Đội ngũ cán bộ của Đảng là cầu nối giữa Đảng, cơ quan lãnh đạo của Đảng với quần chúng. Cán bộ vừa là người tuyên truyền, giáo dục chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước cho dân chúng hiểu và thi hành; vừa là người nắm tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đề ra đường lối, chủ trương đúng. Cán bộ là công bộc của dân, có vai trò quyết định thành công hay thất bại của cách mạng; gắn liền với vận mệnh của Đảng, đất nước và chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Cán bộ không chỉ là người tham gia hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, mà còn là người trực tiếp tổ chức quần chúng nhân dân thực hiện đường lối, biến đường lối thành hiện thực. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt, hay kém”.
Trang 1MỞ ĐẦU MỤC LỤC TRAN
G
3
CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
ĐỒNG NAI VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN
1.1 Yêu cầu khách quan xây dựng đội ngũ cán bộ của
tỉnh Đồng Nai từ năm 1997 đến năm 2008 11 1.2 Đảng bộ tỉnh Đồng Nai vận dụng quan điểm,
đường lối của Đảng vào xây dựng đội ngũ cán bộ
Chương 2: QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI CHỈ
ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TỪ NĂM
1997 ĐẾN NĂM 2008, KẾT QUẢ VÀ KINH
2.1 Đảng bộ tỉnh Đồng Nai chỉ đạo xây dựng đội ngũ
2.2 Kết quả, kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng
bộ tỉnh Đồng Nai lónh đạo xây dựng đội ngũ
Trang 3MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Đội ngũ cán bộ của Đảng là cầu nối giữa Đảng, cơ quan lãnh đạo của Đảng vớiquần chúng Cán bộ vừa là người tuyên truyền, giáo dục chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước cho dân chúng hiểu và thi hành; vừa làngười nắm tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đề rađường lối, chủ trương đúng Cán bộ là công bộc của dân, có vai trò quyết định thànhcông hay thất bại của cách mạng; gắn liền với vận mệnh của Đảng, đất nước và chế độ;
là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng Cán bộ không chỉ là người tham giahoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, mà còn là người trực tiếp tổ chức quầnchúng nhân dân thực hiện đường lối, biến đường lối thành hiện thực Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt, hay kém” Các cơ quan, đơn vị Đảng và Nhà nước có
vững mạnh và có hoàn thành tốt nhiệm vụ hay không phụ thuộc quyết định vào chấtlượng của đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng Nhận thức rõ vai trò to lớn của đội ngũcán bộ đối với cách mạng, từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạngViệt Nam, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm, chăm lo đến công tác xâydựng đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng Do vậy, đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng đãđóng góp quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và trong sựnghiệp xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay
Đảng bộ tỉnh Đồng Nai những năm qua thường xuyên quán triệt và tổ chứcthực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh theo quan điểm, đường lối của Đảng vềcán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Do
đó, đội ngũ cán bộ của tỉnh đã thể hiện được bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên địnhvới mục tiêu lý tưởng ĐLDT & CNXH; năng động sáng tạo, chấp hành và thực hiệntốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tạo sựchuyển biến mạnh mẽ về phát triển KT - XH, giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy
sự nghiệp đổi mới ở địa phương phát triển không ngừng Song bên cạnh đó, việcxây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh còn nhiều bất cập, đội ngũ cán bộ của tỉnh nhiều,
Trang 4nhưng chưa mạnh, còn chắp vá, hẫng hụt, năng lực còn nhiều hạn chế, yếu kémtrước yêu cầu đòi hỏi phát triển KT - XH ở địa phương
Trước yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, địa phương đòi hỏi phải xâydựng đội ngũ cán bộ của tỉnh với chất lượng ngày càng cao, nhằm đáp ứng yêu cầulãnh đạo nhiệm vụ xây dựng và phát triển KT - XH của tỉnh trong giai đoạn cáchmạng mới Do đó, nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo xây dựngđội ngũ cán bộ trong những năm 1997 - 2008, nhằm làm rõ sự đúng đắn, sáng tạotrong chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh về xây dựng đội ngũ cán bộ; đánh giáthành tựu, hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm làm cơ sở đểĐảng bộ tỉnh Đồng Nai và các địa phương khác, tiếp tục lãnh đạo xây dựng đội ngũcán bộ trong những năm tiếp theo, đạt được nhiều thành tựu vững chắc hơn, là vấn
đề cần thiết hiện nay
Với ý nghĩa đó, tôi chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo xây
dựng đội ngũ cán bộ từ năm 1997 đến năm 2008” ; làm luận văn thạc sĩ lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2.Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng nói chung, xây dựng Đảng nói riêng,vấn đề cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng luôn là vấn đề đượcnhiều nhà khoa học, các cơ quan, đơn vị quan tâm nghiên cứu ở những góc độ, khíacạnh khác nhau, tiêu biểu các nhóm công trình nghiên cứu sau:
- Nhóm các công trình khoa học xuất bản thành sách:
Tổng cục Chính trị (1994), Tổng kết công tác cán bộ trong 10 năm đổi mới (1986 - 1996), H; Ban Tổ chức - Cán bộ Chính Phủ (1994), Chế độ nhân sự các nước, Nxb CTQG, H; Đỗ Mười (1994), Về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb CTQG, H; Lê Đức Thọ (1985), Xây dựng Đảng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb ST, H; Lê Khả Phiêu (1999), Bài nói chuyện tại Hội nghị toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương sáu (lần 2) về xây dựng và
Trang 5chỉnh đốn Đảng, H; Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên) (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb CTQG, H; Lưu Ngọc Trịnh (1996), Chiến lược con người trong “thần kỳ” kinh tế Nhật Bản, Nxb CTQG, H; Nguyễn Trọng Bảo (chủ biên) (1998), xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, Nxb Giáo dục, H; Phạm Hữu Dật (chủ biên) (1994), Phương sách dùng người của ông cha ta trong lịch sử, Nxb CTQG, H; Tô Tử Hạ (1998), Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ công chức hiện nay, Nxb CTQG, H; Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa (chủ biên) (1998), Đào tạo cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, Nxb CTQG, H; Trần Xuân Sầm (chủ biên) (1998), Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới, Nxb CTQG, H; Đức Vượng (1995), Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán bộ, Nxb CTQG, H.
Những công trình trên có một đặc điểm chung là bàn về quá trình xây dựng
và phát triển đội ngũ cán bộ cách mạng của Đảng qua các thời kỳ cách mạng; xácđịnh rõ vị trí, vai trò tầm quan trọng và yêu cầu khách quan của việc xây dựng độingũ cán bộ của Đảng trong cách mạng Đặc biệt, làm rõ những quan điểm, đườnglối, nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảngviên của Đảng, gắn với yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà trọng tâmtrong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Hơn thế, xác định làm rõ
cơ cấu, số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn, nội dung, yêu cầu và giải pháp cụ thể trongxây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ của Đảng trong hệ thống chính trị nước ta hiệnnay Như vậy, thông qua các tác phẩm này, có thể nhận thấy tư tưởng xuyên suốt chỉđạo quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ cách mạng của Đảng, nhất là cán
bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của Đảng qua các thời kỳ cách mạng khác nhau
- Nhóm các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học
Như: Phạm Đình Bộ (2009), “Rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ,
đảng viên theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính
Trang 6trị quân sự (số 5); Đoàn Ngọc Hải (1996), “Xây dựng con người mới trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Tạp chí Lịch sử Đảng (số 7); Tiến Hải (2000), “Yếu tố quan trọng hàng đầu trong công tác cán bộ”, Tạp chí Thông tin lý luận, (số 267); Trần Ngọc Hiên (1993), “Phương pháp luận và phương pháp cụ thể nghiên cứu cơ cấu, tiêu chuẩn cán bộ”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (số 1); Trần Hưng (1995),“Khắc phục tư tưởng cục bộ địa phương trong lựa chọn sử dụng đề bạt cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (số 7); Nguyễn Thành Khải (1998), “Một số cá tính, thói quen của cán bộ quản lý hiện nay”, Tạp chí Quản lý nhà nước, (số 33); Nguyễn Hải Khoát (1994), “Đánh giá cán bộ dựa theo đặc điểm nhân cách cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (số 8); Trần Ngọc Khuê (1993),
“Nghiên cứu, học tập, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là trách nhiệm
hàng đầu của người cán bộ trong hệ thống chính trị hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu
lý luận, (số 1); Lê Văn Lý (1990), “Bàn về đổi mới đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý”, Tạp chí Cộng sản, (số 11); Lê Văn Lý (1997), “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác cán bộ”, Tạp chí Cộng sản, (số 7); Đặng Văn Mấm (1996), “Một số vấn
đề công tác cán bộ trong thời kỳ mới ở Đảng bộ thành phố Hải Phòng”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (số 12); Đỗ Mười (1999), “Bài học từ sự kiện Thái Bình”, Tạp chí Cộng sản, (số 4); Tô Huy Rứa (1999), “Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ trong thời kỳ mới”, Tạp chí Cộng sản (số 3)
Các bài báo trên đã đề cập ở các phạm vi, góc độ khác nhau về vấn đề xâydựng đội ngũ cán bộ của Đảng trong hệ thống chính trị Song có một đặc điểmchung nhất là đi sâu vào phân tích làm rõ những ưu, khuyết điểm, nguyên nhân vànhững yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao về tiêu chuẩn, phẩm chất, năng lực của độingũ cán bộ các cấp của Đảng trong thời kỳ phát triển mới Đồng thời, các tác giảđưa ra những giải pháp cơ bản trong việc nâng cao chất lượng xây dựng đội ngũ cán
bộ các cấp của Đảng, bảo đảm đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứngyêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Trang 7Nhóm các bài báo như: Huỳnh Xuân Cơ (1995), “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của thời kỳ mới”, Tạp chí Xây dựng Đảng (số 3); Cao Duy Hạ (1999), “Nghĩ về giải pháp nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Tạp chí Thông tin lý luận, (số 253); Nguyễn Thế Phấn (1999), “Năng lực tổ chức thực tiễn và uy tín của người cán bộ lãnh đạo”, Tạp chí Thông tin lý luận, (số 253); Chu Văn Rỵ (1997), “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, trước nhất là người đứng đầu”, Tạp chí Cộng sản (số 6); Lê Doãn Tá (1995), “Mấy vấn đề cơ cấu, tiêu chuẩn cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (số 9); Nguyễn Quốc Tuấn (1999), “Năng lực người lãnh đạo”, Tạp chí Cộng sản, (số 1); Đỗ Văn (1995), “Đánh giá đúng cán bộ trong cơ chế thị trường”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (số 7); Lê Hữu Xanh (1993), “Từ vai trò xã hội mới của các đoàn thể nghĩ
về tiêu chuẩn cán bộ các đoàn thể nhân dân”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận (số 4); Lê Hữu
Xanh (1994), “Đưa tâm lý học chính trị vào chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo chính
trị”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận (số 4); Nguyễn Minh Khôi (2009), “Nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục - đào tạo các học viện, trường sĩ quan Quân đội,
Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, (số 4); Đồng Xuân Trường (2009), “Góp
phần nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở, xã, phường, thị trấn ở Tây
Nguyên hiện nay”, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự (số 5).
Nhóm các công trình trên cơ bản đề cập về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủchốt các cấp của Đảng hiện nay Trong đó, các công trình của các tác giả đã tập trung đisâu đề cập, lý giải về vị trí, vai trò, tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực, cơ cấu tổ chức, nộidung xây dựng đội ngũ cán bộ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp của Đảng trong hệ thốngchính trị Đặc biệt, đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng xây dựng đội ngũcán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp của Đảng đáp ứng yêu cầu phát triển của thời kỳ mới
- Nhóm các đề tài khoa học, luận văn, luận án, kỷ yếu hội thảo khoa học Như: “Cơ cấu, tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới ở nước ta - Những vấn đề lý luận và phương pháp luận ”, Chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước KX.05, đề tài KX.05 -11(1993); “ Một
Trang 8số vấn đề về quy hoạch cán bộ”(Kỷ yếu hội thảo khoa học), Chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước KHXH.05 (1998), “Thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị ”, đề tài khoa học KX 01- BĐ 03, Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Tổ chức Trung ương (1998); “ Hoàn thiện mục tiêu, đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý cao, trung cấp của Đảng và Nhà nước (qua thực tế Học viện Nguyễn ái Quốc”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, PGS, TS Vũ Nhật Khải làm chủ nhiệm (1992); “Xây dựng đội ngũ cán
bộ quản lý kinh tế ở nước ta trong quá trình đổi mới kinh tế ”, đề tài nghiên cứu
khoa học cấp bộ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, PGS Đào Xuân
Sâm làm chủ nhiệm (1994); “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, đề tài KHXH.05.03 thuộc chương trình khoa học cấp nhà nước
KHXH.05, do PGS, TS Nguyễn Phú Trọng làm chủ nhiệm (2000)
Luận án phó tiến sĩ khoa học lịch sử của tác giả Nguyễn Mậu Dựng: “Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của đảng bộ các cấp ở Tây Nguyên hiện nay” (1996); Luận án phó tiến sĩ khoa học quân sự của tác giả Trần Danh Bích: “Xây dựng
cơ cấu hợp lý đội ngũ cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới” (1996); Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Huy Tiếp: “Xây dựng đội ngũ cán bộ ở đơn vị cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay” (1999); Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Hiệp: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính trị phân đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” (2000); Luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Nguyễn Hồng Châu: “Nâng cao chất lượng đội ngũ chủ nhiệm hậu cần trung đoàn binh chủng hợp thành Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” (2003); Luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Nguyễn Tiến Quốc:
“Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ trì ban chỉ huy quân sự các huyện miền núi phía Bắc trong giai đoạn hiện nay”(2003); Luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng của tác giả Đoàn Đình Phú: “Xây dựng đội ngũ cán bộ của Trường sĩ quan Pháo binh hiện
Trang 9nay” (2001); Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng của tác giả Đào Công Khanh: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý học viên ở Học viện Hải quân hiện nay” (2003); Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng của tác giả Phạm Ngọc Thuỵ: “Xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ trì cơ quan ở Học viện Quốc phòng trong giai đoạn hiện nay” (2004).
Các công trình nghiên cứu trên đi sâu nghiên cứu ở các cấp độ khác nhautheo từng chuyên ngành riêng, nhưng đều có mục tiêu chung là nhằm xây dựng vàphát triển đội ngũ cán bộ của Đảng trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong toànĐảng Những kết quả của các công trình trên đã có nhiều đóng góp cả về mặt lýluận và thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng,trong sự nghiệp đổi mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay
Có thể khẳng định các công trình khoa học của các cơ quan nghiên cứu,các nhà khoa học đề cập đến vấn đề cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ các cấpcủa Đảng dưới những góc độ, khía cạnh khác nhau tuỳ theo chuyên ngành cụthể Các tác phẩm và các công trình nghiên cứu nêu trên đã đi sâu làm rõ vềquan điểm, đường lối của Đảng về lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác cán bộcác cấp Đặc biệt, bước đầu đã đề xuất nhiều giải pháp quan trọng về xây dựngđội ngũ cán bộ trong tình hình mới Tuy nhiên, trong thời gian qua, chưa cócông trình khoa học nào đi sâu vào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống
về Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ từ năm 1997 đếnnăm 2008 Các công trình trên là tài liệu tham khảo quý để tác giả có hệthống tư liệu, tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai trong việc quán triệt, vận dụngđường lối, quan điểm của Đảng vào xây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh từ năm 1997đến năm 2008; từ đó rút ra những kinh nghiệm có giá trị tham khảo vận dụng vàoxây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn cách mạng mới
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
Trang 10- Trình bày yêu cầu khách quan về nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ củaĐảng bộ tỉnh Đồng Nai trong những năm 1997 - 2008.
- Phân tích, luận giải làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh ĐồngNai về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của tỉnh từ năm 1997 đến năm 2008
- Khái quát thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệmchủ yếu từ quá trình Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ củatỉnh trong những năm 1997 - 2008
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về xây dựng đội ngũ cán bộ.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai
về xây dựng đội ngũ cán bộ do cấp tỉnh quản lý
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu các vấn đề trên từ năm 1997 đến năm 2008
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; của Đảng bộtỉnh Đồng Nai về cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp
* Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu của luận văn chủ yếu dựa vào phương pháp lịch sử,phương pháp lôgic và sự kết hợp hai phương pháp đó Ngoài ra tác giả còn sử dụngmột số phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh
và phương pháp chuyên gia
6 Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn hệ thống hoá chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai
về xây dựng đội ngũ cán bộ từ năm 1997 đến năm 2008
Trang 11- Luận văn góp phần tổng kết hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ địa phương vềlĩnh vực xây dựng đội ngũ cán bộ trong những năm 1997 - 2008 Qua đó làm phongphú hơn lịch sử của toàn Đảng trong quá trình lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ.
- Luận văn rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho quá trình lãnhđạo xây dựng đội ngũ cán bộ của các tỉnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị tronggiai đoạn cách mạng mới
- Luận văn, có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu, giảngdạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các học viện, nhà trường trong và ngoàiQuân đội hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mụctài liệu tham khảo và phụ lục
Chương 1 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI VỀ XÂY DỰNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2008
1.1 Yêu cầu khách quan xây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh Đồng Nai từ năm 1997 đến năm 2008
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Đồng Nai
- Về điều kiện tự nhiên
Tỉnh Đồng Nai thuộc địa bàn miền Đông Nam Bộ có diện tích tự nhiên là5.864 km,2 chiếm 1,76% diện tích tự nhiên của cả nước và chiếm 25,5% diện tích tựnhiên của miền Đông Nam Bộ Dân số toàn tỉnh Đồng Nai hiện nay là trên 2,4 triệungười; mật độ dân số bình quân là 353 người/km2 gấp 1,4 lần so với mật độ bìnhquân của cả nước; là tỉnh đông dân thứ 7 sau thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội vàcác tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, An Giang Dân số của tỉnh có nguồn gốc của 64 tỉnhthành trong cả nước với cộng đồng dân cư của hơn 30 dân tộc anh em và có 6 tôngiáo chính chiếm hơn 60% dân số của tỉnh, trong đó dân tộc Kinh chiếm 94% Đây
là vùng đất chuyển tiếp giữa cực Nam Trung bộ, Tây Nguyên và vùng đồng bằng
Trang 12Nam bộ Hiện nay, Đồng Nai có 11 huyện, thị, thành phố với 171 xã, phường, thịtrấn Đồng Nai, có địa giới hành chính tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố Phía Đôngtiếp giáp với tỉnh Bình Thuận; Đông Nam tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh;Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng; Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước; phíaNam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Đồng Nai là một tỉnh có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, đất đaimàu mỡ, khoáng sản phong phú; nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với hai mùamưa, nắng rõ rệt (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng4); thuận lợi cho việc canh tác sản xuất xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, trồngcác cây nông nghiệp có giá trị cao (như cao su, tiêu, điều, cà phê…) Tài nguyênrừng của Đồng Nai khá phong phú với diện tích là 153.355 ha, bao gồm hai loạirừng chủ yếu đó là rừng tự nhiên và rừng trồng (có diện tích rừng tự nhiên là110.678 ha, rừng trồng là 46, 538 ha)
Đồng Nai là tỉnh nằm ở trung tâm khu vực miền Đông Nam Bộ, cửa ngõ đivào Thành phố Hồ Chí Minh và trải dài trên các quốc lộ quan trọng là quốc lộ 1A,quốc lộ 51 và quốc lộ 20; trên tuyến đường sắt Bắc - Nam Hệ thống sông, suối mật
độ dày đặc với nhiều cảng sông quan trọng Vì thế mà Đồng Nai có hệ thống giaothông rất thuận lợi cả đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, thuận tiện cho việc phục vụphát triển KT - XH của tỉnh và khu vực
- Về điều kiện kinh tế - xã hội
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo
từ Đại hội VI của Đảng (12/1986); Đảng bộ tỉnh Đồng Nai triển khai, thực hiện cóhiệu quả đường lối, chủ trương đó Đến năm 1991 Đảng bộ tỉnh Đồng Nai ra Nghịquyết lần thứ V, về chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp - công nghiệp - dịch
vụ sang cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp đã làm cho nền kinh tếcủa tỉnh phát triển đúng hướng và năng động “Từ năm 1991 đến năm 1996 đã đưaĐồng Nai trở thành tỉnh có thu nhập GDP đạt 446 đô la 01 người/ 01năm” [10,tr.19] Đặc biệt, mức độ tăng trưởng kinh tế tăng cao: “Bình quân hàng năm tăng 13
% vượt 3 % so với chỉ tiêu đại hội V đề ra Sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển
Trang 13với mức tăng trưởng cao, bình quân đạt 32,2 %/ năm; các ngành dịch vụ từng bướcđược củng cố và tăng cao đạt 11,9 % /năm Riêng kim ngạch xuất khẩu địa phươngtăng 30,1%/ năm Sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, đúng hướng, cả trồngtrọt và chăn nuôi, mức tăng trưởng đạt 5,5 %/ năm” [10, tr.13]
Về mặt văn hoá - xã hội, trong quá trình xây dựng và phát triển, Đảng bộ vàchính quyền các cấp ở Đồng Nai luôn quán triệt và thực hiện phương châm pháttriển kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề văn hoá, xã hội Tỉnh đã giành các điềukiện tốt nhất cho sự phát triển văn hoá, xã hội, các sở chuyên ngành hoạt động tíchcực, có hiệu quả, các cơ sở và nhân dân tham gia có trách nhiệm, thực hiện bướcđầu có hiệu quả theo phương châm xã hội hoá sự nghiệp văn hoá, xã hội Chấtlượng GD & ĐT được nâng lên, xoá mù chữ và phổ cập tiểu học theo tiêu chuẩnquốc gia được 81/163 xã, phường và mở trường đào tạo con em đồng bào dân tộc.Hoạt động văn hoá - thông tin, thể dục - thể thao có nhiều tiến bộ, khắc phục mộtbước sự chênh lệch về đời sống văn hoá tinh thần giữa thành thị và nông thôn:
“Hàng năm đã giải quyết từ 40.000 đến 50.000 lao động có việc làm Tình trạngthiếu đói thường xuyên ở các vùng khó khăn trước đây được giải quyết cơ bản; tỷ lệ
hộ nghèo giảm, tỷ lệ hộ khá và giàu dần dần được tăng lên; những nhu cầu cơ bản
về ăn, mặc, ở, đi lại của nhân dân được đáp ứng khá hơn” [10, tr.18 - 19] Hoạtđộng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân ban đầu có tiến bộ Công tác phòng chốngbệnh hiểm nghèo, sốt rét, các bệnh xã hội có hiệu quả Tỷ lệ tăng dân số tự nhiêngiảm từ 2,35 % năm 1991 suống còn 1,97% năm 1995 Công tác chính sách xã hộithực hiện có hiệu quả, các phong trào đền ơn, đáp nghĩa chăm lo các đối tượngchính sách, thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng ngày càngtốt hơn
Công tác chỉnh đốn tổ chức đảng, được Đảng bộ chú trọng tập trung xâydựng đáp ứng ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ Toàn tỉnh có 670 tổ chức cơ sởđảng, qua củng cố kiện toàn, các tổ chức cơ sở đảng đã có nhiều chuyển biến tíchcực, từng bước làm rõ chức năng, nhiệm vụ loại hình cơ sở theo Quy định củaBan Bí thư Trung ương Đảng Thường xuyên đổi mới lề lối làm việc và giải
Trang 14quyết tốt mối quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo giữa cấp uỷ đảng và chính quyền, đoànthể Chất lượng sinh hoạt của cấp uỷ, chi bộ được nâng lên, nội dung toàn diện,thiết thực hơn: “Số cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh tăng lên rõ rệt trongnăm 1992 có 44,1% thì đến năm 1995 đạt 75,18%; số cơ sở yếu kém giảm dần”[10, tr.29] Đặc biệt, “Qua phân loại hàng năm tỷ lệ đảng viên đủ tư cách ngàycàng cao, năm 1992 là 99,69%, năm 1993 là 99,86%, năm 1994 là 99,87% đếnnăm 1995 là 99,85%, số đảng viên dự phân loại” [10, tr.31] Cùng với nhiệm vụxây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộluôn được Đảng bộ coi trọng và có nhiều chuyển biến tích cực: “Trong 5 năm
1991 - 1995 đã có 7.085 cán bộ các cấp được đào tạo lý luận chính trị và nghiệpvụ” [10, tr.32] Những thành tựu nêu trên đã góp phần tích cực vào việc ổn địnhkinh tế, chính trị, xã hội, QP - AN của tỉnh
Tuy nhiên, Đồng Nai vẫn còn tồn tại một số yếu kém như: cơ sở hạ tầng kinh
tế phát triển thiếu đồng bộ; quy trình tiến hành CNH, HĐH và mức độ tăng trưởngkinh tế còn chậm, thiếu ổn định chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh.Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực đời sống xã hội còn những mặt tồn tại bấtcập như: tốc độ tăng dân số tự nhiên còn cao; tỷ lệ lao động có kỹ thuật còn thấp,còn nhiều lao động chưa có việc làm ổn định Các tệ nạn xã hội đã và đang đượcngăn chặn nhưng chưa giảm Phân hoá giàu nghèo còn cao và thực tế Đồng Nai vẫncòn có 16 xã đặc biệt khó khăn, 56 xã miền núi và 32 xã vùng căn cứ cách mạng,vùng sâu khó khăn và có khoảng 14000 hộ nghèo Tình hình an ninh trật tự xã hộidiễn biến phức tạp, các vi phạm trật tự an toàn xã hội, vi phạm trật tự đô thị, cờ bạc,mại dâm, tai nạn giao thông chưa giảm; nạn tham nhũng, buôn lậu, lãng phí củacông, tội phạm kinh tế, hình sự còn nhiều; kỷ cương phép nước có nơi, có lúcchưa nghiêm, thủ tục hành chính còn phiền hà, chậm sửa đổi; tình trạng quanliêu cửa quyền ở một số cơ quan Nhà nước các cấp chưa khắc phục có hiệu quả.Công tác đổi mới và chỉnh đốn Đảng chuyển biến tích cực song chưa đều ở cácđịa phương và trong loại hình cơ sở đảng Đặc biệt, một bộ phận cán bộ, đảngviên giảm sút ý chí, vi phạm nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, thoái hoá, biến
Trang 15chất, vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng Việc xây dựng vàthực hiện làm việc theo quy chế của Ban cán sự đảng, đảng đoàn và các loại hình
cơ sở đảng, nhất là cơ sở đảng trong doanh nghiệp và trong cơ quan hành chính
sự nghiệp còn nhiều lúng túng, chậm được sơ kết rút kinh nghiệm Công tác quyhoạch cán bộ, xây dựng quy trình nhận xét đánh giá cán bộ, tiêu chuẩn hoá chứcdanh làm chậm Đội ngũ cán bộ hẫng hụt ở nhiều ngành Chưa quan tâm đúngmức đến việc chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Để tỉnh Đồng Nai ngày càng vững bước tiến lên, xứng đáng với vị trí chiếnlược của miền Đông Nam Bộ, góp phần vào sự nghiệp chung của cả nước; dưới sựlãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, Đồng Nai đã khai thác triệt để những lợi thế vốn có củatỉnh; phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; làm tốt công tác xâydựng đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh thực sự trong sạch, vững mạnh; có đầy đủphẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao hơn của sự nghiệp đổi mớiđất nước nói chung, sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Đồng Nainói riêng, nhằm sớm đưa tỉnh trở thành một trong những trung tâm công nghiệphàng đầu của cả nước
1.1.2 Tình hình đội ngũ cán bộ của tỉnh Đồng Nai trước năm 1997
Với chức năng là “cầu nối” giữa Đảng với nhân dân, vào thời kỳ Đảng lãnhđạo đấu tranh giành chính quyền, mọi đảng viên của Đảng chính là cán bộ củaĐảng, có nhiệm vụ vận động và giác ngộ quần chúng, tập hợp quần chúng xây dựng
Trang 16lực lượng cho Đảng Sau khi cách mạng giành được chính quyền, Nhà nước dân chủnhân dân được thành lập, hệ thống chính trị được hình thành phát triển và hoànthiện cùng với sự phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, thì cán bộđược coi như là tất cả mọi người làm việc trong bộ máy Đảng, chính quyền, đoànthể CT - XH Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về kháiniệm “Cán bộ” Trong Pháp lệnh cán bộ, công chức Việt Nam năm 1998 đã xácđịnh đối tượng là cán bộ, công chức bao gồm những người “Trong biên chế vàhưởng lương từ ngân sách Nhà nước; những người được bầu cử, được tuyển dụng,
bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên Trong các cơ quan Nhà nước, các tổchức chính trị, các tổ chức chính trị, xã hội và trong các cơ quan đơn vị Quân độinhân dân và Công an nhân dân” [52, tr 5 - 6]
Như vậy, ở nước ta, sự hình thành đội ngũ cán bộ, viên chức có đặc điểmkhác các nước Cán bộ làm việc ở các cơ quan Nhà nước, Đảng và đoàn thể là mộtkhối thống nhất trong hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo Bởi vậy, cần có mộtpháp lệnh có phạm vi điều chỉnh chung đối với cán bộ trong toàn bộ hệ thống chínhtrị bao gồm: các công chức Nhà nước (trong đó có công chức làm việc ở cơ quanquân đội, cảnh sát, an ninh ), cán bộ làm việc chuyên trách trong các cơ quan,Đảng, đoàn thể
Công chức được hiểu là tất cả những người làm việc chính ngạch trong hệthống nhà nước Khi đất nước mở rộng quan hệ, hội nhập kinh tế với thế giới và khuvực, cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy trong hệ thống chínhtrị, đặc biệt tăng cường vai trò Đảng cầm quyền, thì cần mở rộng nội hàm khái niệmcông chức cho phù hợp Công chức không chỉ bao gồm những người làm việc chínhngạch trong bộ máy chính quyền nhà nước, mà còn bao gồm cả những người làmviệc trong bộ máy Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể CT - XH thuộc hệ thốngchính trị Còn cán bộ có thể là công chức, cũng có thể không phải công chức, songphải giữ vai trò trụ cột, nòng cốt trong tổ chức bộ máy, giữ những chức vụ lãnh đạo,quản lý do bổ nhiệm hoặc do bầu cử Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Trang 17của Đảng, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII)
và nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về cán bộ được công bố trên các tạp chícũng đưa ra quan niệm về cán bộ cho phù hợp với cách lý giải nêu trên
Tóm lại, cán bộ gồm những người giữ vai trò trụ cột, nòng cốt trong mộtlĩnh vực công tác; những người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (do bổ nhiệm hoặc dobầu cử) trong một số tổ chức, bộ máy có chức năng đề ra phương hướng hoạt động,
tổ chức và phối hợp hành động của các thành viên trong tổ chức, bộ máy đó, thiếtlập và xử lý tốt các mối quan hệ phối hợp trong và ngoài tổ chức để thực hiện mụctiêu công việc đã đề ra
Với quan niệm trên, tính chất và nội dung công tác của cán bộ thể hiện ở vaitrò nòng cốt, cương vị lãnh đạo, quản lý trong một tổ chức cụ thể Tuỳ theo vị trí,chức năng, lĩnh vực hoạt động, loại hình tổ chức, theo phân cấp hành chính trong tổchức, bộ máy, trong hệ thống chính trị mà có thể phân chia thành nhiều loại cán bộ
Chẳng hạn, trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) đề cập tới bốn loại cán bộ: cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể
nhân dân; cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang; cán bộ khoa học, chuyên gia và cán
bộ quản lý kinh doanh
Từ cách tiếp cận quan niệm về đội ngũ cán bộ của Đảng nêu trên cho thấy,
về thành phần biên chế, cơ cấu, tổ chức cán bộ được thực hiện thống nhất theo đúngPháp lệnh Cán bộ, công chức của Nhà nước, được áp dụng cụ thể cho từng tỉnh Độingũ cán bộ của tỉnh Đồng Nai được biên chế trong các cơ quan Đảng, Nhà nước,các đoàn thể CT - XH trong hệ thống chính trị, được tổ chức từ cấp tỉnh cho đến cấp
cơ sở Đội ngũ cán bộ của tỉnh Đồng Nai với vai trò là người trực tiếp lĩnh hội mọinghị quyết, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước để triển khai vàquán triệt tổ chức chỉ đạo đảng viên và quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối,chủ trương đó Đặc biệt, đội ngũ cán bộ của tỉnh Đồng Nai còn giữ vai trò quyếtđịnh trong xây dựng chủ trương, định hướng, chương trình, kế hoạch phát triển toàndiện hoặc trong phạm vi từng ngành, từng lĩnh vực của tỉnh
Trang 18Như vậy, đội ngũ cán bộ của tỉnh Đồng Nai chính là những người giữ vai tròtrụ cột, nòng cốt trong bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể CT - XH của tỉnh; trựctiếp hoạch định chiến lược phát triển KT - XH và trực tiếp lãnh đạo, điều hành, tổchức thực hiện các nhiệm vụ của hệ thống chính trị của tỉnh; tổ chức động viênquần chúng tham gia tích cực thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc, CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn tại địa phương.
- Thực trạng về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh Đồng
Nai trước năm 1997
Về quy hoạch cán bộ, Đảng bộ tỉnh xác định là nội dụng quan trọng của
công tác cán bộ Thực hiện Chỉ thị số 07 CT/TU ngày 17/06/1993 và Nghị quyết 24/
TU ngày 26/06/1993 của Tỉnh uỷ, trong những năm 1991 - 1997, các cấp uỷ và các
tổ chức đảng đã tiến hành rà soát, bố trí, sắp xếp cán bộ, đáp ứng phần lớn yêu cầunhiệm vụ, trẻ hoá một bộ phận cán bộ lãnh đạo và quản lý; thay thế một số cán
bộ năng lực hạn chế, phẩm chất kém, hoặc tuổi cao, sức yếu Một số ngành, địaphương, đơn vị đã triển khai công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ dự bị,đào tạo một đội ngũ cán bộ kế cận thay thế, bổ sung vào các vị trí lãnh đạo các
cơ quan trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở Tuy nhiên bên cạnh nhữngmặt tiến bộ đã đạt được, công tác quy hoạch cán bộ mặc dù đã có chuyển biếntích cực, nhưng chưa tạo thành ý thức tự giác, thường xuyên, chưa nhận thức vềyêu cầu bức thiết và tầm quan trọng chiến lược của vấn đề này, nhất là quyhoạch cán bộ lâu dài và cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành Nhiều nơi còn lúngtúng trong cách làm, chưa giới thiệu và tạo điều kiện nguồn cán bộ dự bị rộngrãi Trong nhận xét, đánh giá cán bộ còn nể nang, thiếu dân chủ tập thể, côngkhai; không bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị và tiêu chuẩn cán bộ, dẫn đếnchất lượng quy hoạch không cao Sau khi quy hoạch cán bộ, nhiều cấp uỷ khôngchú ý theo dõi, kiểm tra, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch; bản thân một
số cán bộ được quy hoạch chủ quan, tự mãn, không liên tục phấn đấu vươn lên,
đã có một số trường hợp không thực hiện đúng theo quy hoạch
Trang 19Về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Đảng bộ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo,
đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cả về lý luận chính trị, văn hoá chuyên mônnghiệp vụ được đẩy mạnh, từ khi có Nghị quyết 24/TU và Chỉ thị 07/TU số lượnglớp học mở ở tỉnh, các huyện và số cán bộ đảng, chính quyền, đoàn thể được cử đihọc tăng gấp nhiều lần so với những năm trước, chất lượng học tập từng bước đượcnâng lên Tỉnh uỷ quan tâm ban hành và thực hiện chính sách đối với cán bộ đi học.Trong bố trí sắp xếp, đề bạt, bổ nhiệm đã chú trọng đến cán bộ trẻ, cán bộ khoa học
kỹ thuật Do vậy, đã tạo được động lực mới trong đội ngũ cán bộ an tâm vươn lênhọc tập, nghiên cứu và công tác Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được quan tâm
và có nhiều chuyển biến tích cực Mở rộng đối tượng đào tạo, số lượng đào tạo vànội dung đào tạo “Trong 5 năm từ 1991 - 1995 đã có 7.085 cán bộ các cấp đượcđào tạo lý luận chính trị và nghiệp vụ” [10, tr.32]
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong những năm qua được đẩy mạnh,nhưng thiếu kế hoạch toàn diện, thiếu chủ động đào tạo mới, đào tạo lại số cán bộ
đã qua đào tạo nhưng chưa thích ứng với cơ chế quản lý mới nhằm đáp ứng yêu cầuhiện tại và lâu dài Chưa xây dựng được kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho từng loạicán bộ trong từng năm để chủ động sắp xếp cho cán bộ đi học Đào tạo chưa thực sựgắn với quy hoạch cán bộ, chưa gắn với đầu ra, thậm trí có tình trạng tự phát, cóhiện tượng đào tạo dàn đều hoặc khi có chiêu sinh mở lớp thì mới chọn người đihọc Mặt khác, cũng còn một bộ phận cán bộ có quan niệm chạy theo bằng cấp, thấycần gì học nấy nên có tình trạng một người đăng ký cùng một thời gian học nhiềulớp Có đơn vị do nhiều người đi học nên không có người làm việc, hoặc khi đi họckhông đảm bảo thời gian đến lớp nên ảnh hưởng đến chất lượng học tập Việc tổchức mở nhiều lớp học tại chức có ưu điểm được đông đảo cán bộ đi học, nhưngchất lượng học tập chưa cao và đối tượng được cử đi học chưa đúng quy hoạch; do
đó hiệu quả và chất lượng đào tạo không cao
Do chưa làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ
dự bị và kế cận, đã dẫn đến trong bố trí, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ không ít trường
Trang 20hợp bị động, chắp vá, bố trí không đúng ngành nghề được đào tạo, thậm trí cótrường hợp bố trí gượng ép, đưa người chưa đủ tiêu chuẩn vào các vị trí lãnh đạolàm cho cán bộ không phát huy được tác dụng, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiệnnhiệm vụ chính trị của từng cấp, từng ngành, từng địa phương trong tỉnh.
Về công tác tuyển chọn, bố trí, sử dụng và luân chuyển cán bộ, công tác
tuyển chọn cán bộ đã từng bước đổi mới, Tỉnh đã ban hành các quy định, hướng dẫn
về điều kiện, tiêu chuẩn cán bộ Đã thực hiện chế độ dân chủ, công khai trong việctuyển chọn cán bộ, cơ bản bảo đảm đúng tiêu chuẩn từng chức danh cán bộ, tổ chứctốt việc thi tuyển, sát hạch để làm căn cứ tuyển chọn đúng cán bộ, nhất là đối vớicán bộ, công chức mới được tuyển dụng vào cơ quan, đơn vị Việc bố trí, sử dụngcán bộ được thực hiện nghiêm túc theo quy chế và xuất phát từ nhiệm vụ để bố trícán bộ Các trường hợp bố trí cán bộ vào chức danh lãnh đạo, bầu cử được tập thểcấp uỷ thảo luận dân chủ và thống nhất chủ trương với đơn vị cấp trên, do đó về cơbản bố trí cán bộ bảo đảm đúng người, đúng việc, đúng sở trường và bước đầu thựchiện trẻ hoá đội ngũ cán bộ, kết hợp các độ tuổi bảo đảm tính liên tục, phát triển quabầu cử hoặc khi đề bạt, bổ nhiệm Trong bố trí, sử dụng cán bộ các cấp uỷ đảng đãbám sát vào quy hoạch, kế hoạch cán bộ đã được xây dựng Việc đề bạt, bổ nhiệmcán bộ được gắn với nguồn cán bộ quy hoạch; bảo đảm sự ổn định, kế thừa và pháttriển của đội ngũ cán bộ; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của từng tổchức, cơ quan, đơn vị Việc luân chuyển cán bộ bước đầu đã đạt được yêu cầu củaluân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý giữa các địa phương, các ngành tạo được điềukiện cho cán bộ trẻ có triển vọng phát triển toàn diện và được rèn luyện trong thựctiễn Đặc biệt, Tỉnh uỷ đã giải quyết có kết quả mối quan hệ giữa luân chuyển với
ổn định và xây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh, đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thực tiễn,thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị và kịp thời giải quyết những vấn đề khókhăn, phức tạp của địa phương
Tuy nhiên, công tác tuyển chọn, bố trí, sử dụng cán bộ và quản lý cán bộtheo phân cấp cũng còn hạn chế: việc nhận xét, đánh giá, đề bạt, bồi dưỡng, bố trícán bộ, công chức có trường hợp chưa chuẩn xác, chưa toàn diện, thiếu khách quan,
Trang 21giao nhiệm vụ chưa sát với khả năng thực tế của cán bộ hoặc còn nặng về bằng cấp,
cơ cấu, chưa chú trọng đến tiêu chuẩn cán bộ và hiệu quả công tác của cán bộ Việc
đề bạt, bổ nhiệm cán bộ trẻ, cán bộ nữ chưa thực sự mạnh dạn, số lượng còn ít Một
số trường hợp cán bộ được bổ nhiệm, điều động, luân chuyển chưa nằm trong quyhoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Nhận thức tư tưởng về luân chuyển cán bộ của một số cấp uỷ đảng, một sốban, ngành, đoàn thể trong tỉnh chưa sâu; xem việc luân chuyển cán bộ gần giốngnhư việc điều động cán bộ; chưa chú trọng để rèn luyện, thử thách cán bộ một cáchchủ động, qua đó để rèn luyện, bồi dưỡng phát triển cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộtrẻ, có triển vọng phát triển Việc luân chuyển cán bộ chưa trở thành thường xuyên;thời gian luân chuyển của một số cán bộ ngắn, gây xáo trộn không cần thiết Một sốcán bộ luân chuyển ý thức trách nhiệm chưa cao, năng lực hạn chế Mối quan hệgiữa cơ quan, đơn vị cử cán bộ luân chuyển với cấp uỷ, chính quyền nơi cán bộ luânchuyển thiếu chặt chẽ, hiệu quả thấp
Nguyên nhân của mặt hạn chế trên do cách làm quy hoạch, luân chuyển cán
bộ còn chắp vá, lúng túng chưa toàn diện; chưa thường xuyên, liên tục và chưa quyhoạch được chức danh cán bộ sau khi hết thời gian luân chuyển sẽ đảm nhiệm trọngtrách gì Chưa có chính sách hỗ trợ từ huyện về tỉnh, hoặc cán bộ từ huyện về côngtác ở các xã vùng xa, vùng sâu và ngược lại, những cán bộ có nhiều khó khăn trongcuộc sống Tỉnh uỷ có chủ trương về công tác quy hoạch cán bộ, nhưng các cấp uỷđảng, các ngành, các cấp làm còn chậm, chưa tập trung tổ chức thực hiện tốt côngtác quy hoạch cán bộ và luân chuyển cán bộ Nhận thức của một số cán bộ và tổchức chưa đúng đắn, có nơi cấp trên điều động cán bộ và tăng cường lại băn khoăn,cho rằng cấp trên thiếu tin vào cán bộ tại chỗ
- Đánh giá chung về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh Đồng Nai trước năm 1997
Tình hình đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh cuối năm1997: “Gồm có 21.161 cán bộ, công chức, công tác trong cơ quan đảng, đoànthể, các đơn vị sự nghiệp Đội ngũ cán bộ của tỉnh hình thành từ nhiềunguồn, cán bộ tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ tại chỗ; cán bộ
Trang 22cấp tỉnh phía Bắc chi viện và tăng cường trước và sau 1975; cán bộ trưởngthành sau 30/4/1975” [15, tr.2].
Nguồn cán bộ này được đào tạo bằng nhiều hình thức khác nhau: có cán bộđào tạo chính quy tập trung, hoặc tại chức dài hạn, có cán bộ được đào tạo ngắn
hạn, hoặc chỉ qua những lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn ngày Đội ngũ cán bộ được
rèn luyện, thử thách trong kháng chiến có lập trường chính trị vững vàng Số cán bộtrưởng thành sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 phần lớn trẻ, có trình độ, năng động,sáng tạo trong học tập và công tác
Qua nhiều năm đào tạo, đội ngũ cán bộ của tỉnh được nâng lên một bước vềtrình độ; giữ gìn được phẩm chất đạo đức cách mạng; không ngừng học tập nângcao trình độ chuyên môn, chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài,góp phần quan trọng cho việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của tỉnh: “Đa số cán
bộ còn trẻ, dưới 40 tuổi 16.489 đ/c, đạt 77,96% Trình độ chuyên môn sau đại học
81 đ/c, chiếm 0,3%; cao đẳng, đại học 6.652 đ/c, chiếm 31,43%; trung cấp 7.319đ/c, chiếm 34,58 % Trình độ chính trị trung cấp 691 đ/c, chiếm 3,26%; cao cấp
169 đ/c, chiếm 0,79%” [15, tr.2]
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh đã từng bước trưởng thành, phát
triển về số lượng và ngày càng nâng cao chất lượng Trình độ kiến thức và năng lựcquản lý KT - XH bước đầu được nâng lên, góp phần tạo ra những chuyển biến quantrọng về mặt KT - XH, giữ vững được sự ổn định CT - XH , thúc đẩy sự nghiệpCNH, HĐH ở địa phương: “Cán bộ lãnh đạo chủ chốt 178 đ/c Trong đó nữ 26 đ/c,chiếm 14,6%, trên 50 tuổi chiếm 45,5% Cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh trình độ đại họcchuyên môn 63,3%, trình độ lý luận chính trị từ trung cấp đến cao cấp 79%, cán bộlãnh đạo cấp huyện trình độ đại học 41,3%, trình độ lý luận chính trị từ trung cấpđến đại học chiếm 78,3%” [15, tr.2]
Tuy nhiên, trước những diễn biến tình hình trong nước và thế giới, nhất là khiđất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, một bộ phận cán
bộ còn hoài nghi, dao động trước sự lựa chọn về kinh tế thị trường theo định hướng
Trang 23XHCN của Đảng ta Một số cán bộ do không vững vàng đã biểu hiện thoái hoá,biến chất; một bộ phận cán bộ trải qua rèn luyện thử thách trong kháng chiến,nhưng sau giải phóng không quan tâm học tập, rèn luyện nên năng lực lãnh đạo,quản lý còn hạn chế Trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ chưa ngang tầm với yêucầu của nhiệm vụ mới; còn một số cán bộ chưa đảm bảo tiêu chuẩn về trình độ sovới quy định Còn trên 60% tỷ lệ cán bộ, công chức chưa có trình độ cao đẳng, đạihọc chuyên môn, số đông chưa được đào tạo về lý luận chính trị (chỉ có 4,05%trung cấp, cao cấp) Nguồn cán bộ trưởng thành sau 30/4/1975, đa số là cán bộ trẻ,
có trình độ, năng lực nhưng còn thiếu kinh nghiệm trong lãnh đạo quản lý
1.1.3 Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đặt ra yêu cầu mới đối với xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh Đồng Nai
Vấn đề CNH, HĐH đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam được xác định lànhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta Mục đíchchính của quá trình CNH, HĐH là nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết về cơ sởvật chất - kỹ thuật, về con người và KHCN, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế,nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cả trong nước và ngoài nước,không ngừng tăng năng xuất lao động xã hội, làm cho kinh tế tăng trưởng nhanh vàbền vững; nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, thực hiện công bằng
và tiến bộ xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, sinh thái; phấn đấu đến năm 2020đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để đạtđược mục đích trên yếu tố quyết định trực tiếp là phải khai thác và sử dụng có hiệuquả mọi nguồn lực của đất nước và của từng địa phương; trong đó nguồn lực conngười và trọng tâm là đội ngũ cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị từ Trung ươngxuống các địa phương Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ trở thành mục tiêu hàng đầu
và là yêu cầu cần thiết và cấp bách của quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh
sự nghiệp CNH, HĐH trên phạm vị cả nước, cũng như ở từng địa phương
Dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ tỉnh Đồng Nai đã tậndụng khai thác, phát huy mọi tiềm năng và thế mạnh của tỉnh về những điều kiện
tự nhiên như: về dân số của tỉnh đông, nguồn lao động phong phú và có nguồn
Trang 24gốc từ khắp các tỉnh thành trong cả nước; có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiênnhiên; kết cấu hạ tầng giao thông thuận lợi; điều kiện KT - XH thường xuyên có
sự phát triển: mức độ tăng trưởng kinh tế qua các năm tăng cao, tình hình CT
-XH luôn giữ vững được sự ổn định vv Những tiềm năng, lợi thế trên tạo thuậnlợi để Đảng bộ tỉnh Đồng Nai vận dụng những chủ trương, quan điểm, chínhsách của Đảng vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệpCNH, HĐH nông nghiệp nông thôn tại địa phương Đặc biệt, tập trung khai thác,
sử dụng có hiệu quả mọi nguồn nhân lực tại chỗ, nhất là xây dựng và phát huyvai trò đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh với tư cách là nguồn nhân lực chủ yếu,quyết định trực tiếp đến sự phát triển KT - XH của tỉnh Tuy vậy, quá trình khaithác, sử dụng nguồn nhân lực với nòng cốt là xây dựng và phát huy vai trò độingũ cán bộ các cấp của tỉnh Đồng Nai những năm qua bên cạnh kết quả đạt đượcvẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế như: đội ngũ cán bộ của tỉnh đông, nhưngchưa mạnh, còn chắp vá, hẫng hụt, năng lực còn nhiều hạn chế, yếu kém tácđộng trực tiếp tới sự phát triển KT - XH ở địa phương trong những năm qua
Do đó, bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH của đất nước, địa phương, đòihỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh với cơ cấu, số lượng phù hợp,chất lượng ngày càng cao, đã trở thành yêu cầu cần thiết và cấp bách đặt ra,nhằm đáp ứng yêu cầu lãnh đạo nhiệm vụ xây dựng và phát triển KT - XH củatỉnh phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn
Thực tiễn cho thấy nguồn nhân lực của tỉnh là phong phú, đa dạng tiềmnăng to lớn, do đó việc khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực khôngchỉ có vai trò quyết định ở ý nghĩa lâu dài mà còn là điều kiện rất thuận lợi để thuhút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn từ bên ngoài vào tỉnh Trong khi đó nguồnđầu tư từ bên ngoài và từ ngân sách Nhà nước vào Đồng Nai còn hạn hẹp, thì vấn
đề khai thác, sử dụng nguồn lực tại chỗ, chủ yếu, trực tiếp là đội ngũ cán bộ cáccấp của tỉnh trở thành yêu cầu cấp thiết và là giải pháp quan trọng, đúng đắn, phùhợp nhằm thúc đẩy nhanh tốc độ hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn trên địa bàntỉnh trong thời kỳ mới
Trang 25Quá trình CNH, HĐH của đất nước, địa phương diễn ra trong điều kiệnmới, ngày càng dựa vào lợi thế phát triển chủ yếu của trí tuệ, năng lực sáng tạo củangười lao động và dựa trên nền học vấn, nhân cách và phẩm chất ngày càng tăng, đó
là vấn đề quan trọng hàng đầu Do đó, xây dựng phát huy vai trò của đội ngũ cán bộcác cấp của tỉnh trong thời kỳ mới, lực lượng giữ vai trò trụ cột, nòng cốt trong từnglĩnh vực công tác của tỉnh trở thành yêu cầu bức thiết đặt ra Song để khai thác, sửdụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong nhân dân, đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnhphải được xây dựng, đào tạo cơ bản đáp ứng tiêu chí của con người mới XHCN, đó
là con người có văn hoá, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất Đó là con người phát
triển toàn diện, vừa có “đức”, vừa có “tài”; là người phải vừa “hồng”, vừa
“chuyên”; những con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí
tuệ, đạo đức, thể chất, có năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái,khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong giađình, cộng đồng và xã hội, có tinh thần quốc tế XHCN trong sáng Đây cũng chính
là những đòi hỏi khách quan của quá trình CNH, HĐH đất nước
Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh là kết quả của sự tác động tổnghợp của nhiều nhân tố: kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá, vai trò của hệ thốngchính trị vv Trong đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp giữ vai trò nòng cốt, trongcông tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ trở thành yêu cầu bức thiết đặt
ra trong thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Để tỉnh Đồng Nai ngày càng vững bước tiến lên, xứng đáng với vị trí chiếnlược của miền Đông Nam Bộ, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐHcủa cả nước; trước hết, Đảng bộ tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụtrung tâm là xây dựng và phát triển KT- XH gắn với củng cố QP - AN vững chắc,đang đòi hỏi bức thiết phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh phải có đầy đủphẩm chất, năng lực, trí tuệ, được rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, luôn luôn đứngvững trên lập trường của giai cấp công nhân, thông suốt và chấp hành nghiêm chỉnhmọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, ham họchỏi, năng động, sáng tạo, có kiến thức quản lý KT - XH, có tính tổ chức, kỷ luật cao
Trang 26và phong cách lãnh đạo làm việc tốt Trước hết, là có ý thức tập thể, dân chủ đi đôivới tính quyết đoán, có ý thức trách nhiệm, có tác phong sâu sát thực tế, gần gũiquần chúng, quan tâm đến con người, gương mẫu trong lối sống, đoàn kết và độngviên được nhiệt tình lao động của cán bộ và nhân dân Đây chính là tiêu chí và làyêu cầu khách quan trong xây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh Đồng Nai trong thời kỳđẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
1.2 Đảng bộ tỉnh Đồng Nai vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng vào xây dựng đội ngũ cán bộ của tỉnh từ năm 1997 đến năm 2008
1.2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đội ngũ cán bộ
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, ở đâu, lúc nào Đảng, Nhànước ta luôn quan tâm chăm lo công tác xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục, rènluyện cán bộ, đảng viên, nhằm tạo ra một đội ngũ cán bộ có chất lượng cao, hoànthành tốt nhiệm vụ, đường lối chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước Đặcbiệt, qua từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng cụ thể, Đảng kịp thời đề ra những quanđiểm, chủ trương, chính sách lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp củaĐảng cho phù hợp với yêu cầu phát triển của cách mạng Do đó, bước vào thời kỳđẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng đã có những quyết sách đúng đắn trong xâydựng đội ngũ cán bộ Đại hội VIII của Đảng (6/1996) xác định: “Tình hình vànhiệm vụ mới đặt ra rất nhiều yêu cầu cho công tác cán bộ, toàn Đảng phải hết sứcchăm lo xây dựng thật tốt đội ngũ cán bộ, chú trọng đội ngũ cán bộ kế cận vữngvàng, đủ bản lĩnh về các mặt Sớm xây dựng chiến lược cán bộ thời kỳ mới” [21,tr.145] Đảng phải lo cán bộ cho hệ thống chính trị trên tất cả các lĩnh vực Đảngthống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời phát huytrách nhiệm của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị trong công tác cán bộ.Trong xây dựng đội ngũ cán bộ phải: “Trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn, thực hiện trẻhoá đội ngũ cán bộ, đồng thời kết hợp tốt các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, tínhphát triển trong đội ngũ cán bộ Có chính sách đoàn kết, tập hợp rộng rãi các loạicán bộ, trọng dụng nhân tài của đất nước, trong Đảng và ngoài Đảng” [21, tr.145]
Trang 27Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải toàn diện cả về lý luậnchính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn Quan tâmđào tạo, bồi dưỡng cả cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, các doanh nghiệp và cácchuyên gia, trước hết là cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị; coi trọng đức vàtài, đức là gốc Việc học tập của cán bộ phải được quy định thành chế độ và phảithực hiện nghiêm ngặt Chăm lo tạo nguồn cán bộ trong phong trào thực tiễn vàngay từ các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề Đồng thời, đổi mới quan niệm vàphương pháp đánh giá, bố trí cán bộ, bảo đảm thật sự dân chủ với một quy trìnhchặt chẽ Trong bố trí và sử dụng cán bộ phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn và sởtrường Đề bạt, bổ nhiệm đúng lúc, giao việc đúng tầm, thay thế kịp thời khi cầnthiết Xây dựng quy chế tuyển chọn cán bộ, tuyển chọn nhân tài đảm bảo cho phùhợp với yêu cầu tình hình mới Có chính sách sử dụng đúng đắn, chính sách tiềnlương và đãi ngộ hợp lý đối với các loại cán bộ.
Trên cơ sở cụ thể hoá đường lối Đại hội VIII của Đảng và nhằm đưa nghị
quyết vào cuộc sống, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (6/1997) ra Nghị quyết về “Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Nghị quyết xác định 5 quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ:
Một là, phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Hai là, quán triệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết dân tộc Ba là, gắn việc xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng tổ chức và đổi mới cơ chế, chính sách Bốn là, thông
qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân, nâng cao
trình độ dân trí để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ Năm
là, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo
nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các tổchức thành viên trong hệ thống chính trị [23, tr.75 - 78]
Nghị quyết đề ra mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp từ
Trung ương đến cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu cơ quan, đơn vị có phẩm chất và
Trang 28năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân,
đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vànggiữa các thế hệ cán bộ, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ CNH, HĐH giữ vữngđộc lập, tự chủ, đi lên CNXH Bảo đảm có đủ nguồn cán bộ để mỗi nhiệm kỳ có thểđổi mới khoảng 30% - 40% số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể các cấp,cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang Phấn đấu đến năm 2020 số người có trình độ
đại học, cao đẳng trở lên bằng khoảng 4% dân số cả nước Đặc biệt, Nghị quyết còn
đề ra tiêu chuẩn chung cho cán bộ nói chung và đối với từng loại cán bộ cụ thể nói
riêng trong thời kỳ mới Đồng thời, Nghị quyết xác định một số nhiệm vụ và giảipháp lớn về xây dựng quy hoạch và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; xây dựng các quychế công tác cán bộ; đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách cán bộ; đổi mới vàchỉnh đốn tổ chức bộ máy làm công tác cán bộ Và xác định nhiệm vụ của công táccán bộ từ nay đến Đại hội IX: “Tiếp tục đổi mới cán bộ, và công tác cán bộ, rà soát,sắp xếp, sử dụng tốt đội ngũ cán bộ hiện có; khẩn trương đào tạo, bồi dưỡng, rènluyện, sớm hình thành đội ngũ cán bộ kế cận có phẩm chất và năng lực” [22, tr.96]
Về nhiệm vụ chủ yếu công tác cán bộ từ nay đến Đại hội IX là, phải rà soát, sắpxếp, bổ sung, sử dụng tốt đội ngũ cán bộ, tích cực chuẩn bị nhân sự đại hội đảng cáccấp và kiện toàn cơ quan nhà nước; xây dựng và ban hành một số quy chế về công
tác cán bộ; đổi mới chính sách tiền lương, nhà ở, thực hiện nghiêm túc chế độ tự
phê bình và phê bình, đẩy mạnh đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng; xúc tiếnviệc xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch cán bộ
Nhằm tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước giành thắng lợi, Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) chủ trương tiếp tục đổi mớicông tác cán bộ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý
ở các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống,
có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, sáng tạo, gắn bó với nhân dân”[26, tr.54] Đặc biệt, Đảng phải có cơ chế và chính sách phát hiện, tuyển chọn, đàotạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài vào trong các cơ quanlãnh đạo Đảng, Nhà nước và đoàn thể CT - XH
Trang 29Trong đường lối, chủ trương của Đảng về công tác cán bộ là phải thựchiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý độingũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầucác tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ Làm tốt công tác quyhoạch và tạo nguồn cán bộ Đánh giá, bồi dưỡng, lựa chọn, sử dụng cán bộ trên
cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làmthước đo chủ yếu Đổi mới, trẻ hoá đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợpcác độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển Thực hiện chủ trươngluân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý Xây dựng, chỉnh đốn các học viện, nhàtrường và các trung tâm chính trị, nâng cấp chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồidưỡng cán bộ Từ nay đến năm 2005, phần lớn cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấphuyện trở lên học chương trình lý luận cao cấp và có kiến thức, trình độ đại học
về một chuyên ngành nhất định
Đồng thời trên cơ sở quan điểm, chủ trương về tiếp tục đổi mới công táccán bộ, Đại hội IX của Đảng xác định nhiệm vụ, giải pháp xây dựng đội ngũcán bộ công chức trong sạch có năng lực trên cơ sở: “Hoàn thiện chế độ công
vụ, quy chế cán bộ, công chức, coi trọng cả năng lực và đạo đức; bảo đảm tínhnghiêm túc, trung thực trong thi tuyển cán bộ, công chức” [26, tr.135] Trongđào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, trước hết tập trung vào đào tạo đội ngũcán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý về đường lối, chính sách, về kiến thức và kỹnăng quản lý hành chính nhà nước Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức theođúng chức năng, tiêu chuẩn Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lượng cán bộ,công chức, kịp thời thay thế những cán bộ, công chức yếu kém và thoái hoá.Tăng cường cán bộ cho cơ sở Đồng thời, có chế độ, chính sách đào tạo, bồidưỡng, đãi ngộ đối với cán bộ xã, phường, thị trấn nhằm đáp ứng yêu cầunhiệm vụ chính trị trong giai đoạn cách mạng mới
Trên cơ sở cụ thể hoá đường lối Đại hội IX của Đảng, để đưa nghị quyết của
Đảng vào cuộc sống, Nghị quyết Hội nghị Trung ương sáu khoá IX của Đảng (7/2002), Kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương ba, khoá VII, Nghị
Trang 30quyết Trung ương ba, Nghị quyết Trung ương bảy, khoá VIII về công tác tổ chức và công tác cán bộ Trong đó, xác định các giải pháp thực hiện công tác cán bộ là: tiếp
tục cụ thể hoá, thể chế hoá nguyên tắc Đảng lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý độingũ cán bộ; đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng, đạo đức chínhtrị, chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác; đổi mới việc đánhgiá, quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt quan tâm nguồn cán bộ lãnh đạo, quản
lý trẻ; làm tốt việc luân chuyển cán bộ, coi đây là giải pháp quan trọng, một khâuđột phá trong công tác cán bộ; đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,công chức, kết hợp chặt chẽ việc tinh giảm biên chế hành chính sự nghiệp mộtcách hợp lý; tăng cường công tác quản lý cán bộ, hoàn thiện quy chế quản lý cán
bộ, chế độ phân công, phân cấp cán bộ; thực hiện cải cách cơ bản chế độ tiềnlương, công chức, coi chính sách tiền lương là chính sách đầu tư cho con người,cho phát triển KT - XH và là giải pháp hạn chế những biểu hiện tiêu cực và thamnhũng trong đội ngũ cán bộ; xây dựng và triển khai chương trình nghiên cứukhoa học và tổng kết thực tiễn về công tác tổ chức, làm căn cứ hoàn thiện hệthống chính trị ở nước ta trong thời kỳ mới Hội nghị nhấn mạnh, Đảng cần đổimới phương thức lãnh đạo đối với công tác tổ chức và cán bộ trong hệ thốngchính trị để tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đạihội IX của Đảng
Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đi đến thắng lợi, Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4/2006) xác định phương hướng và mụctiêu trong công tác cán bộ: “Tiếp tục đổi mới đồng bộ các khâu của công tác cán bộ,tạo chuyển biến cơ bản, vững chắc trong công tác cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ,đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, thật sự vìĐảng, vì dân, có bản lĩnh và trí tuệ” [29, tr.280] Đặc biệt, những cán bộ đó phải điđầu trong công tác và gương mẫu trong đạo đức lối sống, bảo đảm tính kế thừa vàphát triển; xây dựng và thực hiện chính sách phát triển nhân tài đáp ứng yêu cầu đẩymạnh CNH, HĐH đất nước
Trang 31Đại hội X của Đảng xác định nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục đổi mới công táccán bộ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có cơ cấu hợp lý, chất lượng tốt, xâydựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng Chú ý đào tạo cán bộ nữ, cán bộdân tộc thiểu số, cán bộ xuất thân từ công nhân, chuyên gia trên các lĩnh vực; bồidưỡng nhân tài theo định hướng quy hoạch” [29, tr.136].
Mục tiêu chung xây dựng đội ngũ cán bộ là: có bản lĩnh chính trị vữngvàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí,kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, có tư duy đổi mới,sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩymạnh CNH, HĐH; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức kỷ luật cao vàphong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ,dám làm, dám chịu trách nhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa vàphát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý Nhiệm vụ quan trọng nhất là: “Xâydựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược vàngười đứng đầu tổ chức các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị” [29, tr.293].Đồng thời, xác định đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, trước hết là củaBan Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, cần có kế hoạch chu đáo, giải phápđồng bộ, cụ thể, có hiệu lực để thực hiện Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ,cán bộ nữ, cán bộ các dân tộc thiểu số, cán bộ xuất thân từ công nhân, từ con emnhững gia đình có công với cách mạng
Quán triệt và thực hiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo côngtác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời đề cao trách nhiệm của các tổchức trong hệ thống chính trị và người đứng đầu tổ chức Cấp uỷ, tổ chức đảng
có thẩm quyền phải chủ trì và chịu trách nhiệm về công tác tổ chức cán bộ theođúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể quyết định; xác định rõ trách nhiệm
cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ Có chínhsách, quy chế tôn vinh những người có công; bố trí sử dụng đúng những người
có năng lực, hết lòng vì dân, vì nước; khuyến khích những người năng động,sáng tạo, có sáng kiến, có ý tưởng mới
Trang 32Mở rộng và phát huy dân chủ, thực hiện công khai, minh bạch trongcông tác cán bộ Các cấp uỷ cần coi trọng việc đánh giá cán bộ; căn cứ vào tiêuchuẩn, sự tín nhiệm, xem xét giới thiệu để bầu cử, hoặc bổ nhiệm những ngườithực sự có đức, có tài, có tâm huyết với đất nước vào các chức vụ trong các cơquan nhà nước các cấp, không phân biệt người ngoài Đảng hay trong Đảng;khắc phục những biểu hiện cá nhân, cục bộ, thiếu dân chủ, không công tâm, nểnang, tuỳ tiện trong công tác cán bộ
Đổi mới và hoàn thiện chế độ bầu cử, thực hiện bầu cử có số dư, mởrộng quyền tiến cử và ứng cử, giới thiệu nhiều phương án nhân sự trong bầu cử
và bổ nhiệm cán bộ Thực hiện tốt các cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệmlại, quản lý, giám sát cán bộ sau bầu cử, bổ nhiệm; các quy định về quyền hạn,trách nhiệm người đứng đầu của các thành viên trong tập thể lãnh đạo, của cơquan sử dụng cán bộ và cơ quan tham mưu trong công tác cán bộ Đổi mới vàthực hiện tốt chế độ bỏ phiếu tín nhiệm, cho từ chức, thôi chức, miễn chức vàcách chức đối với những cán bộ phạm khuyết điểm hoặc không hoàn thànhnhiệm vụ; thực hiện cơ chế đảng viên và nhân dân tham gia giám sát cán bộ vàcông tác cán bộ Mở rộng phân cấp quản lý đi đôi với tăng cường kiểm tra côngtác cán bộ
Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ các khâu, đánh giá, quy hoạch, đàotạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách cán
bộ Đánh giá cán bộ phải công khai, minh bạch, khách quan, toàn diện và công tâm,lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất và năng lực cán
bộ Đánh giá cán bộ lãnh đạo phải căn cứ vào hiệu quả công tác, khả năng đoàn kết,quy tụ, phát huy sức mạnh của tập thể, tạo ra sự tiến bộ và kết quả cụ thể trongngành, lĩnh vực, địa phương, đơn vị mình phụ trách; không tham nhũng, lãng phí,quan liêu và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu Không bổ nhiệm, đềbạt những người không đủ phẩm chất và năng lực; khoan dung những người thànhthật nhận và sửa chữa sai lầm, khuyết điểm Tiếp tục cải cách chế độ tiền lương;thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa,
Trang 33cán bộ hưu trí Xây dựng và thực hiện chính sách phát triển và trọng dụng nhân tài,thu hút nhân tài vào những lĩnh vực quan trọng, không phân biệt trong Đảng hayngoài Đảng.
1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai về xây dựng đội ngũ cán
bộ từ năm 1997 đến năm 2008
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, tại Đại hội Đảng bộ tỉnhĐồng Nai lần thứ VI nhiệm kỳ (1996 - 2001), xác định những nhiệm vụ và biệnpháp chủ yếu về công tác cán bộ: “Tập trung soát xét lại đội ngũ cán bộ, viên chứcnhà nước ở các ngành, các cấp Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng sắp xếp lại theođúng tiêu chuẩn chức danh, trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ quan hànhchính” [10, tr.75] Về yêu cầu đối với đội ngũ công chức phải trung thành, tậntuỵ, liêm khiết, chí công vô tư và có đủ trình độ, năng lực, hoàn thành nhiệm vụtrong thời kỳ CNH, HĐH Do vậy, trong công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, Đảng
bộ tỉnh xác định phải: “Chú trọng đào tạo nhân tài từ học sinh phổ thông, đưa đihọc dài hạn, tạo nguồn cán bộ có nghiệp vụ giỏi, có phẩm chất tốt, có độ tin cậychính trị cao để bố trí vào các cơ quan quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội”[10, tr.75] Đồng thời có chính sách nuôi dưỡng đối với con em gia đình liệt sĩ,thương binh, gia đình có công với cách mạng, học giỏi để làm nòng cốt sau này bốtrí vào các cơ quan chủ chốt của tỉnh, huyện Xây dựng và thực hiện chế độ công
vụ, thực hiện tốt quy chế công chức sau khi pháp lệnh công chức ban hành Thànhlập hội đồng thi tuyển, xây dựng quy chế tuyển dụng và đề bạt công chức qua thituyển, hoặc kiểm tra sát hạch Thực hiện đúng chế độ quản lý thống nhất về biênchế và tiền lương Mặt khác, đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền phổ biếnpháp luật trong cán bộ, đảng viên, nhân dân và hướng dẫn nhân dân thực thi phápluật Củng cố kiện toàn bộ máy cơ quan pháp luật trong sạch vững mạnh Trongxây dựng đội ngũ cán bộ, Đảng bộ xác định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩmchất chính trị, đạo đức tốt, có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng” [10, tr.76]
Trang 34Để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh từ tỉnh đến cơ sở và ở tất cả cácngành, các cấp ngang tầm nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ mới, Đảng bộ tỉnh xácđịnh phải chú trọng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng nhiệm vụ chiến lượccủa thời kỳ mới Trên cơ sở các cấp uỷ phải tăng cường cải tiến nội dung và phươngpháp công tác cán bộ và nắm vững các quan điểm, nguyên tắc cơ bản của Đảngtrong công tác cán bộ Vấn đề mấu chốt trong đánh giá cán bộ là: “Phải dựa vào tiêuchuẩn và hiệu quả công tác của cán bộ; bố trí và sử dụng cán bộ phải căn cứ vào yêucầu công tác và năng lực hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ” [10, tr.88] Đồng thời,phải đoàn kết và tập hợp rộng rãi các lực lượng cán bộ; đào tạo bồi dưỡng và thuhút nhân tài của tỉnh trên tất cả các lĩnh vực Luôn bảo đảm tính liên tục và tính kếthừa trong đội ngũ cán bộ Thực hiện triệt để các nguyên tắc Đảng thống nhất lãnhđạo và quản lý cán bộ; phát huy trách nhiệm các tổ chức trong hệ thống chính trị.Tất cả các quyết định về cán bộ phải đảm bảo nguyên tắc tập thể, dân chủ, đồng thờiphát huy đầy đủ trách nhiệm cá nhân.
Về công tác cán bộ trong thời gian tới, Đảng bộ tỉnh xác định: tổ chức tổng
kết thực hiện Nghị quyết 24 NQ/TU và Chỉ thị 07/TU về công tác đào tạo, quy hoạch cán bộ; tổ chức rút kinh nghiệm về quy trình tiến hành công tác cán bộ nhiệm
kỳ qua để xây dựng quy chế quản lý cán bộ trong những năm 1996 - 2000 Tổ chức
rà soát, sắp xếp, điều chỉnh, bồi dưỡng cán bộ hiện có, trước hết là cán bộ lãnh đạo
và cán bộ chủ chốt ở các ban, ngành của tỉnh, các huyện và thành phố Biên Hoà, cácđơn vị kinh tế then chốt Bổ sung những cán bộ đủ tiêu chuẩn, có triển vọng và đưa
ra khỏi cơ quan lãnh đạo, quản lý những cán bộ thoái hoá biến chất Điều chỉnh, bốtrí công việc thích hợp cho những cán bộ hạn chế về kiến thức và năng lực Kiênquyết thay thế cán bộ chủ chốt ở những nơi yếu kém trì trệ kéo dài Thực hiện tốtChỉ thị 688 CT/TTg của Thủ tướng Chính phủ đối với cán bộ Đảng, Nhà nước, cácđoàn thể đúng tuổi hưu trí Mạnh dạn đề bạt những cán bộ đã qua thử thách, đãđược đào tạo đủ tiêu chuẩn Việc thay thế, điều động cán bộ phải đi đôi với ổn địnhcán bộ, tránh tuỳ tiện, gây xáo trộn không cần thiết Những cán bộ quản lý sản xuất,
Trang 35kinh doanh, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ cần được chuyên môn hoá nhằm đáp ứngtheo yêu cầu nhiệm vụ chính trị của tỉnh.
Trong công tác quy hoạch cán bộ, Đảng bộ xác định đây là một quá trìnhphát hiện, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ, tạo nguồn dự bị đápứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ mới Do đó, phải tiến hành xây dựng quy hoạch vàtiêu chuẩn hoá các chức danh cán bộ chủ chốt của Đảng, chính quyền, đoàn thể.Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo nguồn cán bộ có kỹ thuật có tay nghề,chuẩn bị đội ngũ công nhân lao động và cán bộ quản lý mới phục vụ cho sự nghiệpCNH, HĐH 5 năm (1996 - 2000) và đến năm 2010
Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt quan điểm giai cấp công nhân trong côngtác cán bộ, đồng thời có biện pháp cụ thể để đoàn kết, tập hợp rộng rãi cán bộ; thựchiện tốt chính sách đãi ngộ đối với cán bộ Đảm bảo công bằng giữa các cán bộĐảng, Nhà nước và các đoàn thể, cán bộ giữa các vùng, các lĩnh vực, có chế độkhuyến khích những cán bộ làm việc tốt Vận dụng thực hiện tốt chính sách đãi ngộđối với cán bộ xã, phường theo Nghị định 50/CP khuyến khích cán bộ làm việc ởmiền núi, vùng sâu, vùng xa, chăm sóc cán bộ có công với cách mạng, cán bộ hưutrí Có biện pháp thu hút nhân tài ở các lĩnh vực, các thành phần KT - XH, kể cảnhững người ngoài Đảng Tạo điều kiện để mọi người mang hết nhiệt tình, trí tuệ,tài năng phục vụ sự nghiệp đổi mới của tỉnh
Hoàn chỉnh quy chế, hướng dẫn cụ thể việc phân công, phân cấp quản lýcán bộ từ tỉnh đến cơ sở Kiện toàn Ban tổ chức Đảng, chính quyền các cấp,đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ trong quản lý cán bộ giữa ngành và lãnh thổ Đẩymạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực khác trongđội ngũ cán bộ các cấp
Nhằm tiếp tục thực hiện đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, Đạihội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII, nhiệm kỳ (2001 - 2005) xác định nhiệm vụ và giảipháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chính trị và nănglực chuyên môn để nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước Trongcông tác tuyển chọn và sử dụng đội ngũ cán bộ công chức phải bảo đảm: “Theo
Trang 36hướng chuyên môn hoá, ổn định, bảo đảm tiêu chuẩn của từng chức danh, xâydựng hoàn thiện chế độ công vụ và quy chế công chức Đặc biệt chú trọng đếncán bộ công tác vùng sâu, vùng xa; từng bước hiện đại hoá công sở, trang thiết bịhành chính” [11, tr.108]
Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Đảng bộ xác định tập trungvào đẩy mạnh đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức.Thực hiện tốt việc luân chuyển, sắp xếp cán bộ, công chức, theo quy hoạch
và đúng tiêu chuẩn chức danh, đúng ngành nghề đào tạo Đồng thời, thựchiện quy hoạch cán bộ, công chức từ sau năm 2005 trở đi để đưa vào đào tạochính quy ngay từ bây giờ Đối với các cấp uỷ lãnh đạo và kiểm tra việc thựchiện Pháp lệnh Cán bộ, công chức và quy chế dân chủ ở cơ quan Về côngtác cán bộ, Đảng bộ tỉnh xác định phải tăng cường cải tiến nội dung vàphương pháp công tác cán bộ Nắm vững và thực hiện xuyên suốt nguyên tắcĐảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theonguyên tắc tập trung trung dân chủ, đồng thời phát huy trách nhiệm của các
tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị Thực hiện tốt công tác quyhoạch cán bộ Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Thực hiện tốtcông tác chính sách ưu đãi người có công với cách mạng Quan tâm đến lợiích vật chất và tinh thần cho cán bộ
Để thực hiện nhiệm vụ về xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, Đảng bộ tỉnhxác định những giải pháp lớn là phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêucầu nhiệm vụ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Đồng thời phải: “Thườngxuyên kiểm tra việc thực hiện công tác cán bộ của các ngành, các cấp Tất cả cácquyết định về đánh giá, bố trí, sử dụng, điều động, đề bạt, khen thưởng, xử lý kỷluật cán bộ nhất thiết phải được xem xét tập thể, dân chủ, đồng thời phát huy đầy đủtrách nhiệm cá nhân” [11, tr.126]
Tổ chức sơ kết thực hiện Nghị quyết Trung ương ba (khoá VIII), Nghị quyết 24/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá VI) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Tiến hành rà soát đánh giá đội ngũ cán bộ các cấp để có kế
Trang 37hoạch điều chỉnh bố trí công tác cho phù hợp, đưa đi đào tạo, bồi dưỡng nhằm xâydựng đội ngũ cán bộ luôn bảo đảm trong sạch, vững mạnh Tổ chức sơ kết thực hiệncác quy định về công tác cán bộ của tỉnh, kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp,đảm bảo công tác cán bộ có quy chế và thực hiện theo quy chế
Đối với các cấp uỷ, các Ban cán sự đảng, đảng đoàn, cán bộ lãnh đạo cáccấp, các ngành căn cứ vào nhiệm vụ chính trị, mục tiêu KT - XH trong thời kỳ đẩymạnh CNH, HĐH, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ, có kế hoạch chuẩn bịnguồn cán bộ đủ tiêu chuẩn, từ đó có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng qua các trường,lớp để nâng cao kiến thức, rèn luyện thêm trong thực tiễn, nhất là đối với cán bộtrong nguồn dự bị, nguồn kế cận Làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ, bố trítheo đúng quy hoạch, hạn chế thấp nhất bố trí cán bộ trái với ngành nghề đào tạo;quan tâm công tác cán bộ nữ, bố trí những đồng chí đủ tiêu chuẩn vào các vị trí lãnhđạo, quản lý trong các lĩnh vực công tác
Tích cực mở các lớp đào tạo tại chức để đào tạo được nhiều cán bộ nhằm đápứng yêu cầu tiêu chuẩn cán bộ trong từng ngành, từng cấp Đặc biệt đẩy mạnh đàotạo sau đại học cho đội ngũ cán bộ đương chức, cán bộ dự nguồn lãnh đạo, quản lýcủa tỉnh và cấp huyện Tăng cường đầu tư cho công tác đào tạo bồi dưỡng cán
bộ, đào tạo con em gia đình có công với cách mạng, con em gia đình liệt sĩ,thương binh Chăm lo các đồng chí cách mạng, lão thành, đảng viên lâu năm
Có chế độ khuyến khích đào tạo nhân tài (kể cả đưa đi học nước ngoài), lựachọn trong số cán bộ có trình độ trong một số ngành mũi nhọn, hình thành độingũ cán bộ chuyên môn giỏi để giúp tỉnh trên một số lĩnh vực trọng yếu Trântrọng đối với những người có tài, đóng góp lớn cho sự nghiệp xây dựng và pháttriển của tỉnh
Nâng cao tinh thần trách nhiệm thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội
bộ Tiếp tục tiến hành thật tốt việc rà soát chất lượng chính trị của đội ngũ cán
bộ, đảng viên Trước mắt tập trung rà soát số cán bộ, đảng viên đang giữ chức vụlãnh đạo trong hệ thống chính trị từ cơ sở đến tỉnh Đặc biệt, những cán bộ đangcông tác trong các cơ quan trọng yếu, cơ mật của Đảng và Nhà nước, xem xét kết
Trang 38nạp đảng viên mới có lịch sử chính trị bản thân và liên quan lịch sử chính trị giađình Thẩm tra, xác minh, kết luận kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo nhữngtrường hợp cán bộ, đảng viên có liên quan lịch sử chính trị để phục vụ tốt chocông tác cán bộ và các mặt công tác khác thuộc lĩnh vực bảo vệ chính trị nội bộcủa Đảng bộ tỉnh
Nhằm tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước giành thắng lợi,
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII nhiệm kỳ (2005 - 2010), xác định những nhiệm
vụ và giải pháp chủ yếu về xây dựng đội ngũ cán bộ là: “Xây dựng đội ngũ cán
bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp, vững vàng về chính trị,gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lựchoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân” [14, tr.92] Đồng thời, tập trung ràsoát, hoàn chỉnh quy hoạch cán bộ các ngành, các cấp, bảo đảm có sự chuyểntiếp, liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, tránh tình trạng hẫng hụt cán bộ,nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý Chú ý quy hoạch phát triển cán bộ nữ, cán bộcác dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ có triển vọng Tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoànchỉnh các quy chế công tác cán bộ Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhấtlãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy tráchnhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị vềcông tác cán bộ
Tổ chức tốt công tác đánh giá cán bộ hàng năm và trước khi bố trí, sử dụngcán bộ, trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác và sự tín nhiệm của nhân dânlàm thước đo chủ yếu Thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lýtheo quy hoạch ở các ngành và địa phương để đào tạo, bồi dưỡng toàn diện và sửdụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ; tạo điều kiện cho cán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộtrong quy hoạch được rèn luyện trong thực tiễn; đồng thời nghiên cứu và có chínhsách hỗ trợ đối với cán bộ được luân chuyển công tác
Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứngyêu cầu tiêu chuẩn hoá cán bộ trong từng ngành, từng cấp Xây dựng kế hoạchdài hạn, có tính chiến lược về công tác đào tạo đội ngũ cán bộ Trong công tác
Trang 39đào tạo cán bộ phải gắn với quy hoạch, sử dụng cán bộ Đẩy mạnh đào tạo sauđại học; tăng cường đào tạo lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý các cấp; phấn đấu đến năm 2010, tất cả cán bộ lãnh đạo chủ chốt xã, phường,thị trấn đều học qua chương trình cao cấp lý luận chính trị và có trình độ đại họcchuyên ngành Quan tâm đào tạo con em gia đình có công với cách mạng, có chế
độ khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, chính sách thu hút sinh viên tốtnghiệp đại học, các chuyên gia giỏi về công tác ở tỉnh Đầu tư cơ sở vật chất,củng cố, bổ sung cán bộ cho trường Chính trị tỉnh, các trung tâm bồi dưỡngchính trị cấp huyện; coi trọng đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, kết hợpchặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn trong quá trình đào tạo
Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩylùi tệ tham nhũng, lãng phí có hiệu quả Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dânchủ, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng, người đứng đầu cấp uỷ, đơn vị phải đềcao tính tiền phong, gương mẫu, chống mọi biểu hiện của tư tưởng cục bộ, địaphương, chia rẽ bè phái, mất đoàn kết nội bộ trong cán bộ, đảng viên Quan tâm giảiquyết dứt điểm những vụ việc nổi cộm, những việc có nhiều dư luận quan tâm, thắcmắc, nghi ngờ Thực hiện kê khai tài sản, làm rõ ràng, minh bạch về tài sản cán bộ,công chức; tạo điều kiện để tổ chức và quần chúng quản lý và giám sát việc hìnhthành những tài sản mới, góp phần ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực trong đội ngũcán bộ Thực hiện nghiêm túc chủ trương tiết kiệm, chống lãng phí trong các cơquan, tổ chức Thực hiện nghiêm quy định những điều cán bộ, đảng viên khôngđược làm và thường xuyên kiểm điểm trong sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng cơ sở.Phát huy dân chủ nội bộ trong xây dựng chỉnh đốn Đảng, trong chống tham nhũng,lãng phí
Quan tâm đúng mức đến công tác bảo vệ chính trị nội bộ Thường xuyêngiáo dục cho cán bộ, đảng viên nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, bảo vệĐảng, tự rèn luyện, tự bảo vệ mình trong sạch về chính trị và phẩm chất, đạo đức.Tiếp tục rà soát chất lượng chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên Thực hiệnnghiêm các chế độ thủ tục, quy chế quản lý cán bộ, đảng viên
Trang 40* *
Tỉnh Đồng Nai với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, KT - XH, rất thuận lợicho phát triển một nền kinh tế toàn diện và hoàn chỉnh Đồng thời, còn thuận lợi choviệc khai thác và phát huy tiềm năng nguồn nhân lực tại chỗ của tỉnh, nhằm để phục
vụ đắc lực cho sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Tuy nhiên, thực trạngviệc xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ cán bộ với tư cách là nguồn nhân lực chủyếu để phát triển KT - XH, củng cố và tăng cường QP - AN trên địa bàn tỉnh trướcnăm 1997, còn nhiều vấn đề bất cập, hạn chế, chưa phản ánh đúng tiềm năng, thếmạnh của tỉnh Do đó, bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trongnhững năm 1997 - 2008, Đảng bộ tỉnh Đồng Nai đã tập trung quán triệt sâu sắcnhững quan điểm, đường lối của Đảng về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán
bộ của Đảng trong tình hình mới và luôn xác định đó là những định hướng rất quantrọng để Đảng bộ tỉnh Đồng Nai vận dụng vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng
và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh, đảm bảo xây dựng đội ngũcán bộ các cấp của tỉnh có đầy đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực đáp ứng vớiyêu cầu sự nghiệp cách mạng mới, đưa sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp ĐồngNai vững bước đi lên trong tiến trình chung của cả nước