Nước ta hiện nay đã thực hiện rất nhiều chính sách nhằm nâng cao chất lượng công tác BHYT, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề còn bất cập. Đặc biệt, công tác này vẫn còn nhiều khó khăn ở một địa bàn kinh tế còn khó khăn như huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang. Để hiểu rõ hơn những quy định pháp luật về BHYT và tình hình thực tế của địa phương về thực hiện pháp luật BHYT, trong thời gian thực tập tại ...................... tôi đã chọn đề tài “Thực hiện pháp luật Bảo hiểm y tế tại huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang”.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LUẬT
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành:
Đề tài: Thực hiện pháp luật Bảo hiểm y tế tại huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Giảng viên hướng dẫn:
Hà Nội, Tháng 4 Năm 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Báo cáo thực tập tốt nghiệp “Thực hiện pháp luật Bảo hiểm y tế tại huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang” đã được hoàn thành thể hiện kết quả tổng hợp, cô đọng
của bốn năm học tại trường ……… và thời gian thực tập tại …………
Được sự quan tâm, hướng dẫn tận tình của ………… cũng như các bạn bè vàanh chị khóa trước tôi đã hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình Tôi xinchân thành cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ, động viên và khích lệ của thầy và các bạntrong suốt thời gian thực hiện đề tài này
Tôi cảm ơn sự quan tâm, hướng dẫn, giới thiệu của ban lãnh đạo trường
……… trong việc tạo điều kiện cho các sinh viên luật nói chung và bản thân tốinói riêng, tiếp cận với các cơ quan nhà nước, nhờ đó mà tôi có được cách nhìn mớihơn, thực tế hơn về lĩnh vực pháp luật về bảo hiểm y tế cũng như thực tiễn đời sống,góp phần bổ sung kiến thức pháp luật, nâng cao trình độ hiểu biết về các kỹ năngchuyên ngành luật, kinh nghiệm trong cuộc sống
Cảm ơn các cán bộ, công chức trong ………, đã tiếp nhận yêu cầu thựctập và nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn, cung cấp các thông tin về hoạt động bảo hiểm
y tế của huyện Mèo Vạc, đặc biệt là đ/c ……… người hướng dẫn chotôi trong quá trình thực tập và giúp tôi hoàn thành báo cáo này./
NGƯỜI VIẾT BÁO CÁO
Vi Thị Dương
Trang 3MỤC LỤC
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ
4
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
BẢO HIỂM Y TẾ Ở VIỆT NAM
4
1.1.2 Sự hình thành và phát triển của Luật BHYT 7
1.1.3 Đặc điểm, nội dung của pháp luật BHYT 10
1.2 VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG
XÃ HỘI
11
1.2.1 Vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội, BHYT đối với an
sinh xã hội của đất nước
TẠI HUYỆN MÈO VẠC
14
2.1 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM
Y TẾ BẮT BUỘC CỦA HUYỆN MÈO VẠC TRONG THỜI
GIAN QUA
14
2.1.2 Trách nhiệm và quyền hạn của người tham gia BHYT 18
2.1.3.Trình độ nhận thức của người dân về chính sách BHYT 20
2.1.4 Công tác thực thi pháp luật về chính sách BHYT 26
2.2 ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT
VỀ BẢO HIỂM Y TẾ BẮT BUỘC TẠI HUYỆN MÈO VẠC
Trang 4NHỮNG GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ TẠI
HUYỆN MÈO VẠC
3.1.1 Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện pháp luật
bào hiểm y tế
37
3.1.2 Hoàn thiện các quy phạm pháp luật BHYT 42
3.2 Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHYT 46
3.2.1 Nâng cao chất lượng thực hiện công tác tuyên truyền
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU, CÁC HÌNH VẼ
1 Bảng 1 Sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới về sự hiểu biết BHYT
2 Bảng 2 Bảng so sánh sự hiểu biết BHYT giữa các độ tuổi
3 Bảng 3 Bảng so sánh sự hiểu biết BHYT khi ở các tình trạng hôn nhânkhác nhau
4 Bảng 4 Tương quan mức sống và mức độ hiểu biết BHYT
5 Bảng 5 Tỷ lệ bảo phủ BHYT theo địa phương năm 2014-2016 của huyệnMèo Vạc
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người ai cũng muốn có một cuộc sống khoẻ mạnh, ấm no, hạnhphúc Nhưng trong đời người, những rủi ro bất ngờ về sức khoẻ như ốm đau,bệnh tật luôn có thể xảy ra Bệnh tật đã dồn con người vào những thảm cảnhđáng lo ngại Các chi phí khám và chữa bệnh này không được xác định trước,mang tính đột xuất, vì vậy cho dù lớn hay nhỏ đều gây khó khăn cho ngânquỹ mỗi gia đình, cá nhân, đặc biệt đối với những người có thu nhập thấp.Đồng thời, với bệnh tật cũng kéo theo sự mất mát về thu nhập do người bệnhkhông có sức khoẻ để làm việc Từ đó đã đe doạ đến cơ sở kinh tế và sự tồntại trước hết của bản thân những người lao động, sau đó đến các thành viên,những người ăn theo trong gia đình người bệnh và sau đó ảnh hưởng đến sự
ổn định xã hội
Để khắc phục những khó khăn cũng như chủ động về tài chính khi rủi
ro bất ngờ về sức khỏe xảy ra, người ta đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhaunhư tự tích luỹ, bán tài sản, kêu gọi sự hỗ trợ của người than, đi vay… Tuynhiên, những biện pháp đó không thể áp dụng trong trường hợp rủi ro kéo dài
về thời gian và lặp đi lăp lại Khi đó, người ta phải cần đến BHYT Vì thế,cuối thế kỷ XIX, BHYT (BHYT) ra đời nhằm giúp đỡ mọi người lao động vàgia đình khi gặp rủi ro về sức khoẻ BHYT sẽ đảm bảo chi trả toàn bộ hoặctừng phần (tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội của từng nước) những chi phíKCB "khổng lồ", giúp cho người bệnh vượt qua cơn hoạn nạn về bệnh tật,sớm phục hồi sức khoẻ cũng như ổn định cuộc sống gia đình, từ đó ổn địnhđời sống, góp phần bảo đảm an toàn xã hội
Nước ta hiện nay đã thực hiện rất nhiều chính sách nhằm nâng caochất lượng công tác BHYT, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề còn bất cập Đặcbiệt, công tác này vẫn còn nhiều khó khăn ở một địa bàn kinh tế còn khó khănnhư huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang Để hiểu rõ hơn những quy định pháp luật
về BHYT và tình hình thực tế của địa phương về thực hiện pháp luật BHYT,
Trang 7trong thời gian thực tập tại tôi đã chọn đề tài “Thực hiện pháp luật Bảo hiểm y tế tại huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang”.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Thực hiện pháp luật BHYT là một vấn đề khá phức tạp, nó có lịch sửhình thành và phát triển khá phong phú Pháp luật quy định về BHYT đãđược hoàn thiện hơn Tuy nhiên, các quy định của pháp luật BHYT vẫn chưađáp ứng được yêu cầu của từng địa phương
Để nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật BHYT cũng như hiệu quảthực hiện công tác BHYT tôi đã chọn đề tài “Thực hiện pháp luật Bảo hiểm y
tế tại huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang” để tìm hiểu rõ hơn về thực hiện phápluật BHYT tại đây và muốn đưa ra một số giải pháp cho công tác này
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu chuyên đề
Đề tài tập trung tìm hiểu những quy định của pháp luật về BHYT vàthực trạng công tác này tại huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang trong thời gianqua, qua đó nêu rõ những kết quả đạt được và hạn chế, bất cập; phân tíchnguyên nhân của những hạn chế của công tác đó, đồng thời đề xuất một sốgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật BHYT nóichung và tại địa phương nói riêng
Để làm rõ nội dung của đề tài, thực hiện được mục tiêu đã đặt ra,nhiệm vụ mà đề tài phải làm được đó là:
- Tìm hiểu và phân tích một số quy định của pháp luật về BHYT
- Thu thập, xử lý và phân tích thông tin, dữ liệu về thực trạng thựchiện pháp luật về BHYT, những kết quả đạt được và những tồn tại
- Phân tích các nguyên nhân thực trạng trên, đồng thời đề xuất một sốgiải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác thực hiện pháp luật
về BHYT tại huyện Mèo Vạc
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật vềBHYT và tình hình thực hiện công tác này tại huyện Mèo Vạc tỉnh Hà giang
Trang 85 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin trực tiếp: Quan sát, khảo sát thực tế.Thông qua hoạt động giải quyết công việc thực tế ………
- Phương pháp thu thập thông tin gián tiếp: Phân tích và tổng hợp số liệu:+ Các số liệu được cung cấp từ cơ quan BHXH huyện Mèo Vạc
+ Các thông tin từ sách, báo;
+ Nguồn tin từ mạng Internet;
+ Thông tin từ báo cáo định kỳ cơ quan BHXH huyện Mèo Vạc
6 Kết cấu của chuyên đề
Chương 1: Khái quát chung về pháp luật BHYT Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật BHYT tại huyện Mèo VạcChương 3: Những giải pháp, kiến nghị chủ yếu nâng cao hiệu quả thựchiện pháp luật BHYT tại huyện Mèo Vạc
Trang 9Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ Ở VIỆT NAM
1.1.1.Khái niệm, bản chất của BHYT
a) Khái niệm BHYT
BHYT hay bảo hiểm sức khỏe là một hình thức bảo hiểm theo đóngười mua bảo hiểm sẽ được cơ quan bảo hiểm trả thay một phần hoặc toàn
bộ chi phí khám chữa bệnh cũng như chi phí mua thuốc men khám chữabệnh Bảo hiểm y tế tạo điều kiện cho bệnh nhân được khám và điều trị dùkhông có đủ tiền trang trải số chi phí khám chữa bệnh thực tế cho cơ quan y
tế Để có thể đạt được điều này, bản thân các cơ quan y tế cũng phải tham giavào công tác bảo hiểm này Thường thì các cơ quan y tế công lập bị yêu cầuphải tham gia Còn các cơ quan y tế tư nhân được khuyến khích tham gia và
họ có tham gia hay không là do tự họ quyết định
Tùy mỗi nước mà phạm vi đối tượng bảo hiểm và mức độ bảo hiểm(một phần hay toàn bộ) ở mỗi nước một khác
Ở mỗi quốc gia có cách phân loại BHYT khác nhau Ví dụ, tại NhậtBản, BHYT bao gồm cả các chính sách bảo hiểm ngắn hạn là: Ốm đau, Thaisản, Tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp và khám chữa bệnh Chế độ bảohiểm xã hội chỉ gồm có 2 loại là BHYT và Bảo hiểm hưu trí Tại Việt Nam,Bảo hiểm xã hội bao gồm các chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnhnghề nghiệp, hưu trí và tử tuất Bên cạnh đó là BHYT, Bảo hiểm Thất nghiệp.Việt Nam cũng đang hướng tới mô hình Bảo hiểm xã hội đa tầng giống nhưtại Pháp Theo đó, khi người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộctheo quy định của pháp luật, trong trường hợp gặp phải các sự cố sẽ được cơquan bảo hiểm chi trả theo đúng nguyên tắc bảo hiểm Để được thanh toán
Trang 10100% các chi phí phát sinh do sự kiện bảo hiểm gây ra, người tham gia sẽđóng thêm một số tiền nhất định cho công ty bảo hiểm (do người tham gia lựachọn) theo hợp đồng đã được hai bên đồng thuận từ trước Mô hình bảo hiểmnày kiện toàn và phát huy hiệu quả từ chính sách bảo hiểm của Nhà nước,huóng tới sự phát triển bền vững của cộng đồng, xã hội.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, khái niệm BHYT vẫn có tính độc lập tươngđối so với khái niệm BHXH, đặc biệt là ở góc độ luật thực định, tính độc lậpcàng thể hiện rõ Khái niệm về BHYT được trình bày trong cuốn " Từ điểnBách khoa Việt Nam I xuất bản năm 1995" - Nhà xuất bản từ điển Báchkhoa - trang 151 như sau: "BHYT là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức,quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội
để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân" Và khái niệmnày được làm rõ, cụ thể hơn tại khoản 1, điều 2 Luật BHYT số
25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 do Quốc hội ban hành: BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này
b) Bản chất của BHYT
Từ những khái quát trên, cùng với những thực tế đã diễn ra trong lịch
sử phát triển BHXH, BHYT trên thế giới hơn 100 năm và trong nước hơn 10năm nay, chúng ta có thể phân tích đầy đủ hơn về bản chất của BHYT
BHYT trước hết là một nội dung của bảo hiểm xã hội - một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống bảo đảm xã hội hay còn gọi là hệ thống an sinh xã hội ( được quy định tại Công ước 102 của Tổ chức Lao động quốc tế ILO) Thực chất, BHYT mang tính chất của bảo hiểm xã hội, là
một hình thức bảo hiểm sức khỏe của con người được các nước quan tâmphát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, Việt Nam triển khai BHYT độc lập với bảohiểm xã hội Vì vậy, BHYT Việt Nam được tách ra với tên gọi riêng, không
Trang 11thuộc khái niệm bảo hiểm xã hội, mặc dù đó là hình thức bảo hiểm mang tính
xã hội và phi lợi nhuận
BHYT là một tổ chức cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau Ở các
nước công nghiệp phát triển người ta định nghĩa BHYT trước hết là một tổchức cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, nó có nhiệm vụ gìn giữ sứckhỏe, khôi phục lại sức khỏe hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của ngườitham gia BHYT Như vậy, trong hoạt động BHYT thì tính cộng đồng đoànkết cùng chia sẻ rủi ro rất cao; nó là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ và chămsóc sức khỏe; nó điều tiết mạnh mẽ giữa người khoẻ mạnh với người ốm yếu,giữa thanh niên với người già cả và giữa người có thu nhập cao với nhữngngười có thu nhập thấp Sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau trong BHYT là sựđảm bảo cho từng người dựa trên cơ sở của sự đoàn kết không điều kiện, của
sự hợp tác cùng chung lòng, chung sức và gắn kết chặt chẽ với nhau Theođịnh nghĩa BHYT nêu trên, thì sự đoàn kết tương trợ vừa mang một ý nghĩa
tự giác, vừa mang ý nghĩa cùng chịu trách nhiệm và vừa có sự thống nhất vềquan điểm chung Người ta còn cho rằng: Đoàn kết tương trợ là nền tảng xãhội cho sự phát triển của mỗi chế độ xã hội loài người và nó mang lại mộtgương mặt nhân đạo mới cho chế độ xã hội đó Tính nhân đạo của hoạt độngđoàn kết tương trợ sẽ đánh dấu bước tiến bộ của thể chế xã hội Đây cũngchính là bản chất nhân văn của hoạt động BHYT mà chúng ta thường đề cậpđến Tuy nhiên đoàn kết tương trợ không chỉ là quyền được nhận mà còn phải
là nghĩa vụ đóng góp Sự công bằng và bình đẳng của một chế độ xã hội đượcgắn bó với sự đoàn kết được thể hiện ở chỗ: ai muốn đạt được sự bền chặt vềđoàn kết thì cần thực hiện nhiều hơn sự công bằng Điều đó chỉ có thể đượctạo ra thông qua sự điều chỉnh trong thực tế, vì "sự công bằng" là yếu tốđộng, nó chỉ đạt được tại một thời điểm, còn lại đều là sự không công bằng.Đây là một trong những yếu tố tác động đến sự phát triển xã hội Do vậy, cầnphải có sự tích cực điều chỉnh thực tế một cách thường xuyên nhằm đảm bảo
Trang 12mối quan hệ tương thích giữa nghĩa vụ và quyền lợi trong hoạt động củaBHYT
BHYT sẽ bảo đảm cho những người tham gia BHYT và các thành viêngia đình của họ những khả năng để đề phòng, ngăn ngừa bệnh tật; phát hiệnsớm bệnh tật; chữa trị và khôi phục lại sức khoẻ sau bệnh tật Do các chế độBHXH về khám chữa bệnh, chế độ thai sản và chế độ ốm đau (chi trả tiềnthay thế tiền lương trong những ngày ốm đau không làm việc được) đều cócùng phương thức hoạt động và các nguyên tắc cơ bản chung, cho nên tùytheo đặc điểm lịch sử, tập quán của từng nước mà BHYT có thể bao gồm cảchế độ khám chữa bệnh, chế độ thai sản và chế độ ốm đau hoặc được tách ratheo từng chế độ riêng biệt Điều đó liên quan đến phạm vi đối tượng thamgia BHXH, đến mức đóng góp và các chế độ được hưởng
1.1.2 Sự hình thành và phát triển của Luật BHYT
a) Sự hình thành và phát triển của Luật BHYT trên thế giới
* Bảo hiểm xã hội thời kỳ đầu:
- Bảo hiểm xã hội tại các bản làng: Khi có người bị ốm đau, tai nạnchết thì họ hàng, bà con chòm xóm giúp đỡ cưu mang nhau về chăm sóc, tinhthần vật chất (lá lành đùm lá rách)
- Bảo hiểm xã hội trong các nhà thờ: Thường ở các nhà thờ có tổ chứcnuôi trẻ mồ côi, tổ chức cứu tế cho người nghèo không có điều kiện sinhsống, đói rách
- Bảo hiểm xã hội tại vùng An Pơ: Thế kỷ 16 ở vùng thung lũng An
Pơ, những người trồng nho đã tự đứng ra thành lập các quỹ trợ cấp để giúp đỡnhững người bị ốm đau, tai nạn bằng cách mỗi người đóng góp một phần thunhập vào quỹ xã hội
* Vai trò của Nhà nước đối với bảo hiểm xã hội:
- Mục đích, bản chất và khái niệm bảo hiểm xã hội: Từ thế kỷ 18, khinền công nghiệp phát triển ở châu Âu thì lực lượng làm công ăn lương (côngnhân) ngày càng đông Những người này do bán sức lao động để nhận tiền
Trang 13lương trang trải cho cuộc sống Khi gặp phải những trường hợp ốm đau, tainạn, già yếu không làm việc được nên không có tiền lương để sinh sống, lâmvào cảnh khốn cùng, phát sinh nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội Đồngthời những hình thức trợ cấp xã hội tự phát không đủ khả năng về kinh phí đểtrợ cấp ổn định lâu dài.
Thực tế đã bắt buộc chính phủ ở một số nước phải xem xét đến vấn đềbảo hiểm xã hội, nhằm mục đích huy động sự đóng góp của người lao động,người sử dụng lao động, có sự hỗ trợ của nhà nước để trợ cấp cho người laođộng khi gặp những trường hợp phải nghỉ việc không có tiền lương để đảmbảo cho cuộc sống của họ
Vì vậy, bản chất của bảo hiểm xã hội là sự tương trợ cộng đồng, là sựđoàn kết đùm bọc chia sẻ rủi ro cho nhau, mang tính nhân văn, nhân đạo sâusắc
Có nhiều khái niệm về bảo hiểm xã hội nhưng theo tổ chức Lao độngquốc tế thì bảo hiểm xã hội là “sự bảo vệ của cộng đồng xã hội đối với cácthành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào quỹ bảohiểm xã hội để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật, giàyếu, thất nghiệp Đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đôngcon để ổn định đời sống của thành viên và đảm bảo an toàn của xã hội”
- Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của bảo hiểm xã hội:Đối tượng điềuchỉnh của bảo hiểm xã hội là người lao động (một vài trường hợp điều chỉnhquan hệ với cả thân nhân của người lao động)
Phạm vi điều chỉnh trợ cấp bao gồm các trường hợp bị mất hoặc bịngừng thu nhập do khách quan Theo ILO có 9 trường hợp là: ốm đau, thaisản, tai nạn, thương tật, già cả, thất nghiệp, tử tuất, chăm sóc y tế và trợ cấpgia đình
- Các đạo luật về bảo hiểm xã hội dưới thời Bismac:Bismac là Thủtướng nước Phổ (Đức) là người đầu tiên khởi xướng và ban hành các đạo luật
về bảo hiểm xã hội:
Trang 14+ 1883 Luật về ốm đau;
+ 1885 Luật về tai nạn;
+ 1888 Luật về hưu trí
* Sự phát triển của bảo hiểm xã hội trên thế giới:
- Bảo hiểm xã hội trước chiến tranh thế giới I: Bảo hiểm xã hội mớiđược một số nước ban hành luật và tổ chức thực hiện như ở Đức, Bỉ (1905),
Áo, Ý, Pháp
- Bảo hiểm xã hội sau chiến tranh thế giới I: Bảo hiểm xã hội đượcnhiều nước ở châu Âu, châu Mỹ thực hiện như ở Nga 1917, Phần Lan, Na
Uy, Anh, Thụy Điển, Mỹ (1935)
- Bảo hiểm xã hội sau chiến tranh thế giới II: Bảo hiểm xã hội lan rộng
ra nhiều nước ở châu Âu, châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, ĐàiLoan, Philippin… Hiện nay có trên 180 nước có luật về bảo hiểm xã hội
b) Sự phát triển của BHYT tại Việt Nam
* Giai đoạn trước năm 1945:
- Trước năm 1945 ở Việt Nam chưa có pháp luật bảo hiểm xã hội Bởi
vì đất nước bị thực dân Pháp đô hộ Đời sống của nhân dân vô cùng cực khổ,nghèo đói
- Tuy nhiên nhân dân Việt Nam có truyền thống cưu mang, giúp đỡlẫn nhau những khi gặp rủi ro hoạn nạn Đặc biệt là sự che chở của họ hànglàng xã thân tộc Cũng có một số nhà thờ tổ chức nuôi trẻ mồ côi, thực hiện tếbần (BHXH sơ khai)
* Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954:
- Tháng 8 năm 1945 Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời.Tháng 12 năm 1946 Quốc hội đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nhà nướcdân chủ nhân dân Trong Hiến pháp có xác định quyền được trợ cấp củangười tàn tật và người già
- Ngày 12 tháng 3 năm 1947 Chủ tịch nước Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh
số 29/SL quy định chế độ trợ cấp cho công nhân
Trang 15- Ngày 20 tháng 5 năm 1950 Hồ Chủ Tịch ký 2 sắc lệnh là 76, 77 quyđịnh thực hiện các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí cho cán
bộ, công nhân viên chức
Đặc điểm của chính sách pháp luật bảo hiểm xã hội ở thời kỳ này là dotrong hoàn cảnh kháng chiến gian khổ nên việc thực hiện bảo hiểm xã hội rấthạn chế Tuy nhiên, đây là thời kỳ đánh dấu sự quan tâm rất lớn của Đảng vàNhà nước về chính sách bảo hiểm xã hội Đồng thời những quy định về bảohiểm xã hội của Nhà nước ở thời kỳ này là cơ sở cho sự phát triển bảo hiểm
xã hội sau này
* Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975:
Miền Bắc được giải phóng, xây dựng chủ nghĩa xã hội nên pháp luật
về BHXH được phát triển mở rộng nhanh Điều lệ BHXH ban hành ngày27/12/1961 có thể coi là văn bản gốc về BHXH quy định đối tượng là CNVCNhà nước, hệ thống 6 chế độ BHXH, quỹ BHXH nằm trong ngân sách nhànước do các cơ quan đơn vị đóng góp Năm 1964, Điều lệ đãi ngộ quân nhân.Riêng miền Nam, BHXH cũng thực hiện đối với công chức, quân đội làmviệc cho chính thể Ngụy
* Giai đoạn từ năm 1975 đến 1995:
BHXH được thực hiện thống nhất trong cả nước Có nhiều lần đượcsửa đổi, bổ sung cho phù hợp với nền kinh tế xã hội Tuy nhiên sau khi Nhànước chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tếthị trường theo định hướng XHCN thì chính sách BHXH bộc lộ những nộidung cần sửa đổi bổ sung
* Giai đoạn từ 1995 đến nay:
BHXH mở rộng đối tượng, thành lập quỹ BHXH độc lập với ngânsách Nhà nước do sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và
sự hỗ trợ của Nhà nước, thành lập cơ quan chuyên trách để quản lý quỹ vàgiải quyết các chế độ trợ cấp
Trang 16Ngày 16/02/1995, Chính phủ có Nghị định số 19/CP thành lập Bảohiểm xã hội Việt Nam trên cơ sở thống nhất chức năng, nhiệm vụ các bộ của
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động ViệtNam
Ngày 24/01/2002, Chính phủ có Quyết định số 20/2002/QĐ-TTgchuyển BHYT thuộc Bộ Y tế sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam
* Tại sao lại chuyển BHYT sang Bảo hiểm xã hội vì:
Thực hiện cải cách hành chính: Tách sự nghiệp ra khỏi quản lý Nhànước (BHYT là trọng tài giữa bệnh nhân và cơ sở khám chữa bệnh)
- BHXH, BHYT cùng chung bản chất, mục đích
- BHXH, BHYT cùng nhiệm vụ thu, chi (đặc thù giám định)
Nghiên cứu sơ lược về quá trình phát triển và đặc điểm của bảo hiểm
xã hội ở Việt Nam nhằm giúp chúng ta phần nào có cơ sở xem xét một cách
có hệ thống và đánh giá khách quan về chính sách pháp luật bảo hiểm xã hội
Từ đó có điều kiện thuận lợi để nghiên cứu chính sách pháp luật bảo hiểm xãhội của các nước trên thế giới
1.1.3 Đặc điểm, nội dung của pháp luật BHYT
a) Đặc điểm của pháp luật BHYT
Trên cơ sở khái niệm BHYT nói trên, có thể thấy bên cạnh những tínhchất chung của một chế độ an sinh xã hội, BHYT còn có một số đặc điểmsau:
- BHYT có đối tượng tham gia rộng rãi, bao gồm mọi thành viên trong
xã hội không phân biệt giới tính, tuổi tác, khu vực làm việc, hình thức quan
hệ lao động…
- BHYT không nhằm bù đắp cho thu nhập cho người hưởng bảo hiểm(như chế độ BHXH ốm đau, tai nạn lao động…) mà nhằm chăm sóc sức khỏecho họ khi bị bệnh tật, ốm đau… trên cơ sở quan hệ BHYT mà họ tham gia
Trang 17- BHYT là chi phí ngắn hạn, không xác định trước, không phụ thuộcvào thời gian đóng, mức đóng mà phụ thuộc vào mức độ bệnh tật và khả năngcung ứng các dịch vụ y tế.
b) Nội dung của pháp luật BHYT
BHYT là một chính sách xã hội mang ý nghĩa nhân đạo, có tính chia
sẻ cộng đồng được Đảng, Nhà nước ta hết sức coi trọng Sau hơn 17 nămhoạt động, BHYT đã từng bước phát triển, đạt được nhiều thành tựu quantrọng, ngoài mục đích là chia sẻ rủi ro sức khoẻ, BHYT còn góp phần thựchiện mục tiêu công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo an sinh
xã hội
Những nội dung cơ bản của BHYT được quy định khá đầy đủ trongLuật BHYT được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2008 và có hiệu lực từngày 1/7/2009 Luật này đã thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và ansinh xã hội về công bằng và phát triển trong công tác chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe nhân dân thành pháp luật của Nhà nước, tạo cơ sở pháp lý cơ bản và đầy
đủ nhất trong thực hiện chính sách BHYT
1.2 VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
1.2.1 Vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội, BHYT đối với an sinh
xã hội của đất nước
Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
đã mang lại gương mặt tươi sáng cho sự phát triển toàn diện của đất nước.Cùng với sự phát triển kinh tế là sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống ansinh xã hội, đặc biệt là chính sách bảo hiểm xã hội, BHYT đã phát huy vai tròtrụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần tích cực vào việc ổn định xãhội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh
Ở mỗi quốc gia, tùy theo hoàn cảnh lịch sử, trình độ kinh tế - xã hộikhác nhau mà xây dựng một hệ thống an sinh xã hội có phạm vi đối tượng
Trang 18tham gia và hưởng thụ khác nhau Khái niệm an sinh xã hội (từ quen gọi theonghĩa Hán - Việt và nếu dịch từ tiếng Anh hoặc tiếng Đức “Social security -
soziale Sicherung” là bảo đảm xã hội hay an toàn xã hội) có thể hiểu một cách chung nhất là sự bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình, bằng một loạt các biện pháp công cộng, khắc phục sự hẫng hụt về kinh tế và
xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, kể cả sự bảo vệ chăm sóc y tế và chăm sóc gia đình có con nhỏ.
1.2.2 Vai trò của chính sách bảo hiểm xã hội, BHYT đối hệ thống
an sinh xã hội
Căn cứ bản chất của an sinh xã hội cũng như phạm vi hoạt động củalĩnh vực này trong nhiều năm qua ở Việt Nam, có thể thấy hệ thống an sinh
xã hội bao gồm 3 hệ thống cấu thành sau:
a) Hệ thống ưu đãi xã hội
Hệ thống này hoàn toàn dựa vào các chế độ phúc lợi từ ngân sách nhànước Người nhận được các quyền lợi này do Nhà nước quy định và khôngđòi hỏi sự đóng góp hay điều kiện vật chất đối lại, mà dựa vào sự cống hiếncủa họ đối với đất nước như chiến đấu dũng cảm bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ anninh, trật tự xã hội, phòng, chống tội phạm ở nước ta, chính sách thươngbinh, liệt sĩ và người có công với cách mạng là chính sách ưu đãi xã hội, luônđược Đảng và Nhà nước quan tâm, có ý nghĩa chính trị - xã hội và nhân vănsâu sắc Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng đã góp phần chăm
lo, cải thiện đời sống của hàng triệu người, góp phần ổn định chính trị - xãhội và phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới
b) Hệ thống bảo trợ xã hội
Hệ thống này cũng dựa vào nguồn ngân sách nhà nước là chính Đâycũng là một kênh phân phối lại thu nhập quốc dân cho từng nhóm đối tượnggắn với những điều kiện nhất định hoặc trong những trường hợp cấp báchnhất định những khoản trợ giúp hoặc hỗ trợ bằng hiện vật và bằng tiền, không
Trang 19xem xét đến sự đóng góp trước đó mà chỉ cần kiểm tra về những khó khăn vànhu cầu thiết yếu của người gặp rủi ro khi bản thân họ không tự lo được cuộcsống tối thiểu hay sức lực của họ không thể vượt qua những rủi ro đó Bảo trợ
xã hội được coi là “lưới đỡ cuối cùng” trong hệ thống mạng lưới an sinh xãhội Hoạt động bảo trợ xã hội trong những năm gần đây đã thực hiện tốt haichức năng cơ bản: cứu trợ và trợ giúp phát triển
Nguồn tài chính của hệ thống này rất đa dạng và phong phú, ngoàinguồn chính từ ngân sách nhà nước, còn huy động từ sự đóng góp, quyên gópcủa các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức thể hiện truyền thống đoàn kếttương thân, tương ái của dân tộc ta
c) Hệ thống bảo hiểm xã hội
Hệ thống bảo hiểm xã hội sẽ bảo đảm quyền lợi cho người lao độngtrên cơ sở đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động Theophương thức đó, người lao động phải có đóng góp vào quỹ BHXH mới đượcquyền lợi BHXH Còn mối quan hệ giữa mức đóng và quyền lợi được hưởnglại chịu sự ràng buộc của các nguyên tắc như: nguyên tắc đoàn kết tương trợchia sẻ rủi ro (thể hiện ở chính sách BHYT, chế độ ốm đau, thai sản, tai nạnlao động và bệnh nghề nghiệp ), nguyên tắc tương quan giữa đóng và hưởng
có sự can thiệp nhờ cách thức phân phối lại mang tính xã hội (chế độ hưu trí,
tử tuất)
Trang 20Chương 2 THỰC TRẠNG THI HÀNH PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ TẠI
HUYỆN MÈO VẠC
2.1 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y
TẾ BẮT BUỘC CỦA HUYỆN MÈO VẠC TRONG THỜI GIAN QUA
2.1.1 Đối tượng tham gia BHYT
Đối tượng tham gia BHYT được quy định tại điều 12 Luật Bảo hiểm Y
tế như sau:
* Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, bao gồm:
- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác địnhthời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động
là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viênchức (sau đây gọi chung là người lao động);
- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quyđịnh của pháp luật
* Nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng, bao gồm:
- Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;
- Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trịdài ngày; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng;
- Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảohiểm xã hội hằng tháng;
- Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp
* Nhóm do ngân sách nhà nước đóng, bao gồm:
- Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân độiđang tại ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyênmôn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công
an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ có thời hạn trong công an nhân dân; ngườilàm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu
Trang 21được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở cáctrường quân đội, công an;
- Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằngtháng từ ngân sách nhà nước;
- Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấphằng tháng từ ngân sách nhà nước;
- Người có công với cách mạng, cựu chiến binh;
- Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đươngnhiệm;
- Trẻ em dưới 6 tuổi;
- Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng;
- Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinhsống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tạivùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại
xã đảo, huyện đảo;
- Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợhoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;
- Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng quyđịnh tại điểm i khoản này;
l) Thân nhân của các đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;m) Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật;
- Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bổng từngân sách của Nhà nước Việt Nam
* Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng, bao gồm:
a) Người thuộc hộ gia đình cận nghèo;
- Học sinh, sinh viên
* Nhóm tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình gồm những ngườithuộc hộ gia đình, trừ đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này
Trang 22* Chính phủ quy định các đối tượng khác ngoài các đối tượng quyđịnh tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này; quy định việc cấp thẻ bảo hiểm y tế đốivới đối tượng do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý và đối tượng quy địnhtại điểm 1 khoản 3 Điều này; quy định lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế, phạm
vi quyền lợi, mức hưởng bảo hiểm y tế, khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế,quản lý, sử dụng phần kinh phí dành cho khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y
tế, giám định bảo hiểm y tế, thanh toán, quyết toán bảo hiểm y tế đối với cácđối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.”
Cùng với đó Luật cũng quy định rõ mức đóng và trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế cụ thể:
- Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại điểm a khoản 1Điều 12 của Luật này tối đa bằng 6% tiền lương tháng, trong đó người sửdụng lao động đóng 2/3 và người lao động đóng 1/3 Trong thời gian ngườilao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảohiểm xã hội thì mức đóng hằng tháng tối đa bằng 6% tiền lương tháng củangười lao động trước khi nghỉ thai sản và do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng;
- Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại điểm b khoản 1Điều 12 của Luật này tối đa bằng 6% mức lương cơ sở, trong đó người sửdụng lao động đóng 2/3 và người lao động đóng 1/3;
- Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại điểm a khoản 2Điều 12 của Luật này tối đa bằng 6% tiền lương hưu, trợ cấp mất sức laođộng và do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng;
- Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại điểm b và điểm ckhoản 2 Điều 12 của Luật này tối đa bằng 6% mức lương cơ sở và do tổ chứcbảo hiểm xã hội đóng;
- Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại điểm d khoản 2Điều 12 của Luật này tối đa bằng 6% tiền trợ cấp thất nghiệp và do tổ chứcbảo hiểm xã hội đóng;
Trang 23- Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại điểm a khoản 3Điều 12 của Luật này tối đa bằng 6% tiền lương tháng đối với người hưởnglương, tối đa bằng 6% mức lương cơ sở đối với người hưởng sinh hoạt phí và
do ngân sách nhà nước đóng;
- Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại các điểm b, c, d, đ,
e, g, h, i, k, l và m khoản 3 Điều 12 của Luật này tối đa bằng 6% mức lương
cơ sở và do ngân sách nhà nước đóng;
- Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại điểm n khoản 3Điều 12 của Luật này tối đa bằng 6% mức lương cơ sở và do cơ quan, tổchức, đơn vị cấp học bổng đóng;
- Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 12của Luật này tối đa bằng 6% mức lương cơ sở do đối tượng tự đóng và đượcngân sách nhà nước hỗ trợ một phần mức đóng;
- Mức đóng hằng tháng của đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 12của Luật này tối đa bằng 6% mức lương cơ sở và do đối tượng đóng theo hộgia đình
Trường hợp một người đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia bảohiểm y tế khác nhau quy định tại Điều 12 của Luật này thì đóng bảo hiểm y tếtheo đối tượng đầu tiên mà người đó được xác định theo thứ tự của các đốitượng quy định tại Điều 12 của Luật này
Trường hợp đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 của Luậtnày có thêm một hoặc nhiều hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặchợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên thì đóng bảo hiểm y tếtheo hợp đồng lao động có mức tiền lương cao nhất
Trường hợp đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 của Luậtnày đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia bảo hiểm y tế khác nhau quyđịnh tại Điều 12 của Luật này thì đóng bảo hiểm y tế theo thứ tự như sau: do
tổ chức bảo hiểm xã hội đóng, do ngân sách nhà nước đóng, do đối tượng
và Ủy ban nhân dân cấp xã đóng
Trang 24Tất cả thành viên thuộc hộ gia đình theo quy định tại khoản 5 Điều 12của Luật này phải tham gia bảo hiểm y tế Mức đóng được giảm dần từ thànhviên thứ hai trở đi, cụ thể như sau:
- Người thứ nhất đóng tối đa bằng 6% mức lương cơ sở;
- Người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50%mức đóng của người thứ nhất;
- Từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứnhất
2.1.2 Trách nhiệm và quyền hạn của người tham gia BHYT
a) Trách nhiệm của người tham gia BHYT
* Trách nhiệm của người lao độngCăn cứ vào điều 16 của Luật BHYT thì người tham gia bảo hiểm hiểm
y tế có trách nhiệm như sau:
- Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này;
-Thực hiện quy định về việc lập hồ sơ bảo hiểm xã hội;
- Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội theo đúng quy định;
- Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
Ngoài việc thực hiện các quy định trên, người lao động tham gia bảohiểm thất nghiệp còn có các trách nhiệm sau đây:
- Đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội;
-Thông báo hằng tháng với tổ chức bảo hiểm xã hội về việc tìm kiếmviệc làm trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp;
- Nhận việc làm hoặc tham gia khoá học nghề phù hợp khi tổ chức bảohiểm xã hội giới thiệu
* Trách nhiệm của người sử dụng lao động
- Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 92 và hằng tháng trích
từ tiền lương, tiền công của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 91của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội;
Trang 25- Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội của người lao động trong thời gianngười lao động làm việc;
- Trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động khi người đó không còn làmviệc;
- Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ, đóng và hưởng bảo hiểm xãhội;
- Trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động;
- Giới thiệu người lao động đi giám định mức suy giảm khả năng laođộng tại Hội đồng Giám định y khoa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều
41, Điều 51 và điểm b khoản 1 Điều 55 của Luật BHYT
- Cung cấp tài liệu, thông tin liên quan theo yêu cầu của cơ quan nhànước có thẩm quyền;
- Cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao độngkhi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu;
- Các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
Ngoài việc thực hiện các quy định trên, hằng tháng người sử dụng laođộng tham gia bảo hiểm thất nghiệp đóng bảo hiểm thất trích từ tiền lương,tiền công của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm thấtnghiệp
b) Quyền hạn của người tham gia BHYT
* Quyền hạn của người lao độngLuật BHYT quy định rõ quyền hạn của người lao động tại điều 15 nhưsau:
- Được cấp sổ bảo hiểm xã hội;
- Nhận sổ bảo hiểm xã hội khi không còn làm việc;
- Nhận lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội đầy đủ, kịp thời;
- Hưởng BHYT trong các trường hợp sau đây:
+ Đang hưởng lương hưu;
Trang 26+ Nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằngtháng;
+ Đang hưởng trợ cấp thất nghiệp;
- Uỷ quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội;
- Yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp thông tin quy của phápluật; yêu cầu tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin quy định
- Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội;
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật
* Quyền của người sử dụng lao độngĐược quy định tại điều 17 Luật BHYT như sau:
- Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật
về bảo hiểm xã hội;
- Khiếu nại, tố cáo về bảo hiểm xã hội;
- Các quyền khác theo quy định của pháp luật
2.1.3.Trình độ nhận thức của người dân về chính sách BHYT
Trong những năm gần đây số lượng người tham gia BHYT ngày càngtăng những vẫn chưa đạt được mục tiêu đã đề ra của Bộ Y tế Tuy nhiên, từ
số liệu tăng cho thấy người dân đã dần nhận thức và thấy được những lợi íchthiết thực của BHYT, điều này càng thôi thúc xây dựng và triển khai nhiềugiải pháp nhằm hướng tới mục tiêu đạt tỷ lệ người tham gia BHYT cao hơn
và hướng tới đạt được mục tiêu đã đề ra
Qua các buổi tập huấn, các cuộc vận động cũng như qua các kênhtruyền thông người dân mua BHYT đã hiểu rõ hơn về BHYT BHYT là mộttrong những chính sách an sinh xã hội quan trọng, mang tính nhân văn vànhân đạo sâu sắc, thể hiện sự tương thân tương ái, chia sẻ rủi ro giữa ngườikhỏe với người bệnh, giữa người trẻ với người già, giữa người có thu nhậpcao với người có thu nhập thấp, đồng thời thể hiện sự quan tâm của Đảng vàNhà nước nhằm hướng tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe, góp phầnđảm bảo an sinh xã hội Chính sách BHYT đã giúp rất nhiều người dân vượt
Trang 27qua khó khăn vì bệnh tật, cứu giúp hàng triệu gia đình không rơi vào cảnhbần cùng khi phải chữa trị bệnh tật cho người thân Tuy nhiên nhận thức củangười dân về BHYT còn chưa đầy đủ, điều kiện kinh tế còn khó khăn vàngười dân còn có thói quen khi có bệnh thường mua thuốc để điều trị tại nhà,chất lượng khám chữa bệnh tại các tuyến cơ sở chưa tốt dẫn đến chưa đápứng được nhu cầu của người bệnh, chưa tạo được niềm tin cho người dân khitham gia BHYT, một số người chỉ tham gia khi bản thân họ bị bệnh nặng,bệnh nan y đã dẫn đến tình trạng tỷ lệ người tham gia còn thấp
Nhiều người nghĩ không việc gì phải mua BHYT để phòng bệnh, khi
có bệnh mới nghĩ đến Thực ra, mua BHYT không phải chỉ để dành cho lúcmình ốm đau, mà còn giúp người khác chữa bệnh và đó chính là ý nghĩa nhânvăn của BHYT Nếu trước đây BHYT chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ nguồn thu củacác cơ sở khám, chữa bệnh, thì hiện nay đã tăng lên nhanh chóng và chiếm tỷ
lệ đáng kể về nguồn thu của các cơ sở khám, chữa bệnh Điều này cho thấyngười dân đã tin tưởng, an tâm hơn với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khámchữa bệnh bằng thẻ BHYT Tỷ lệ người dân tham gia BHYT và khám, chữabệnh ngày càng cao, đã góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng dịch
vụ tại các cơ sở y tế Nhà nước và các cơ quan chức năng đã đặt quyền lợingười bệnh lên trên hết, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham giaBHYT và hưởng sự chăm sóc ngang bằng với loại hình dịch vụ khi có bệnh
Nhận thức của con người về đời sống xã hội bao giờ cũng có mặt tíchcực và tiêu cực, BHYT cũng không ngoại lệ, chúng ta hẳn còn nhớ trước kiaviệc tiêm ngừa phòng bệnh cho trẻ em thì nhân viên y tế phải vất vả đi xuốngtận địa bàn dân cư để tiêm phòng, nhưng nay thì đã khác người dân tự giácđem con em đến trạm để được tiêm vì họ thấy được lợi ích của chương trình
y tế quốc gia, việc chuyển đổi hành vi cần phải có thời gian dài và trên hết làthái độ phục vụ cũng như chất lượng dịch vụ, tin tưởng rằng trong tương laiBHYT sẽ làm tốt hơn, người dân thấy được quyền lợi thiết thân, thì lúc đónhà nước khỏi kêu gọi, người dân cũng sẽ tự giác tham gia đông đảo
Trang 28Theo như kết quả điều tra (Của đ/c Phạm Xuân Trường TS., Viện Xãhội học, Viện Hàn lâm KHXHViệt Nam), nhìn chung nhận thức về các chính
sách, pháp luật BHXH còn một số hạn chế Tìm hiểu mức độ hiểu biết về
chính sách, pháp luật BHYT theo tương quan đa biến (tương quan chéo) cho
thấy những chỉ số đáng chú ý:
Về giới tính: Nam giới có tỷ lệ hiểu biết đầy đủ về BHYT cao hơn hẳn
nữ giới (35,8% so với 28,5%), số hoàn toàn không biết gì về chính sách này ở
nam giới chỉ chiếm 1,5%, thấp hơn nhiều so với nữ giới (11,3%)
Bảng 1 Sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới về sự hiểu biết BHYT
Nam giới Nữ giới 0
10 20 30 40 50 60
Biết đầy đủ Biết một phần Không hiểu biết
Về độ tuổi: Nhóm độ tuổi trẻ nhất trong những người trả lời (18-40
tuổi) có chỉ số mức độ hiểu biết đầy đủ là cao nhất (51,8%), tiếp theo là nhóm
41-60 tuổi (31,0%), nhóm cao tuổi (ngoài 60 tuổi) có chỉ số hiểu biết thấp
nhất (6,2%)