghiện thuốc lá So sánh (tệ nghiện) thuốc lá với “ôn dịch” là rất thỏa đáng vì tệ nghiện thuốc lá cũng là một thứ bệnh (bệnh nghiện) và cả hai có một đặc điểm chung là rất dễ lây lan Dấu phẩy trong nhan đề có chức năng liên kết hai bộ phận đi liền, nối tiếp nhau, đẳng lập với nhau Dấu phẩy dùng ở đây có giá trị biểu đạt ý nghĩa “thuốc lá” đi liền với
“Ôn dịch”, cũng là một thứ ôn dịch nguy hiểm vì sức lây lan ghê gớm Nhan
đề này có cấu tạo là một cụm danh đẳng lập gồm hai danh từ nối với nhau bằng dấu phẩy đã tạo ra độ mở cao về ngữ nghĩa mà số lượng từ ngữ nén chặt đến mức tối đa
b Vai trò của nhan đề
Nhan đề văn bản rất quan trọng với người tạo lập văn bản, với người đọc, và với chính văn bản
* Nhan đề văn bản và người tạo lập văn bản (tác giả)
Nhan đề văn bản “vừa là yếu tố mở đầu vừa là biểu tượng kết thúc trong quá trình tạo lập văn bản” [26, 178] Khi bắt tay vào văn bản hóa các ý tưởng của mình, tác giả phải có cơ sở định hướng nội dung mà trong đó nhan
đề văn bản (dù còn ở dạng trừu tượng ) sẽ là hạt nhân của nó Nhan đề văn bản là yếu tố thường trực hiện hữu hoặc bằng ý thức, hoặc bằng vô thức chi
Trang 19phối quá trình lập văn bản Xét trong quá trình này, nhan đề vừa đảm nhiệm chức năng của một yếu tố dự báo, vừa mang nhiệm vụ của một yếu tố hồi cố Ví
dụ, nhan đề bài thơ “Sài Gòn tôi yêu” của Minh Hương vừa dự báo chủ đề, vừa được nhắc lại nhiều lần trong tác phẩm qua cách đảo vị trí các tiếng trong nhan
đề nên ý nghĩa của nó luôn được nhận thức trở lại trong quá trình tác giả sáng tạo tác phẩm
Văn học luôn gắn bó với đời sống, nhà văn thâm nhập và biểu hiện cuộc sống theo những con đường khác nhau Nhan đề tác phẩm, nhìn từ phương diện này, giữ vai trò như một cột mốc đánh dấu từng chặng đường thâm nhập cuộc sống của tác giả Nếu Nguyễn Tuân không đi thực tế Tây Bắc, với khát khao khám phá chất vàng mười của thiên nhiên và con người nơi đây, chắc chắn không thể có những trang viết tài hoa độc đáo như trong tuỳ bút
“Sông Đà” Một nhà văn trẻ hỏi Nguyễn Tuân: “Thưa bác, bác đã viết Sông
Đà như thế nào ạ” Nguyễn Tuân cười hóm hỉnh, rồi trả lời rất ngắn: “Tôi đi, tôi viết” Tên gọi “Sông Đà” đã trở thành biểu tượng cho một chuyến đi, nó
nói lên bài học về kinh nghiệm sống, vốn sống đối với người sáng tác
Nguyễn Huy Tưởng đi chiến dịch biên giới 1950, viết “Kí sự Cao Lạng” Tô
Hoài đi cùng bộ đội tham gia chiến dịch giải phóng Tây Bắc năm 1952, ông
có điều kiện thấu hiểu cuộc sống tủi nhục của đồng bào các dân tộc miền núi
dưới ách phong kiến thực dân, nên viết thành công“ Truyện Tây Bắc” Khi Tố Hữu giác ngộ lí tưởng cộng sản, ông có tập thơ “Từ ấy”.Những tên gọi như“Xiềng xích”,“Ra trận”,“Giải phóng”, “Lên Tây Bắc” đều phản ánh
được từng chặng đường hoạt động cách mạng của nhà thơ Tố Hữu Nếu như, đối với các nhà văn - chiến sĩ, nhan đề thường in đậm cảm quan chính trị và
nhiệt hứng yêu nước cao đẹp; thì ngược lại, đối với sáng tác của nhà văn lãng
mạn, ngay từ nhan đề, người đọc có thể nhận thấy rõ một vài gợi ý về cái
“tháp ngà nghệ thuật” do anh ta dựng nên Cách đạt nhan đề vừa cho thấy sự
tìm tòi đa dạng của nghệ sĩ
Trang 20Tác phẩm văn học dân gian thường không có nhan đề, đó là tài sản chung của cộng đồng, phản sánh kiểu tư duy tập thể Nhan đề, với tư cách yếu
tố cận văn bản, xuất hiện hầu hết ở các tác phẩm văn học viết Việc đặt nhan
đề hay không đặt nhan đề liên hệ mật thiết với ý thức sáng tạo cá nhân, với ý
thức sở hữu văn bản
Đối với một số tác giả có bản lĩnh thì nhan đề văn bản có thể mang những dấu ấn về phong cách cá nhân của họ Ví dụ: nhan đề bài thơ “Quê hương” in dấu rất rõ con đường thơ của Tế Hanh, quê hương đã trở thành đề tài quen thuộc trong thơ Tế Hanh Sự trở đi trở lại về một miền quê- làng chài ven biển gắn với những kí ức đẹp đẽ về những buổi ra khơi đầy hứng khởi luôn là niềm cảm hứng say mê bất tận của nhà thơ Nhan đề truyện ngắn “Bến quê” bộc lộ rõ ràng chất suy tưởng trí tuệ của nhà văn Nguyễn Minh Châu
Đó là những quy luật triết lí về cuộc đời, là những điều giản dị, bình thường nhưng vô cùng thiêng liêng, sâu sắc không phải lúc nào con người cũng sớm nhận ra, mà phải qua quá trình trải nghiệm có khi đến cuối cuộc đời
* Nhan đề văn bản và người đọc (độc giả)
Nhan đề là việc tiếp xúc đầu tiên với văn bản, là kí hiệu đầu tiên, thông tin đầu tiên (cùng với tên tác giả), giúp người đọc có thể dự đoán nội dung của văn vản Nhan đề thực hiện chức năng kích thích, tạo nên ấn tượng đầu tiên của người đọc về văn bản Nhan đề văn bản “như một chỉ dẫn định hướng”; nó “hướng dẫn” người đọc trong quá trình lĩnh hội tác phẩm Nó để lại trong người đọc những rung cảm và suy nghĩ sâu sắc [26, 178]
“ Nhan đề vừa là điểm xuất phát vừa là điểm kết thúc của quá trình lĩnh hội, tiếp nhận tác phẩm Thông qua nhan đề, người đọc có thể tìm ra sợi dây liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng được nói đến trong văn bản Có thể coi những cảm nhận, ấn tượng về văn bản được hình thành trong người đọc từ cái tên văn bản là cái vốn ban đầu Cái vốn này sẽ tiếp tục khơi gợi, làm nảy sinh thêm những cách, những mức độ cảm, hiểu khác nhau trong suốt quá trình tiếp nhận văn bản Kết thúc quá trình này rất có thể, cái vốn ban đầu sẽ được
Trang 21bồi đắp và trở nên giàu có trong nhận thức, tình cảm của người đọc Nhan đề
là đối tượng được nhận thức và tái nhận thức nhiều lần trong quá trình độc giả giải mã văn bản Khi đọc hiểu văn bản, người ta luôn luôn hướng về nó Nhan
đề văn bản là cái gốc để kiểm tra, thẩm định văn bản: dựa vào nó, có thể xem xét sự tương hợp, hay bất tương hợp giữa ý nghĩa của nhan đề văn bản và nội dung của văn bản; xem xét văn bản đã hoàn chỉnh, trọn vẹn chưa, Như vậy, nhan đề văn bản là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố cuối cùng chi phối quá trình tiếp nhận văn bản của độc giả Ví dụ tiếp nhận bài thơ “Mưa” của Trần Đăng Khoa, yếu tố ngôn ngữ đầu tiên đến với người đọc là nhan đề “Mưa” Nhan đề này khơi gợi những cảm xúc, những liên tưởng, ấn tượng, hình dung ban đầu như hình ảnh những hạt mưa, cơn mưa hay những hiện tượng, sự vật trong cơn mưa Trong quá trình đọc bài thơ, giải mã các tín hiệu ngôn ngữ, liên kết nhan đề với chúng, người đọc dần nhận ra rằng dưới con mắt của nhà thơ “thần đồng”, sự kì diệu của thiên nhiên không chỉ được hiện ra thật sinh động mà trên hết là vẻ đẹp của con người có tầm vóc lớn lao và tư thế hiên ngang, sức mạnh to lớn có thể sánh với thiên nhiên vũ trụ
Trong giao tiếp giữa tác giả và độc giả, nhan đề văn bản là loại kênh thông tin đặc biệt, không phải chỉ tiến hành thiết lập có một lần mà là nhiều lần, không phải chỉ theo một chiều mà là hai chiều: khi tạo lập văn bản, tác giả luôn dự kiến về đối tượng tiếp nhận, những khả năng mà văn bản sẽ tác động đến người đọc, những suy nghĩ có thể có từ phía người đọc để chọn một nhan đề văn bản thích hợp nhằm hướng người đọc suy luận cho trúng ý của mình; còn khi tiếp nhận văn bản, độc giả luôn có ý thức đối thoại với tác giả, phỏng đoán những khả năng có thể có về nội dung hàm chứa trong nhan đề, trong phần còn lại của văn bản có ý đồ giao tiếp của người viết” [56, 16,17]
* Nhan đề văn bản đặt trong quan hệ với văn bản mà nó định danh
Trong quan hệ với văn bản mà nó định danh, nhan đề vừa có tác dụng hướng nội, vừa có tác dụng hướng ngoại, vừa có tính độc lập
Trang 22Trong vai trò hướng nội của nhan đề, nó biểu trưng cho nội dung toàn văn bản mà nó gọi tên Toàn bộ văn bản, kể cả nhan đề được coi là chỉnh thể
có đủ hai phần đề - thuyết thì nhan đề là phần đề, mà phần văn bản còn lại là
dung một văn bản đăng trên báo “Giáo dục và thời đại”- trang 6, số ra ngày 20/11/2013 là những suy nghĩ về nghề dạy học gắn với kỉ niệm về người thầy tại một vùng quê đã khiến người đọc không khỏi xúc động Nhan đề “Cán bộ dốt, dân trả giá” biểu trưng cho nội dung một văn bản đăng trên báo “Khoa học và đời sống”- trang 10 số ra ngày 31/03/2014: nhấn mạnh vai trò, ảnh hưởng của đội ngũ cán bộ trong việc giải quyết các vấn đề góp phần thay đổi diện mạo các đô thị
Nhan đề là một căn cứ để nhận biết tính hoàn chỉnh của văn bản Một bài viết chỉ có thể được coi là hoàn chỉnh (ngoài những tiêu chí như sự thống nhất về đề tài - chủ đề, mục đích, văn phong) khi nó có thể được đặt cho một cái tên, tức nhan đề Nếu một văn bản mà không có nhan đề sẽ giống như một người không có tên sẽ thiếu sự định hướng trong tiếp nhận, sẽ bị chìm lẫn đi trong muôn vàn những văn bản khác, người đọc sẽ quên nó ngay sau lúc đọc
Vì thế, người ta thường định danh cho những văn bản không có tên là “Vô đề”, “Không đề”
Đinh Trọng Lạc trong “Phong cách học văn bản” có khẳng định:
“Nhan đề là bộ phận không thể tách rời của văn bản, là một thành tố của văn bản” [26, 33] Nó là một tiêu điểm mà các yếu tố cấu tạo làm nên văn bản phải hướng về Nó thường được nhắc đến trong văn bản dưới hình thức này hoặc hình thức khác rất đa dạng: nó có thể được lặp lại nhiều lần trong nội dung văn bản bằng nhiều thủ pháp khác nhau, với các sắc độ đậm nhạt khác nhau, đơn giản có, phức tạp có, tường minh có, hàm ẩn có, với những dụng
ý khác nhau Ví dụ, nhan đề “Con cò” của nhà thơ Chế Lan Viên trong sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 2 được lặp lại nhiều lần trong bài thơ bằng thủ pháp điệp ngữ để từ hình ảnh con cò, suy ngẫm và triết lí về ý nghĩa của lời ru và
Trang 23lòng mẹ đối với cuộc đời mỗi người Hay ý nghĩa nhan đề “Những ngôi sao
xa xôi” trong sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 2 của Lê Minh Khuê có nhiều nét tương đồng với các nhân vật của truyện tạo nên hàm ý ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, tư tưởng và những phẩm chất cao cả của những cô thanh niên xung phong quả cảm, trong sáng, hồn nhiên Đối với các bài Đọc là văn bản khoa học như nhóm bài ôn tập, tổng kết thì ngay trong nhan đề đã định hướng cho người dạy và người học kiến thức, kĩ năng để tiến hành các phương pháp khái quát, tổng hợp lại các kiến thức theo chương trình, qua đó kiểm tra việc tiếp nhận kiến thức và rèn kĩ năng học tập của học sinh
“Theo Đinh Trọng Lạc, “cái đầu đề (hay nhan đề, tiêu đề) của tác phẩm (thơ cũng như văn xuôi) là một tín hiệu nghệ thuật mang tính khát quát” Ông nhấn mạnh: “Tên bài thơ thường chứa đựng tứ thơ của toàn bài Nó đảm nhiệm vai trò tâm điểm của vòng tròn đồng tâm, từ đó cảm xúc tỏa ra và trở
vệ hội tụ” Phương Lựu khi nói về tổ chức một bài thơ trữ tình cũng có ý kiến
“Đề thơ thu tóm tinh thần cơ bản của nội dung bài thơ, làm cho người đọc nhớ và phân biệt với các bài thơ khác” [56, 19]
Tiếp theo là nhan đề văn bản trong vai trò hướng ngoại Trong vai trò hướng ngoại, nhan đề văn bản có khả năng phản ánh mọi vấn đề trong xã hội,
từ kinh tế đến văn hóa, từ vật chất đến tinh thần, từ những mối quan tâm hàng ngày của quần chúng đến những tư tưởng vĩ đại, hay đến những cõi sâu kín nhất của tâm hồn Xét cho cùng, nhan đề cũng là một vấn đề của cuộc sống được nêu ra ở mức độ cô đúc, khái quát Nó vốn là hiện thân của văn bản được nén chặt và cô đúc nhất; bao gồm hầu như tất cả các tín hiệu của đời
nhan đề sau ta cũng có thể hình dung khả năng phản ánh của các nhan đề rộng rãi đến mức nào: “Khi âm nhạc kể chuyện”, “Hơi thở mùa đông”, “Hôn nhân không tình yêu”, “Siêu vật liệu của tương lai” “Đi tìm “hành tinh nước”,
“Không đơn giản là truyền thụ kiến thức”, “Trào lưu khoe của”, “Các diễn viên gãy cánh giữa đường”, “Đăng kí đất đai là quy định bắt buộc”, “Người
Trang 24đàn bà vô tội”, “Nhìn Bác lòng ta trong sáng hơn”, “Đưa con chữ về với vùng sâu”, “Hạnh phúc là chia sẻ”, “Những thực phẩm nhất thể giới”,
“Châm cứu đẩy lùi tai biến”, “Khai mạc giải bóng đá Hội khỏe Phù Đổng- Cup Milo 2014”, “Vì sao Australia lo ngại tình hình ở Biển Đông?” , “Gia đình- nền tảng xã hội” (Báo Giáo dục và thời đại, số ra ngày 25/11/2013)
“ Nhan đề văn bản còn có tính liên văn bản Ví dụ, nhan đề các bài thơ trong tập “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh thể hiện mối liên hệ thống nhất hướng về nội dung nhan đề chung của cả tập thơ: nhan đề mỗi bài thể hiện sự ghi chép những điều mắt thấy tai nghe (“ Cháu bé trong nhà lao Tân Dương”,
“Gia quyến người bị bắt lính”, “Ở Lai Tân”, “Tiền vào nhà giam”, “Ghẻ”, ) hoặc là lời tự bạch suy nghĩ cảm xúc (“Ngắm trăng”, “Hoàng hôn”, “Nhớ bạn”, ) của tác giả hàng ngày trong thời gian bị cầm tù ở Trung Quốc từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943 Tính liên văn bản cũng có mặt ở nhan đề các công trình nghiên cứu của một tác giả
Tuy nhiên trong quan hệ với văn bản, nhan đề văn bản cũng có tính
lại khá rõ, dưới nhiều dạng thức hoặc màu sắc, kiểu chữ khác nhau, thường gặp nhất là nó được ngăn cách với phần còn lại bởi một khoảng trống để người đọc dễ phân biệt Người ta tri giác nó như một khối trọn vẹn, hoàn chỉnh, dù hình thức của nó như thế nào Cho nên, khi tách khỏi văn cảnh, phát ngôn nhan đề có đủ tư cách như một yếu tố đại diện của văn bản Việc lập thư mục các sách ở thư viện, việc điểm các bài viết, các công trình nghiên cứu về một lĩnh vực nào đó của khoa học hay của đời sống bằng cách ghi tên các văn bản là một ví dụ khá rõ về tính độc lập của nhan đề văn bản ” [56, 19, 20]
1.2 Một số vấn đề về câu
1.2.1 Khái niệm chung về câu
Trong ngữ pháp truyền thống, thuật ngữ “câu” được dùng để chỉ cái đơn vị ngữ pháp lớn nhất là đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp Câu vốn
Trang 25được hiểu là đơn vị được làm thành từ một mệnh đề Nhưng “mệnh đề” lại là thuật ngữ của lôgic, vì vậy có sự cố gắng tách “mệnh đề của ngôn ngữ” ra khỏi “mệnh đề của lôgic” Những cố gắng này đi theo hai hướng:
- Vẫn tiếp tục dùng “mệnh đề” với sự ngầm định rằng đó là mệnh đề dùng trong ngôn ngữ (giải pháp này vẫn được duy trì trong ngôn ngữ học Pháp cho đến ngày nay) Theo đó, thuật ngữ “câu” vẫn được dùng với cơ sở vẫn là mệnh đề hiểu theo ngôn ngữ học
- Đưa vào ngôn ngữ học một tên gọi mới là” cú” vốn có trong tiếng Anh như là một tên gọi của mệnh đề ngôn ngữ, để phân biệt với tên gọi
“mệnh đề” của lôgic Có thể nhận ra điều này một cách dễ dàng trong sự phân biệt câu đơn với câu ghép (câu đơn là câu chứa một cú, câu ghép là câu chứa hơn một cú) Trong ngữ pháp Việt Nam, ý tưởng dùng tiếng “cú” thay cho
“mệnh đề ngôn ngữ” bắt đầu từ hai nhà ngữ pháp Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê
Tuy nhiên trong ngữ pháp tiếng Anh gần đây, thuật ngữ “cú” được một
số nhà nghiên cứu dùng phân biệt với “câu” theo hướng cho rằng câu vốn gắn với chữ viết như là một đơn vị chính tả có dấu chấm câu ở hai đầu, còn “cú” không bị ràng buộc vào chữ viết
Vậy, nhìn chung, “cú” tương đương với cái được gọi là “câu đơn” của ngữ pháp truyền thống Việc dùng thuật ngữ “cú” thay vì thuật ngữ “câu” trong ngữ pháp học ngày nay nhằm vào hai việc sau đây:
(i) dùng “cú” thay cho tên gọi “mệnh đề” thuộc ngôn ngữ, để phân biệt với thuật ngữ “mệnh đề” của lôgic;
(ii) dùng “cú” thay cho tên gọi “câu”, vì “câu” được gọi như gắn với ngôn ngữ viết
Hiện nay, theo cách hiểu chung nhất, câu (sentence) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ Còn cú (clause) được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố,
và được dùng để diễn tả một sự thể (sự việc) Định nghĩa về cú như vậy là
Trang 26một cách hiểu sâu hơn so với định nghĩa về câu: nêu thêm mặt tổ chức ngữ pháp cụ thể và mặt nghĩa thường có (nghĩa đề cập được ba phương diện quan trọng nhất của cái đơn vị trước đây gọi là câu đơn, nay còn được gọi là cú
- Định vị câu (câu đơn) ở bậc cao nhất của hệ thống ngữ pháp của một ngôn ngữ, tức là về ngữ pháp, không có đơn vị nào lớn hơn câu
- Câu có cấu tạo ngữ pháp là một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố, tức là lấy vị tố làm trung tâm, không lấy hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ làm cơ sở, để tránh lặp lại cấu trúc của mệnh đề lôgic Đây cũng chính là nói về cái tổ chức từ vựng ngữ pháp của câu Nhờ tổ chức từ vựng ngữ pháp này mà một ý nghĩa, một nội dung sự việc, và ý định của người nói được định hình, được kiến tạo nên
- Câu có mặt ý nghĩa là phần diễn đạt một sự thể Nghĩa sự thể là cái được dùng để giải thích cho tổ chức từ vựng - ngữ pháp của câu
Định nghĩa câu như trên chỉ mới tính đến được phần nghĩa biểu hiện (chỉ sự thể), chưa bao quát được các chức năng khác mà câu đảm nhiệm trong từng trường hợp sử dụng cụ thể
Trong việc sử dụng ngôn ngữ, câu được dùng với ba chức năng sau đây: chức năng biểu hiện (diễn đạt kinh nghiệm), chức năng lời trao đổi (tác
động đến người nghe), chức năng (tạo) văn bản (đưa câu vào văn bản hoặc
vào tình huống) Ngoài ra, câu còn có thêm chức năng lôgic, tức là diễn đạt các quan hệ trong tư duy, nhưng chức năng này thể hiện trong cấu trúc giữa các bộ phận chỉ sự việc trong câu và trong mối quan hệ giữa các câu với nhau, nên không được tách riêng ra
Đối với các ngôn ngữ biến hình, động từ trong câu biến hình theo thức, theo ngôi, theo thời, theo dạng (chủ động và bị động), nên việc xác định phạm
vi của câu ít khó khăn Đối với các ngôn ngữ không biến hình từ như tiếng Việt thì việc xác định vị tố trong một dãy động từ trong câu là việc không hề đơn giản Cho nên định nghĩa về câu như trên cũng chỉ tiện cho việc miêu tả những câu không quá phức tạp
Trang 27Mặt khác, dù cho có thể dùng tên gọi cú thay cho tên gọi câu đơn, thì
vẫn không thể tránh được tên gọi câu Vì nếu không có cái gọi là “câu” thì khó lòng xác định được ranh giới của một hợp thể gồm nhiều câu Việc xác định ranh giới các bộ phận có nghĩa do một số cú tạo thành trong một văn bản lớn gồm hàng trăm, hàng ngàn câu sẽ cực kì phức tạp nếu không có cái gọi là câu
Như vậy, với cách quy ước cho rằng “cú” sẽ được gọi là “câu” (“câu đơn”), “hợp thể cú” gọi là “câu ghép, thì vẫn có thể dùng thuật ngữ “câu”
để miêu tả ngữ pháp, như trong ngữ pháp của nhiều ngôn ngữ Và câu hay
cú đều có thể định nghĩa gồm ba yếu tố trên như sau: câu (hay cú) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố, và được dùng để diễn đạt một sự thể (hay một sự việc) Định nghĩa này không tính đến đặc thù của ngôn ngữ cụ thể, và cũng chưa tính đến các chức năng khác, ngoài chức năng nghĩa biểu hiện
1.2.2 Ba bình diện của câu
Xuất phát từ lí thuyết về tín hiệu học và tín hiệu ngôn ngữ ,trong Ngôn ngữ học nói chung, câu được xem xét từ ba mặt: kết học, nghĩa học, dụng học Xét từ phạm vi nghiên cứu, luận văn này chỉ đi sâu tìm hiểu về một số vấn đề trong từng mặt kết học, nghĩa học và và một số kiến thức
về dụng học của câu
1.2.2.1 Bình diện kết học của câu
Tìm hiểu bình diện kết học còn gọi là bình diện ngữ pháp – tổ chức hình thức của câu, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề về cấu tạo ngữ pháp của câu đơn hai thành phần, câu đặc biệt Và nội dung này được chúng tôi kế thừa, trình bày chủ yếu theo quan điểm của GS, TS Diệp
Quang Ban (2008), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội
a Câu đơn hai thành phần
Trang 28Câu đơn hai thành phần là câu đơn có một cụm chủ – vị duy nhất làm thành nòng cốt câu (ví dụ: "Con hổ có nghĩa") Câu đơn hai thành phần chiếm
vị trí trung tâm và chủ yếu của việc miêu tả ngữ pháp về câu Nó được sử dụng rộng rãi nhất và được dùng làm cơ sở cho những kiểu câu có cấu tạo lớn hơn (câu đơn mở rộng nòng cốt câu, câu phức thành phần và nhất là câu ghép)
b Câu đơn đặc biệt
Theo Cao Xuân Hạo, câu đặc biệt là "những câu không phản ánh một mệnh đề, không có cấu trúc Đề – Thuyết" "Có thể gọi tên các loại câu đặc biệt ấy là: Câu đặc biệt cảm thán, Câu đặc biệt gọi tên, Câu đặc biệt gọi đáp, Câu đặc biệt tượng thanh" [21; 83; 84] Diệp Quang Ban định nghĩa "Câu đơn đặc biệt là kiến trúc có một trung tâm cú pháp chính (có thể có thêm trung tâm cú pháp phụ), không chứa hay không hàm ẩn một trung tâm cú pháp thứ hai có quan hệ với nó như là quan hệ giữa chủ ngữ với vị ngữ Câu đơn đặc biệt ( ), trong nó không cần và không thể xác định đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ ( ) Tồn tại trong hoàn cảnh sử dụng của mình, câu đơn đặc biệt tự nó đủ cho người ta hiểu nó" [6, 153] Đây là chỗ câu đơn đặc biệt khác với câu đơn hai thành phần vắng chủ ngữ hay vắng vị ngữ
Cũng theo tác giả Diệp Quang Ban (Sđd), câu đơn đặc biệt được hoàn thành từ một từ, hoặc một cụm từ (trừ cụm chủ - vị) Các từ loại thường gặp ở đây là danh từ và vị từ (động từ, tính từ) Câu đơn đặc biệt thường được phân loại theo bản tính từ loại của từ – thành tố chính Theo đó, câu đơn đặc biệt có thể chia ra thành hai kiểu: câu đặc biệt – danh từ có trung tâm cú pháp chính
là danh từ (câu - D) hoặc cụm danh từ (câu – cụm D); câu đặc biệt – vị từ có trung tâm cú pháp chính là động từ (câu - Đ), tính từ (câu - T) hay cụm động
từ (câu – cụm Đ), cụm tính từ (câu – cụm T)
Ví dụ:
Nhan đề "Mùa xuân nho nhỏ" (Thanh Hải): có cấu tạo là câu – cụm D Nhan đề "Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh" (Lí Bạch): có cấu tạo là câu – cụm Đ
Trang 29* Câu đặc biệt – danh từ có trung tâm cú pháp chính là danh từ, hoặc cụm danh từ (đẳng lập và chính phụ) Ví dụ: "Cô Tô" (Nguyễn Tuân), "Bếp lửa" (Bằng Việt), "Tôi và chúng ta" (Lưu Quang Vũ)
Cụm danh từ tiếng Việt đã được nghiên cứu khá sâu về phương diện cấu tạo cú pháp và phần nào về chức năng nghĩa của các yếu tố trong cụm Các nhà nghiên cứu tiếng Việt đều chấp nhận cấu trúc ba phần sau đây của cụm danh từ: phần chính (trung tâm), phần phụ trước và phần phụ sau Song, theo giáo sư Diệp Quang Ban, "việc nghiên cứu cụm danh từ, còn xem xét sâu hơn chức năng tạo nghĩa của các yếu tố đó" Giáo sư đã thay tên gọi "phần phụ" của danh từ bằng "điều biến tố" (modifier) và thay tên gọi "phần chính" bằng "đầu tố" (head) Điều biến tố được phân biệt phần đứng trước đầu tố (gọi
là tiền điều biến tố) và phần đứng sau đầu tố (gọi là hậu điều biến tố) Các yếu
tố cụ thể của tiền điều biến tố là phân loại, hình dung từ (chất lượng, thái độ), chỉ thị (hạn định) gồm chỉ định và sở hữu
Có thể hình dung cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc nghĩa của một cụm danh từ theo quan điểm của Diệp Quang Ban như sau:
Tiền điều biến tố Đầu tố Hậu điều biến tố
Quy
Phân loại
định) Chất
Các yếu tố cụ thể trong phần điều biến tố của cụm danh từ có nhiệm vụ chung là cụ thể hóa danh từ vốn mang nghĩa rất chung ở vị trí đầu tố Mỗi yếu
tố được thêm vào là một nấc bổ sung về mặt nghĩa Đây chính là sự tác động
Trang 30của mặt kết học đối với mặt nghĩa học của cụm danh từ Sự xuất hiện các yếu
danh từ đó Với cụm danh từ tiếng Việt, sự bổ sung nghĩa của các yếu tố trong điều biến tố nhìn khái quát diễn ra như sau:
Trong tiền điều biến tố, các yếu tố bổ sung nghĩa về mặt số lượng và tăng dần tính khái quát đối với yếu tố xa dần đầu tố
Trong hậu điều biến tố, các yếu tố bổ sung nghĩa về mặt chất lượng và tăng dần tính cụ thể hóa đối với yếu tố xa dần đầu tố
Nhìn tổng quát, ở cụm danh từ tiếng Việt, sự tăng dần tính cụ thể đi theo chiều trước – sau, theo hướng xác định rõ dần vật được nói đến trong cụm từ đó
Ý nghĩa khái quát nhất của câu đặc biệt – danh từ là chỉ sự tồn tại hiển hiện của vật, nêu lên vật, hiện tượng đang bày ra trước mắt hay xuất hiện tại thời điểm đó Ví dụ: nhan đề "Cô Tô" (Nguyễn Tuân) là một câu đặc biệt -danh từ nêu sự tồn tại hiển hiện đang bày ra trước mắt của địa danh Cô Tô
Với ý nghĩa khái quát nêu trên, câu đặc biệt – danh từ thường được dùng trong những trường hợp sau đây:
- Miêu tả sự tồn tại hiển hiện, sự xuất hiện của vật, hiện tượng, nêu hoàn cảnh không gian, thời gian, xác nhận sự hiện diện của một cảm xúc nhằm đưa người đọc vào cương vị người chứng kiến, nhằm làm sống lại những sự vật, cảm xúc ấy Ví dụ: “Sông núi nước Nam”, “Bài ca Côn Sơn”, “Quê hương”
- Nêu sự hiện diện của các hiện tượng thiên nhiên mà trong nhiều trường hợp được dùng làm cái hoàn cảnh nền cho sự kiện khác nêu trong những câu xung quanh Ví dụ: trong đoạn văn "Gió Mưa Não nùng." (Nguyễn Công Hoan) thì hai câu đầu là hai câu đặc biệt – danh từ được dùng với ý nghĩa đó
- Dùng làm câu cảm thán để xác nhận một hiện trạng tâm lý, để nói lên thái độ hay đánh giá tâm trạng hiện hữu liên quan đến vật, hiện tượng được gọi tên bằng danh từ trong câu, hoặc để gọi tên vật như một nhu cầu tâm lí, sinh lí Ví dụ: trong đoạn thơ "Anh với tôi đôi người xa lạ - Tự phương trời
Trang 31chẳng hẹn quen nhau – Súng bên súng, đầu sát bên đầu - Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ - Đồng chí!" (Chính Hữu) thì câu cuối là một câu đặc biệt – danh từ dùng làm câu cảm thán nói lên niềm xúc động thiêng liêng trước tình cảm đồng chí đồng đội
- Dùng làm lời gọi Ví dụ: trong đoạn văn sau “Phượng quay ngoắt về sau, reo to: Chị Hoài! Chị Hoài lên, anh Đông, chị Lí, anh Luận ơi!” (Ma Văn Kháng) thì câu gọi “Chị Hoài!” là câu đặc biệt - danh từ
- Dùng làm biển đề tên các cơ quan, địa điểm, cần cho người ta biết, tên các báo, tạp chí, sách Ví dụ: tên “Trường Đại học Hải Phòng” là câu đặc biệt - danh từ
Những câu “Hà Nội Mùa đông 1972” Ghi trong nhật kí là câu đặc biệt- danh từ
* Câu đặc biệt - vị từ thường được dùng với các ý nghĩa khái quát sau: chỉ sự tồn tại hiển hiện; chỉ sự tồn tại khái quát; chỉ sự tồn tại định vị; chỉ sự xuất hiện và tiên biến của sự tình Với 4 kiểu ý nghĩa khái quát này, câu đăc biệt – vị từ thường được dùng trong những trường hợp sau đây:
- Miêu tả sự tồn tại hiển hiện, sự xuất hiện của sự kiện, xác nhận sự hiện diện của trạng thái, nhằm làm sống lại hành động, trạng thái, làm cho chúng có vẻ như đang diễn ra trước mắt người đọc, người nghe: “Treo biển”
“Đeo nhạc cho mèo”, “Phò giá về kinh”, “Ngắm trăng”
- Miêu tả sự kiện bức tranh tĩnh vật: "Tức cảnh Pác Bó"
- Ghi nhận sự xuất hiện và tiêu biến của sự vật (thường bất ngờ): "ùng
Trang 32được phục hồi để cho câu được trọn vẹn một cách tự nhiên." [8,278] Ví
Tất Tố) bị tỉnh lược chủ ngữ Trong ngôn ngữ nghệ thuật, hiện tượng tỉnh lược được dùng như là một trong những biện pháp tu từ
1.2.2.2 Bình diện nghĩa học của câu
Ở đây, chúng tôi quan tâm đến lí thuyết về bình diện ngữ nghĩa của câu Đây là vấn đề có liên quan đến nhan đề các bài Đọc văn trong chương trình Ngữ văn THCS sẽ được nghiên cứu ở chương 2 Nghĩa của câu "được tách một cách ước định ra ngoài văn cảnh và tình huống phát ngôn" [21,9] Nghĩa này gồm nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả) và nghĩa lô-gích ngôn từ
a Nghĩa biểu hiện của câu
"Nghĩa biểu hiện là mặt nghĩa phản ánh một sự tình" [21,9]
Căn cứ vào ý nghĩa của vị tố, ta xác định loại câu đơn hai thành phần có bốn kiểu nghĩa ứng với bốn kiểu nghĩa biểu hiện: câu hành động biểu hiện ý nghĩa hành động, câu quá trình biểu hiện ý nghĩa quá trình, câu trạng thái biểu hiện ý nghĩa trạng thái, câu quan hệ biểu hiện ý nghĩa quan hệ
Câu đơn đặc biệt biểu hiện ý nghĩa tồn tại
Câu đặc biệt – danh từ mang ý nghĩa biểu hiện "nhận định rằng có một cái gì đó"tồn tại" "ở đâu đó", nhấn mạnh vào thực thể "Cái gì tồn tại ở đâu đó" là "con người", là "vật", là không gian, thời gian, thiên nhiên, "một vấn đề của cuộc sống", của văn học, là cảm xúc, tâm trạng, cảnh ngộ, là một thể loại văn bản gắn với chủ đề văn bản đó Ví dụ: nhan đề "Những câu hát than thân"
là câu – cụm D biểu hiện sự tồn tại của thể loại ca dao gắn với chủ đề "than thân" của văn bản trong sách Ngữ văn 7 Câu đặc biệt – danh từ có các yếu tố ngôn ngữ mang nghĩa biểu hiện khác nhau ở các vị trí khác nhau trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của chúng như vị trí đầu tố có nghĩa chỉ vật; trước đầu tố
là các vị trí mang nghĩa tổng lượng, nghĩa số lượng, nghĩa đặc chỉ, nghĩa quy loại; sau đầu tố là các vị trí có nghĩa phân loại, chất lượng, thái độ, chỉ định,
Trang 33sở hữu Đây là hệ thống các nét nghĩa biểu hiện làm nên nghĩa biểu hiện sự
tồn tại của một cái gì đó rất phong phú ở câu đặc biệt – danh từ
Câu đặc biệt – vị từ mang ý nghĩa biểu hiện "nhận định rằng có một sự tình" tồn tại, nhấn mạnh vào đặc trưng, vào một sự tình tồn tại Muốn biết sự tình tồn tại đó là gì thì phải xem xét ý nghĩa tồn tại của vị từ và các tham tố (gồm chu tố và diễn tố) Vị từ có thể chỉ sự tồn tại của hành động (hành động vật lí, hành động tâm li hoặc hành động vừa có tính chất vật lí vừa có tính chất tâm lí)
Ví dụ về ý nghĩa biểu hiện của nhan đề có cấu tạo là câu đặc biệt – vị từ: Nhan đề “Qua Đèo Ngang” (hành động vật lí: qua)
Nhan đề “Nhớ rừng” (hành động tâm lí: nhớ)
Đọc hiểu văn bản văn học (hành động vừa có tính chất vật lí vừa có tính chất tâm lí) Vị từ chỉ sự tồn tại của trạng thái, tính chất, ví dụ: "Sống chết mặc bay"
Theo Cao Xuân Hạo, trong nghĩa biểu hiện của câu cũng phải xét đến tham tố Tham tố của vị từ có hai loại: diễn tố và chu tố "Diễn tố là tham tố của vị từ tham gia vào nội dung biểu hiện của khung ngữ vị từ" [21,113]; chu tố là tham tố "không nhất thiết phải có mặt để cho sự tình
có thể được gọi tên bằng các vị từ trung tâm" [21,114] hoặc phần đề Xét mặt nghĩa học của câu thơ, theo Cao Xuân Hạo, còn phải chú ý đến nghĩa lôgích – ngôn từ
b Nghĩa lôgích – ngôn từ của câu
" Nghĩa lôgích – ngôn từ là cách trình bày sự hình thành một nhận định có sở đề (điểm xuất phát) và sở thuyết (nội dung của sự nhận định)" [21,9]
Thúy Kiều báo ân báo oán
Trang 341.2.2.3 Bình diện dụng học của câu
Ở cấp độ câu, bình diện dụng học xem xét mặt nội dung được câu biểu đạt trong quan hệ với người nói (viết), người nghe (đọc); trong quan hệ với hoàn cảnh sử dụng cụ thể; trong một văn cảnh nhất định "Nó gồm có tất cả những gì hiện rõ ra khi câu được nói ra do một người cụ thể trong một tình huống cụ thể, hay được đặt trong một văn cảnh nhất định"[21,10]
Luận văn này quan tâm đến những nội dung sau trong mặt dụng học của câu:
a Nghĩa chiếu vật của câu
Sự tương ứng với một biểu thức chiếu vật là nghĩa chiếu vật (nghĩa sở chỉ) của biểu thức đó
Tùy theo sự vật- nghĩa chiếu vật ở đâu so với diễn ngôn mà có hai loại nghĩa chiếu vật: nghĩa chiếu vật ngoại chỉ và nghĩa chiếu vật nội chỉ Tùy theo
sự vật- nghĩa chiếu vật là cái gì mà có các dạng nghĩa chiếu vật: chiếu vật cá thể, chiếu vật loại, chiếu vật một số; chiếu vật sự vật, chiếu vật hoạt động, chiếu vật trạng thái
Nghĩa chiếu vật ngoại chỉ là loại nghĩa chiếu vật chỉ ra sự vật- nghĩa chiếu vật ở ngoài diễn ngôn, ngoài phát ngôn, chưa được vào diễn ngôn, phát ngôn
Nghĩa chiếu vật nội chỉ là loại nghĩa chiếu vật nêu ra các sự vật, hiện tượng đã được đưa vào diễn ngôn, có thể là những yếu tố ngôn ngữ, những nội dung tạo nên diễn ngôn
Để hiểu được nghĩa của diễn ngôn, trước hết phải xác định nghĩa chiếu vật của các biểu thức chiếu vật trong diễn ngôn đó Trong ví dụ “Con mua chiếc áo len xanh này để tặng mẹ” có các biểu thức chiếu vật “Con”, “chiếc
áo len xanh này”, “mẹ”, “mua” Biểu thức “Con” có nghĩa chiếu vật chỉ con người, biếu thức “chiếc áo len xanh này” có nghĩ chiếu vật chỉ chiếc áo len, biểu thức “mẹ” có nghĩa chiếu vật chỉ người mẹ, biểu thức “mua” có nghĩa chiếu vật chỉ hành động mua ngoài diễn ngôn Trong nhan đề “Thầy bói xem voi” có biểu thức chiếu vật “Thầy bói”, “xem”, “voi” Các biểu thức chiếu vật
Trang 35“Thầy bói”, “xem”, “voi” cũng có nghĩa chiếu vật là các sự vật, hành động ngoài phát ngôn Cả nhan đề “Thầy bói xem voi” là một biểu thức chiếu vật
có nghĩa chiếu vật nội chỉ là cả phần văn bản tiếp sau nhan đề đó
b Giá trị thông báo của các bộ phận trong câu
Trong hoạt động giao tiếp, câu có giá trị thông báo, thông tin Đó là quá trình tương tác giữa cái đã biết (cái cho sẵn, cái có thể dự đoán, cái cũ) và cái mới Đơn vị thông báo là một kết cấu được tạo từ cái mới và cái cũ Trong một thông báo, thông tin được người nói thể hiện như thể có thể phục hồi được là thông tin cũ đối với người nghe và thông tin được người nói thể hiện như thể không phục hồi được là thông tin mới Ví dụ:
- Ngày mai, ai đi Hà Nội?(a)
- Ngày mai, tôi đi Hà Nội (b)
Trong (b), thông tin cũ là "ngày mai", "đi Hà Nội", thông tin mới là
"tôi" Về hình thức biểu hiện, mỗi đơn vị thông báo bao gồm một yếu tố cho sẵn kèm theo một yếu tố mới (dạng lý tưởng); hoặc là những yếu tố cho sẵn bị tỉnh lược, còn lại hầu hết chỉ là những từ ngữ mang thông tin mới
Ví dụ: - Ngày mai, ai đi Hà Nội?
là phần ngữ liệu mới trong câu Trong giao tiếp, tiêu điểm có thể được đánh dấu bằng nét mặt, cử chỉ, điệu bộ ; hoặc thường bằng các phương tiện ngôn ngữ như điểm nhấn giọng trong ngữ điệu và một số yếu tố ngôn
Trang 36ngữ phụ trợ để phân cách các thành phần trong cấu trúc thông báo, nhấn
mạnh phần tin mới( h từ tình thái: chính, đích thị, ngay cả; quan hệ từ :
nhưng, mà, là; các phụ từ : hãy, đừng, chớ; các từ có ý nghĩa cầu khiến
như : hỏi, tuyên bố, đề nghị, khuyên, ) Ví dụ: trong câu "ngay cả anh
cũng không biết việc này!" tiêu điểm là "ngay cả" nhấn mạnh vào tin mới
là "anh" Trong nhan đề "Nhưng nó phải bằng hai mày", quan hệ từ
"nhưng" nhấn mạnh vào tin mới là "nó phải bằng hai mày" Ở mỗi nhan
đề "Những câu hát về tình cảm gia đình", "Những câu hát than thân",
"Những câu hát châm biếm" có sự tương tác về thông tin cũ, mới Phần cho trước, phần thông tin cũ là "Những câu hát" , đã được học ở bậc học dưới Phần thông tin mới, chưa biết, cần được làm rõ là các yếu tố "tình cảm gia đình", "than thân", "châm biếm"
c Giá trị ngôn trung của câu
Giá trị ngôn trung của câu chính là tác dụng của hành động ở lời (hành động ngôn trung) mà người nói nhằm tới Giá trị ngôn trung của câu thể hiện các hành động ở lời trình bày là kể, tự sự, miêu tả, mách, tường thuật, báo cáo, thuyết minh, lập biên bản, tường trình, tố cáo, khai, khai báo; khoe, kết luận, quy nạp, tổng kết, tóm tắt, dặn, nhắc, Ví dụ, câu- nhan đề "Cây tre Việt Nam" có giá trị miêu tả, câu- nhan đề "Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh" có giá trị tường thuật Giá trị ngôn trung của câu thể hiện các hành động ở lời điều khiển là ra lệnh, sai, sai khiến, bảo, yêu cầu, đề nghị, xin phép, cho phép, chỉ, khuyên, chỉ thị, kiến nghị, khuyến nghị, chỉ định; hỏi, tra Ví dụ, câu nhan
đề "Chiếu dời đô" có giá trị chỉ thị, yêu cầu Giá trị ngôn trung của câu thể hiện các hành động ở lời cam kết là hứa, cam đoan, cam kết, giao ước, bảo đảm, thỏa thuận Giá trị ngôn trung của câu thể hiện các hành động ở lời biểu cảm là cảm thán, than thở, thán phục, trầm trồ; cảm ơn, xin lỗi, ân hận, lấy làm tiếc, khen, chê Ví dụ, câu- nhan đề "Lợn cưới, áo mới" có giá trị châm biếm Giá trị ngôn trung của câu thể hiện các hành động ở lời tuyên bố là
Trang 37tuyên bố, tuyên án, buộc tội Chẳng hạn, câu- nhan đề "Tuyên bố với thế giới về
sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em" có giá trị tuyên bố
Giá trị ngôn trung của câu có thể không tương ứng với hình thức của câu: câu trần thuật có thể có giá trị như một mệnh lệnh, câu hỏi có thể có giá trị như một lời yêu cầu hay một sự phản bác tùy tình huống phát ngôn, văn cảnh và quan hệ giữa những người đối thoại Ví dụ: câu hỏi "Những người muôn năm cũ- Hồn ở đâu bây giờ?" không nhằm mục đích đòi hỏi người đọc hoặc ai đó phải trả lời mà gieo vào lòng người đọc những cảm thương tiếc nuối không dứt
d Nghĩa hàm ẩn cố ý (nghĩa hàm ẩn không tự nhiên) của câu
Trong một phát ngôn, nghĩa hàm ẩn là phần ý nghĩa nhờ suy ý (dựa vào ngữ cảnh, ngôn cảnh; vào các quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại) mới nắm bắt được Dựa vào chức năng của các ý nghĩa hàm ẩn trong diễn ngôn (là đối tượng hay không phải đối tượng của diễn ngôn), ta có các ý nghĩa hàm ẩn tự nhiên và hàm ẩn không tự nhiên (hàm ẩn cố ý) Ý nghĩa hàm ẩn tự nhiên là những ý nghĩa được suy ra một cách ngẫu nhiên Ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên là ý nghĩa được truyền đạt một cách có ý định (nằm trong ý định của người nói và ý định đó phải được người nghe nhận biết)
Các ý nghĩa hàm ẩn cố ý được tạo ra nhờ dựa vào tất cả các quy tắc ngữ dụng từ quy tắc chiếu vật và chỉ xuất, quy tắc chi phối hành vi ngôn ngữ, quy tắc lập luận cho đến quy tắc hội thoại Muốn tạo ra được ý nghĩa hàm ẩn cố ý, người nói một mặt phải tôn trọng các quy tắc này và giả định rằng người nghe cũng biết tôn trọng chúng, mặt khác lại cố ý vi phạm chúng và giả định rằng người nghe cũng ý thức được chỗ vi phạm đó của mình Chẳng hạn, nghĩa hàm ẩn cố ý sẽ xuất hiện khi trong phát ngôn có sự vi phạm nguyên tắc chiếu vật và chỉ xuất, vi phạm các quy tắc lập luận, vi phạm các quy tắc hội thoại, vi phạm phương châm cộng tác hội thoại, hoặc sử dụng các hành động ngôn ngữ gián tiếp Ví dụ: nhan đề truyện “ Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê
Trang 38có ý nghĩa tường minh đó là những ngôi sao của trời đất, của vũ trụ xa thẳm Đọc truyện này, ta thấy cả tác phẩm không kể và tả về những ngôi sao của vũ trụ mà tập trung kể, tả về cuộc sống, cuộc chiến đấu gian khổ , hi sinh của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến lửa Trường Sơn thời chống
Mĩ cứu nước Đó là những cô gái có tinh thần dũng cảm, can trường, tâm hồn trong sáng, mộng mơ, lạc quan Như thế, tác giả đã cố tình vi phạm nguyên tắc lập luận: “luận cứ một đằng, kết luận một nẻo” Nhan đề “Những ngôi sao
xa xôi” trở thành một hình ảnh ẩn dụ cho vẻ đẹp tự nhiên, hồn nhiên, trong sáng, rực rỡ, cao cả của tuổi trẻ, của con người Việt Nam thời chống Mĩ Đó chính là hàm ẩn cố ý của nhan đề này
1.3 Tổng quan về bài Đọc văn trong chương trình Ngữ văn bậc THCS hiện hành
1.3.1 Vị trí và tính chất của các bài Đọc văn trong chương trình Ngữ văn bậc THCS hiện hành
Các bài Đọc văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường THCS, góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho họ hoặc ra đời, hoặc tiếp tục học lên ở bậc học cao hơn Đó là những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết thương yêu, quý trọng gia đình, bè bạn; có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải,
sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp Đó cũng là những người có ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Các bài Đọc văn cho học sinh nắm được những tri thức về các kiểu văn bản thường dùng: văn bản tự sự, văn bản miêu tả, văn bản biểu cảm, văn bản lập luận, văn bản thuyết minh và văn bản điều hành, đồng thời nắm được những tri thức thuộc cách thức lĩnh hội và tạo lập các kiểu văn bản đó; cho
Trang 39học sinh nắm được một số khái niệm và thao tác phân tích tác phẩm văn học,
có được những tri thức sơ giảm về thi pháp, về lịch sử văn học Việt Nam song trước hết là nắm được một số tác phẩm văn học ưu tú của Việt Nam và thế
Sách Ngữ văn bậc THCS tổ chức dạy học theo tinh thần tích hợp, lấy các kiểu văn bản làm nơi gắn bó ba phân môn; vì thế các bài Đọc văn lựa chọn phải vừa tiêu biểu cho các thể loại ở các thời kì lịch sử văn học, vừa đáp ứng tốt cho việc dạy các kiểu văn bản trong Tiếng Việt và Tập làm văn Ví dụ: Trọng tâm của chương trình Ngữ văn 6 là văn bản tự sự , miêu tả cho nên việc lựa chọn bài Đọc văn phụ thuộc vào hai loại văn bản chủ đạo (nói đúng ra là hai loại văn bản dùng các phương thức tự sự và miêu tả là chủ yếu) Những tác phẩm khác dù hay nhưng thể hiện không rõ các phương thức biểu đạt này thì cũng chưa lựa chọn
Tương ứng với các kiểu văn bản ở trên, các bài Đọc văn dựa vào thể loại tác phẩm để tổ chức dạy học (chứ không theo lịch sử văn học) Ví dụ: Trọng tâm của chương trình Ngữ văn 6 là văn bản tự sự với các thể loại như: truyện dân gian (truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn), truyện trung đại, truyện hiện đại, kí hiện đại, vì thế khi biên soạn chủ yếu là lựa chọn các tác phẩm văn xuôi, ngay cả tác phẩm thơ thì cũng chọn những bài thơ có nhiều yếu tố miêu tả và tự sự Trọng tâm Ngữ văn 7 lại là các văn bản biểu cảm và văn bản lập luận, cho nên khi biên soạn, chủ yếu lựa chọn các thể loại trữ tình trong văn học như thơ trữ tình, tùy bút, các tác phẩm nghị luận nổi tiếng Lên lớp 8 và lớp 9, các kiểu văn bản và các thể loại tiêu biểu cho các thời kì lịch sử văn học lại được tuyển chọn và học kĩ hơn, mở rộng hơn Trong toàn bộ chương trình Ngữ văn THCS, các bài Đọc văn là các văn bản khoa học như nhóm bài Chương trình địa phương, nhóm bài tổng kết, ôn tập dù số lượng không nhiều nhưng đã được phân bố đều trong toàn bộ chương trình để học sinh được tổng hợp kiến thức, bổ sung kiến thức văn học
Trang 40địa phương, được kiểm tra đánh giá quá trình học tập của bản thân đối với bộ môn Ngữ văn
1.3.2 Các loại bài Đọc văn trong chương trình Ngữ văn bậc THCS hiện hành
Các bài Đọc văn trong chương trình Ngữ văn bậc THCS xoay quanh sáu kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận (nghị luận), thuyết minh
và điều hành (hành chính – công vụ) Trên thực tế, không bao giờ có một tác phẩm chỉ dùng một phương thức biểu đạt Như ở “Cố hương” của Lỗ Tấn, ta thấy có ít nhất là bốn phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận Người dạy phải làm thế nào cho người học thành thạo bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết; năng lực tiếp nhận và tạo lập sáu kiểu văn bản nói trên
Với phần Đọc văn , con đường tốt nhất để phối hợp với việc giảng dạy các kiểu văn bản là sắp xếp tác phẩm theo hệ thống thể loại (truyện, kí, văn xuôi, tiểu thuyết, thơ, kịch) Ví dụ, ứng với kiểu văn bản tự sự được dạy (vòng I) đầu lớp 6 là các loại truyện dân gian (truyền thuyết, truyện cổ tích,
và truyện trung đại đều dùng phương thức biểu đạt tự sự; ứng với kiểu văn bản biểu cảm sẽ được dạy ở đầu lớp 7 là thơ ca dân gian, thơ trữ tình trung đại Việt Nam, thơ Đường, vì về cơ bản, các loại thơ đó đều dùng phương thức biểu đạt trữ tình,
Ở lớp 6,7, tuy không có bài khái quát văn học sử Việt Nam nào, nhưng trong việc giảng dạy theo cụm bài thể loại, ít nhiều vẫn có sự chuẩn bị cho học sinh những kiến thức về tác phẩm theo trình tự văn học sử Ví dụ, ở lớp 6
là trình tự từ truyện dân gian (bao gồm các thể loại: truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười) đến truyện trung đại, truyện hiện đại, thơ hiện đại, kí hiện đại Ở đây, tuy có xen vào một số văn bản tác phẩm nước ngoài, nhưng về sau, vẫn có thể tách chúng ra khi cần tổng kết về văn học sử Việt Nam
Ở lớp 8,9 vẫn không có những bài khái quát như sách giáo khoa chỉnh
lí, những việc giảng dạy văn bản tác phẩm vẫn được tiến hành theo thể loại và theo trình tự văn học sử Việt Nam Như vậy, có thể dựa vào vốn kiến thức tác