1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đảng bộ tỉnh thanh hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện từ năm 2001 đến năm 2015

166 150 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện từ năm 2001 đến năm 2015, nhằm làm rõ sự đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương, sự ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 11 tháng 01 năm 2018

Tác giả luận án

Mai Thị Hà

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH, HĐH HĐND

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa : Hội đồng Nhân dân

GDP NXB

: Tổng thu nhập quốc dân : Nhà xuất bản

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN ÁN 8

1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 8

1.1.1 Các công trình nghiên của các tác giả trong nước 8

1.1.2 Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 22

1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu từ các công trình liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án tập trung giải quyết 25

1.2.1 Khát quát kết quả nghiên cứu từ các công trình liên quan đến đề tài

luận án 25

1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết 26

Tiểu kết chương 1 27

Chương 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA

VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN

TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 28

2.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện 28

2.1.1 Những yếu tố tác động 28

2.1.2 Chủ trương Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 44

2.2 Sự chỉ đạo thực hiện 46

2.2.1 Về quy hoạch cán bộ 47

2.2.2 Về đào tạo, bồi dưỡng và tạo nguồn cán bộ 51

2.2.3 Về luân chuyển, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ 57

2.2.4 Về đánh giá, quản lý và chính sách cán bộ 60

Tiểu kết chương 2 64

Chương 3: ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN

TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015 65

3.1 Những yếu tố mới tác động và chủ trương của Đảng, Đảng bộ

tỉnh Thanh Hóa về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện 65

3.1.1 Những yếu tố mới tác động 65

3.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 78

Trang 6

3.2 Sự chỉ đạo thực hiện 85

3.2.1 Về quy hoạch cán bộ 85

3.2.2 Về đào tạo, bồi dưỡng và tạo nguồn cán bộ 89

3.2.3 Về luân chuyển, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ 95

3.2.4 Về đánh giá, quản lý và chính sách cán bộ 98

Tiểu kết chương 3 101

Chương 4: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 103

4.1 Nhận xét 103

4.1.1 Ưu điểm và nguyên nhân của ưu điểm 103

4.1.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 113

4.2 Kinh nghiệm 121

4.2.1 Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện

phải trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và

Đảng Cộng sản Việt Nam 121

4.2.2 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh và phải thường xuyên

nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác

xây dựng đội ngũ cán bộ 124

4.2.3 Luôn phát huy phương châm dân chủ, công khai trong xây dựng

đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện 125

4.2.4 Chú trọng đến công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ,

thực hiện trẻ hóa đội ngũ cán bộ 126

4.2.5 Luôn chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở về phẩm chất chính trị

đạo đức và thực hiện tốt các chính sách, đãi ngộ nhân tài 131

Tiểu kết chương 4 134

KẾT LUẬN 136

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 139

TÀI LIỆU THAM KHẢO 140

PHỤ LỤC 155

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã từng chỉ rõ vai trò lớn lao của con người trong lịch sử, những con người có thể đảm đương vai trò, trọng trách trong mỗi thời kỳ lịch sử là xuất hiện ngay trong thời kỳ ấy Tư tưởng căn bản không thực hiện được cái gì hết Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn [27, tr.181] Chính đội ngũ những con người có vai trò lịch sử trong mỗi thời kỳ đã thực hiện các tư tưởng lý luận, biến nó thành hiện thực V.I.Lênin xác định sự cần thiết phải có những nhà cách mạng chuyên nghiệp, những chính khách tích cực, bền bỉ, chuyên tâm trong hoạt động dân chủ -

xã hội

Lênin đã chỉ rõ rằng, trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào Qua đó cho thấy, Lênin đã khẳng định tầm quan trọng của đội ngũ cán

bộ Để cách mạng thành công, theo Lênin cần phải có một đội ngũ “cán bộ chuyên nghiệp” phải có “những người cán bộ bản lĩnh”, đó là “vấn đề then chốt” Nếu không có những cán bộ như vậy thì tất cả các mệnh lệnh, các quyết định đều trở nên vô nghĩa

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Cán bộ là gốc của mọi công việc…Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [93, tr.273] Tiếp thu tư tưởng đó, trong sự nghiệp cách mạng của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh tới yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt nói riêng một cách đồng bộ, toàn diện, coi đây là một trong những vấn đề mấu chốt, là điều kiện quyết định sự thành bại của cách mạng

Công cuộc đổi mới đất nước ngày càng phát triển sâu rộng, đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa rất quan trọng, đưa Việt Nam vững bước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Song thời cơ, nguy cơ, thách thức luôn đan xen nhau trong một thế giới hội nhập phức tạp Hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ chủ chốt, trong đó

Trang 8

có đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện có vai trò quan trọng cho sự ổn định, phát triển của đất nước và cả hệ thống chính trị Mặc dù Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách và nỗ lực xây dựng, nhưng đội ngũ cán bộ chủ chốt, nhất là ở cấp huyện vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu để có những giải pháp thực hiện có hiệu quả

Thanh Hóa là tỉnh nằm ở cực Bắc của Trung bộ Việt Nam, có đường biên giới với Lào và có bờ biển thuộc Vịnh Bắc Bộ Bên cạnh những mặt thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh còn nhiều khó khăn, hạn chế, nhiều mặt còn tụt hậu so với mặt bằng chung của cả nước Có nhiều nguyên nhân đưa đến tình trạng trên, mà trong đó có sự yếu kém của nguồn nhân lực, của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện Một bộ phận cán bộ trẻ thiếu nhiệt tình cách mạng, thiếu sự kiên trì trong rèn luyện, phấn đấu Không ít cán

bộ còn hay so sánh, suy bì và thỏa mãn với trình độ bằng cấp của mình Hơn nữa, công tác xây dựng cán bộ chủ chốt cấp huyện của tỉnh Thanh Hóa còn nhiều lúng túng, bị động, chắp vá, hiệu quả chưa cao Những điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm

vụ chính trị của địa phương Thực tiễn trên đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo bồi dưỡng, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện để đội ngũ cán bộ này thực sự phát huy vai trò, năng lực, tiên phong trong việc vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn địa phương, góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh

Do đó, nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện từ năm 2001 đến năm 2015, nhằm làm rõ sự đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh trong xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện, đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác cán bộ; đồng thời, làm rõ ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh, từ đó rút kinh nghiệm để tỉnh Thanh Hóa vận dụng thực hiện tốt hơn trong các giai đoạn tiếp theo là việc làm có ý nghĩa thiết thực Tuy nhiên, đến nay, chưa có công trình nào được công bố nghiên cứu về sự lãnh đạo của

Trang 9

Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện một cách có hệ thống, chuyên sâu, dưới góc độ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Với những lý do trên, Nghiên cứu sinh chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Thanh

Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện từ năm 2001 đến năm 2015” làm đề tài luận án Tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Trình bày và phân tích chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện từ năm 2001 đến năm 2015

Nêu các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ trong xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, qua đó, làm rõ sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa với việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện từ năm

bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện từ năm 2001 đến năm 2015

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện từ năm 2001 đến năm 2015

Trang 10

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung khoa học

Luận án nghiên cứu những chủ trương và giải pháp, biện pháp mà Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đề ra đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện (về tạo nguồn và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; về quy hoạch cán bộ; về luân chuyển, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ; về quản lý và chính sách cán bộ) Luận án cũng xác định, cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện bao gồm các chức danh: Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch uỷ ban nhân dân và hội đồng nhân dân, Trưởng các ban, ngành trong bộ máy Đảng và chính quyền, đoàn thể của huyện

Về phạm vi không gian

Địa bàn nghiên cứu chủ yếu của luận án là tỉnh Thanh Hóa; tuy nhiên, luận

án có mở rộng thêm phạm vi ra ngoài tỉnh, đề cập đến một số khu vực địa lý khi thực hiện nghiên cứu so sánh hoặc khi trình bày về những vấn đề liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ

Về phạm vi thời gian

Tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện từ năm 2001 (năm bắt đầu thực hiện sâu rộng chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt) đến năm 2015 (Năm kết thúc việc thực hiện Nghị quyết 04 Về xây dựng đội ngũ cán bộ của Tỉnh ủy), nhưng trong quá trình thực hiện, luận án có sử dụng một số tài liệu liên quan đến trước năm 2001

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng cán bộ

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp luận sử học, luận án sử dụng chủ yếu các phương pháp lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp Ngoài ra, một số phương pháp khác như so

Trang 11

sánh, đối chiếu, thống kê cũng được vận dụng phù hợp trong giải quyết những nội dung nghiên cứu cụ thể của luận án

5 Nguồn tư liệu

Hệ thống Các Văn kiện của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các Nghị quyết, Quyết định, Quy định của HĐND, UBND tỉnh, các Báo cáo của Tỉnh ủy, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ tỉnh Thanh Hóa về xây dựng đội ngũ cán bộ

Các công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt nói riêng đã được công bố

Các bài viết, sách, báo, ảnh tư liệu về việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt

là đội ngũ cán bộ chủ chủ chốt cấp huyện của tỉnh Thanh Hóa

Những kinh nghiệm được rút ra có thể được vận dụng vào công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và với tỉnh Thanh Hóa nói riêng

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án gồm 4 chương, 8 tiết:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án

Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện từ năm 2001 đến năm 2005

Chương 3: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo đẩy mạnh xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện từ năm 2006 đến năm 2015

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Trang 12

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

“Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ

dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” [97, tr.54] Từ ý nghĩa và tầm

quan trọng của công tác xây đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện của tỉnh Thanh Hóa nói riêng, trong thời gian qua đã

có rất nhiều công trình, đề tài khoa học của các tác giả trong nước và nước ngoài nghiên cứu ít nhiều liên quan đến đề tài

1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các công trình nghiên của các tác giả trong nước

1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đội ngũ cán bộ nói chung

Tác giả Nguyễn Trọng Bảo có cuốn sách “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo

và đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do NXB Giáo dục ấn hành năm 1998 Đây là một trong những cuốn sách

bước đầu đề cập đến xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, trong đó có gắn với yêu cầu của công tác đào tạo cán bộ đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ đổi mới, thực hiện CNH, HĐH đất nước ở Việt Nam Cuốn sách đã đưa ra một số vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo lĩnh vực kinh doanh trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; đáp ứng nhiệm vụ của thời

kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ quan trọng đối với cách mạng Việt Nam hiện nay Vì vậy, Đại hội IX (2001) của Đảng đã đề cập nhiều vấn đề cán bộ, yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức “vững vàng về chính

Trang 13

trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn” Để bạn đọc có thêm tài liệu tìm hiểu về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, NXB Chính trị quốc gia

đã xuất bản cuốn sách “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công

chức” do Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương đồng chủ biên Nội dung cuốn

sách phân tích những yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và những bài học kinh nghiệm của ông cha ta trong lịch sử và của một số nước trên thế giới về việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức

Công trình “Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa

phương trong giai đoạn hiện nay ở nước ta” của tác giả Bùi Tiến Quý, NXB Chính

trị quốc gia xuất bản năm 2000 đã phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính và những yếu tố cần thiết để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, hành chính trong sạch, vững mạnh như: Công chức phải có trình độ học vấn và phải có kiến thức quản lý nhà nước; phải có trình độ cử nhân; sau khi trở thành công chức hành chính phải được đào tạo hoặc bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước Qua cuốn sách tác giả cho thấy công chức hành chính muốn trở thành người cán bộ tốt, người lãnh đạo, quản lý giỏi thì phải được đào tạo, bồi dưỡng theo trình độ chuyên môn phù hợp

Năm 2002, cuốn sách “Công tác cán bộ trong quân đội, quá trình hình thành

và phát triển: Biên niên sự kiện và tư liệu (1975 - 1990)” được biên soạn bởi Cao

Xuân Kì, NXB Quân đội nhân dân Cuốn sách gồm những sự kiện và tư liệu về quá trình phát triển của công tác cán bộ và sự trưởng thành lớn mạnh của đội ngũ cán bộ trong quân đội thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1975 - 1990)

Năm 2003, tác giả Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên) có

cuốn sách “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong

thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” Hai tác giả đã cho rằng, mỗi chế độ xã

hội muốn đứng vững và phát triển đều phải được xây dựng nên bởi những con người có lòng trung thành với chế độ, có những phẩm chất và năng lực nhất định,

Trang 14

đó chính là đội ngũ cán bộ và công chức Những người phục vụ chế độ chính trị đáp ứng yêu cầu của một Nhà nước của dân, do dân và vì dân; những người đại diện cho Nhà nước xây dựng và thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Cuốn sách nêu bật lên được cán bộ, công chức là nhân tố có tính quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Hai tác giả khẳng định điều chỉ dẫn của Hồ Chí Minh rằng, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa, cán bộ, công chức là người gánh vác trọng trách nặng nề của đất nước Ngoài ra, cuốn sách còn góp phần lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, từ đó đưa ra kiến nghị về phương hướng, giải pháp, nhằm củng

cố, phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo cả về chất lượng, số lượng sao cho phù hợp với yêu cầu hiện nay ở Việt Nam

Tác giả Đỗ Nguyên Phương năm 2004 đã cho ra mắt cuốn sách “Công tác

khoa giáo của Đảng với sự nghiệp phát triển đất nước” Cuốn sách gồm các bài

nghiên cứu, báo cáo, tham khảo về vấn đề công tác khoa giáo, công tác cán bộ, công tác giáo dục và tri thức; nâng cao chất lượng giáo dục, sự phát triển của hoạt động khoa giáo, việc luân chuyển cán bộ từ góc độ công tác khoa giáo, văn hóa Đảng…vai trò của khoa học và công nghệ trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Tác phẩm “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ

đẩy mạnh CNH, HĐH - luận cứ và giải pháp” do tác giả Lê Phương Thảo - Nguyễn

Cúc - Doãn Hùng (đồng chủ biên), NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005 Tác phẩm bao gồm 4 phần: phần thứ nhất: Luận cứ khoa học cho việc xây dựng đội ngũ cán

bộ dân tộc thiểu số ở Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Phần thứ 2: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp Phần thứ 3: Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trên một số lĩnh vực chuyên môn - thực trạng và giải pháp Phần thứ 4: Luận bàn về các phương pháp nhằm đổi mới và nâng cao hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Đặc biệt, trong công trình nghiên cứu này có bài

viết của Nguyễn Hữu Ngà với tên “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,

công chức dân tộc thiểu số thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH” Tác giả đã phân tích

Trang 15

thực trạng tình hình đội ngũ cán bộ công chức là người dân tộc thiểu số; đưa ra các kiến nghị; giải pháp đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ như: đổi mới công tác quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số, đổi mới nội dung, chương trình và phương hướng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số; xây dựng các chế độ chính sách phù hợp để cán bộ là người dân tộc thiểu

số tham gia giải quyết công việc của Đảng, chính quyền, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế, xã hội của đất nước, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống

Cũng trong năm này, tác giả Nguyễn Hữu Tri (chủ biên) và tác giả Nguyễn

Thị Phương Hồng được NXB Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách “Lịch sử công

tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2000)” Cuốn sách nghiên cứu có

hệ thống về lịch sử công tác tổ chức Đảng trong 70 năm qua, những đóng góp của Đảng với cách mạng Việt Nam Trong đó, trình bày lần lượt từ sự ra đời của Đảng đến quá trình xây dựng Đảng lãnh đạo nhân dân chiến đấu giành chính quyền (1930

- 1945) và quá trình xây dựng Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống

Mỹ Từ đó tác giả đưa ra những nhận xét về công tác xây dựng Đảng trong từng giai đoạn lịch sử

NXB Quân đội nhân dân năm 2006 đã cho xuất bản công trình có tên “Tư

tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng và quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ quân đội nhân dân Việt Nam” của tác giả Hà Huy Thông Trong công trình, tác

giả đã trình bày nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội nhân dân Việt Nam, đó là: vai trò của quân đội, tiêu chuẩn cán bộ, bồi dưỡng, đào tạo, quản lý, sử dụng cán bộ Từ đó quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tế đào tạo, sử dụng cán bộ trong thời kỳ xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc

Năm 2007, tác giả Bùi Đình Phong đã cho ra mắt độc giả công trình “Tư

tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ” Công trình có độ dày 300 trang,

với một nguồn tư liệu phong phú, đáng tin cậy, một phương pháp nghiên cứu khoa học, dựa trên quan điểm và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn phương pháp lịch sử với phương pháp lôgic, có sử dụng phương pháp so sánh, công trình cung cấp cho

Trang 16

người đọc một cái nhìn có hệ thống, toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ Tác giả có viết trong Lời mở đầu như sau: “Từ xưa đến nay, ở Việt Nam và trên thế giới, sự thành công hay thất bại của công việc hay sự tồn vong, thịnh suy của mọi quốc gia, chế độ đều phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ những người lãnh đạo, quản lý, điều hành, vào hiền tài nguyên khí quốc gia… Đối với nước ta hiện nay, vấn đề này càng có tầm quan trọng đặc biệt, vừa mang tính khoa học, vừa

là đòi hỏi của thực tiễn, vừa cấp bách, vừa có tính cơ bản lâu dài Bởi vì Đảng lãnh đạo toàn diện sự nghiệp cách mạng, trong đó có nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trong công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ” [105, tr.5-6] Trên cơ sở khai thác tập hợp những tư liệu cần thiết, tác giả nghiên cứu một cách có hệ thống theo quan điểm lịch sử quá trình hình hình tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ; đi sâu vào việc phân tích, đánh giá để làm rõ những đóng góp cụ thể và thiết thực của Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ, cả hai mặt lý luận và thực tiễn đào tạo cán

bộ Công trình gồm có 4 chương: Chương 1: Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ; Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ; Chương 3: Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ; Chương 4: Cuối công trình - thể hiện rõ tâm huyết và trăn trở của tác giả - là sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh

về cán bộ và công tác cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Năm 2009, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội đã ban hành cuốn sách “Đánh

giá quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Trần Đình Hoan Cuốn sách là kết quả nghiên cứu

của đề tài khoa học “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá, quy hoạch luân

chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Cuốn sách khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do

Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, trong những năm qua, Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước Để có được những thành tựu đó là nhờ đường lối chính trị đúng đắn; do Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã dày công xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ là gốc của mọi công việc, quan điểm này luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt, thực hiện Tuy

Trang 17

nhiên, tác giả cho rằng, trong hoàn cảnh mới, sự tác động của kinh tế thị trường đã

bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo Một bộ phận

không nhỏ cán bộ bị thoái hóa về chính trị và phẩm chất, tham ô, lãng phí, quan

liêu, bè phái, mất đoàn kết, cơ hội và thực dụng, không ít cán bộ bị giảm sút uy tín,

không còn là công bộc của dân, thậm chí trù dập, ức hiếp nhân dân Vì vậy, việc

xây dựng đội ngũ cán bộ đang là vấn đề, nhiệm vụ quan trọng, nhất là trong điều

kiện đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

Năm 2010, NXB Chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn “Bệnh quan liêu trong

công tác cán bộ ở nước ta hiện nay - thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” của tác

giả Trương Thị Thông và Lê Kim Việt (đồng chủ biên) Trong cuốn sách, các tác

giả đã nêu rõ nguồn gốc, bản chất, những tác hại, một số biểu hiện chủ yếu, nguyên

nhân Từ đó tác giả đề xuất hướng giải pháp chủ yếu nhằm đề phòng và khắc phục

bệnh quan liêu trong công tác cán bộ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hi sinh trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của

Đảng, của dân tộc Sinh thời, Người giành nhiều thời gian, tâm huyết cho công tác

xây dựng, chỉnh đốn Đảng Người có nhiều bài nói, bài viết, phát biểu quan trọng

nhằm xây dựng, củng cố, phát triển Đảng trong sạch, vững mạnh Để ghi nhớ những

tư tưởng, những lời di chúc của Người về công tác cán bộ, năm 2010, NXB Thanh

Niên đã cho ra mắt cuốn sách “Xây dựng, chỉnh đốn, củng cố tổ chức Đảng dưới

ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ mới” Cuốn sách gồm 4 phần: Phần

thứ nhất: Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng cách mạng tiền phong

của giai cấp công nhân Việt Nam, gồm tập hợp những bài nói, bài viết, phát biểu

của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề này, nhằm giúp bạn đọc, các nhà nghiên cứu

có cái nhìn hệ thống hơn về những quan điểm, tư tưởng của Người Phần thứ 2:

Đảng Cộng sản Việt Nam với trọng trách gánh vác sứ mệnh của lịch sử giao phó,

tập hợp những bài viết, nghiên cứu, phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà

nước qua các thời kỳ về vai trò, sứ mệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam, về quá trình

vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác xây dựng Đảng cũng như lãnh đạo đất

nước qua các thời kỳ cách mạng Phần thứ 3: Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí

Minh vào công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ mới, gồm các bài viết, nghiên cứu

Trang 18

của các giáo sư, tiến sĩ, các nhà sử học, các chuyên gia đầu ngành về tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác hoạt động Phần thứ 4: Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng trong thực tiễn cuộc sống, gồm tập hợp các bài viết về những tấm gương sáng của cán bộ, đảng viên trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội trong việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào trong công tác hoạt động

Cuốn sách “Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài” của Đức

Vượng được NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2010 đã trình bày quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ, khẳng định cán bộ là cái gốc của mọi việc Bất cứ chính sách, công tác gì nếu cán bộ tốt thì thành công, vì vậy phải coi trọng vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm sao cho đúng, cho tốt Theo tác giả, muốn đào tạo tốt thì phải phát hiện người có thể làm được cán bộ, từ đó có kế hoạch đưa họ đi đào tạo tại các trường, lớp chính quy, hoặc có thể bổ túc kiến thức thường xuyên cho cán bộ, sau khi đào tạo xong phải căn cứ vào kết quả đào tạo, năng lực,

sở trường của mỗi người để bố trí, sử dụng cho đúng, cho tốt

Cuốn sách “Phong cách tư duy Hồ Chí Minh với việc xây dựng đội ngũ cán

bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Dung được

xuất bản năm 2010 đã làm rõ việc nghiên cứu, học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách, đặc biệt phong cách tư duy Hồ Chí Minh là yêu cầu rất quan trọng đối với cán

bộ, đảng viên, nhất là với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, tác giả đã khái quát, hệ thống những nội dung cơ bản của phong cách tư duy Hồ Chí Minh, Đảng cần phải đưa phong cách tư duy Hồ Chí Minh trở thành nội dung chính trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung, cán bộ chủ chốt các cấp nói riêng

Tác giả Vũ Văn Phúc và Ngô Văn Thạo (đồng chủ biên) đã cho ra mắt tác

phẩm “Những giải pháp và điều kiện thực hiện phòng chống suy thoái tư tưởng,

đạo đức, lối sống trong cán bộ đảng viên” vào năm 2011 Hai tác giả đã làm sáng

tỏ cơ sở lý luận của việc phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cán bộ, đảng viên, nhấn mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải chủ động hơn về quy hoạch, kế hoạch, đổi mới nội dung, hình thức đào tạo, tăng cường các lớp đào tạo tập trung, các lớp đào tạo cán bộ nguồn, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu

số, cán bộ trẻ, cán bộ xuất thân từ công nhân

Trang 19

Cuốn sách “Vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong việc thực

hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam” của Phạm Minh Anh, NXB Chính trị

Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011 đã giúp nhận dạng thực trạng, vai trò và các yếu tố tác động đến công tác đào tạo cán bộ quản lý cơ sở trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó đề cập một số giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả mục tiêu thực hiện bình đẳng giới của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài

Năm 2013, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội cho ra mắt cuốn sách “Đảng

lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước” của tác giả Đại

tá Trần Đình Thắng Cuốn sách trình bày, phân tích, luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn, đồng thời tổng kết quá trình lịch sử Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán

bộ công chức, viên chức nhà nước từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho đến nay Theo tác giả, muốn xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, tiên tiến, hiện đại với đội ngũ cán bộ công chức, viên chức Nhà nước “vừa hồng, vừa chuyên” thì phải đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng thiết thực

có hệ thống, đồng thời phải xây dựng phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh cho đội ngũ cán bộ công chức, viên chức

Năm 2014, NXB Chính trị Quốc gia đã cho ra mắt bạn đọc tác phẩm “Bí thư

cấp ủy đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện” do tập thể tác giả, trong

đó tác giả Đỗ Xuân Định là chủ biên Tác phẩm đã trình bày những nhận thức chung về việc bố trí Bí thư cấp ủy, đồng thời là chủ tịch UBND cấp huyện Tác giả

đã đưa ra thực trạng để người đọc có cái nhìn toàn cảnh nhất, sau đó đưa ra những giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt chủ trương Bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch UBND huyện

Tác giả Trịnh Thanh Tâm có cuốn sách “Xây dựng đội ngũ nữ cán bộ chủ

chốt của hệ thống chính trị cấp xã (qua khảo sát thực tiễn ở đồng bằng sông Hồng)” được NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2014 Cuốn sách chia

làm 3 chương: chương 1: Xây dựng đội ngũ nữ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp xã ở đồng bằng sông Hồng - những vấn đề lý luận và thực tiễn; chương 2:

Trang 20

Xây dựng đội ngũ nữ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp xã ở đồng bằng

sông Hồng - thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm; chương 3: Mục tiêu, phương

hướng và giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ nữ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp xã ở đồng bằng sông Hồng đến năm 2020 Cuốn sách đã khái quát và làm rõ những nội dung cơ bản của công tác xây dựng đội ngũ nữ cán bộ của hệ thống chính trị cấp xã, khẳng định vai trò và tầm quan trọng của công tác này, đồng thời qua những khảo sát thực tiễn khá phong phú ở vùng đồng bằng sông Hồng, tác giả đã phân tích, đưa ra nhiều nhận xét khách quan và đúc rút được những kinh nghiệm có giá trị, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường công tác xây dựng đội ngũ nữ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị cấp xã

Ngoài ra, còn một số bài viết cũng nghiên cứu về công tác cán bộ nói chung, như:

Bài viết “Công tác đào tạo, bồi dưỡng phục vụ công tác quy hoạch cán bộ”

của tác giả Tô Huy Rứa trong Kỷ yếu hội thảo khoa học về một số vấn đề về công tác quy hoạch cán bộ, thuộc chương trình khoa học xã hội cấp Nhà nước KHXH.05,

Hà Nội 10 - 1998 đã khẳng định xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có tầm quan trọng đặc biệt Trong công tác cán bộ, công tác quy hoạch cán bộ là nền tảng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vừa là yêu cầu trước mắt, vừa là nhiệm vụ lâu dài Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch là khâu cơ bản có tính chiến lược trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ cho tương lai Vì vậy, phải chọn cử đúng cán bộ thuộc diện quy hoạch đi đào tạo, bồi dưỡng, làm tốt công tác quản lý học viên trong quá trình đào tạo và bố trí sử dụng học viên khi ra trường

Bài viết “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ góc nhìn chuỗi kết quả và

chỉ số đánh giá” của tác giả Đoàn Văn Dũng được đăng trên tạp chí lý luận chính

trị, số 4 - 2014 đã đề cập đến những nguyên nhân hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức trong thời gian qua, như: chưa gắn với mục tiêu phát triển năng lực, nên phương thức đào tạo hiện nay chủ yếu theo chức nghiệp, nhằm vào việc tiêu chuẩn hóa ngạch bậc; tư duy về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa gắn với phát triển năng lực, trình độ Từ đó tác giả cho rằng cần có những chỉ số đánh giá trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Trang 21

Bên cạnh đó, còn một số đề tài khoa học cũng nghiên cứu về cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung:

Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX.04.09, “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công

chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,

vì dân” của Bộ Nội vụ (2002 - 2004) đã làm rõ sự cần thiết phải xây dựng đội ngũ

cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam Trong đó, đề cập đến một số tiêu chuẩn và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp ở Việt Nam hiện nay; làm rõ những quy định

về pháp lý đối với trách nhiệm cá nhân từng chức danh cán bộ; đề xuất các giải pháp về đổi mới việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Ngoài ra, cũng có hàng loạt các đề tài khoa học đi sâu nghiên cứu, làm rõ công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt

Tiêu biểu như: Đề tài cấp Bộ “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh,

thành phố trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay (1999 - 2002)”, Ban Tổ

chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam là cơ quan chủ trì, do Lê Quang

Thưởng là chủ nhiệm; đề tài khoa học cấp Bộ “Đổi mới và nâng cao chất lượng

công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý trong hệ thống chính trị và trung tâm bồi dưỡng chính trị hiện nay” (2001), do Phạm Văn Thọ làm chủ

nhiệm; Đề tài khoa học cấp Bộ “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” (2002 - 2003),

Khoa Xây dựng Đảng, Phân Viện Báo chí và Tuyên truyền (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì,

do Nguyễn Đức Ái là chủ nhiệm

Các đề tài khoa học trên tập trung nghiên cứu những vấn đề về cơ cấu cán

bộ, tiêu chuẩn cán bộ, mối quan hệ giữa cơ cấu và tiêu chuẩn của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong hệ thống chính trị; luận giải sâu sắc vị trí, vai trò công tác quy hoạch, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp sếp, sử dụng và chính sách đối với đội ngũ cán bộ các cấp Thông qua nghiên cứu, các tác giả đều khẳng định tính tất yếu khách quan của việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Tuy nhiên, những vấn đề được trình bày trong các công trình khoa học nêu trên chủ yếu

Trang 22

ở góc độ phương pháp luận mà chưa phải là kết quả nghiên cứu từ thực tiễn công tác cán bộ; chưa phân tích, đánh giá thật sâu sắc những thành tựu và hạn chế trong công tác cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt

1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ của các địa phương

và của Thanh Hóa

Công trình “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chủ chốt của hệ thống chính

trị cấp tỉnh, thành phố” (qua kinh nghiệm Hà Nội) của tác giả Cao Khoa Bảng,

NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008 Cuốn sách là tài liệu có giá trị về công tác

tổ chức và đào tạo cán bộ cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay Cuốn sách đã lý giải để tăng cường đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính trị cấp tỉnh, thành phố, vấn đề đặt ra là phải thực hiện đồng thời với tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này Việc nâng cao năng lực lãnh đạo, phẩm chất đạo đức để đáp ứng với yêu cầu lãnh đạo, quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị hiện nay đang là yêu cầu bức thiết Cuốn sách cũng đã đề cập đến vai trò của công tác đào tạo cán bộ, xây dựng cho được đội ngũ cán bộ chủ chốt có đủ tài, đủ đức để đảm đương nhiệm vụ

“Phong cách làm việc của người Bí thư huyện ủy hiện nay qua khảo sát vùng đồng bằng sông Hồng” là cuốn sách của tác giả Ngô Thị Kim Ngân và Lâm Quốc

Tuấn (đồng chủ biên), NXB Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2010, đã đề cập đến một nội dung quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp huyện, đó là xây dựng phong cách làm việc cho người Bí thư huyện ủy và cán bộ chủ chốt Tác giả nhấn mạnh: xây dựng và đổi mới phong cách làm việc của người Bí thư huyện

ủy phải đổi mới nội dung công tác đào tạo, nâng cao trình độ văn hóa lãnh đạo cho đội ngũ Bí thư huyện ủy và cán bộ nguồn, tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ này thực hiện tốt việc tự đào tạo, bồi dưỡng; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng theo hướng bổ sung trình độ lý luận chính trị, quản lý hành chính Nhà nước, cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ Bí thư huyện ủy theo hình thức cử đi học tập trung hoặc vừa học vừa làm

Tác giả Huỳnh Thị Gấm có cuốn sách chuyên khảo “Xây dựng đội ngũ cán

bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện ở đồng bằng sông cửu Long” được

Trang 23

NXB Lý luận chính trị xuất bản năm 2007 Nội dung của cuốn sách là những nghiên cứu về thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện của đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời tác giả đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh Cuốn sách gồm 3 chương: Chương 1: Khái quát những vấn đề nhận thức luận căn bản làm khung lý luận, làm điểm tựa, tiền đề cho việc nghiên cứu Chương 2: Khảo sát sâu để thấy rõ bức tranh toàn cảnh với những nhận định thẳng thắn, trung thực, khách quan về những ưu điểm cũng như hạn chế của đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện và công tác xây dựng đội ngũ này ở đồng bằng sông Cửu Long Từ đó, nhóm tác giả đã tìm ra nguyên nhân dẫn đến những bất cập đó và rút ra những kinh nghiệm quý báu cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ Chương 3: Xác định những tiêu chuẩn cụ thể của đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện ở đồng bằng sông Cửu Long trong thời

kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, từ đó đề xuất ba nhóm giải pháp về nhận thức, về chuẩn hóa, về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ có giá trị thực tiễn và có tính khả thi Cuốn sách cũng có những ý kiến rất xác đáng đối với Trung ương và địa phương về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện trong thời gian tới

Năm 2009, BCH Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa cho ra mắt cuốn Lịch sử Đảng bộ

tỉnh Thanh Hóa (1975 - 2005), cuốn sách trình bày khái quát về tình hình kinh tế, xã

hội, an ninh, chính trị của tỉnh từ năm 1975 đến năm 2005 Trong đó, cuốn sách có đề cập đến quá trình xây dựng Đảng nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ nói riêng qua các năm Tuy nhiên các chủ trương, chính sách được đề cập đến chưa rõ ràng

Đến năm 2015, BCH Đảng bộ tỉnh cho xuất bản cuốn “Biên niên những sự

kiện lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (2005 - 2015)” Cuốn sách trình bày những sự

kiện của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa diễn ra từ năm 2005 đến năm 2015 Cuốn sách còn đánh dấu những vấn đề lịch sử, những mốc thời gian quan trọng trong giai đoạn này Hơn hết, trong cuốn sách bao gồm cả những chủ trương, văn bản, chỉ thị, quyết định của Tỉnh ủy, UBND tỉnh về công tác cán bộ Sang đến những năm này thì công tác cán bộ của tỉnh được đề cập một cách rõ ràng, từng năm, từng giai đoạn đều có những mục tiêu cụ thể, cho thấy sự quan tâm của Đảng bộ tỉnh đến công tác cán bộ ngày càng sâu sắc hơn

Trang 24

Ngoài các cuốn sách, còn có các bài viết đề cập đến vấn đề vận dụng chủ trương của Đảng về công tác cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vào từng địa

phương cụ thể, như: Xây dựng đội ngũ cán bộ tỉnh Bắc Kạn đáp ứng yêu cầu, nhiệm

vụ hiện nay, của tác giả Nguyễn Văn Côi, Tạp chí Lịch sử Đảng, số tháng 6 năm

2009 Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức ở Tuyên Quang của tác giả Nguyễn Sáng Vang, Tạp chí Cộng sản số 814 (8 - 2010) Đào tạo cán bộ và

phát triển nguồn nhân lực - khâu đột phá trong chiến lược phát triển của Bình Phước, của tác giả Nguyễn Tấn Hưng, Tạp chí Cộng sản, số 822 (2011) Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong tình hình hiện nay của tác giả Hà Vũ Tuyến, Tạp chí Lịch sử Đảng, số tháng 7 năm

2013 Xây dựng đội ngũ cán bộ tỉnh Điện Biên trong tình hình hiện nay của tác giả

Lê Hương Giang, Tạp chí Lịch sử Đảng, số tháng 7 năm 2013

Các bài Tạp chí nêu trên đã đề cập đến công tác cán bộ nói chung, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói riêng; nhấn mạnh yêu cầu về trình độ, năng lực cũng như kỹ năng lãnh đạo, quản lý của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các địa phương cụ thể Qua

đó có thể thấy, cần nhanh chóng khắc phục những hẫng hụt về kỹ năng quản lý, điều hành cho cán bộ, công chức để có khả năng thực thi hiệu quả các nhiệm vụ công vụ, trong đó phải chú ý đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý; kỹ năng nghiên cứu, phân tích, sử dụng chính sách công; kỹ năng giao tiếp và tổ chức sự kiện Nhà nước và các kỹ năng khác trong quản lý xã hội hiện đại

Ngoài các bài viết được đăng trên các Tạp chí thì còn có Luận án Tiến sĩ cũng có nội dung liên quan đến công tác cán bộ như:

Tác giả Nguyễn Thái Sơn năm 2002 đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ

“Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng trong thời

kỳ đẩy mạnh CNH, HĐHđất nước”, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt

Nam Trong luận án, tác giả đã xác định rõ khái niệm cán bộ và đặc điểm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, phân tích, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt các tỉnh đồng bằng sông Hồng Nêu ra những ưu điểm, hạn chế của đội ngũ

Trang 25

cán bộ và việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đồng thời, tác giả còn xác định những nguyên nhân của ưu điểm, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm bổ ích Tác giả cũng đi sâu nghiên cứu vị trí, vai trò, đặc điểm CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn của các tỉnh đồng bằng sông Hồng và những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết Xác định tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo và chức danh cán bộ Đề xuất những giải pháp có giá trị về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh ở đồng bằng sông Hồng ở Việt Nam

Luận án Tiến sĩ khoa học chính trị “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ

chốt cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay” của tác giả

Nguyễn Thành Dũng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2012 Từ phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên, tác giả Luận án xác định một trong những giải pháp cần thực hiện để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là phải nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; phải xây dựng chương trình đào tạo theo một hệ thống logic, khoa học gắn với thực tiễn; nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với những thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội phù hợp với đối tượng đào tạo; chú trọng bồi dưỡng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với chức năng, nhiệm vụ của cán bộ chủ chốt để giúp họ có đủ bản lĩnh, tri thức, kinh nghiệm từ đó giải quyết tốt các công việc được giao

Mới đây, năm 2015, tác giả Bùi Ngọc Hà cũng đã bảo vệ thành công Luận án

Tiến sĩ có tên “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

chủ chốt từ năm 1997 đến năm 2010” Luận án đã trình bày một cách cụ thể, rõ

ràng những chủ trương, đường lối của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,

từ đó Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã vận dụng, quán triệt để đưa ra những chủ trương, chính sách phù hợp với địa bàn tỉnh Qua đây, tác giả đã đưa ra những nhận xét khách quan về ưu điểm cũng như hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt của tỉnh Phú Thọ, đồng thời rút ra những kinh nghiệm có giá trị cho những giai đoạn sau

Trang 26

1.1.2 Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Năm 1994, NXB Chính trị quốc gia đã cho ra mắt cuốn sách “Tuyển 40 năm

chính luận của Lý Quang Diệu” do Lê Tư Vinh và Nguyễn Huy Quý dịch Cuốn

sách trình bày các bài phát biểu của Thủ tướng Lý Quang Diệu về vấn đề xây dựng

và quản lý kinh tế, ổn định chính trị, đào tạo và sử dụng nhân tài của Thủ tướng Lý Quang Diệu cho thấy, Singapore là nước rất coi trọng vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nhân tài nhằm phát huy cao độ tiềm lực con người cho sự nghiệp phát triển của đất nước Việc đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện theo hướng, mỗi cán bộ, công chức được phát triển tài năng riêng; tạo thói quen học tập suốt đời Singapore xây dựng chiến lược cán bộ thể hiện bằng kế hoạch đào tạo ngắn hạn, dài hạn, đào tạo kế nhiệm, bài bản, từ xa

Cuốn sách “Chính trị và kinh tế Nhật Bản của tác giả Ôkuhura Yasuhiro”

được NXB Chính trị quốc gia Hà Nội xuất bản năm 1994 Công trình đề cập đến những kinh nghiệm của Nhật Bản trong đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trên cơ sở đặc điểm xã hội của Nhật Bản như: đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được thực hiện tuần tự theo từng giai đoạn; mỗi công chức cán bộ của Nhật Bản thông qua kinh nghiệm làm việc tại nhiều cơ sở khác nhau luôn nhạy cảm và thích ứng với mọi vị trí cũng như điều kiện công tác; cán bộ mới ở các vị trí công tác cụ thể, được tham gia các lớp bồi dưỡng ở nhiều cấp khác nhau Cuốn sách cũng cho thấy trong đào tạo, bồi dưỡng cần cố gắng bảo tồn và phát huy yếu tố truyền thống dân tộc; thực hiện chế

độ quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan công quyền; chú trọng xây dựng các phẩm chất, đặc biệt là phẩm chất trung thành của cán bộ; bảo đảm chế độ chính sách và tiền lương cho cán bộ

Tác giả người Mỹ Thomas Gordon có cuốn sách “Đào tạo người lãnh đạo

hiệu quả (Cao Đình Quát dịch), NXB Trẻ, năm 2001 Tác giả cho rằng công việc

lãnh đạo rất quan trọng, có tính quyết định đến sự thành bại của cả hệ thống nên phải đặt công việc lãnh đạo dưới ánh sáng của khoa học Thông qua cuốn sách tác giả muốn nhấn mạnh rằng, lãnh đạo là một công việc đòi hỏi phải được học trước khi làm, nghĩa là muốn lãnh đạo tốt người cán bộ phải được đào tạo và bồi dưỡng một cách bài bản

Trang 27

Liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Trung Quốc, tác giả Tôn

Hiểu Quán có bài viết “Ra sức tăng cường ban lãnh đạo, cố gắng hình thành tầng

lớp lãnh đạo hăng hái, sôi nổi, phấn đấu thành đạt” được đăng trong Kỷ yếu hội thảo

Xây dựng Đảng cầm quyền - kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc (NXB, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004) Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích, luận giải kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng Đảng cầm quyền và sự cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp thời kỳ Trung Quốc cải cách, mở cửa, hội nhập quốc tế

Năm 2008, hai tác giả Hồ Vĩnh Hoa và Ngô Quốc Diệu đã được NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội ấn hành cuốn “Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế

hơn trăm năm chấn hưng đất nước”, cuốn sách đã đề cập toàn diện, hệ thống lý

luận của Đặng Tiểu Bình về cán bộ, công tác cán bộ và sự vận dụng của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong cải cách mở cửa và hội nhập quốc tế Thông qua cuốn sách, tác giả nhấn mạnh công tác cán bộ và bồi dưỡng nhân tài là kế sách lâu dài để Trung Quốc chấn hưng đất nước Cuốn sách cũng cho thấy các vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản trong tư tưởng Đặng Tiểu Bình về cán bộ và nhân tài; luận giải một cách sâu sắc những vấn đề về tổ chức cán bộ, công tác cán bộ; việc lựa chọn người

kế tục; vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ theo phương châm “bốn hóa” (cách mạng hóa, trẻ hóa, tri thức hóa, chuyên môn hóa), nguyên tắc và tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ mới; công tác tuyển chọn, đào tạo cán bộ, bồi dưỡng cán bộ; vấn đề tôn trọng tri thức, trọng dụng nhân tài; những vấn đề bảo đảm chế độ, chính sách và môi trường cho hoạt động của cán bộ, của nhân tài đất nước

Ngoài ra, còn một số luận án của các tác giả nước ngoài như:

Năm 2003, tác giả Xinh Khăm - phôm Ma Xây đã bảo vệ thành công luận

án tiến sĩ với đề tài “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế

của Đảng và Nhà nước Lào hiện nay”, chuyên ngành Xây dựng Đảng, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003 Luận án đã phân tích những vấn đề

về lý luận và thực tiễn công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế của Lào Trình bày những vấn đề cơ bản về công tác cán bộ cũng như chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế của Đảng và nhà nước

Trang 28

Lào trong tình hình mới, cụ thể như: xây dựng chiến lược và hoàn thiện quy hoạch;

có cơ chế, chính sách đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế; đổi mới phương thức lãnh đạo, bồi dưỡng theo hướng gắn với nhu cầu thực tiễn; tập trung xây dựng đội

Cũng nghiên cứu về kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cũng được Đảng Nhân dân cách mạng Lào đặc biệt quan tâm, Luận

án tiến sĩ lịch sử của tác giả Đệt Tạ Kon - Phi La Phăn Đệt với đề tài “Xây dựng đội

ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ban ngành ở Thành phố Viêng Chăn trong giai đoạn cách mạng hiện nay”, chuyên ngành Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc

gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004 Luận án đã đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ban, ngành ở thành phố Viêng Chăn; chỉ rõ nguyên nhân và bài học kinh nghiệm Từ đó, luận án đưa ra phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở thành phố Viêng Chăn, trong đó tập trung chủ yếu vào việc lựa chọn, quy hoạch cán bộ đúng chuyên môn và vị trí công tác; đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ; thực hiện các chính sách ưu đãi đối với đội ngũ cán bộ

Việc nghiên cứu kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cũng được Đảng Nhân dân cách mạng Lào đặc biệt quan tâm Trong những năm gần đây, đã có những luận văn, luận án của các học viên Lào học tập, nghiên cứu tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trong đó phải kể đến luận

án Tiến sĩ của tác giả Khăm Phăn Vông Pha Chăn (2013), Đào tạo đội ngũ cán bộ

của hệ thống chính trị ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay Luận án phân

tích những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác đào tạo đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Trình bày những vấn đề cơ bản về công tác cán bộ cũng như chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và Nhà nước Lào trong tình hình mới, cụ thể như: Xây dựng chiến lược và hoàn thiện quy hoạch; có cơ chế, chính sách đối với cán bộ lãnh đạo; đổi mới phương thức đào tạo theo hướng gắn với nhu cầu thực tiễn; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu mới của nền kinh tế

Trang 29

Có thể thấy rằng, các công trình khoa học ở nước ngoài nêu trên, đặc biệt là các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Lào đã tiếp cận các khía cạnh khác nhau của nội dung cán bộ, nhấn mạnh vai trò, vị trí, tầm quan trọng của cán bộ và công tác cán bộ cũng như sự cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt Qua đó cho thấy, bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, coi đó là nhiệm vụ chiến lược mang tính lâu dài, bền vững để phát triển đất nước Vì thế, trong mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau, trước những yêu cầu của thực tế thì đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có năng lực, trình độ phù hợp, đáp ứng được nhiệm vụ của dân tộc

Nhìn chung, các công trình khoa học trong nước và nước ngoài nêu trên đã

tiếp cận các khía cạnh khác nhau của công tác cán bộ và sự cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Qua đó cho thấy bất kỳ quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển đất nước nhất thiết phải quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, phải coi đó là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, bởi vì trong mỗi giai đoạn, thời kỳ khác nhau thì yêu cầu về đội ngũ cán bộ, về trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ có sự khác nhau Tăng cường thường xuyên công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý

1.2 Khái quát kết quả nghiên cứu từ các công trình liên quan đến đề tài

và những vấn đề luận án tập trung giải quyết

1.2.1 Khát quát kết quả nghiên cứu từ các công trình liên quan đến đề tài luận án

Qua khảo cứu các công trình của các tác giả trong nước và các tác giả nước ngoài có nội dung liên quan đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cho thấy các bài viết, tác phẩm và công trình nghiên cứu nêu trên đã làm rõ nhiều nội dung cơ bản liên quan đến vấn đề cán bộ nói chung và cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện nói riêng

Về lý luận - thực tiễn

Một loạt vấn đề lý luận - thực tiễn: khái niệm, quan niệm về cán bộ, về đội ngũ cán bộ; quan niệm và phân loại các loại cán bộ; quan niệm về cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chủ chốt; quan niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ, về phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ; tiêu chí chọn lựa, xét tuyển, đánh giá, bố trí, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ; yêu cầu, định hướng và giải pháp, kiến nghị xây

Trang 30

dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kì mới đã được các công trình đề cập theo mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu từng công trình

Về nội dung

Thứ nhất, các công trình chủ yếu đề cập đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ

nói chung và ít đề cập đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cấp huyện

Thứ hai, nội dung được đề cập đến trong các công trình nêu trên chủ yếu liên

quan đến quá trình thực hiện mà ít nghiên cứu về những chủ trương, quan điểm của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện

Thứ ba, các công trình nghiên cứu tập trung dưới góc độ Chính trị học, dưới

góc độ Lịch sử Đảng và xây dựng Đảng, thì chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu dưới góc độ Lịch sử Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện của tỉnh Thanh Hóa Các công trình nêu trên chủ yếu tập trung khảo sát thực trạng và đề cập đến một số giải pháp trước mắt, chưa phân tích, luận giải sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng nói chung, các Đảng bộ địa phương nói riêng về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ để từ đó đúc kết những kinh nghiệm lịch sử về lãnh đạo công tác xây dựng cán bộ Những vấn đề này sẽ được tác giả giải quyết trong luận án

Trên cơ sở nhận thức rõ tầm quan trọng về trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ, cũng như vai trò, vị trí, ý nghĩa của công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, một số công trình có đề cập ở mức độ nhất định quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng cán bộ Những nội dung này sẽ được tác giả luận án tham khảo,

kế thừa trong quá trình thực hiện đề tài

1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết

Thứ nhất, đi sâu tìm hiểu, trình bày và phân tích làm rõ những đặc điểm tự

nhiên - xã hội cũng như những yếu tố tác động đến việc hoạch định chủ trương của Đảng bộ về xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ chủ chốt cấp huyện nói riêng

Thứ hai, tập trung làm rõ hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa

đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện của Tỉnh từ năm 2001 đến năm 2015 trên các mặt cụ thể như: về tạo nguồn và đào

Trang 31

tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; quy hoạch cán bộ; luân chuyển, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ; đánh giá và quản lý cán bộ

Thứ ba, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện, thực trạng sự

lãnh đạo của Đảng bộ đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện của Tỉnh Thanh Hóa, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện từ năm 2001 đến năm 2015; từ đó, rút ra một số kinh nghiệm tổng kết thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện của Tỉnh Thanh Hóa trong tình hình mới

Trang 32

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý - địa hình: Thanh Hóa nằm ở khu vực Bắc miền Trung, có diện

phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km về phía Bắc Có toạ độ địa lý từ 19°18' đến 20°40' vĩ độ Bắc và từ 104°22' đến 106°05' kinh độ Đông [5, tr.3]

Về ranh giới: Phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình,

phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào), phía Đông giáp Biển Đông [5, tr.2]

Theo Báo cáo quy hoạch 2013 - 2020, tỉnh Thanh Hóa có địa hình đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm 3 vùng rõ rệt Những điều kiện địa hình phân theo các vùng, các đơn vị hành chính với các đặc trưng về điều kiện tự nhiên, kinh

tế xã hội như trên là điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, phân vùng phát triển kinh

tế xã hội cũng như quy hoạch phát triển Thanh Hóa theo từng ngành, lĩnh vực Tạo điều kiện thuận lợi cho Thanh Hóa giải quyết tốt những khó khăn đối với việc phát triển kinh tế xã hội các khu vực miền núi

Khí hậu: Thanh Hóa là một tỉnh nằm trong khu vực miền Trung, thuộc khu vực

chịu nhiều gió bão nhất trong cả nước, chiếm 65% số cơn bão ảnh hưởng đến Việt Nam Trong đó tỉnh Thanh Hóa chịu ảnh hưởng trực tiếp khoảng 30% tổng số cơn bão, bình quân hàng năm từ tháng 5 đến tháng 10 hứng chịu 1 đến 2 cơn bão từ biển Đông

đổ vào đất liền với sức gió có thể tới cấp 11 đến 12, thường kèm theo mưa to

Đặc điểm khí hậu với lượng mưa lớn, nhiệt độ thích hợp là điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp nói chung và sự sinh trưởng và phát triển của các loài động thực vật rừng nói riêng Tuy nhiên, hiện tượng gió bão

Trang 33

hàng năm (dải đất miền trung được ví như “rốn bão” của cả nước) có gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, xã hội

Điều kiện kinh tế - xã hội

Về kinh tế

Sau nhiều đổi mới, cải cách trong thủ tục hành chính cũng như kêu gọi đầu tư; đến năm 2014, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã có bước tăng trưởng khá Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GDP) năm 2000 theo giá so sánh năm 1994 tăng 6,6% so với năm 1999; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,2%; khu vực công nghiệp, xây dựng tăng 2,1%; khu vực dịch vụ tăng 1,3% Nhờ những kết quả tích cực đó, tỷ lệ hộ nghèo trong những năm qua của tỉnh Thanh Hóa

Về mức thu nhập, năm 1995, GDP bình quân đầu người chỉ 212 USD, năm

2000 chỉ 293 USD và năm 2001 là 319 USD, đến năm 2005 đạt 430 USD (so với bình quân cả nước là 543 USD), tốc độ tăng đạt 8,5% (cả nước là 7,6%) Sự phân

bố giàu nghèo cũng rất không đồng đều giữa các vùng, trong đó các huyện vùng ven biển như Nga Sơn, Hậu Lộc và đặc biệt là các huyện vùng núi phía Tây thì tỷ lệ hộ nghèo còn chiếm rất cao (Ngọc Lặc: 21,8%, Mường Lát: 25,8%), đây là vấn đề bức xúc và khó khăn cần giải quyết trong kế hoạch phát triển kinh tế của tỉnh

Tỉnh Thanh Hóa là vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp với đất đai, động thực vật phong phú, nguồn thủy hải sản dồi dào Bên cạnh những ưu đãi ấy, tỉnh còn không ít những khó khăn, thử thách trên tất

cả các mặt Quá trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn còn chậm, từng địa phương và cả đồng bằng vẫn chưa thoát khỏi tình trạng của nền kinh tế và xã hội

Trang 34

nông nghiệp Nguồn nhân lực của vùng mới chỉ ở dạng tiềm năng, chưa được đầu tư, quy hoạch đúng hướng Do đó, tỉnh Thanh Hóa cần có đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản

lý, tổ chức tài năng, có đội ngũ cán bộ khoa học - kĩ thuật công nghệ, doanh nhân giỏi, có tầm nhìn chiến lược, biết phát huy lợi thế, biết quy hoạch sản xuất, kinh doanh, nhạy bén với thị trường trong nước và thế giới; năng nổ mở rộng, giao lưu liên kết, hợp tác để phát triển thì mới có điều kiện để phát huy thế mạnh của tỉnh

Mặt khác, tỉnh Thanh Hóa là tỉnh có vị trí chiến lược về chính trị, an ninh, quốc phòng, gắn phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, trong đó nhiệm vụ vai trò của cấp huyện và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện rất quan trọng Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống

chính trị cấp huyện ở vùng này là việc rất cần thiết

Nguồn nhân lực của tỉnh: Trong các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội,

nguồn lực con người có vị trí quan trọng và giữ vai trò quyết định đến hiệu quả các

nguồn lực khác như tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ

Theo Niên giám Thống kê Thanh Hóa năm 2000, tỉnh Thanh Hoá có 3.647 triệu người, là tỉnh có số dân đông thứ ba trong cả nước (sau thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội) và là tỉnh đông dân nhất so với 6 tỉnh Bắc Trung Bộ Thanh Hoá là tỉnh có nhiều đơn vị hành chính nhất cả nước với 27 đơn vị hành chính cấp huyện và tương đương, có 579 xã, 30 phường, 28 thị trấn và 5.024 thôn, xóm, bản làng Tỉnh có 6 huyện, thị xã thuộc vùng ven biển, 11 huyện thuộc vùng núi và 10 huyện, thị xã, thành phố thuộc vùng đồng bằng [5, tr.5]

Dân cư của tỉnh phân bố không đồng đều theo các đơn vị hành chính và phân

bố không đều giữa đồng bằng và miền đồi núi Dân cư chủ yếu tập trung đông ở thành phố, thị xã, thị trấn ven biển, ven sông và thưa thớt ở các vùng núi Trong khi

đó tại các huyện miền núi như Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá có mật độ thấp, chỉ

chênh lệch trên đây phải kể đến sự phân bố không đều của tài nguyên thiên nhiên, hệ thống các cơ sở kinh tế - xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống và cả lịch

sử cư trú So với mức trung bình của vùng Bắc Trung Bộ và của toàn quốc thì tỷ lệ số dân là nữ giới chiếm cao hơn nam giới (51,05% nữ và 49,85% nam) Tỷ lệ người

trong độ tuổi lao động cũng cao hơn so với vùng Bắc Trung Bộ [5, tr.5]

Trang 35

Sự chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh diễn ra với tốc độ chậm; tỷ lệ lao động trong khu vực kinh tế truyền thống (nông, lâm, ngư nghiệp) vẫn rất lớn (71,83%) Trong nông nghiệp phần lớn lao động tập trung trong ngành trồng trọt

Số lao động tham gia ngành chăn nuôi và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp rất

ít Cơ cấu lao động này đang cản trở quá trình CNH, HĐH của tỉnh So sánh với cả nước và trên thế giới thì tỷ lệ lao động của khu vực nông, lâm, ngư nghiệp đang giảm nhanh và chiếm tỷ lệ thấp, tỷ lệ lao động làm trong khu vực công nghiệp, xây dựng giảm, tỷ lệ lao động làm trong khu vực dịch vụ tăng lên

Chất lượng nguồn nhân lực gắn chặt với trình độ dân trí, giáo dục, đào tạo,

mà các yếu tố này ở tỉnh Thanh Hóa có chất lượng chưa cao Trong giai đoạn này,

sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề ở tỉnh Thanh Hóa đã có bước phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể Tuy vậy, giáo dục, đào tạo, dạy nghề của tỉnh vẫn nằm ở vị trí thấp so với cả nước Đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ chủ chốt trong

hệ thống chính trị cấp huyện là lực lượng rất quan trọng trong nguồn nhân lực, có nhiều công lao đóng góp trong quá trình đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng và đổi mới trong tỉnh Đội ngũ này khá đông, chủ yếu từ dân cư trong vùng mà ra, nên chịu sự chi phối, quy định bởi nguồn nhân lực Khó có thể xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh mọi mặt nếu chất lượng nguồn nhân lực chưa cao Cho nên để xây dựng đội ngũ cán bộ trong tỉnh, trong đó có đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện, không thể tách rời với việc nâng cao dân trí, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, xây dựng cán bộ khoa học, kĩ thuật công nghệ, cán bộ quản lý, kinh doanh, cán bộ lực lượng vũ trang, cán bộ khoa học xã hội nhân văn, tức là xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chiến lược con người cho cả tỉnh Thanh Hóa

Dân tộc, tôn giáo: Là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc, trong đó người Kinh

chiếm tỷ lệ lớn nhất (84,4%), người Mường (8,7%), người Thái (6%) Các dân tộc thiểu số khác như Mông, Dao, Tày, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan, Thổ chiếm tỷ lệ không đáng kể (gần 1%) Tính đa dạng về thành phần dân tộc là lợi thế cho sự phát triển văn hóa, du lịch song cũng là những khó khăn cho sự phát triển đồng đều giữa

các vùng miền trong tỉnh [5, tr.5]

Trang 36

So với cả nước, tỉnh Thanh Hóa là một tỉnh có đồng bào theo đạo không đông (Phật giáo: khoảng 100.000 tín đồ, Công giáo: khoảng 140.000 tín đồ, Tin Lành: khoảng 6000 tín đồ, Cao đài: khoảng 100 tín đồ) Nhìn chung, tình hình tôn giáo tại tỉnh Thanh Hóa nhiều năm qua tương đối ổn định, đại bộ phận tín đồ, chức sắc tôn giáo phấn đấu sống “tốt đời, đẹp đạo” Tuy nhiên, các thành phần dân cư, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng phân bổ không đồng đều ở các địa phương

Dân tộc và tôn giáo trong quá trình tồn tại và phát triển có ảnh hưởng khá sâu sắc đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội và là một trong những vấn đề nhạy cảm, liên quan đến chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước Xây dựng đội ngũ cán bộ ở Thanh Hóa cần chú ý đặc điểm nổi bật này Điều quan trọng là phải có đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ là người đồng bào các dân tộc, tôn giáo, luôn gần dân, sát dân, hiểu ý dân, nắm bắt nguyện vọng chính đáng của dân, phát huy truyền thống cách mạng, kế thừa những bài học kinh nghiệm trong việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng để xây dựng và phát triển

Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh nói chung và đội ngũ cán bộ chủ

chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện nói riêng cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể và phát triển, vừa đảm bảo về mặt chính trị, vừa tránh bệnh hẹp hòi, quy kết, định kiến có thể làm thui chột lãng phí những cán bộ giỏi và nhân tài

Với thiên thời, địa lợi, nhân hòa của tỉnh Thanh hóa, trong quá trình phát triển, nhìn từ thời gian, không gian gắn kết với vị trí của vùng, sự kết hợp giữa các vùng kinh tế động lực phía Bắc, tỉnh Thanh Hóa có nhiều điểm thuận lợi và tiềm năng, nguồn lực để phát triển, cũng như có nhiều khó khăn, thách thức

Về thuận lợi: Thanh Hóa là tỉnh có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, nhân

dân trong tỉnh có tinh thần đoàn kết, có truyền thống yêu nước, cách mạng, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn nêu cao quyết tâm bảo vệ, xây dựng tỉnh ngày càng giàu mạnh, ngang hàng với các tỉnh khác trong cả nước

Về khó khăn: nền kinh tế của tỉnh chưa phát triển tương xứng với tiềm năng,

thế mạnh của tỉnh; đời sống vật chất, tinh thần của một số huyện miền núi còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí chưa cao, còn tồn tại một số những phong tục, tập quán lạc hậu, là cơ sở để thế lực thì địch lợi dụng, lôi kéo, chia rẽ đoàn kết dân tộc, tôn giáo trong tỉnh Tuy nhiên, Đảng bộ chính quyền các cấp của tỉnh Thanh Hóa đã

Trang 37

sớm nhận biết được các khó khăn đó Từng bước khắc phục, xây dựng tỉnh Thanh Hóa thành tỉnh giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, an ninh, có đời sống văn hóa -

xã hội phát triển, tạo điều kiện xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt cấp huyện xứng tầm với yêu cầu phát triển của Tỉnh

Nhìn chung lại, điều kiện tự nhiên - xã hội đã cho con người tỉnh Thanh Hóa

có những tính cách riêng, trong đó có những yếu tố tích cực lẫn tiêu cực Nó để lại dấu ấn trong mỗi lĩnh vực của cuộc sống con người Từ cách nhìn bao quát này, xây dựng đội ngũ cán bộ cần phải biết giữ gìn, phát huy cái tốt, hạn chế và đi đến loại trừ cái xấu cho phù hợp với yêu cầu mới; đòi hòi đội ngũ cán bộ phải có tư chất, có tầm nhìn chiến lược, có năng lực, độc lập và sáng tạo trong việc đề ra và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước phục vụ cho quá trình phát triển kinh

tế của tỉnh và cả nước Để phát triển, tỉnh Thanh Hóa cần thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội và đẩy mạnh CNH, HĐH cần có sự quan tâm, đầu tư trên nhiều lĩnh vực Trong đó có thể nói mấu chốt là việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp vững mạnh, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp huyện, mà bắt đầu bằng việc nghiên cứu, khảo sát đánh giá, nhận định thật đúng đắn, khách quan về đội ngũ này

2.1.1.2 Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt và thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện của tỉnh Thanh Hóa trước năm 2001

Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt

Hệ thống chính trị tổ chức quản lý hành chính ở Việt Nam có 4 cấp: cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh Hai cấp tỉnh (thành phố) và huyện (quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh) được gọi là cấp địa phương; còn cấp xã (phường, thị trấn được gọi là cấp cơ sở Do đó, về mặt chính quyền, có chính quyền (nhà nước) Trung ương, chính quyền địa phương và chính quyền cơ sở

Cấp Trung ương đại diện cho cả nước, cho toàn quốc gọi là cấp vĩ mô, là cái

vĩ mô Tế bào hợp thành cái vĩ mô ấy là cơ sở, thường được gọi là cấp vi mô, là cái

vi mô Tác động từ hai chiều từ Trung ương tới cơ sở và từ cơ sở lên Trung ương

đều phải đi qua cấp địa phương [18, tr.21]

Trang 38

Cấp xã hay cấp cơ sở nằm trong phạm vi của địa phương là địa bàn sinh sống, hoạt động kinh tế - xã hội của nhân dân, là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, mọi hoạt động của các đoàn thể nhân dân đều thể hiện ở cơ sở và hướng về cơ sở Các hoạt động đó được thực hiện thông qua cấp địa phương là tỉnh và huyện

Cấp tỉnh là cấp vừa có tính chiến lược vừa tổ chức triển khai, lãnh đạo thực hiện đường lối chiến lược mà Trung ương hoạch định trên địa bàn từng địa phương sao cho thích hợp với những đặc thù riêng Mỗi địa phương là một bộ phận của cả nước, là hình ảnh thu nhỏ của xã hội Chính quyền cấp tỉnh chính là nhà nước thu nhỏ của xã hội, là nhà nước Trung ương được tổ chức và hoạt động ở địa phương

Cấp huyện là cấp có vị trí vai trò rất quan trọng trong việc cụ thể hóa phương hướng nhiệm vụ của tỉnh sát hợp với cấp xã để lãnh đạo cấp xã một cách trực tiếp, toàn diện trên mọi lĩnh vực

Cấp huyện là cấp kết nối mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội từ tỉnh đến xã Đó là việc xây dựng nội bộ Đảng, lãnh đạo, kiểm tra trong hệ thống tổ chức Đảng; quản lý, thanh tra, kiểm sát của Nhà nước, vận động tổ chức nhân dân hăng hái tham gia các phong trào phù hợp với đặc thù từng cộng đồng của các tổ chức chính trị - xã hội Cấp huyện giúp cho toàn bộ hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở luôn được liên tục, thông suốt, thống nhất Thông qua cấp huyện mà đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế - xã hội của quốc gia, của tỉnh được cụ thể hóa sát với cấp xã và được tổ chức thực hiện trên từng địa bàn cấp xã

Nhờ sự lãnh đạo, quản lý của cấp huyện mà cấp tỉnh nắm được tình hình cấp

xã để có những chủ trương phù hợp và kịp thời báo cáo với Trung ương, trên cơ sở

đó Trung ương đề ra những chủ trương đúng đắn, sát hợp với cơ sở Cấp huyện có vai trò lãnh đạo, quản lý cấp xã một cách trực tiếp, toàn diện các lĩnh vực chính trị, kinh tế văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn huyện Cấp huyện phải nắm vững và cụ thể hóa các phương hướng, nhiệm vụ, chủ trương, kế hoạch của

Trang 39

tỉnh cho phù hợp với địa bàn; phối hợp chặt chẽ với cấp tỉnh trong thực hiện và giải quyết các vấn đề có liên quan giữa tỉnh và huyện

Cấp huyện lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với cấp xã còn xuất phát từ nhu cầu, đặc điểm của cấp xã Có thể khẳng định cấp xã là cấp rất quan trọng, gần gũi dân nhất, là nền tảng bền vững cho các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhưng hiện nay, các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp xã chưa thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, không ít xã vẫn ở mức trung bình, yếu kém, đội ngũ cán bộ cấp xã còn nhiều hạn chế về trình độ, năng lực, phẩm chất và khả năng hoàn thành nhiệm vụ

Do vậy, không thể thiếu sự lãnh đạo, quản lý sâu sát của Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội cấp huyện

Xuất phát từ định hướng căn bản trong quá trình xây dựng hệ thống chính trị làm sao đảm bảo sự phát triển của kinh tế - xã hội, phục vụ tốt nhất cho cơ sở, để phát triển sức dân và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân từ cơ sở, xuất phát từ vị trí vai trò của cấp huyện, có thể thấy đây là cấp địa phương sẽ còn tồn tại lâu dài trong hệ thống hành chính và hệ thống chính trị của Việt Nam

Địa bàn cấp huyện ở tỉnh Thanh Hóa thường là nơi phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp Có những huyện thuần nông, thuần ngư hoặc kết hợp cả hai hay ba ngành nông - lâm - ngư nghiệp Gắn với các ngành sản xuất chính, nhiều huyện cũng kết hợp phát triển tiểu thủ công nghiệp, mua bán, dịch vụ Các ngành này dù do cấp huyện hoặc cấp tỉnh hay Trung ương quản lý đều góp phần tác động, thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện phát triển, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH Cấp huyện phải lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ trước hết là CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn; cùng với tỉnh, cấp huyện tiến hành quy hoạch, phát triển công nghiệp trên các địa bàn về cơ cấu, về nhóm ngành nghề, về quy mô, về trình độ công nghệ… xây dựng phát triển công nghiệp nông thôn; chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; củng cố

mở rộng cơ sở hạ tầng ở nông thôn

Bộ máy quản lý hành chính - kinh tế - xã hội của cấp huyện phải có hiệu lực mạnh, đủ sức lãnh đạo, quản lý, tổ chức việc phát triển các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn huyện, sao cho các đơn vị

Trang 40

có thể khai thác được thế mạnh của địa phương, đồng thời tích cực trong việc thực hiện tốt nghĩa vụ, góp phần cho sự phát triển của địa phương, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Hệ thống chính trị là một chỉnh thể hệ thống các tổ chức chính trị trong xã hội, bao gồm các Đảng chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, được liên kết lại với nhau nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì phát triển chế độ xã hội đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể cầm quyền

Với khái niệm về hệ thống chính trị theo nghĩa chung nhất đó, hệ thống chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa trước hết phải là hệ thống các tổ chức chính trị căn bản, có quy mô quốc gia, có ý nghĩa chiến lược đối với sự tồn tại, ổn định và phát triển của đất nước Hệ thống chính trị này thực hiện những chức năng của nền chuyên chính vô sản, trong đó bao gồm các tổ chức chính trị căn bản như: Đảng Cộng sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và các đoàn thể của nhân dân Mỗi tổ chức này đều có chức năng, nhiệm vụ cụ thể khác nhau, nói một cách khái quát theo quan điểm của Đảng đó là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân lao động làm chủ thông qua nhà nước và các tổ chức đoàn thể quần chúng của mình Hiện nay, hệ thống chính trị ở Việt Nam bao gồm ba bộ phận là Đảng, Nhà nước và Mặt trận bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội Hệ thống tổ chức của Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam từ Trung ương đến cơ sở cũng hình thành một cách tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính

Tương ứng với cấp Trung ương và cấp tỉnh, các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cấp huyện là: Huyện ủy, Chính quyền và Mặt trận bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội

Hiện nay, Đảng bộ huyện có BCH, Bí thư Huyện ủy, các Phó Bí thư Huyện

ủy, Thường vụ Huyện ủy, với các Ban: Tổ chức, Dân vận, Tuyên giáo Chính quyền

có HĐND và UBND: bộ máy tổ chức của HĐND được sắp xếp đúng theo luật tổ chức HĐND và UBND Bí thư Huyện ủy hoặc Phó bí thư Huyện ủy được giới thiệu ứng cử làm Chủ tịch HĐND huyện, UBND mỗi huyện có khoảng 13 phòng, ban Các cơ quan hành chính của các huyện đã được sắp xếp ổn định, chất lượng hoạt động được nâng lên từng bước

Ngày đăng: 05/03/2019, 23:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w