Chức năng định hướng về kiến thức, kĩ năng của nhan đề trong các loại bài Đọc văn

Một phần của tài liệu Luận văn thạc sĩ Nhan đề bài đọc văn bậc trung học cơ sở (Trang 75 - 98)

Chương 2 Chương 2 BÌNH DIỆN KẾT HỌC, NGHĨA HỌC CỦA NHAN ĐỀ

3.3. Chức năng định hướng về kiến thức, kĩ năng của nhan đề trong các loại bài Đọc văn

Về kiến thức, các bài Đọc văn yêu cầu cho học sinh nắm được một số khái niệm và thao tác phân tích tác phẩm văn học, thao tác tổng hợp kiến thức qua các bài Đọc khoa học, có được những tri thức sơ giản về thi pháp, về lịch sử văn học Việt Nam, song trước hết là nắm được một số tác phẩm văn học ưu tú của Việt Nam và thế giới tiêu biểu cho những thể loại quen thuộc. Chương trình tiếp tục khẳng định dạy tác phẩm là chủ yếu, nói cụ thể hơn, đó là những là tác phẩm tiêu biểu cho những thể loại quen thuộc, bên cạnh đó là các bài văn học địa phương, tổng kết nội dung chương trình từ các văn bản văn chương nghệ thuật. Bởi vậy, nếu có rèn thao tác phân tích tác phẩm văn học, thao tác tổng hợp, có dạy những tri thức sơ giản về thi pháp, về lịch sử văn học thì hướng ưu tiên vẫn là gắn với các thể loại.

Có thể nhận thấy, mạch kiến thức của các bài Đọc văn xuyên suốt, thống nhất từ lớp 6 đến lớp 9. Các chủ đề cụ thể của chương trình theo phân môn ở từng lớp được sắp xếp một cách hệ thống theo cấp học phù hợp với lôgic phát triển tâm lí và khả năng nhận thức của học sinh. Sự phát triển các mạch kiển thức đều theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp tạo điều kiện cho học sinh củng cố, ôn luyện nắm vững kiến thức, từng bước nâng cao kĩ năng tư duy. Thông qua đó góp phần phát triển khả năng tự học, làm quen với việc tự nghiên cứu của học sinh.

Về kĩ năng, các bài Đọc văn nhấn mạnh việc học sinh có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, kĩ năng tổng hợp thâu tóm vấn đề, kĩ năng nghe và nói- đặt và trả lời câu hỏi người khác; trao đổi, thảo luận về một vấn đề. Từ đó, vận dụng kĩ năng này vào việc ghi chép các bài học; bước đầu có năng lực cảm nhận và bình giá văn học, rèn kĩ năng của bộ môn là nghe, nói, đọc, viết để học sinh có ý thức, thái độ nghiêm túc trong học tập, trong giao tiếp, ứng xử. Học sinh còn được rèn kĩ năng đọc một cách diễn cảm, cách hiểu được nội dung của đoạn, của bài, từng bước nắm được giá trị nghệ thuật, ý nghĩa thẩm mỹ của tác phẩm văn học và tư tưởng tình cảm của tác giả.

Qua mỗi bài học, học sinh có thể liên hệ nội dung văn bản với hiện thực và đời sống cá nhân; có năng lực vận dụng các thao tác tư duy đề so sánh, phân tích, tổng hợp, rút ra kết luận để có quyết định phù hợp với những vấn đề đặt ra trong đời sống. Bên cạnh đó học sinh còn ứng dụng kĩ năng đọc vào việc đọc thuộc và tra cứu tài liệu

3.3.1. Nhan đề bài Đọc văn và định hướng kiến thức, kĩ năng loại văn chương nghệ thuật

Trong toàn bộ các bài Đọc văn của bậc THCS, bài đọc là văn chương nghệ thuật chiếm số lượng rất lớn (79%), bao gồm các tác phẩm, các trích đoạn của văn học Việt Nam và văn học nước ngoài. Những bài Đọc này trải dài từ văn học dân gian đến văn học trung đại, văn học hiện đại. Các văn bản cũng rất phong phú về thể loại: thơ, truyện thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, hồi kí, ca dao, tục ngữ,...

Định hướng kiến thức cho các loại bài Đọc văn là văn chương nghệ thuật bước đầu hình thành cho học sinh về đặc điểm thể loại văn bản, kiểu văn bản, những nét chính về nội dung, nghệ thuật. Về kĩ năng yêu cầu học sinh đọc-hiểu, nhớ, khắc sâu kiến thức cơ bản; tích hợp để học tốt hai phân môn Tiếng Việt và Tập làm văn từ đó có kĩ năng viết đúng chính tả,biết tự kiểm tra, sửa lỗi vể từ, câu; biết sử dụng các thao tác cần thiết để tạo lập các kiểu văn bản; vận dụng kiến thức để phát huy năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương nghệ thuật; vận dụng các kiểu văn bản được học phục vụ cho việc học tập ở nhà trường và đời sống gia đình, xã hội. Luận văn sẽ phân tích vai trò định hướng kiến thức, kĩ năng cho một số nhóm văn bản thuộc các thể loại tiêu biểu trong chương trình gồm các bài Đọc là văn bản văn chương nghệ thuật.

Với nhóm các truyện dân gian Việt Nam và nước ngoài, chúng tôi lựa chọn ví dụ là bài Đọc có nhan đề “ Sơn Tinh, Thủy Tinh”. Truyện truyền thuyết này đã trở nên khá quen thuộc trước khi học sinh khối 6 được học văn bản. Trong phạm vi, đối tượng theo cấp học, chuẩn kiến thức kĩ năng định hướng cụ thể cho người dạy:

Về kiến thức:

- Khái niệm về thể loại truyền thuyết.

- Nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong truyện.

- Cách giải thích hiện tượng lũ lụt xảy ra ở đồng bằng Bắc Bộ và khát vọng của người Việt cổ trong việc chế ngự thiên tai lũ lụt, bảo vệ cuộc sống của mình trong một truyền thuyết.

- Những nét chính về nghệ thuật: sử dụng nhiểu chi tiết kì lạ, hoang đường.

Về kĩ năng:

- Kể tóm tắt hoặc chi tiết các truyện.

- Đọc- hiểu văn bản truyền thuyết theo đặc trưng thể loại.

- Nắm bắt các sự kiện chính trong truyện.

- Xác định ý nghĩa truyện.

Nhìn vào định hướng chuẩn kiến thức, kĩ năng của truyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh” có thể thấy dụng ý của tác giả dân gian khi lấy nhan đề truyện là tên hai nhân vật chính mang dáng dấp thần linh có tài cao, phép lạ cùng cầu hôn một nàng công chúa xinh đẹp. Nhan đề này bước đầu đã tạo sự hấp dẫn cho câu chuyện, đề nhằm giải thích hiện tượng bão lũ xảy ra ở đồng bằng Bắc Bộ thuở các vua Hùng dựng nước, đồng thời thể hiện sức mạnh, ước mơ chế ngự thiên tai, bảo vệ cuộc sống của người Việt cổ. Qua đó giáo viên cần giúp học sinh nhận thức, tiếp nối ước mơ của cha ông, thực hiện vai trò của cá nhân trong ý thức bảo vệ môi trường sống.

Một ví dụ khác cũng thuộc thể loại truyện truyền thuyết đó là bài Đọc có nhan đề “Thánh Gióng” có định hướng cho người dạy trọng tâm kiến thức kĩ năng như sau:

Về kiến thức:

- Khái niệm về thể loại truyền thuyết.

- Nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong truyện truyền thuyết thuộc đề tài giữ nước.

- Những sự kiện và di tích phản ánh lịch sử đấu tranh giữ nước của ông cha ta được kể trong một tác phẩm truyền thuyết.

Về kĩ năng:

- Kể tóm tắt hoặc chi tiết các truyện.

- Đọc- hiểu văn bản truyền thuyết theo đặc trưng thể loại.

- Nắm bắt các sự kiện chính trong truyện được kể thao trình tự thời gian.

- Thực hiện thao tác phân tích một vài chi tiết nghệ thuật kì ảo trong văn bản.

Với hệ thống kiến thức kĩ năng của bài Đọc “Thánh Gióng” đã hướng người dạy và người học đến cái đích của việc tiếp nhận văn bản khi tất cả các sự kiện, chi tiết trong truyện đều xoay quanh nhân vật trung tâm được định hình tên goi nhân vật chính ở ngay nhan đề văn bản để tập

trung ca ngợi hình tượng người anh hùng đánh giặc tiêu biểu cho sự trỗi dậy của truyền thống yêu nước, đoàn kết, tinh thần anh dũng, kiên cường của dân tộc ta. Bên cạnh đó là những giá trị đặc sắc của nghệ thuật mà một tác phẩm văn chương mang lại giúp cho học sinh hình dung cách thức xâu chuỗi các sự kiện lịch sử trong quá khứ với những hình ảnh thiên nhiên đất nước.

Trong các truyện cổ tích Việt Nam và nước ngoài, luận văn đưa ra ví dụ là bài Đọc có nhan đề “Cây bút thần”. Sách giáo khoa yêu cầu giáo viên giúp học sinh hiểu và cảm nhận được những nét chính về nội dung và nghệ thuật của truyện trên cơ sở cụ thể chuẩn kiến thức, kĩ năng như sau:

Về kiến thức:

- Quan niệm của nhân dân về công lí xã hội, mục đích của tài năng nghệ thuật và ước mơ về những khả năng kì diệu của con người.

- Cốt truyện “Cây bút thần” hấp dẫn với nhiều yếu tố thần kì.

- Sự lặp lại tăng tiến của các tình tiết, sự đối lập giữa các nhân vật.

Về kĩ năng:

- Kể tóm tắt hoặc chi tiết các truyện.

- Đọc- hiểu văn bản truyện cổ tích thần kì và kiểu nhân vật thông minh tài giỏi.

- Nhận ra và phân tích được các chi tiết kì ảo trong truyện.

Bài Đọc đã thực sự hấp dẫn được cả người dạy và người học. Định hướng kiến thức, kĩ năng xác định cho giáo viên hướng câu chuyện cổ tích Trung Quốc trở nên rất gần gũi với cách nghĩ, nhận thức của người Việt Nam.

Học sinh sẽ cảm nhân được ý nghĩa nhan đề “Cây bút thần” đã thêm một nét vẽ trong bức tranh ước mơ về những con người tài năng, dũng khí, thông minh. Tài năng và tấm lòng của em bé Trung Quốc luôn hướng về nhân dân, làm theo ý nguyện của nhân dân, chứ không theo ý bọn thống trị.

Nhóm truyện ngụ ngôn Việt Nam được các nhà biên soạn đưa vào chương trình bốn văn bản, trong đó tiêu biểu là bài “Ếch ngồi đáy giếng”

Trọng tâm kiến thức, kĩ năng của bài Đọc “Ếch ngồi đáy giếng” xác định:

Về kiến thức:

- Đặc điểm của nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong một tác phẩm ngụ ngôn.

- Ý nghĩa giáo huấn của truyện ngụ ngôn.

- Nghệ thuật đặc sắc của truyện: mượn chuyện loại vật để nói chuyện con người, ẩn bài học triết lí; tình huống bất ngờ. hài hước, độc đáo .

Về kĩ năng:

- Kể lại câu chuyện.

- Đọc- hiểu văn bản truyện ngụ ngôn.

- Liên hệ các sự việc trong truyện với những tình huống, hoàn cảnh hợp lí.

Các định hướng theo chuẩn kiến thức kĩ năng trên đây đã xác định cho giáo viên về mục tiêu, yêu cầu, cách thức cho việc giảng dạy theo đặc trưng thể loại của những câu truyện kể ngắn gọn, nhẹ nhàng, giản dị nhưng hấp dẫn, toát ra những lời khuyên bảo, răn dạy thất thấm thía, sâu sắc. Từ truyện “Ếch ngồi đáy giếng”, nhân dân ta ngụ ý phê phán những kẻ hiểu biết nông cạn mà huênh hoang, đồng thời khuyên nhủ chúng ta phải cố gắng mở rộng tầm hiểu biết của mình, không được chủ quan, kiêu ngạo. Đó chính là cái đích mà giáo viên cần cho học sinh nắm được từ một văn bản văn chương nghệ thuật có nhan đề đã trở thành một ngữ cố định: “Ếch ngồi đáy giếng”

Một thể loại truyện được đưa vào giảng dạy nữa trong nhóm các câu chuyện dân gian đó là truyện cười (hai văn bản “Lợn cưới, áo mới” và “Treo biển).

Truyện thứ nhất là “Lợn cưới, áo mới” có định hướng trọng tâm kiến thức kĩ năng như sau:

Về kiến thức:

- Khái niệm truyện cười.

- Đặc điểm của thể loại truyện cười với nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong “Lợn cưới, áo mới”.

- Ý nghĩa chế giễu, phê phán những người có tính hay khoe khoang, hợm hĩnh chỉ làm trò cười cho thiên hạ.

- Những chi tiết miêu tả điệu bộ, hành động, ngôn ngữ của nhân vật lố bịch, trái tự nhiên.

Về kĩ năng:

- Kể lại câu chuyện.

- Đọc- hiểu văn bản truyện cười.

- Nhận ra các chi tiết gây cười của truyện.

Trong quá trình giảng dạy, thông qua nhan đề rất cô đọng, hàm ý mà vẫn toát lên sợ việc gây cười “Lợn cưới, áo mới” giáo viên hướng cho học sinh không chỉ nhận thức được tiếng cười nổ ra ở cuối truyện vừa vang to vừa có ý nghĩa chế giễu sâu sắc, mà còn nhận ra tính hay khoe là một tính xấu nhưng lại thường xuất hiện nhiều trong cuộc sống chúng ta. Đọc và suy ngẫm truyện này, bất kì ai cũng có thể giật mình bởi đôi khi ta cũng vướng vào tính xấu này. Sự liên hệ này bộc lộ kĩ năng vận dụng bài học vào cuộc sống của học sinh.

Truyện thứ hai có nhan đề “Treo biển”. Ngoài những yêu cầu chung theo đặc thù thể loại, trọng tâm kiến thức, kĩ năng xác định cụ thể cho giáo viên trong quá trình giảng dạy là:

Về kiến thức:

- Đặc điểm của thể loại truyện cười với nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong “Treo biển”.

- Cách kể hài hước về người hành động không suy xét, không có chủ kiến trước ý kiến của người khác.

Về kĩ năng:

- Kể lại câu chuyện.

- Đọc- hiểu văn bản truyện cười.

- Phân tích, hiểu ngụ ý của truyện.

Chuẩn kiến thức, kĩ năng định hướng cho giáo viên khai thác tiếng cười xung quanh tấm biển treo trước cửa hàng. Nhan đề “Treo biển” góp phần tạo nên tiếng cười vui vẻ, có ý nghĩa phê phán nhẹ nhàng những người thiếu bản lĩnh, thiếu suy nghĩ độc lập khi làm việc, cũng khi nghe người khác góp ý, nhận xét. Tất cả mọi tình tiết của truyện đều hướng vào hành động chủ chốt của truyện là việc treo biển. “Treo biển” cũng là nhan đề truyện. Treo biển thế nào? Viết chữ gì vào biển? Diễn biến sự việc ra sao? Một loại câu hỏi đặt ra thúc đẩy kịch tính của truyện. Nghệ thuật gây cười của văn bản này là xây dựng được những tình huống truyện đối lập từ thấp đến cao để kết thúc ở đỉnh điểm làm bật ra tiếng cười vang to nhất, có ý nghĩa nhất. Học sinh nhận ra đây chính là đặc điểm chung của truyện cười. “Treo biển” không chỉ giúp các em bài học về phong cách sống mà còn nhắc học sinh về cách dùng từ, lựa chọn từ ngữ cho sát nghĩa, không thừa, không thiếu.

Cùng thuộc giai đoạn văn học dân gian, chương trình Ngữ văn 7 thuộc phân môn văn học (bài Đọc văn) cung cấp cho học sinh kiến thức về thể loại ca dao và tục ngữ. Các loại bài Đọc này mang đậm tính chất của văn bản chương nghệ thuật, cung cấp kiến thức vừa sức cho học sinh.

Trong chùm những bài ca dao, dân ca có nhan đề “Những câu hát về tình cảm gia đình” ,“Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người” đã định hướng theo chuẩn kiến thức, kĩ năng rất cụ thể:

Về kiến thức:

- Khái niệm ca dao, dân ca.

- Nội dung, ý nghĩa và một số hình thức nghệ thuật tiêu biểu của những bài ca dao về tình cảm gia đình; về tình yêu quê hương, đất nước, con người.

Về kĩ năng:

- Đọc- hiểu và phân tích ca dao, dân ca trữ tình.

- Phát hiện và phân tích những hình ảnh so sánh, ẩn dụ, những mô típ quen thuộc trong các bài ca dao trữ tình về tình cảm gia đình; về tình yêu quê hương, đất nước, con người.

Cùng với hai chủ đề khác của thể loại ca dao được nhà biên soạn sách giáo khoa đưa vào chương trình Ngữ văn cho đối tượng là học sinh lớp 7 là chùm ca dao than thân, ca dao châm biếm, thì chùm bài ca dao, dân ca về chủ đề tình cảm gia đình và tình yêu quê hương, đất nước, con người mà chúng tôi đề cập tới chiếm một vị trí khá quan trọng trong ca dao Việt Nam.

Điều này đòi hỏi người giáo viên phải cung cấp cho học sinh một lượng kiến thức vừa đủ để hiểu thể nào là ca dao, dân ca? Và bản thân các em cần có kĩ năng nhận biêt, thông hiểu, vận dụng để vừa tìm hiểu đặc sắc về nội dung , ý nghĩa của các bài ca dao, vừa có thức sưu tầm, bồi đắp vốn văn hóa dân tộc, bồi đắp những tình cảm tốt đẹp của con người.

Nếu như các em lớp 7 được học thể loại ca dao ở đầu chương trình học kì 1, có hiểu biết nhất định về ca dao, dân ca để thấy được các nhà thơ văn trung đại tiếp thu tinh hoa, văn hóa dân tộc như thế nào vào các tác phẩm văn chương của mình; thì sang đầu học kì 2 các em tiếp tục được nhà biên soạn lựa chọn học về tục ngữ với mục tiêu tích hợp với phân môn tiếng Việt và Tập làm văn nhằm hoàn chỉnh kiến thức, kĩ năng văn chương nhất định.

Để phù hợp với đối tượng là học sinh THCS, sách giáo khoa lựa chọn tìm hiểu tục ngữ vơi hai chủ đề gần gũi có nhan đề cô đọng, dễ hiểu là

“Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất”, “Tục ngữ về con người và xã hội”. Nhằm đảm bảo mức độ cần đạt cho việc giảng dạy, trọng tâm kiến thức, kĩ năng được định hướng như sau:

Về kiến thức:

- Khái niệm tục ngữ.

- Nội dung, ý nghĩa triết lí và một số hình thức nghệ thuật tiêu biểu của những câu tục ngữ trong bài học.

Về kĩ năng:

Một phần của tài liệu Luận văn thạc sĩ Nhan đề bài đọc văn bậc trung học cơ sở (Trang 75 - 98)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(109 trang)