Các bài Đọc văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường THCS, góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho họ hoặc ra đời, hoặc tiếp tục học lên ở bậc học cao hơn. Đó là những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết thương yêu, quý trọng gia đình, bè bạn; có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác. Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật, trước hết là trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp. Đó cũng là những người có ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Các bài Đọc văn cho học sinh nắm được những tri thức về các kiểu văn bản thường dùng: văn bản tự sự, văn bản miêu tả, văn bản biểu cảm, văn bản lập luận, văn bản thuyết minh và văn bản điều hành, đồng thời nắm được những tri thức thuộc cách thức lĩnh hội và tạo lập các kiểu văn bản đó; cho
học sinh nắm được một số khái niệm và thao tác phân tích tác phẩm văn học, có được những tri thức sơ giảm về thi pháp, về lịch sử văn học Việt Nam song trước hết là nắm được một số tác phẩm văn học ưu tú của Việt Nam và thế giới tiêu biểu cho những thể loại quen thuộc.
Sách Ngữ văn bậc THCS tổ chức dạy học theo tinh thần tích hợp, lấy các kiểu văn bản làm nơi gắn bó ba phân môn; vì thế các bài Đọc văn lựa chọn phải vừa tiêu biểu cho các thể loại ở các thời kì lịch sử văn học, vừa đáp ứng tốt cho việc dạy các kiểu văn bản trong Tiếng Việt và Tập làm văn. Ví dụ:
Trọng tâm của chương trình Ngữ văn 6 là văn bản tự sự , miêu tả cho nên việc lựa chọn bài Đọc văn phụ thuộc vào hai loại văn bản chủ đạo (nói đúng ra là hai loại văn bản dùng các phương thức tự sự và miêu tả là chủ yếu). Những tác phẩm khác dù hay nhưng thể hiện không rõ các phương thức biểu đạt này thì cũng chưa lựa chọn.
Tương ứng với các kiểu văn bản ở trên, các bài Đọc văn dựa vào thể loại tác phẩm để tổ chức dạy học (chứ không theo lịch sử văn học). Ví dụ:
Trọng tâm của chương trình Ngữ văn 6 là văn bản tự sự với các thể loại như:
truyện dân gian (truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn), truyện trung đại, truyện hiện đại, kí hiện đại, vì thế khi biên soạn chủ yếu là lựa chọn các tác phẩm văn xuôi, ngay cả tác phẩm thơ thì cũng chọn những bài thơ có nhiều yếu tố miêu tả và tự sự. Trọng tâm Ngữ văn 7 lại là các văn bản biểu cảm và văn bản lập luận, ... cho nên khi biên soạn, chủ yếu lựa chọn các thể loại trữ tình trong văn học như thơ trữ tình, tùy bút, các tác phẩm nghị luận nổi tiếng. Lên lớp 8 và lớp 9, các kiểu văn bản và các thể loại tiêu biểu cho các thời kì lịch sử văn học lại được tuyển chọn và học kĩ hơn, mở rộng hơn . Trong toàn bộ chương trình Ngữ văn THCS, các bài Đọc văn là các văn bản khoa học như nhóm bài Chương trình địa phương, nhóm bài tổng kết, ôn tập dù số lượng không nhiều nhưng đã được phân bố đều trong toàn bộ chương trình để học sinh được tổng hợp kiến thức, bổ sung kiến thức văn học
địa phương, được kiểm tra đánh giá quá trình học tập của bản thân đối với bộ môn Ngữ văn.
1.3.2. Các loại bài Đọc văn trong chương trình Ngữ văn bậc THCS hiện hành Các bài Đọc văn trong chương trình Ngữ văn bậc THCS xoay quanh sáu kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận (nghị luận), thuyết minh và điều hành (hành chính – công vụ). Trên thực tế, không bao giờ có một tác phẩm chỉ dùng một phương thức biểu đạt. Như ở “Cố hương” của Lỗ Tấn, ta thấy có ít nhất là bốn phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận.
Người dạy phải làm thế nào cho người học thành thạo bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết; năng lực tiếp nhận và tạo lập sáu kiểu văn bản nói trên.
Với phần Đọc văn , con đường tốt nhất để phối hợp với việc giảng dạy các kiểu văn bản là sắp xếp tác phẩm theo hệ thống thể loại (truyện, kí, văn xuôi, tiểu thuyết, thơ, kịch). Ví dụ, ứng với kiểu văn bản tự sự được dạy (vòng I) đầu lớp 6 là các loại truyện dân gian (truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười), truyện trung đại, vì về cơ bản, truyện dân gian và truyện trung đại đều dùng phương thức biểu đạt tự sự; ứng với kiểu văn bản biểu cảm sẽ được dạy ở đầu lớp 7 là thơ ca dân gian, thơ trữ tình trung đại Việt Nam, thơ Đường,... vì về cơ bản, các loại thơ đó đều dùng phương thức biểu đạt trữ tình,...
Ở lớp 6,7, tuy không có bài khái quát văn học sử Việt Nam nào, nhưng trong việc giảng dạy theo cụm bài thể loại, ít nhiều vẫn có sự chuẩn bị cho học sinh những kiến thức về tác phẩm theo trình tự văn học sử. Ví dụ, ở lớp 6 là trình tự từ truyện dân gian (bao gồm các thể loại: truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười) đến truyện trung đại, truyện hiện đại, thơ hiện đại, kí hiện đại. Ở đây, tuy có xen vào một số văn bản tác phẩm nước ngoài, nhưng về sau, vẫn có thể tách chúng ra khi cần tổng kết về văn học sử Việt Nam.
Ở lớp 8,9 vẫn không có những bài khái quát như sách giáo khoa chỉnh lí, những việc giảng dạy văn bản tác phẩm vẫn được tiến hành theo thể loại và theo trình tự văn học sử Việt Nam. Như vậy, có thể dựa vào vốn kiến thức tác
phẩm đã có qua hai vòng (vừa theo hệ thống thể loại vừa theo trình tự lịch sử), tiến hành khái quát chung về văn học sử Việt Nam theo phương pháp quy nạp, với mức độ hợp lí.
Trong các bài ôn tập, tổng kết cùng với việc củng cố nhân thức về các khái niệm lí luận văn học, học sinh cũng có thể khái quát sơ bộ về một số vấn đề của văn học sử. Do yêu cầu gắn với cuộc sống nên một số văn bản nhật dụng được đưa vào sách Ngữ văn. Những văn bản này chủ yếu được lựa chọn theo nội dung (chủ đề và đề tài). Trọng tâm của các văn bản nhật dụng trong sách Ngữ văn 6 là vấn đề môi trường, di tích lịch sử và các danh lam thắng cảnh.
Với lớp 7 là các chủ đề về nhà trường, người mẹ, quyền trẻ em và vấn đề văn hóa, giáo dục... Lên lớp 8, học sinh sẽ được tiếp xúc với các văn bản có chủ đề bảo vệ môi trường, dân số, bài trừ nạn thuốc lá, ma túy, về tương lai dân tộc, thế giới. Cuối cùng Ngữ văn 9 sẽ giới thiệu với học sinh một số vấn đề về quyền sống con người, vấn đề bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh, vấn đề hội nhập và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Phần Đọc thêm cung cấp thêm tác phẩm và có phần Hướng dẫn đọc thêm. Nhưng thực tế, số đông học sinh đã không đọc thêm do phần này quá nhiều, lại không liên quan gì đến chuyện kiểm tra, thi cử. Với sách giáo khoa tích hợp, nội dung Đọc thêm không chỉ là tác phẩm văn học hoặc đoạn trích mà còn có thể là kiến thức đa dạng khác có th ể bổ trợ mặt này, mặt khác cho việc nâng cao nh ận thức văn bản tác phẩm được học ở mức gọn nhẹ và hấp dẫn, phù hợp với học sinh THCS.
Cho đến nay, hầu hết các văn bản được đưa ra giảng trong nhà trường đều là tác phẩm văn chương. Mục tiêu môn Ngữ văn cũng như phương hướng tích hợp đòi hỏi học sinh phải tiếp xúc với những loại văn đa dạng hơn và tất cả đều gọi chung là văn bản. Dĩ nhiên phần lớn vẫn là tác phẩm văn chương, song bên cạnh, sẽ có một số văn bản thuộc loại văn bản nghị luận (xã hội và văn học) và văn bản nhật dụng.
Có thể nhận thấy, nhà biên soạn phải rất thận trọng khi tuyển chọn các đơn vị kiến thức đưa vào giảng dạy ở một bậc học trong nhà trường. Nội dung, hình thức, dung lượng các bài Đọc phải được kiểm soát chặt chẽ phục vụ mục tiêu, yêu cầu, phương pháp giảng dạy phù hợp với học sinh, với giáo viên trong điều kiện hiện nay. Mọi yếu tố của bài Đọc văn trong đó có nhan đề bài Đọc phải gắn bó chặt chẽ với nhau và phải định hướng vào nhiệm vụ chung của chương trình, sách giáo khoa hiện hành.
Các bài Đọc văn khác ngoài chương trình giảng dạy hết sức đa dạng, phức tạp về nội dung, hình thức, số lượng, dung lượng... Những bài học đó không bị quy định bó buộc chặt chẽ nghiêm ngặt về nhiều mặt như bài đọc trong chương trình dạy học. Người đọc có thể lựa chọn, tìm đọc sách này, sách kia tự do thoải mái mà không bị bắt buộc phải học như bài Đọc văn trong chương trình.
Tiểu kết chương 1
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các mặt kết học, nghĩa học và một số kiến thức về dụng học của nhan đề bài Đọc văn bậc trung học cơ sở.
Để có cơ sở lí luận nghiên cứu đối tượng này, chương 1 đã đề cập đến một số vấn đề lí thuyết sau:
- Lí thuyết chung về nhan đề văn bản như khái niệm các thuật ngữ tiêu đề, đầu đề, tên bài, tít bài, nhan đề văn bản; đặc điểm, vai trò quan trọng của nhan đề văn bản trong quan hệ với tác giả, độc giả và với chính văn bản. Qua đó cho thấy nhan đề trong vai trò là một tín hiệu ngôn ngữ trung tâm của văn bản cùng một lúc đảm nhiệm nhiều chức năng, thể hiện nhiều đặc điểm phong cách ngôn ngữ, mang đậm phong cách cá nhân của người viết. Nhan đề vừa có tác dụng hướng nội, vừa có tác dụng hướng ngoại, vừa có tính độc lập, gợi mở bao điều thú vị, thu hút người đọc; đồng thời khẳng định việc tìm hiểu nhan đề là một trong những phương pháp tiếp cận văn bản hữu hiệu.
- Những lí thuyết về ngữ dụng học có liên quan đến đề tài ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học của tín hiệu ngôn ngữ và của câu. Từ những lí thuyết trên, luận văn đã vận dụng, cụ thể hóa bằng việc đi sâu vào xem xét phân tích các vấn đề có liên quan trong các chương 2, chương 3.
- Luận văn trình bày cái nhìn tổng quan về bài Đọc văn trong chương trình Ngữ văn bậc THCS hiện hành. Sách giáo khoa mới lựa chọn và đưa vào một số văn bản hay hơn, tiêu biểu và phù hợp hơn do yêu cầu của chương trình trong giai đoạn mới đồng thời lược bỏ những nội dung phức tạp, không mang lại nhiều ích dụng cho học sinh. Bên cạnh đó chú ý tính chất gắn bó với cuộc sống hằng ngày bằng cách đưa vào một số bài Đọc có tương ứng với các kiểu văn bản có nội dung gần gũi với cuộc sống hiện tại, một số vấn đề cấp thiết mà cả cộng đồng dân tộc và thế giới quan tâm (các loại bài Đọc là các văn bản nhật dụng, văn bản khoa học). Trong đó, các nhà biên soạn đặc biệt quan tâm tới việc lựa chọn các bài Đọc có nhan đề
phù hợp với thể loại, nội dung văn bản, nhắm đáp ứng mục tiêu giảng dạy theo chuẩn kiến thức, kĩ năng.
Tất cả những lí thuyết trên là cơ sở lí luận để luận văn tiến hành khảo sát, nghiên cứu từng mặt kết học, nghĩa học, dụng học của nhan đề bài Đọc văn bậc THCS và phân tích việc thực hiện các chức năng giao tiếp của các nhan đề. Những nhiệm vụ này sẽ được trình bày trong các chương 2, chương 3 tiếp theo.
Chương 2