Chương 2 Chương 2 BÌNH DIỆN KẾT HỌC, NGHĨA HỌC CỦA NHAN ĐỀ
2.3. Bình diện nghĩa học của nhan đề bài Đọc văn bậc THCS
2.3.1.1. Ý nghĩa biểu hiện của loại nhan đề là câu đơn đặc biệt
Tất cả những nhan đề là câu đơn đặc biệt đều biểu hiện ý nghĩa tồn tại.
Ở đây, ta xét đến 137 nhan đề là câu đơn đặc biệt.
Nhan đề là câu đặc biệt – danh từ mang ý nghĩa biểu hiện "nhận định rằng có một cái gì đó "tồn tại" ở đâu đó".
"Cái gì tồn tại ở đâu đó" có thể là "con người"
Đó là những nhân vật được các nhan đề định danh một cách rõ ràng, trực tiếp bằng những danh từ riêng: “Thánh Gióng”, “Sơn Tinh, Thủy Tinh”,
“Sọ Dừa”, “Thạch Sanh”, “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng”, “Lão Hạc”, “Lượm”,
“Quan Âm Thị Kính”. Những từ định danh trực tiếp này cũng có ý nghĩa thông báo chủ đề, đề tài của văn bản một cách rõ ràng, dễ hiểu, thể hiện chủ định của người soạn sách; hướng về người dùng sách, giúp giáo viên và học sinh dễ nắm bắt nội dung của văn bản. Giả sử, ta thay "Thạch Sanh" bằng
"Người dũng sĩ diệt trừ cái ác", “Thánh Gióng" bằng "Người anh hùng dân tộc ", thay "Cô Tô" bằng "Quần đảo Bắc Bộ", thay “Lão Hạc” bằng "Ông lão nông dân đầy lòng từ trọng, nhân từ và giàu đức hi sinh", thay "Lượm" bằng
"Chú bé liên lạc nhỏ tuổi hồn nhiên, đáng yêu mà dũng cảm" ... thì các nhan đề này trở thành hiện tượng "có vấn đề" ngay. Những nhan đề được giả định kiểu như thế có vẻ mang chất văn chương hơn nhờ sự bóng bẩy, giàu hình ảnh của cách nói gián tiếp nhưng không thể chấp nhận được về mặt ngữ dụng; nó dài dòng, không đáp ứng được yêu cầu ngắn gọn, cô đọng của một nhan đề văn bản; nó thu hẹp chủ đề, đề tài của văn bản nên không đảm bảo được mức độ khái quát của tri thức cần cung cấp, không phù hợp với nội dung của cả văn bản, không thể hiện được chủ định của người viết và dễ gây hiểu lầm từ phía người đọc. Chẳng hạn, nếu dùng "Người dũng sĩ diệt trừ cái ác" thay cho nhan đề "Thạch Sanh" thì người đọc- học sinh hiểu rằng văn bản này chỉ giới thiệu về những chi tiết, sự việc nhân vật Thạch Sanh diệt chằn tinh, đại bàng hay kẻ xấu như Lí Thông trong khi thực tế, nội dung cần phải nắm được là lí tưởng nhân đạo, yêu hòa bình, ước mơ về một vị quân vương anh minh của nhân dân ta.
Các nhan đề được lấy những nhân vật văn học có tên như: “Sọ Dừa”,
“Thạch Sanh”, “Thánh Gióng”, “Lượm”, “Lão Hạc”, “Sơn Tinh, Thủy Tinh”,
“Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng”, “Quan Âm Thị Kính” và không tên như: “Ông đồ”, Cô bé bán diêm”, “Em bé thông minh”, “Ông lão đánh cá và con cá vàng”,
“Những đứa trẻ”...Những nhan đề này đã bộc lộ rõ ràng dụng ý của tác giả văn bản gốc và người biên soạn văn bản sách giáo khoa: đó là xác định rõ cho người dùng ngay từ lúc đầu tiên tiếp xúc với văn bản đâu là nhân vật chính được nói đến trong văn bản, để rồi suốt quá trình đọc hiểu văn bản, giáo viên và học sinh luôn chú ý đến những chi tiết về nhân vật ấy.
Phải nói tới những nhân vật là sự vật, con vật mang dáng dấp của con người trong các nhan đề như “Con cò”, “ Mây và Sóng”, “Sọ Dừa”, “Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng”.
Hay là các nhan đề về tình cảm làng xóm, quê hương- tình đồng chí của những con người trong cùng một tập thể, cùng một công việc trong các nhan đề như : “Làng”, “Đồng chí”.
"Cái gì tồn tại ở đâu đó" có thể là không gian, thời gian, thiên nhiên Nhan đề “Cô Tô” để chỉ sự tồn tại của một địa danh cụ thể đã xác định rõ đề tài của văn bản nghệ thuật mà nó đứng tên, đảm bảo được tính hàm súc, ngắn gọn. Điều đang chú ý nữa là tính cụ thể trong nghĩa biểu vật của từ này làm nổi bật không gian nghệ thuật của tác phẩm, tiềm tàng khả năng gợi hình ảnh. Nhan đề này được lựa chọn không phải là ngẫu nhiên mà nó gắn với những trải nghiệm thực tế, tình yêu quê hương luôn hướng về những vùng đất xa xôi của Tổ quốc của tác giả đồng thời thông qua đó khơi gợi trong lòng người đọc những tình cảm tốt đẹp ấy.
Những nhan đề chỉ những không gian chung: “Quê hương”, “Cố hương”, “Bến quê”, “Làng” không chỉ thấu tóm được chủ đề, đề tài của văn bản mà còn nêu lên cái tứ của bài thơ hoặc hính tượng nghệ thuật bao trùm của tác phẩm, tiềm tàng khả năng gợi hình ảnh và ẩn chứa trong đó tính cụ thể về nghĩa. Ví dụ ở nhan đề “Quê hương” người đọc nhận ra hình ảnh bao trùm,
xuyên suốt bài thơ trong từng nỗi nhớ của Tế Hanh là tình cảm đối với quê hương làng chài, đánh thức liên tưởng cho người đọc vể những gì thân thuộc nhất của người con xa quê.
Một số nhan đề “Mưa”, “Ánh trăng”, “Cảnh ngày xuân” nói tới phạm trù thiên nhiên gợi ra đề tài, chủ đề của văn bản, cho thấy những hiểu biết và liên tưởng sâu sắc của tác giả khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc.
"Cái gì tồn tại ở đâu đó" có thể là “vật” như “Bánh trôi nước”, “Cây bút thần”, “Hai cây phong”, “Chiếc là cuối cùng”, “Chiếc lược ngà”, “Những ngôi sao xa xôi”, “Chó sói và cừu non trong thơ ngụ ngôn của La Phông-ten”,
“Bức thư của thủ lĩnh da đỏ”, “Cây tre Việt Nam”, “Đoàn thuyền đánh cá”
(Là một bài thơ đa nghĩa, nhan đề “Bánh trôi nước” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã không chỉ cho người đọc cảm nhận về một món ăn dân dã, mang đậm bản sắc dân tộc mà qua đó còn khắc sâu ấn tượng về hình ảnh người phụ nữ với vẻ đẹp hình thức và tâm hồn).
"Cái gì tồn tại ở đâu đó" có thể là cảm xúc, tâm trạng, cảnh ngộ như: “Chuyện người con gái Nam Xương”, “Chuyện cũ ở phủ chúa Trịnh”,
“Hai chữ nước nhà”, “Tiếng gà trưa”, “Rô-bin-sơn ngoài đảo hoang”, “Cô bé bán diêm”, “Mẹ tôi”, “Buổi học cuối cùng”, “Hịch tướng sĩ” (Trong nhan đề “Cô bé bán diêm” đã định hình cho người đọc cảm xúc về cảnh ngộ của cô bé bất hạnh, đáng thương).
"Cái gì tồn tại ở đâu đó" có thể là một thể loại văn bản gắn với chủ đề văn bản đó như “Sự tích Hồ Gươm”, “Những câu hát về tình cảm gia đình”,
“Những câu hát về tình yêu quê hương, đất nước, con người”, “Những câu hát than thân”, “Những câu hát châm biếm”, “Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất”, “Tục ngữ về con người và xã hội”, “Bài ca Côn Sơn”, “Chiếu dời đô”, “Hịch tướng sĩ”, “Truyện Kiều của Nguyễn Du”, “Thông tin về ngày trái đất năm 2000”, “Bài toán dân số”, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”, “Bức thư của thủ lính da đỏ”, “Chó sói và cừu non trong thơ ngụ ngôn của La Phông- ten” (Có thể dễ dàng nhận ra
ngay trong nhan đề “Tục ngữ về thiên nhiên và lao động sản xuất” đã cung cấp cho người đọc về thể loại “tục ngữ” gắn với chủ đề “thiên nhiên và lao động sản xuất”).
Trong 93 nhan đề là câu đơn đặc biệt- danh từ, 18 nhan đề là câu- D, 75 nhan đề là câu- cụm D có các yếu tố ngôn ngữ mang nghĩa biểu hiện khác nhau ở các vị trí khác nhau trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của chúng như vị trí
‘đầu tố’: nghĩa chỉ vật; trước đầu tố là các vị trí mang nghĩa “tổng lượng”, nghĩa “số lượng”, nghĩa “đặc chỉ”, nghĩa “quy loại”; sau là các vị trí “đầu tố”
có nghĩa “phân loại”, “chất lượng”, “thái độ”, “chỉ định”, “sở hữu”. Đây là hệ thống các nét nghĩa biểu hiện làm nên nghĩa biểu hiện sự tồn tại của một cái gì đó rất phong phú ở câu đặc biệt- danh từ.
Nhan đề là câu đặc biệt- vị từ mang ý nghĩa biểu hiện “nhận định rằng có một sự tình” tồn tại. Trường hợp này có ở 44 nhan đề. Muốn biết sự tình tồn taị đó là gì thì phải xem xét ý nghĩa tồn tại của vị từ và các tham tố (gồm chu tố và diễn tố).
Trong 44 nhan đề đang xét có 43 nhan đề có vị từ chỉ sự tồn tại của hành động chiếm 98%. 17 nhan đề có vị từ chỉ sự tồn tại của hành động tư duy chiếm 40% (ví dụ “Ôn tập văn học”). 14 nhan đề có vị từ chỉ sự tồn tại của hành động vật lí (hành động bên ngoài) chiếm 33% ( ví dụ “Đeo nhạc cho mèo”). 6 nhan đề chỉ sự tồn tại câu hành động tâm lí (hành động bên trong) chiếm 14% (ví dụ: “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh”). 5 nhan đề có vị từ chỉ sự tồn tại của hành động vừa có tính chất vật lí vừa có tính chất tâm lí chiếm chiếm 12% ( ví dụ: “Bàn luận về phép học”). 1 nhan đề có vị từ chỉ sự tồn tại của trạng thái, tính chất chiếm 2% (“ Lặng lẽ”).
Ở 44 nhan đề là câu đặc biệt- vị từ, , không có nhan đề nào có diễn tố đứng trước vị từ và diễn tố sau vị từ. Có 38 nhan đề chứa diễn tố và chu tố (có 1 nhan đề vừa chứa diễn tố(đối thể), vừa chứa chu tố là “Đập đá ở Côn Lôn”), trong đó 27 nhan đề có diễn tố mang nghĩa đối thể chiếm 71% (ví dụ:”Tổng kết văn học nước ngoài”); 8 nhan đề chứa chu tố chiếm 21% (ví
dụ: “Ca Huế trên sông Hương”); 4 nhan đề có diễn tố mang nghĩa đích thể chiếm 10% (ví dụ: “ Đấu tranh cho một thế giới hòa bình”);
2.3.1.2. Ý nghĩa biểu hiện của loại nhan đề là câu đơn hai thành phần
Căn cứ vào ý nghĩa của vị tố, ta xác định loại câu đơn hai thành phần có bốn kiểu tương ứng với bốn kiểu ý nghĩa: Câu hành động biểu hiện ý nghĩa hành động, câu quá trình biểu hiện ý nghĩa quá trình, câu trạng thái biểu hiện ý nghĩa trạng thái, câu quan hệ biểu hiện ý nghĩa quan hệ.
Chúng tôi xét những nhan đề là câu hành động biểu hiện ý nghĩa hành động. "Câu hành động diễn tả sự tình động, có chủ ý. Chủ thể của hành động gọi là hành thể. Nếu hành động trong câu có tác động gọi là hành thể. Nếu hành động trong câu có tác động đến một đối tượng, hành thể thường được gọi là tác thể. Hành thể là diễn tố thứ nhất, có khi là duy nhất của vị từ hành động. Ngoài các diễn tố, trong câu hành động cũng có thể có các chu tố"
[20,116]. Diệp Quang Ban gọi hành thể là động thể, gọi chu tố là cảnh huống.
Có những nhan đề biểu hiện hành động vô tác. Ví dụ:
Chiếu dời đô
Động thể hành động vô tác
Có những nhan đề biểu hiện hành động chuyển tác. Ở đây động thể tác động vào một vật có sẵn làm cho nó thay đổi trạng thái (chuyển thái) hay thay đổi vị trí (chuyển vị). Ví dụ:
Thúy Kiều báo ân báo oán Động thể HĐ chuyển tác đích thể HĐ chuyển tác đích thể Mã Giám Sinh mua Kiều (2 tham thể)
Động thể HĐ chuyển tác đích thể
Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (2 tham thể) Động thể HĐ chuyển tác đích thể
Trong các nhan đề trên, các hành động “báo”, “mua”, “cứu” có ý nghĩa chuyển thái: thay đổi trạng thái của của Hoạn Thư sẽ bị Thúy Kiều trả nợ ân oán, thay đổi vị thế, vai trò của Thúy Kiều và Hoạn Thư; thay đổi trạng thái, hoàn
cảnh của Thúy Kiều bởi hành động lừa lọc của Mã Giám Sinh; thay đổi trạng thái của Kiều Nguyệt Nga sẽ được Lục Vân Tiên cứu thoát khỏi bọn cướp.
2.3.2. Nghĩa lô gíc – ngôn từ của các loại nhan đề
Trong 153 nhan đề, có 18 nhan đề trình bày sự hình thành nhận định có sở đề, sở thuyết. Có thể phân tích nghĩa lô gích- ngôn từ của những nhan đề đó trong bảng 2.7.
Bảng 2.7: Ví dụ về nghĩa lô gích- ngôn từ của những nhan đề có sở đề và sở thuyết
STT Sở đề
(Điểm xuất phát của nhận định) Sở thuyết
(Nội dung của sự nhận định)
1 Ếch ngồi đáy giếng
2 Thầy bói xem voi
3 Con hổ có nghĩa
4 Mẹ hiền dạy con
5 Bạn đến chơi nhà
6 Mã Giám Sinh mua Kiều
7 Thúy Kiều báo ân báo oán
8 Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga
9 Lục Vân Tiên gặp nạn
10 Tôi đi học
11 Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục 12 Một thứ quà của lúa non Cốm
13 Thông tin về ngày trái đất năm 2000
14 Bài thơ về tiểu đội xe không kính
15 Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ
16 Mùa xuân nho nhỏ
17 Cầu Long Biên chứng nhân lịch sử
18 Sự tích Hồ Gươm
Số nhan đề còn lại thuộc loại câu không có cấu trúc đề- thuyết (câu thứ), là tên của văn bản được cấu tạo theo kiểu câu thứ (ví dụ: Ôn tập văn học).
Tóm lại về mặt nghĩa học, các nhan đề có ý nghĩa biểu hiện và nghĩa lô gích- ngôn từ. Qua khảo sát, chúng tôi thấy ý nghĩa biểu hiện sự tồn tại của các nhan đề rất phong phú. Loại nhan đề là câu đơn hai thành phần có các ý nghĩa biểu hiện là: ý nghĩa biểu hiện hành động, ý nghĩa biểu hiện quá trình, ý nghĩa biểu hiện quan hệ, ý nghĩa biểu hiện trạng thái. Loại nhan đề là câu đặc biệt có ý nghĩa biểu hiện “nhận định rằng có một cái gì đó “tồn tại” ở đâu đó” và ý nghĩa biểu hiện “nhận định rằng có một sự tình “tồn tại” (với câu đặc biệt- vị từ).
Do đặc điểm cấu tạo của các nhan đề, về nghĩa lô gích- ngôn từ, chỉ có 18 nhan đề có cấu trúc đề - thuyết.
Tiểu kết chương 2
Qua khảo sát, nghiên cứu từng mặt kết học, nghĩa học của nhan đề các bài đọc văn bậc THCS, chúng tôi có một số nhận xét như sau:
Nhan đề các bài đọc văn bậc THCS phong phú, đa dạng về phong cách văn bản về thể loại văn học của văn bản, về dung lượng văn bản, về nguồn gốc nhan đề; về thời gian xuất hiện, không gian tạo lập văn bản; về hình thức cấu tạo; về nội dung ngữ nghĩa. Tất cả những điều đó có lý do từ mục tiêu, đối tượng giáo dục, môi trường và yêu cầu về tính khoa học, tính sư phạm, tính thực tiễn, sự hấp dẫn, các nhân tố giao tiếp như hoàn cảnh giao tiếp, nhân vật giao tiếp của bộ môn văn ở trường THCS.
Ở bình diện kết học, chúng tôi nhận thấy dù tồn tại ở dạng câu nào, các nhan đề cũng có độ tinh giản về từ ngữ. Các nhan đề bài Đọc văn đều là những đơn vị ngôn ngữ ở cấp độ câu, được làm tên gọi cho các bài Đọc, bài học, đại diện cho một đơn vị kiến thức trong chương trình. Do các nhan đề đều chỉ có cấu tạo là câu nên chúng tôi gọi đó là câu nhan đề. Hiểu đầy đủ đó là các câu đảm nhiệm vai trò là nhan đề của văn bản. Dựa theo quan điểm của GS. TS. Diệp Quang Ban, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê được 153 nhan đề. Việc tiếp theo là phân loại, phân tích cấu tạo ngữ pháp của 153 nhan đề đó. Kết quả thu được 137 nhan đề là câu đơn đặc biệt (chiếm tỉ lệ 90%), còn lại 16 nhan đề (chiếm tỉ lệ 10%) là câu đơn hai thành phần có thành phần cấu tạo ngữ pháp khá đơn giản: không có thành phần mở rộng trạng ngữ, không có biệt tố, không có liên tố. Số liệu thống kê cho thấy loại nhan đề là câu đơn đặc biệt chiếm số lượng lớn nhất 137/153 và cũng là loại nhan đề có vai trò quan trọng nhất. Những nhan đề này chủ yếu là các câu đặc biệt danh từ, câu đặc biệt cụm danh từ. Đặc điểm cấu tạo ngữ pháp như vậy là tiền đề quan trọng cho việc biểu đạt ngữ nghĩa của nhan đề. Ngay trong các nhan đề là là câu đặc biệt cụm danh từ thì phần lớn đều có cấu tạo ngữ pháp là cụm danh khuyết bộ phận tiền đầu
biến tố, chỉ có đầu tố và hậu điều biến tố. Bộ phận hậu điều biến tố này mỗi thành tố cũng chỉ có một đơn vị đảm nhiệm. Đặc điểm cấu tạo ngữ pháp như vậy cho thấy nhan đề bài Đọc văn bậc THCS cũng tuân thủ đúng những đặc điểm, yêu cầu phổ biến với mọi nhan đề văn bản nói chung là phải ngắn gọn, cô đúc; phải nêu bật được nội dung cơ bản của văn bản. Để đảm bảo được yêu cầu này, đương nhiên cấu tạo ngữ pháp của nhan đề được ưu tiên lựa chọn phải là loại câu đặc biệt danh từ, cụm danh từ.
Về bình diện nghĩa học, tất cả các nhan đề là câu đơn đặc biệt đều biểu hiện ý nghĩa tồn tại. Những nhan đề này có ý nghĩa biểu hiện tồn tại rất phong phú, tùy loại nhan đề thuộc kiểu câu nào thì sẽ có ý nghĩa biểu hiện tương ứng, phù hợp. Khi xét nghĩa lô gích- ngôn từ của các loại nhan đề, do đặc điểm cấu tạo của các nhan đề, chúng tôi xác định chỉ có 18 nhan đề trình bày có cấu trúc đề- thuyết. Số còn lại thuộc loại câu không có cấu trúc đề- thuyết, là tên của văn bản được cấu tạo theo kiểu câu thứ.
Việc bóc tách từng mặt kết học, nghĩa học của các nhan đề được nghiên cứu ở chương 2 là giải pháp tình thế, nhằm thuận tiện cho việc nghiên cứu, trình bày vấn đề được rõ ràng, cụ thể hơn. Vì thế, khi xem xét từng mặt kết học, nghĩa học của các nhan đề, có lúc cần thiết, chúng tôi không thể không đề cập sơ bộ đến một vài nét của mặt dụng học trong nhan đề. Dù một vài chỗ có trình bày như vậy nhưng vẫn không làm thay đổi nội dung chủ đạo của chương 2 này là phân tích riêng rẽ từng mặt kết học, nghĩa học trong nhan đề các bài Đọc văn chương trình THCS. Chương 3 tiếp theo như một sự tất yếu hướng vào nhiệm vụ của luận văn là chúng tôi tiếp tục tìm hiểu nhan đề bài Đọc văn THCS và việc thực hiện các chức năng giao tiếp.