Trong ngữ pháp truyền thống, thuật ngữ “câu” được dùng để chỉ cái đơn vị ngữ pháp lớn nhất là đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp. Câu vốn
được hiểu là đơn vị được làm thành từ một mệnh đề. Nhưng “mệnh đề” lại là thuật ngữ của lôgic, vì vậy có sự cố gắng tách “mệnh đề của ngôn ngữ” ra khỏi “mệnh đề của lôgic”. Những cố gắng này đi theo hai hướng:
- Vẫn tiếp tục dùng “mệnh đề” với sự ngầm định rằng đó là mệnh đề dùng trong ngôn ngữ (giải pháp này vẫn được duy trì trong ngôn ngữ học Pháp cho đến ngày nay). Theo đó, thuật ngữ “câu” vẫn được dùng với cơ sở vẫn là mệnh đề hiểu theo ngôn ngữ học.
- Đưa vào ngôn ngữ học một tên gọi mới là” cú” vốn có trong tiếng Anh như là một tên gọi của mệnh đề ngôn ngữ, để phân biệt với tên gọi
“mệnh đề” của lôgic. Có thể nhận ra điều này một cách dễ dàng trong sự phân biệt câu đơn với câu ghép (câu đơn là câu chứa một cú, câu ghép là câu chứa hơn một cú). Trong ngữ pháp Việt Nam, ý tưởng dùng tiếng “cú” thay cho
“mệnh đề ngôn ngữ” bắt đầu từ hai nhà ngữ pháp Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê.
Tuy nhiên trong ngữ pháp tiếng Anh gần đây, thuật ngữ “cú” được một số nhà nghiên cứu dùng phân biệt với “câu” theo hướng cho rằng câu vốn gắn với chữ viết như là một đơn vị chính tả có dấu chấm câu ở hai đầu, còn “cú”
không bị ràng buộc vào chữ viết.
Vậy, nhìn chung, “cú” tương đương với cái được gọi là “câu đơn” của ngữ pháp truyền thống. Việc dùng thuật ngữ “cú” thay vì thuật ngữ “câu”
trong ngữ pháp học ngày nay nhằm vào hai việc sau đây:
(i) dùng “cú” thay cho tên gọi “mệnh đề” thuộc ngôn ngữ, để phân biệt với thuật ngữ “mệnh đề” của lôgic;
(ii) dùng “cú” thay cho tên gọi “câu”, vì “câu” được gọi như gắn với ngôn ngữ viết.
Hiện nay, theo cách hiểu chung nhất, câu (sentence) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ. Còn cú (clause) được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố, và được dùng để diễn tả một sự thể (sự việc). Định nghĩa về cú như vậy là
một cách hiểu sâu hơn so với định nghĩa về câu: nêu thêm mặt tổ chức ngữ pháp cụ thể và mặt nghĩa thường có (nghĩa đề cập được ba phương diện quan trọng nhất của cái đơn vị trước đây gọi là câu đơn, nay còn được gọi là cú.
- Định vị câu (câu đơn) ở bậc cao nhất của hệ thống ngữ pháp của một ngôn ngữ, tức là về ngữ pháp, không có đơn vị nào lớn hơn câu.
- Câu có cấu tạo ngữ pháp là một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố, tức là lấy vị tố làm trung tâm, không lấy hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ làm cơ sở, để tránh lặp lại cấu trúc của mệnh đề lôgic. Đây cũng chính là nói về cái tổ chức từ vựng ngữ pháp của câu. Nhờ tổ chức từ vựng ngữ pháp này mà một ý nghĩa, một nội dung sự việc, và ý định của người nói được định hình, được kiến tạo nên.
- Câu có mặt ý nghĩa là phần diễn đạt một sự thể. Nghĩa sự thể là cái được dùng để giải thích cho tổ chức từ vựng - ngữ pháp của câu.
Định nghĩa câu như trên chỉ mới tính đến được phần nghĩa biểu hiện (chỉ sự thể), chưa bao quát được các chức năng khác mà câu đảm nhiệm trong từng trường hợp sử dụng cụ thể.
Trong việc sử dụng ngôn ngữ, câu được dùng với ba chức năng sau đây: chức năng biểu hiện (diễn đạt kinh nghiệm), chức năng lời trao đổi (tác động đến người nghe), chức năng (tạo) văn bản (đưa câu vào văn bản hoặc vào tình huống). Ngoài ra, câu còn có thêm chức năng lôgic, tức là diễn đạt các quan hệ trong tư duy, nhưng chức năng này thể hiện trong cấu trúc giữa các bộ phận chỉ sự việc trong câu và trong mối quan hệ giữa các câu với nhau, nên không được tách riêng ra.
Đối với các ngôn ngữ biến hình, động từ trong câu biến hình theo thức, theo ngôi, theo thời, theo dạng (chủ động và bị động), nên việc xác định phạm vi của câu ít khó khăn. Đối với các ngôn ngữ không biến hình từ như tiếng Việt thì việc xác định vị tố trong một dãy động từ trong câu là việc không hề đơn giản. Cho nên định nghĩa về câu như trên cũng chỉ tiện cho việc miêu tả những câu không quá phức tạp.
Mặt khác, dù cho có thể dùng tên gọi cú thay cho tên gọi câu đơn, thì vẫn không thể tránh được tên gọi câu. Vì nếu không có cái gọi là “câu” thì khó lòng xác định được ranh giới của một hợp thể gồm nhiều câu. Việc xác định ranh giới các bộ phận có nghĩa do một số cú tạo thành trong một văn bản lớn gồm hàng trăm, hàng ngàn câu sẽ cực kì phức tạp nếu không có cái gọi là câu.
Như vậy, với cách quy ước cho rằng “cú” sẽ được gọi là “câu” (“câu đơn”), “hợp thể cú” gọi là “câu ghép, thì vẫn có thể dùng thuật ngữ “câu”
để miêu tả ngữ pháp, như trong ngữ pháp của nhiều ngôn ngữ. Và câu hay cú đều có thể định nghĩa gồm ba yếu tố trên như sau: câu (hay cú) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố, và được dùng để diễn đạt một sự thể (hay một sự việc). Định nghĩa này không tính đến đặc thù của ngôn ngữ cụ thể, và cũng chưa tính đến các chức năng khác, ngoài chức năng nghĩa biểu hiện.
1.2.2. Ba bình diện của câu
Xuất phát từ lí thuyết về tín hiệu học và tín hiệu ngôn ngữ ,trong Ngôn ngữ học nói chung, câu được xem xét từ ba mặt: kết học, nghĩa học, dụng học. Xét từ phạm vi nghiên cứu, luận văn này chỉ đi sâu tìm hiểu về một số vấn đề trong từng mặt kết học, nghĩa học và và một số kiến thức về dụng học của câu.
1.2.2.1. Bình diện kết học của câu
Tìm hiểu bình diện kết học còn gọi là bình diện ngữ pháp – tổ chức hình thức của câu, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề về cấu tạo ngữ pháp của câu đơn hai thành phần, câu đặc biệt. Và nội dung này được chúng tôi kế thừa, trình bày chủ yếu theo quan điểm của GS, TS. Diệp Quang Ban (2008), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội.
a. Câu đơn hai thành phần
Câu đơn hai thành phần là câu đơn có một cụm chủ – vị duy nhất làm thành nòng cốt câu (ví dụ: "Con hổ có nghĩa"). Câu đơn hai thành phần chiếm vị trí trung tâm và chủ yếu của việc miêu tả ngữ pháp về câu. Nó được sử dụng rộng rãi nhất và được dùng làm cơ sở cho những kiểu câu có cấu tạo lớn hơn (câu đơn mở rộng nòng cốt câu, câu phức thành phần và nhất là câu ghép).
b. Câu đơn đặc biệt
Theo Cao Xuân Hạo, câu đặc biệt là "những câu không phản ánh một mệnh đề, không có cấu trúc Đề – Thuyết". "Có thể gọi tên các loại câu đặc biệt ấy là: Câu đặc biệt cảm thán, Câu đặc biệt gọi tên, Câu đặc biệt gọi đáp, Câu đặc biệt tượng thanh" [21; 83; 84]. Diệp Quang Ban định nghĩa "Câu đơn đặc biệt là kiến trúc có một trung tâm cú pháp chính (có thể có thêm trung tâm cú pháp phụ), không chứa hay không hàm ẩn một trung tâm cú pháp thứ hai có quan hệ với nó như là quan hệ giữa chủ ngữ với vị ngữ. Câu đơn đặc biệt (...), trong nó không cần và không thể xác định đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ. (...) Tồn tại trong hoàn cảnh sử dụng của mình, câu đơn đặc biệt tự nó đủ cho người ta hiểu nó" [6, 153]. Đây là chỗ câu đơn đặc biệt khác với câu đơn hai thành phần vắng chủ ngữ hay vắng vị ngữ.
Cũng theo tác giả Diệp Quang Ban (Sđd), câu đơn đặc biệt được hoàn thành từ một từ, hoặc một cụm từ (trừ cụm chủ - vị). Các từ loại thường gặp ở đây là danh từ và vị từ (động từ, tính từ). Câu đơn đặc biệt thường được phân loại theo bản tính từ loại của từ – thành tố chính. Theo đó, câu đơn đặc biệt có thể chia ra thành hai kiểu: câu đặc biệt – danh từ có trung tâm cú pháp chính là danh từ (câu - D) hoặc cụm danh từ (câu – cụm D); câu đặc biệt – vị từ có trung tâm cú pháp chính là động từ (câu - Đ), tính từ (câu - T) hay cụm động từ (câu – cụm Đ), cụm tính từ (câu – cụm T).
Ví dụ:
Nhan đề "Mùa xuân nho nhỏ" (Thanh Hải): có cấu tạo là câu – cụm D Nhan đề "Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh" (Lí Bạch): có cấu tạo là câu – cụm Đ
* Câu đặc biệt – danh từ có trung tâm cú pháp chính là danh từ, hoặc cụm danh từ (đẳng lập và chính phụ). Ví dụ: "Cô Tô" (Nguyễn Tuân), "Bếp lửa" (Bằng Việt), "Tôi và chúng ta" (Lưu Quang Vũ).
Cụm danh từ tiếng Việt đã được nghiên cứu khá sâu về phương diện cấu tạo cú pháp và phần nào về chức năng nghĩa của các yếu tố trong cụm.
Các nhà nghiên cứu tiếng Việt đều chấp nhận cấu trúc ba phần sau đây của cụm danh từ: phần chính (trung tâm), phần phụ trước và phần phụ sau. Song, theo giáo sư Diệp Quang Ban, "việc nghiên cứu cụm danh từ, còn xem xét sâu hơn chức năng tạo nghĩa của các yếu tố đó". Giáo sư đã thay tên gọi "phần phụ" của danh từ bằng "điều biến tố" (modifier) và thay tên gọi "phần chính"
bằng "đầu tố" (head). Điều biến tố được phân biệt phần đứng trước đầu tố (gọi là tiền điều biến tố) và phần đứng sau đầu tố (gọi là hậu điều biến tố). Các yếu tố cụ thể của tiền điều biến tố là phân loại, hình dung từ (chất lượng, thái độ), chỉ thị (hạn định) gồm chỉ định và sở hữu.
Có thể hình dung cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc nghĩa của một cụm danh từ theo quan điểm của Diệp Quang Ban như sau:
Tiền điều biến tố Đầu tố Hậu điều biến tố
4 3 2 1 0 1' 2'
1'a 1'b 1'c 2'a 2'b
Tổng lượng
Số lượng
Đặc chỉ
Quy
loại Vật Phân loại
Hình dung từ Chỉ thị (hạn định) Chất
lượng
Thái độ
Chỉ
thị Sở hữu Tất cả những cái con mèo đen xinh
đẹp
dễ
thương ấy của nhà Giáp Các yếu tố cụ thể trong phần điều biến tố của cụm danh từ có nhiệm vụ chung là cụ thể hóa danh từ vốn mang nghĩa rất chung ở vị trí đầu tố. Mỗi yếu tố được thêm vào là một nấc bổ sung về mặt nghĩa. Đây chính là sự tác động
của mặt kết học đối với mặt nghĩa học của cụm danh từ. Sự xuất hiện các yếu tố trong các vị trí của cấu trúc cụm danh từ sẽ chi phối phần nghĩa của cụm danh từ đó. Với cụm danh từ tiếng Việt, sự bổ sung nghĩa của các yếu tố trong điều biến tố nhìn khái quát diễn ra như sau:
Trong tiền điều biến tố, các yếu tố bổ sung nghĩa về mặt số lượng và tăng dần tính khái quát đối với yếu tố xa dần đầu tố.
Trong hậu điều biến tố, các yếu tố bổ sung nghĩa về mặt chất lượng và tăng dần tính cụ thể hóa đối với yếu tố xa dần đầu tố.
Nhìn tổng quát, ở cụm danh từ tiếng Việt, sự tăng dần tính cụ thể đi theo chiều trước – sau, theo hướng xác định rõ dần vật được nói đến trong cụm từ đó.
Ý nghĩa khái quát nhất của câu đặc biệt – danh từ là chỉ sự tồn tại hiển hiện của vật, nêu lên vật, hiện tượng đang bày ra trước mắt hay xuất hiện tại thời điểm đó. Ví dụ: nhan đề "Cô Tô" (Nguyễn Tuân) là một câu đặc biệt - danh từ nêu sự tồn tại hiển hiện đang bày ra trước mắt của địa danh Cô Tô.
Với ý nghĩa khái quát nêu trên, câu đặc biệt – danh từ thường được dùng trong những trường hợp sau đây:
- Miêu tả sự tồn tại hiển hiện, sự xuất hiện của vật, hiện tượng, nêu hoàn cảnh không gian, thời gian, xác nhận sự hiện diện của một cảm xúc ...
nhằm đưa người đọc vào cương vị người chứng kiến, nhằm làm sống lại những sự vật, cảm xúc... ấy. Ví dụ: “Sông núi nước Nam”, “Bài ca Côn Sơn”, “Quê hương”...
- Nêu sự hiện diện của các hiện tượng thiên nhiên mà trong nhiều trường hợp được dùng làm cái hoàn cảnh nền cho sự kiện khác nêu trong những câu xung quanh. Ví dụ: trong đoạn văn "Gió. Mưa. Não nùng."
(Nguyễn Công Hoan) thì hai câu đầu là hai câu đặc biệt – danh từ được dùng với ý nghĩa đó.
- Dùng làm câu cảm thán để xác nhận một hiện trạng tâm lý, để nói lên thái độ hay đánh giá tâm trạng hiện hữu liên quan đến vật, hiện tượng được gọi tên bằng danh từ trong câu, hoặc để gọi tên vật như một nhu cầu tâm lí, sinh lí. Ví dụ: trong đoạn thơ "Anh với tôi đôi người xa lạ - Tự phương trời
chẳng hẹn quen nhau – Súng bên súng, đầu sát bên đầu - Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ - Đồng chí!" (Chính Hữu) thì câu cuối là một câu đặc biệt – danh từ dùng làm câu cảm thán nói lên niềm xúc động thiêng liêng trước tình cảm đồng chí đồng đội.
- Dùng làm lời gọi. Ví dụ: trong đoạn văn sau “Phượng quay ngoắt về sau, reo to: Chị Hoài! Chị Hoài lên, anh Đông, chị Lí, anh Luận ơi!” (Ma Văn Kháng) thì câu gọi “Chị Hoài!” là câu đặc biệt - danh từ.
- Dùng làm biển đề tên các cơ quan, địa điểm,... cần cho người ta biết, tên các báo, tạp chí, sách... Ví dụ: tên “Trường Đại học Hải Phòng” là câu đặc biệt - danh từ.
- Nêu tên thời gian, cảnh vật trong nhật kí, kịch bản, phóng sự.. Ví dụ:
Những câu “Hà Nội. Mùa đông 1972”. Ghi trong nhật kí là câu đặc biệt- danh từ.
* Câu đặc biệt - vị từ thường được dùng với các ý nghĩa khái quát sau:
chỉ sự tồn tại hiển hiện; chỉ sự tồn tại khái quát; chỉ sự tồn tại định vị; chỉ sự xuất hiện và tiên biến của sự tình. Với 4 kiểu ý nghĩa khái quát này, câu đăc biệt – vị từ thường được dùng trong những trường hợp sau đây:
- Miêu tả sự tồn tại hiển hiện, sự xuất hiện của sự kiện, xác nhận sự hiện diện của trạng thái, nhằm làm sống lại hành động, trạng thái, làm cho chúng có vẻ như đang diễn ra trước mắt người đọc, người nghe: “Treo biển”.
“Đeo nhạc cho mèo”, “Phò giá về kinh”, “Ngắm trăng”
- Miêu tả sự kiện bức tranh tĩnh vật: "Tức cảnh Pác Bó"
- Ghi nhận sự xuất hiện và tiêu biến của sự vật (thường bất ngờ): "ùng ục một tràng tiểu liên..."
- Dùng làm câu cảm thán: "Vĩnh biệt!"
- Dùng làm lời gọi đáp: "Ra đây!"
c. Câu tỉnh lược
Câu tỉnh lược là câu có "một bộ phận nào đó lẽ ra phải có mặt trong câu, nhưng vì những lí do nào đó nó được rút bỏ đi mà vẫn không làm ảnh hưởng đến việc hiểu nghĩa của câu đang xét (....) Phần bị tỉnh lược có thể
được phục hồi để cho câu được trọn vẹn một cách tự nhiên." [8,278]. Ví dụ: câu "Bước ra khỏi cổng thôn Đoài, đã thấy nhà ông Nghị Quế" (Ngô Tất Tố) bị tỉnh lược chủ ngữ. Trong ngôn ngữ nghệ thuật, hiện tượng tỉnh lược được dùng như là một trong những biện pháp tu từ.
1.2.2.2. Bình diện nghĩa học của câu
Ở đây, chúng tôi quan tâm đến lí thuyết về bình diện ngữ nghĩa của câu. Đây là vấn đề có liên quan đến nhan đề các bài Đọc văn trong chương trình Ngữ văn THCS sẽ được nghiên cứu ở chương 2. Nghĩa của câu "được tách một cách ước định ra ngoài văn cảnh và tình huống phát ngôn" [21,9]. Nghĩa này gồm nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả) và nghĩa lô-gích ngôn từ.
a. Nghĩa biểu hiện của câu
"Nghĩa biểu hiện là mặt nghĩa phản ánh một sự tình" [21,9]
Căn cứ vào ý nghĩa của vị tố, ta xác định loại câu đơn hai thành phần có bốn kiểu nghĩa ứng với bốn kiểu nghĩa biểu hiện: câu hành động biểu hiện ý nghĩa hành động, câu quá trình biểu hiện ý nghĩa quá trình, câu trạng thái biểu hiện ý nghĩa trạng thái, câu quan hệ biểu hiện ý nghĩa quan hệ.
Câu đơn đặc biệt biểu hiện ý nghĩa tồn tại.
Câu đặc biệt – danh từ mang ý nghĩa biểu hiện "nhận định rằng có một cái gì đó"tồn tại" "ở đâu đó", nhấn mạnh vào thực thể. "Cái gì tồn tại ở đâu đó" là "con người", là "vật", là không gian, thời gian, thiên nhiên, "một vấn đề của cuộc sống", của văn học, là cảm xúc, tâm trạng, cảnh ngộ, là một thể loại văn bản gắn với chủ đề văn bản đó. Ví dụ: nhan đề "Những câu hát than thân"
là câu – cụm D biểu hiện sự tồn tại của thể loại ca dao gắn với chủ đề "than thân" của văn bản trong sách Ngữ văn 7. Câu đặc biệt – danh từ có các yếu tố ngôn ngữ mang nghĩa biểu hiện khác nhau ở các vị trí khác nhau trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của chúng như vị trí đầu tố có nghĩa chỉ vật; trước đầu tố là các vị trí mang nghĩa tổng lượng, nghĩa số lượng, nghĩa đặc chỉ, nghĩa quy loại; sau đầu tố là các vị trí có nghĩa phân loại, chất lượng, thái độ, chỉ định,