Nhan đề bài Đọc văn liên kết các nhân tố giao tiếp

Một phần của tài liệu Luận văn thạc sĩ Nhan đề bài đọc văn bậc trung học cơ sở (Trang 98 - 107)

Chương 2 Chương 2 BÌNH DIỆN KẾT HỌC, NGHĨA HỌC CỦA NHAN ĐỀ

3.4. Nhan đề bài Đọc văn liên kết các nhân tố giao tiếp

Nhan đề của tác phẩm là một bộ phận không thể tách rời khỏi chỉnh thể tác phẩm. Do vậy mà tìm nhan đề cho tác phẩm cũng chính là một phần hữu cơ trong việc tác giả trình tác phẩm của mình ra với công chúng.

Coi nhẹ hay trăn trở với việc đặt tên, ở một phương diện nào đó, là dấu hiệu cho biết về mức độ đậm nhạt trong tính chuyên nghiệp của một nhà văn...Khi đi tìm hiểu nhan đề bài Đọc trong sự kết liên các nhân tố giao tiếp, chúng tôi thấy được vai trò, ý nghĩa của nhan đề trong việc tiếp cận, khám phá văn bản.

3.4.1. Quan hệ tương tác giữa nhan đề bài Đọc với tác giả biên soạn

Nhan đề thường do người viết (người sáng tác) đặt ra, song trong phạm vi là các bài Đọc văn trong nhà trường, để đảm bảo tiến độ chương trình giảng dạy, đảm bảo đối tượng là học sinh (học sinh phổ thông nói chung, học sinh bậc THCS nói riêng mà luận văn đang đề cập) và đảm báo chuẩn khiến thức kĩ năng môn học, nhà biên tập- nhóm biên soạn sách giáo khoa đã thay đổi tên văn bản cho phù hợp, các bài Đọc chỉ còn là phần trích đoạn của cả một văn bản hoàn chỉnh.

Bên cạnh đó là phần lớn các bài Đọc văn được người biên soạn sách giáo khoa đưa vào nguyên vẹn tác phẩm mà vẫn đảm bảo yêu cầu về mục tiêu môn học .

Có thể kể tới 5 trích đoạn “Truyện Kiều” của Nguyễn Du là các nhan đề: “Chị em Thúy Kiều”, “Cảnh ngày xuân”, “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, “Mã Giám Sinh mua Kiều”, “Thúy Kiều báo ân báo oán” đều do các nhà biên soạn sách giáo khoa đặt. Với một tác gia lớn như Nguyễn Du, một kiệt tác đồ sộ cả về mặt dung lương và giá trị văn chương nghệ thuật to lớn như kiệt tác “Truyện Kiều” nhà biên soạn sách giáo khoa không thể đưa vào chương trình cho đối tượng là học sinh bậc THCS (ngay cả đối với đối tượng THPT) mà chỉ lựa chọn những trích đoạn thật tiêu biểu, phù hợp với nhận thức của đối tượng người học trong thời lượng nhất định cho mỗi bài Đọc. Vậy vấn đề đặt ra là cách đặt nhan đề cho mỗi phần trích ấy lại đòi hỏi người biên soạn không giảm đi giá trị của toàn bộ tác phẩm, mặt khác vẫn thể hiện ý tưởng và kế hoạch giáo dục.

Khi chọn đoạn trích có nhan đề “Kiều ở lầu Ngưng Bích” vào chương trình giảng dạy, người biên soạn hướng tới mục tiêu cần đạt như một sự tiếp nối cho đoạn trích có nhan đề “Chị em Thúy Kiều” bởi khi đứng độc lập, nhan đề xác định vị trí, thời điểm trong biến cố cuộc đời của nàng Kiều; Hay trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”- đây là phần văn bản mới được đưa vào chương trình (so với sách giáo khoa Văn học 9 cũ) bởi các nhà biên soạn phát hiện đây là một bài Đọc rất tiêu biểu cho một trong những thành tựu nghệ thuật đặc sắc của

“Truyện Kiều” là tả cảnh thiên nhiên. Và đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm còn tiếp tục được bổ sung trong trích đoạn “Kiều ở lầu Ngưng Bích” qua nghệ thuật tả

cảnh ngụ tình. Nếu như đoạn trích “Mã Giám Sinh mua Kiều” là mở đầu cho kiếp đoạn trường của người con gái họ Vương thì học sinh sẽ được học tiếp theo văn bản “Thúy Kiều báo ân báo oán” để thầy phần nào cuộc đời chìm nổi của Thúy Kiều trong toàn bộ kiệt tác, đây là giai đoạn Kiều đã nếm đủ mọi đắng cay, tưởng có lúc như phải buông xuôi cho số phận, nhưng nàng đã được cứu thoát, đưa thân phận “con ong cái kiến” bước lên địa vì một quan tòa cầm cán côn công lí “ân đền oán trả”. Mặt khác, tác giả biên soạn còn có chủ ý trong quá trình chọn lựa các bài Đọc là các phần trích của “Truyện Kiều” ở phương diện nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hoàn thiện giá trị của tác phẩm. Đó là nghệ thuật xây dựng nhân vật của “Truyện Kiều”: trong “Chị em Thúy Kiều” là bút pháp ước lệ miêu tả ngoại hình; bút pháp tả cảnh ngụ tình với ngôn ngữ độc thoại đê miêu tả tâm trạng trong “Kiều ở lầu Ngưng Bích”; còn “Thúy Kiều báo ân báo oán” là nghệ thuật miêu tả nhân vật thể hiện qua ngôn ngữ đối thoại. Như vậy tác giả biên soạn khi chọn các bài Đọc văn là đoạn trích và đặt tên cho nó đều nằm trong kế hoạch, chỉ đạo thống nhất chương trình giảng dạy.

3.4.2. Quan hệ tương tác giữa nhan đề bài Đọc với giáo viên và học sinh

Đặt được một nhan đề cho một văn bản, một tác phẩm sao cho đúng,

cho hay, cho độc đáo - không phải dễ. Nhan đề phải khái quát ở mức cao về nội dung tư tưởng của văn bản, của tác phẩm; phải nói cô đọng được cái

"thần", cái "hồn" của tác phẩm; đảm bảo sự thống nhất về đề tài, chủ đề.

Nhan đề như một một mã của thông điệp thẩm mỹ, một mô hình nghệ thuật, nó là cái biểu nghĩa của văn bản văn học, cho độc giả biết trước: văn bản này viết về cái gì, có thể đọc nó hoặc nên đọc văn bản như thế nào.Nhiều nhà báo, nhà văn (và các tác giả khác) đã phải trăn trở, hoặc phải thay đổi nhiều lần cho một cái tên tác phẩm của mình. Từ thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy có nhiều con đường để tiếp cận với những giá trị của tác phẩm, trong đó có một phương pháp khá đơn giản và hữu hiệu là tiếp cận từ chính nhan đề của tác phẩm.

Nhà thơ Xuân Diệu đã có lần phát biểu đại ý các nhà văn khi đặt tên cho tác phẩm cũng trăn trở như cha mẹ đặt tên cho con. Thật vậy, quá trình sáng tạo

cũng “mang nặng đẻ đau”, khi “đứa con tinh thần” ra đời nhà văn cũng có niềm vui sướng, hạnh phúc như người mẹ người cha vừa có thêm một đứa con; rồi

“đứa con tinh thần” ấy còn khiến nhà văn phải bận tâm nhiều, chăm chút sau mỗi lần tái bản. Và có “đứa con tinh thần” đem lại cho cha mẹ vinh quang, hạnh phúc, nhưng cũng có không ít nhà văn lao đao khốn khổ vì “đứa con tinh thần” của mình.

Nhan đề của tác phẩm là một tín hiệu nghệ thuật quan trọng. Chúng tôi trong quá trình giảng dạy luôn lưu ý học sinh tìm hiểu ý nghĩa nhan đề của tác phẩm. Đây là một cách hay để tạo sự chú ý, kích thích hứng thú của các em.

Đối với những nhan đề đặc sắc, có ý nghĩa bao quát chủ đề của tác phẩm như

“Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, “Lão Hạc” của Nam Cao, “Bến quê” của Nguyễn Minh Châu, “Khi con tu hú” của Tố Hữu..chúng tôi luôn dành một lượng thời gian thích đáng để hướng dẫn học sinh giải mã. Ngay cả những nhan đề có vẻ bình thường chúng tôi cũng tìm ra được thông tin có ý nghĩa. Ví dụ nhan đề

“Tức nước vỡ bờ” (con giun xéo lắm cũng quằn, già néo đứt dây) là một câu tục ngữ. “Tức” chỉ trạng thái bên trong bị dồn nén đầy chặt quá đến mức muốn bung ra. Câu tục ngữ có ý nghĩa chỉ sự chèn ép, áp bức quá sẽ khiến người ta phải vùng lên chống đối phản kháng lại, đồng thời nêu lên một quy luật của tự nhiên mà lại có ý nghĩa xã hội sâu sắc, thâm thuý vô cùng. Người biên soạn đã vận dụng cách nói dân gian ngắn gọn, rất thông minh ấy để đặt tên cho chương XVIII của cuốn tiểu thuyết “Tắt đèn” giúp người đọc có sự định hướng ban đầu rõ rệt về tình huống hấp dẫn của truyện, về những hình tượng nhân vật sống động, điển hình. Nhan đề ấy cũng thật phù hợp với nội dung ý nghĩa của đoạn trích. Sự áp bức trắng trợn, dã man của bọn địa chủ phong kiến ấy đã buộc người phụ nữ nông dân đầy nhẫn nhịn như chị Dậu phải “vỡ bờ” đứng dậy đấu tranh. Song nhan đề đoạn trích còn toát lên chân lí: con đường sống của quần chúng bị áp bức chỉ có thể là con đường đấu tranh để tự giải phóng, không có con đường nào khác. Vì vậy mà tuy tác giả

“Tắt đèn” khi đó chưa giác ngộ Cách mạng, tác phẩm kết thúc rất bế tắc nhưng nhà văn Nguyễn Tuân đã nói rằng: “Với Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã xui

người nông dân nổi loạn”. Ngô Tất Tố chưa nhận thức được chân lí Cách mạng nên chưa chỉ ra được con đường đấu tranh tất yếu của quần chúng bị áp bức, nhưng bằng cảm quan hiện thực mạnh mẽ, nhà văn đã cảm nhân được xu thế '' tức nước vỡ bờ '' và sức mạnh to lớn không lường của sự ‘vỡ bờ” đó.

Tại sao tác giả Nguyễn Duy không đặt tên bài thơ là “Vầng trăng” mà lại là “Ánh trăng”. Thực tế giảng dạy của giáo viên trên lớp thường khai thác tín hiệu thơ có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc này vừa tầm với học sinh đại trà.

Trước hết xét về phương diện tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Thông thường, trong lao động nghệ thuật, các tác giả rất dụng công trong đặt tên cho đứa con để tinh thần của mình, bỡi lẽ, tên của một tác phẩm văn học bao giờ cũng chứa đựng tư tưởng, chủ đề mà tác giả muốn biểu hiện. Bài thơ “Ánh trăng”

cũng vậy. Bài thơ là câu chuyện tâm tình của một người lính, một thế hệ đã sống và cống hiến hết mình cho Tổ quốc. Bài thơ gợi nhắc một thái độ sống

“uống nước nhớ nguồn”,ân nghĩa thủy chung với quá khứ của chính mình, quá khứ của dân tộc và đất nước.

Thứ hai, xét về lôgic cảm xúc của tác phẩm. Từ chủ đề tư tưởng nêu trên nên đã chi phối lôgic xây dựng nhân vật trữ tình và mối quan hệ của nhân vật trữ tình với hình tượng trung tâm của bài thơ - tín hiệu thẩm mĩ ánh trăng.

Có thể khẳng định rằng nhân vật trữ tình người lính trong bài thơ đồng thời cũng chính là tác giả. Giữa nhân vật trữ tình với trăng có mối quan hệ máu thịt với nhau. Mối quan hệ đó được xây dựng qua các tình huống khác nhau.

Nguyễn Duy mượn hình ảnh ánh trăng để nói mối quan hệ con người. Nếu hiểu vầng trăng là hình ảnh mang tính biểu tượng cho cái chung của đất nước, của nhân dân và của quá khứ tốt đẹp của cuộc đời người lính và được thể hiện qua bút pháp miêu tả khách quan; thì ánh trăng mang sắc thái của một cá thể riêng biệt được thể hiện bằng phương thức biểu cảm- tự thể hiện- mang tính chủ quan- đó là cách nhìn nhằm bộc lộ một thái độ. “im phăng phắc”- một thái độ hoàn toàn im lặng của trăng trước sự bội bạc của người lính. “Ánh trăng” gợi cho người đọc một liên tưởng có lý, đó là ánh

mắt đang nhìn nghiêm khắc, nhắc nhở , và cao hơn như muốn sự thức tỉnh đối với con người. Có lẽ do vậy mà thái độ của nhân vật trữ tình ở cuối bài thơ có một sự thay đổi về tâm lý: giật mình khi nhận ra chân tướng của chính mình.

Con người ta chỉ giật mình khi nhận ra mình có lỗi. Một thái độ tự phê phán nghiêm khắc đầy hối hận khiến chúng ta kính trọng. Cả bài thơ vô xưng, đến đây tác giả mới xưng ta để nhận lỗi và để tạ lỗi. Chính vì ý nghĩa sâu sắc đó, cho nên dù chỉ xuất hiện một lần trong bài thơ nhưng hình ảnh ánh trăng cũng đủ để làm nên cái hay của bài thơ. Như vậy đến tình huống mất điện, mở toang cửa sổ thấy được vầng trăng vẫn tròn vành vạnh đang im lặng đối thị với người lính... thì tư tưởng chủ đề của tác phẩm lộ diện rõ hơn, sâu sắc hơn, đồng thời giúp cho người đọc hiểu và cắt nghĩa được tại sao bài thơ có tên là

“ Ánh trăng”, chứ không phải là “ Vầng trăng”.

Từ những lý giải trên, chúng ta có thể rút ra một kết luận: tên của một tác phẩm thơ- trữ tình- thông thường nó gắn với tư tưởng chủ đề của tác phẩm, với lô gich cảm xúc của tác giả, lô gich vận động, phát triển của hình tượng thơ. Vì thế khi dạy và học chúng ta cần lưu ý học sinh căn cứ vào đó để cắt nghĩa.

Đối với trường hợp “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cũng rất đáng chú ý về phương diện nhan đề. Tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân có nhan đề là “Kim Vân Kiều truyện”, Nguyễn Du lại đặt cho tác phẩm lục bát thuần Việt của mình một nhan đề Hán Việt là “Đoạn trường tân thanh” (Tiếng kêu mới về những nỗi đau đớn như đứt ruột) nghe rất văn chương, “mùi mẫn”, thể hiện tập trung chủ đề của tác phẩm (Tố Như ơi lệ chảy quanh thân Kiều-Tố Hữu). Một số bản in vẫn lấy nhan đề của Thanh Tâm Tài Nhân. Thế nhưng người dân đã gọi tác phẩm theo một cách khác, rất giản dị là “Truyện Kiều”, hay gọi theo kiểu tối giản là “Kiều” (ngâm Kiều, lẩy Kiều, mê Kiều…) nghĩa là câu chuyện về nàng Kiều, về cô Thúy Kiều, nhân vật trung tâm, sự thể hiện sinh động của một “kiếp đoạn trường”. Hầu như mọi người Việt Nam đều biết đến “Truyện Kiều”, thuộc một vài câu Kiều, nhưng những người biết tác

phẩm còn có một cái tên “gốc” Hán Việt khác, rất “kêu” là “Đoạn trường tân thanh” thì không nhiều. Đây là một trường hợp “vi phạm bản quyền nghiêm trọng”, song có lẽ mọi nhà văn đều muốn tác phẩm của mình bị “vi phạm”

như vậy. Bởi với cách “thay bậc đổi ngôi” ấy, tác phẩm của Nguyễn Du đã bất tử trong lòng nhân dân.

Trong một số trường hợp, nếu không chú ý đúng mức đến nhan đề sẽ dẫn đến những ngộ nhận không đáng có về nội dung tác phẩm. Người giáo viên hãy cùng học sinh bắt đầu khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm bằng việc tìm hiểu ý nghĩa nhan đề, hay chính là khẳng định mối quan hệ tương tác giữa nhan đề bài Đọc với giáo viên và học sinh.

Tiểu kết chương 3

Trọng tâm chương 3 là nghiên cứu về giá trị sử dụng của 153 nhan đề bài đọc THCS. Từ việc tích hợp kết quả nghiên cứu ở chương 1, chương 2, chúng tôi nhận thấy vai trò, giá trị của 153 nhan đề bài Đọc văn THCS thể hiện ở những phương diện chính sau đây:

Bản thân mỗi nhan đề đã đáp ứng được tối đa các yêu cầu cần thiết với một nhan đề về tất cả các mặt hình thức, nội dung. Đó là các nhan đề vừa mang những giá trị chung, đảm bảo yêu cầu cần có của một nhan đề văn bản là ngắn gọn, cô đúc, hấp dẫn, lại vừa có những giá trị riêng do có sự chi phối bởi mục đích sử dụng, bởi tư cách của người tạo lập và người đọc, thể hiện đặc trưng của phong cách ngôn ngữ.

Đối với văn bản nghệ thuật, người tạo lập là nhà văn, nhà thơ – nghệ sĩ sáng tạo cái đẹp bằng nghệ thuật ngôn từ chuyển tải ý tưởng, thông tin thông qua cái đẹp; người đọc là người tiếp nhận thẩm mỹ, thưởng thức cái đẹp ấy trước hết và bắt đầu bằng rung động, xúc cảm rồi mới bằng tư duy, lý trí, nhận thông tin thông qua cái đẹp ngôn từ nên nhan đề các văn bản này thường có tính biểu tượng, hàm xúc, nhiều nghĩa hàm ẩn, biểu cảm, một số nhan đề rất độc đáo và tạo ấn tượng sâu sắc.

Đối với văn bản khoa học, người viết là nhà nghiên cứu khoa học, mục đích là cung cấp tri thức một cách rõ ràng, chính xác, khách quan;

người đọc ở đây là người dạy, người học có mục đích là tiếp nhận tri thức cũng phải rõ ràng, chính xác, khách quan như thế bằng tư duy lí trí nên nhan đề loại văn bản này là hành động ngôn ngữ được dùng trực tiếp, chỉ có một nghĩa và là nghĩa tường minh, ngôn ngữ có tính khái quát, trừu tượng, tính logic, tính phi cá thể.

Đối với văn bản nghị luận, người viết có thể vừa là nhà nghiên cứu khoa học, vừa là nhà tư tưởng, nhà văn hóa, mục đích viết là bày tỏ chính kiến, quan điểm, thái độ đánh giá vấn đề thuộc lĩnh vực chính trị, xã hội

Một phần của tài liệu Luận văn thạc sĩ Nhan đề bài đọc văn bậc trung học cơ sở (Trang 98 - 107)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(109 trang)