mạnh, giữ vững an ninh, quốc phòng, bảo vệ vững chắc biển đảo, đòi hỏiTỉnh phải vững mạnh về mọi mặt, phải có một đội ngũ cán bộ các cấp đủvề số lượng, chất lượng ngày càng cao, đặc biệt
Trang 1của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án
là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tác giả luận án
Trần Tiến Quân
Trang 2Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH KHÁNH HÒA VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
1.1 Những yếu tố tác động và yêu cầu đối với quá trình Đảng
bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở 341.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa về xây dựng
đội ngũ cán bộ cơ sở (2001 - 2005) 541.3 Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán
Chương 2 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH
HÒA VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ
2.1 Những yếu tố mới tác động và yêu cầu xây dựng đội ngũ
cán bộ cơ sở của tỉnh Khánh Hòa (2006 - 2010) 762.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa về xây dựng đội
2.3 Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ
3.1 Một số nhận xét về quá trình lãnh đạo xây dựng đội ngũ
cán bộ cơ sở của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa (2001 - 2010) 1163.2 Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh
đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở (2001 - 2010) 138
Trang 303 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài luận án: “Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010” thuộc chuyên ngành Lịch sử
Đảng đã phân tích, luận giải về các yêu cầu khách quan, có căn cứ khoahọc về lý luận và thực tiễn đối với việc Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo,chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở 2001 – 2010 Nghiên cứu, tổngkết quá trình lịch sử; phân tích, khái quát, hệ thống hóa các quan điểm, chủtrương, của Đảng bộ tỉnh, qua đó đưa ra nhận xét, rút ra những kinhnghiệm chủ yếu trong quá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xâydựng đội ngũ cán bộ cơ sở Khẳng định rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo củaĐảng bộ tỉnh đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở
Đề tài là công trình nghiên cứu mới và có ý nghĩa, phần nào đó có thểgóp phần vào việc lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở trên địa bàn tỉnhKhánh Hòa nói riêng, trên phạm vi cả nước nói chung vững mạnh, đáp ứngyêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hộinhập quốc tế Luận án được tác giả kết cấu thành 3 chương (8 tiết), kết luận,danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Trong đó, chương 1, tập trung làm rõquá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sởgiai đoạn 2001 - 2005 Chương 2, Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa
về xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở giai đoạn 2006 - 2010 Chương 3, đưa ramột số nhận xét và đúc rút những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnhKhánh Hòa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở (2001 - 2010)
2 Lý do chọn đề tài luận án
Cán bộ là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cáchmạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng và chế độ Ngay từ khi Đảng Cộng sảnViệt Nam được thành lập, Đảng và Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhận
Trang 5thức đúng về vị trí và tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ, coi:
“Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạythì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt” [86, tr.68] Cán bộ là cáigốc của mọi công việc [86, tr.309], công việc thành công hay thất bại đều do cán
bộ tốt, hay kém Cán bộ là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ với dân, đem chínhsách của Chính phủ, đoàn thể thi hành trong nhân dân
Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhất làtrong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủtrương, chính sách về xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức nóichung, xây dựng đội ngũ cán bộ cấp tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn nóiriêng, từng bước đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng
và hoạt động của hệ thống chính trị, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổquốc Việt Nam XHCN
Tỉnh Khánh Hòa là một trung tâm phát triển kinh tế lớn của khu vựcNam Trung Bộ Thực tiễn qua các thời kỳ cách mạng, Đảng bộ tỉnh KhánhHòa đã quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng vào xây dựng đội ngũ cán
bộ nói chung, cán bộ cơ sở nói riêng và đã có những bước trưởng thành vềnhiều mặt, trong đấu tranh cách mạng cũng như trong xây dựng đất nước, đãcùng với nhân dân cả nước viết nên những trang sử vẻ vang, làm rạng danhdân tộc Tuy nhiên, khi bước vào thời kỳ đổi mới với bao nhiệm vụ khó khăn,phức tạp, nặng nề đặt ra về quản lý, phát triển KT-XH, đòi hỏi đội ngũ cán bộcủa Tỉnh phải được xây dựng ngang tầm để có thể đáp ứng được những yêucầu của cách mạng trong thời kỳ mới
Với vị trí chiến lược hết sức quan trọng về an ninh, quốc phòng, nhất làhuyện đảo Trường Sa, nơi mà nhiều thế lực đã và đang có hành động tranhchấp chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Để xây dựng tỉnh ngày càng vững
Trang 6mạnh, giữ vững an ninh, quốc phòng, bảo vệ vững chắc biển đảo, đòi hỏiTỉnh phải vững mạnh về mọi mặt, phải có một đội ngũ cán bộ các cấp đủ
về số lượng, chất lượng ngày càng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở.Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa, đội ngũ cán bộ cơ sở củaTỉnh đã từng bước được xây dựng, kiện toàn, công tác cán bộ được tiếnhành chặt chẽ từ khâu đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, cũng nhưquản lý sử dụng và chính sách cán bộ…Đội ngũ cán bộ cơ sở đã thể hiệnđược bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu lý tưởng độclập dân tộc và CNXH, năng động sáng tạo, chấp hành và vận động quầnchúng thực hiện tốt đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước, tạo được chuyển biến quan trọng về KT - XH, giữ vữngđược ổn định chính trị, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới ở địa phương pháttriển Song, bên cạnh những thành công của Tỉnh về xây dựng đội ngũ cán
bộ cơ sở còn những hạn chế nhất định Một bộ phận cán bộ ở cơ sở cònhạn chế về phẩm chất, năng lực chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụcách mạng thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Thực tế đó đã đặt ra yêu cầuđối với Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa phải tiếp tục nâng cao chất lượng lãnhđạo xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có đủ phẩm chất, năng lực ngangtầm đòi hỏi nhiệm vụ xây dựng tỉnh hiện nay
Quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa về xây dựng đội ngũcán bộ cơ sở trong 10 năm đầu thế kỷ XXI cần phải được nghiên cứu có hệthống, toàn diện và tổng kết nhằm một mặt bổ sung làm phong phú hơn về lịch
sử Đảng nói chung và lịch sử Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa nói riêng Mặt khác quađánh giá và đúc kết những kinh nghiệm để tiếp tục vận dụng vào xây dựng độingũ cán bộ cơ sở trên địa bàn tỉnh có đủ bản lĩnh, trí tuệ đáp ứng yêu cầu thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
Trang 7Với lý do trên, tác giả chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010” làm luận án tiến
sĩ ngành Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Nghiên cứu làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa về xâydựng đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010 Trên cơ sở đó nhậnxét và đúc rút một số kinh nghiệm để vận dụng vào xây dựng đội ngũ cán bộ
cơ sở của Tỉnh đáp ứng yêu cầu đòi hỏi trong tình hình mới
* Nhiệm vụ
Thực hiện tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tàiluận án, đánh giá khái quát kết quả của các công trình đó, đồng thời tìm ranhững “khoảng trống”, xác định những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Làm rõ những yếu tố tác động tới quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnhKhánh Hòa về xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở trong những năm 2001 - 2010
Hệ thống, phân tích làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnhKhánh Hòa về xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010
Nhận xét ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm từ quátrình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở (2001 - 2010)
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa về xây dựngđội ngũ cán bộ cơ sở
* Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh KhánhHòa về xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở (theo Luật Cán bộ công chức gồm: Bíthư, phó bí thư đảng ủy, thường trực đảng ủy cấp xã (nơi không có phó bí thư
Trang 8chuyên trách công tác đảng); bí thư, phó bí thư chi bộ xã (nơi chưa thành lậpđảng ủy cấp xã); Chủ tịch, phó chủ tịch HĐND; Chủ tịch, phó chủ tịch UBND;Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc; Bí thư Đoàn Thanh niên; Chủ tịch Hội Liênhiệp Phụ nữ; Chủ tịch Hội Nông dân (áp dụng đối với những xã, phường, thịtrấn có hoạt động lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân); Chủtịch Hội Cựu chiến binh); nghiên cứu chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnhKhánh Hòa về xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở theo quy trình: Đánh giá, quyhoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng, luân chuyển và chính sách đối với độingũ cán bộ cơ sở.
Thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2010 (10 năm đầu của thế kỷ XXI; làmốc mở đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XIV đến kếtthúc nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XV)
Không gian: Nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Khánh Hòa gồm (02 thành phố;
01 thị xã; 06 huyện; 99 xã; 35 phường; 06 thị trấn) Ngoài ra, còn nghiên cứuthực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở ở một số địa phương lân cận
có những đặc điểm gần giống với Khánh Hòa như tỉnh Phú Yên và Ninh Thuận
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về cán bộ vàcông tác cán bộ
* Cơ sở thực tiễn
Luận án dựa trên kết quả nghiên cứu, khảo sát thực tiễn, các số liệu,báo cáo thống kê, báo cáo của các cơ quan chức năng thuộc Tỉnh ủy,UBND và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh Khánh Hòa
* Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và sự kết hợp hai phươngpháp đó là chủ yếu Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp khác như: phântích, tổng hợp, thống kê, so sánh để làm rõ nội dung nghiên cứu cụ thể
Trang 96 Những đóng góp mới của luận án
Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa vềxây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010
Đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan, toàn diện về ưu điểm,hạn chế trong lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở của Đảng bộ tỉnhKhánh Hòa giai đoạn 2001 - 2010 và làm rõ nguyên nhân
Đúc rút những kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Góp thêm luận cứ cho việc hoàn thiện chủ trương, chính sách xây dựngđội ngũ cán bộ của Đảng trong thời kỳ mới (qua thực tiễn của tỉnh Khánh Hòa)
Luận án góp phần tổng kết quá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạoxây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010 rút ra những kinhnghiệm để tiếp tục vận dụng vào quá trình lãnh đạo của Đảng bộ trong xâydựng đội ngũ cán bộ cơ sở, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xâydựng tỉnh Khánh Hòa trong thời gian tới
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạyLịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các học viện, nhà trường trong và ngoàiquân đội hiện nay
8 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quanđến đề tài, 3 chương (8 tiết), kết luận, danh mục công trình khoa học củatác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục
Trang 10TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
Tăng Ngọc Thành, Chu La Canh (1997), Đẩy mạnh cải cách mở cửa tiến lên phía trước [119] Các tác giả đã tổng kết những kinh nghiệm và thành tựu
trong công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc cũng như những thách thức
mà Trung Quốc đang phải đối mặt Để vượt qua thách thức đưa công cuộc cảicách mở cửa tiếp tục tiến lên, theo các tác giả phải xây dựng đội ngũ cán bộ cáchmạng, năng động, sáng tạo Trong đó khẳng định một kinh nghiệm “cốt tử” làcông tác cán bộ phải phục tùng Đảng; Đảng phải xây dựng đội ngũ cán bộ cho
cả hệ thống chính trị bao gồm cả người trong Đảng và người ngoài Đảng Trongxây dựng đội ngũ cán bộ, Trung Quốc kiên trì phương châm “bốn hóa”: Cáchmạng hóa, trẻ hóa, tri thức hóa, chuyên môn hóa Theo đó, Trung Quốc đã xâydựng và hoàn thiện “chiến lược nhân tài”, trọng tâm của chiến lược hướng vàoviệc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ hiền tài kế tục sự nghiệp cách mạng
Trang 11Thomas Gordon (2001), Đào tạo người lãnh đạo hiệu quả [124] Tác
giả khẳng định vị trí, vai trò của công việc lãnh đạo là rất quan trọng, nó cótính quyết định đến sự thành hay bại của cả hệ thống, chính vì vậy phải đặtcông việc lãnh đạo dưới ánh sáng của khoa học Trong công trình này tác giảThomas Gordon muốn gửi gắm một thông điệp cụ thể: Lãnh đạo là một côngviệc phải được học trước khi làm, có nghĩa là người cán bộ cần phải được đàotạo, bồi dưỡng một cách bài bản
Tôn Hiểu Quần (2004), Tăng cường xây dựng ban lãnh đạo, cố gắng hình thành tầng lớp lãnh đạo hăng hái, sôi nổi, phấn đấu thành đạt [105].
Đã phân tích, luận giải kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng Đảngcầm quyền và sự cần thiết phải đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ đểnhằm mục đích nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp thời
kỳ Trung Quốc cải cách, mở cửa, hội nhập quốc tế, trong đó nhấn mạnh
một số điểm nổi bật trong việc học tập lý luận của cán bộ lãnh đạo: Một là,
nắm vững hệ thống khoa học và thực chất tinh thần của lý luận một cáchhoàn chỉnh và chính xác, đặc biệt là những lập trường, quan điểm và
phương pháp của chủ nghĩa Mác; Hai là, ra sức phát huy tác phong học tập của chủ nghĩa Mác là lý luận gắn với thực tế; Ba là, xây dựng và kiện toàn
Trang 12môn” [45, tr.146] Để có được đội ngũ cán bộ tốt, Trung Quốc đặc biệt quantâm xây dựng đội ngũ giáo viên với quan điểm: Đặc biệt tôn trọng nhà giáo vàngười làm công tác giáo dục để làm cho nhân tài ngày càng nảy nở, sinh sôi
On Kẹo Phôm Ma Kon (2013), trong bài viết “Đổi mới, kiện toàn hệthống tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị trong quá trình phát triểnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Lào” [101] Đã chỉ rõ vịtrí, vai trò của việc đổi mới, kiện toàn hệ thống bộ máy tổ chức của Đảng
và hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở trong quá trình phát triểnkinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Lào Tác giả On Kẹo Phôm
Ma Kon đã làm rõ nguyên nhân của những thành công trong việc đổi mới,kiện toàn, trong đó nhấn mạnh: Đảng nhân dân cách mạng Lào đã quantâm củng cố, kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước và sắp xếp, bố trí cán
bộ ở các cấp một cách hợp lý theo hướng tinh gọn và có cơ chế quản lýtheo ngành Đồng thời, đề xuất một số quan điểm, biện pháp để kiện toàn
hệ thống tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị, đáp ứng quá trình pháttriển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Lào
Nich Khăm (2013), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt Hội liên hiệp phụ nữ ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào trong thời kỳ đổi mới
[98] Luận án được tác giả xây dựng thành 03 chương, trình bày về những vấn
đề lý luận, quan điểm, đánh giá thực trạng và đề ra những giải pháp thiết thực
về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt Hội liên hiệp phụ nữ ở Cộng
hòa Dân chủ nhân dân Lào, trong đó nhấn mạnh: Một là, cơ cấu và quy hoạch cán bộ gắn liền với chức năng, nhiệm vụ; Hai là, xây dựng các quy chế công tác cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào; Ba là, xây
dựng và thực hiện chính sách đối với cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ
Từ những công trình nghiên cứu trên cho thấy các tác giả đã trìnhbày quá trình, phương thức xây dựng đội ngũ cán bộ ở Nhật Bản, TrungQuốc, Lào với những đặc trưng cơ bản, đúc rút ra những kinh nghiệm từ
Trang 13quá trình xây dựng đó Thông qua cách thức xây dựng đội ngũ cán bộ ở cácquốc gia trên sẽ là những gợi ý để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu vàxây dựng những kinh nghiệm trong luận án của mình.
2 Những công trình khoa học nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài luận án
2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung trên phạm vi cả nước
Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (Đồng chủ biên) (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [143] Các tác giả đã đưa ra
quan niệm về cán bộ: “cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vaitrò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạtđộng của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành,góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức” [143, tr.20] Trên cơ sở cácquan điểm lý luận và tổng kết thực tiễn các tác giả đã phân tích, lý giải, hệthống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, từ đó đưa ra những kiếnnghị về phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ này cả vềchất lượng, số lượng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đẩymạnh CNH, HĐH đất nước trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI
Trần Đình Hoan (Chủ biên) (2008), Đánh giá quy hoạch luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [46].
Tác giả đã nhận định công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lànhững khâu quan trọng trong quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ - “cái gốc củamọi công việc” Tác giả nghiên cứu sâu sắc công tác đánh giá, quy hoạch,luân chuyển cán bộ quản lý trong thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến năm
2008, nêu bật một số nguyên nhân những hạn chế, bất cập trong quá trìnhtriển khai công tác này, từ đó đưa ra quan điểm, giải pháp đổi mới, nâng cao
Trang 14hiệu quả công tác đánh giá, quy hoạch và luân chuyển cán bộ thời kỳ CNH,HĐH đất nước trong đó nhấn mạnh: Đổi mới phải đồng bộ, quán triệt các quyđịnh của Đảng, đề cao trách nhiệm các cấp ủy Đảng, dựa vào nhân dân, có sựgiám sát của nhân dân, có sự kế thừa kinh nghiệm các thời kỳ cách mạng
Đỗ Minh Cương (2009), Quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý [17],
tác giả đã chỉ rõ: “chất lượng của công tác quy hoạch phụ thuộc phẩm chất,năng lực của những người làm công tác quy hoạch và động cơ, hành vi củahọ” [17, tr.67] Tác giả Đỗ Minh Cương đã nêu lên thực trạng đội ngũ cán bộnước ta, tăng tiến về trình độ học vấn, tuy nhiên trình độ học vấn và chuyênmôn lại có sự chênh lệch đáng kể giữa các tỉnh, thành Điểm yếu chung vềchất lượng danh sách quy hoạch của một số tỉnh miền núi, vùng xa, vùng sâuđược tác giả chỉ ra đó là độ tuổi trung bình tương đối cao, số cán bộ nữ, cán
bộ người dân tộc thiểu số được quy hoạch vào các chức danh chủ chốt cấptỉnh, nhất là chức danh Bí thư, Chủ tịch UBND là rất ít, rất hiếm
Tác giả Nguyễn Đình Hương (2009) trong bài viết, “Vấn đề đánh giá và
sử dụng cán bộ” [60], đã nhận định trong công tác xây dựng cán bộ, đánh giácán bộ là khâu khó nhất bởi nó không chỉ liên quan trực tiếp đến bố trí sử dụngcán bộ mà còn liên quan đến toàn bộ các khâu khác Theo tác giả Nguyễn ĐìnhHương, đánh giá cán bộ trong thời kỳ đất nước có chiến tranh dễ hơn ở thời hòabình, mở cửa hội nhập Để đánh giá đúng về cán bộ cần phải cụ thể hóa tiêuchuẩn cho từng chức danh Trong đánh giá cán bộ cần chú ý dựa vào quần chúng
và đảng viên, từ đó có thể phát hiện nhân tài để làm căn cứ đánh giá và sử dụngcán bộ Trong đánh giá cán bộ thì cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trực tiếp phải chịutrách nhiệm về đánh giá và sử dụng cán bộ dưới quyền
Nguyễn Minh Tuấn (2012), Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá [142] Tác giả đã chỉ ra vấn
đề cán bộ: Là then chốt của khâu then chốt, là nhân tố quyết định thành bạicủa cách mạng, đồng thời đưa ra cơ sở lý luận, thực tiễn của việc đổi mới
Trang 15đồng bộ công tác cán bộ hiện nay chính là xuất phát từ đòi hỏi của thời kỳCNH, HĐH đất nước, từ yêu cầu của chiến lược cán bộ của Đảng thời kỳmới Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết về công tác cán bộ, tác giả đã đưa ranhững yêu cầu mới trong xây dựng đội ngũ cán bộ hiện nay: 1 Đổi mới quytrình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng thiết thực, hiệu quả; 2 Nâng cao chấtlượng nguồn quy hoạch phải đáp ứng yêu cầu trẻ hoá cán bộ; 3 Đưa ra đượcnhiều hình thức, phương pháp cụ thể phát huy vai trò của nhân dân tronggiám sát, đánh giá, kiểm tra cán bộ…
Trần Đình Thắng (2013), Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước [122] Tác giả đã phân tích, luận giải các vấn đề lý
luận và thực tiễn, đồng thời nghiên cứu, tổng kết quá trình Đảng lãnh đạo, chỉđạo cải cách chế độ công vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chứcnhà nước từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đếnnay; Đánh giá kết quả và rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình Đảnglãnh đạo, chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiện công tác xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức nhà nước “vừa hồng vừa chuyên” Trong đó tác giả
đã khẳng định: “Cải cách nền công vụ theo hướng chuyên nghiệp, tiên tiến,phục vụ thị trường, phục vụ công dân vừa là xu thế chung của các quốc giatrên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa, vừa là đòi hỏi của công cuộc đổimới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nhu cầu hội nhậpquốc tế của nước ta” [122, tr.309]
Theo tác giả Nguyễn Trần Long (2013) trong bài viết, “Bàn về xây
dựng văn hóa đạo đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay” [74], đã cho
rằng: Văn hóa đạo đức của người cán bộ, đảng viên được hình thành, pháttriển trong quá trình công tác, rèn luyện của mỗi người Trong điều kiệnhiện nay, nhiều cán bộ, đảng viên đã trở thành những tấm gương tiêu biểu
về văn hóa đạo đức Tuy nhiên, cũng có nhiều cán bộ, đảng viên rơi vàolối sống hưởng thụ, xa lạ với lối sống của người lao động, xa vời với văn
Trang 16hóa đạo đức cách mạng Để khắc phục tình trạng trên, tác giả NguyễnTrần Long đã đưa ra nhóm giải pháp cơ bản, cùng với tiến hành đồng thờicác biện pháp về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong đó kết hợp chặt chẽ,
có hiệu quả giữa “xây” và “chống”, thực hiện nói đi đôi với làm, tập trunggiải quyết những vấn đề bức xúc nhất
Các công trình trên được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau vềcán bộ cũng như xây dựng đội ngũ cán bộ, đã giúp cho nghiên cứu sinh nhậnthức đầy đủ tổng quan về vị trí vai trò của người cán bộ, về các khâu, cácbước trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ từ đánh giá cán bộ, quy hoạch,đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đến bố trí sử dụng và chính sách đối với cán bộ Từ
đó, nghiên cứu sinh có thêm những kiến thức cơ bản để khi thực hiện viếtluận án có thể khai thác sâu vào các khâu trong công tác xây dựng đội ngũcán bộ nhưng vẫn đảm bảo được tính logic, khoa học
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ nóichung, thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp về xây dựngđội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn như:
Tác giả Trần Hoàng Long (2003), “Cán bộ cơ sở và những vấn đề đặt rađối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở” [73] đã nhận định: Đội ngũ cán bộ
cơ sở còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị to lớn ở địaphương Tác giả cũng chỉ ra một thực tế ở nông thôn hiện nay, thanh niên khỏemạnh, có văn hóa đều tìm ra thành phố làm ăn, sinh sống, con em nông thônsau khi học xong ít về quê hương lập nghiệp Cán bộ cơ sở hiện nay chủ yếu làcán bộ, bộ đội về hưu và nghỉ mất sức Tác giả Trần Hoàng Long cũng đã nhấnmạnh: Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH ở nông thôn hiện nay cần
có lớp cán bộ trẻ, có kiến thức, năng lực, trình độ học vấn và tâm huyết
Đỗ Tất Cương (2005), “Một số vấn đề về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở” [18] Tác giả đã khẳng định công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũcán bộ ở cơ sở được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, chính vì vậy trình
Trang 17độ, năng lực của đội ngũ cán bộ cấp xã đã được nâng lên, ngày càng nhiều cán
bộ cơ sở được đào tạo, bồi dưỡng căn bản, có hệ thống theo hướng vừa toàndiện vừa chuyên sâu hơn Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ rõ những hạn chế củađội ngũ cán bộ cơ sở trước đòi hỏi của sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH: Độingũ cán bộ tuy đông nhưng không đồng bộ, chất lượng, số lượng và cơ cấu cónhiều mặt chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ Để xây dựng được đội ngũcán bộ cơ sở vững mạnh, tác giả đề xuất phải đổi mới nội dung, chương trình,hình thức đào tạo, đặc biệt tác giả cũng nhấn mạnh công tác này phải được đặttrong tổng thể chiến lược cán bộ thời kỳ CNH, HĐH
Tác giả Trần Đình Thắng (2014), “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
cơ sở của Việt Nam” [123], đã khẳng định: Xây dựng, phát triển đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn là một vấn đề trọng yếu trong xây dựngnền công vụ, cải cách hành chính, cải cách bộ máy Nhà nước, xây dựng Nhànước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH vàtăng cường hội nhập quốc tế
Trong nhóm công trình trên các tác giả đã bàn về vai trò, đặc điểm củađội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, phântích, đánh giá thực trạng ưu, khuyết điểm, chỉ ra nguyên nhân và đúc rútnhững kinh nghiệm trong xây dựng đội ngũ cán bộ công chức xã, phường, thịtrấn Một số công trình đã đề xuất những giải pháp trong xây dựng đội ngũcán bộ công chức cơ sở đáp ứng yêu cầu trước mắt cũng như cơ bản, lâu dàitrong công cuộc đổi mới đất nước
2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về xây dựng cán bộ ở các vùng miền, địa phương
* Những công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ
ở các vùng miền
Phạm Công Khâm (2002), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã nông thôn đồng bằng sông Cửu Long [61] Tác giả đề cập vị trí vai trò, đặc
Trang 18điểm của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã vùng đồng bằng sông Cửu Long,đánh giá thực trạng, chỉ ra những nguyên nhân ưu, khuyết điểm, rút ra nhữngkinh nghiệm, đề xuất mục tiêu và hệ thống giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộchủ chốt cấp xã ở đồng bằng sông Cửu Long Những kinh nghiệm mà tác giảchỉ ra đáng chú ý: Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở đồng bằngsông Cửu Long phải sát với tình hình đặc điểm điều kiện tự nhiên, KT - XHcủa vùng, gắn xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã với xây dựng cấp uỷ,chính quyền và các đoàn thể vững mạnh
Nguyễn Thái Sơn (2002), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [114] Trong luận án, tác giả đã phân tích đặc điểm,
vị trí, vai trò, yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở các tỉnh đồngbằng sông Hồng Tác giả Nguyễn Thái Sơn cũng đã đánh giá thực trạng độingũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt vùng đồng bằng sông Hồng, xác định nguyênnhân của thực trạng, đồng thời xác định tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủchốt cấp tỉnh nói chung và từng chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt, trên
cơ sở đó đề xuất phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ, kiến nghị một sốgiải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ này
Học viện CTQG Hồ Chí Minh (2005), Tạo nguồn cán bộ hệ thống chính trị cơ sở ở các tỉnh Tây Bắc [48] Nội dung cuốn sách đã khẳng định
việc tạo nguồn cán bộ của hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Bắc phải được coitrọng và đi trước một bước trong xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở Phải tạonguồn một cách tích cực, chủ động, gắn chặt với đặc thù của Tây Bắc Việctạo nguồn cán bộ hệ thống chính trị cơ sở các tỉnh Tây Bắc cần tập trunglàm chuyển biến thực sự nhận thức của các chủ thể, các tổ chức có liênquan, giải quyết tốt mối quan hệ giữa nguồn tại chỗ và nguồn chi viện từnơi khác, giữa nguồn cán bộ dân tộc thiểu số với nguồn cán bộ dân tộc đa
số, phải coi trọng phát triển, đào tạo từ rất sớm, ngay từ khi học phổ thông
Trang 19trung học, khắc phục tình trạng già hóa, hoặc thiếu hụt nghiêm trọng nguồncán bộ hệ thống chính trị cấp xã trên địa bàn Tây Bắc.
Phan Sỹ Thanh (2009), “Về xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở TâyNguyên hiện nay” [118] Tác giả đã khái quát sau hơn 20 năm đổi mới về KT -
XH, các tỉnh Tây Nguyên đã có những bước phát triển toàn diện, mạnh mẽ Tuynhiên, bước vào thời kỳ mới, hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên cũng bộc lộmột số hạn chế, để khắc phục những hạn chế đó, tác giả đã nêu lên 04 giải pháp.Trong đó xác định: Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức và vậnđộng nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, côngtâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không
ức hiếp dân, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộchính sách đối với cán bộ cơ sở được coi là giải pháp quan trọng trực tiếp
Nguyễn Thái Hòa (Chủ biên) (2011), Xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc Khmer ở cơ sở xã, phường, thị trấn khu vực Tây Nam Bộ [47] Tác giả đề
cập nhiều khía cạnh trong xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc Khmer nhưnâng cao số lượng và chất lượng trong tạo nguồn tương ứng với dân số củangười Khmer trên địa bàn; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng gắn với sử dụng; tíchcực luân chuyển cán bộ Tác giả cũng đã xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chung vàtiêu chuẩn cho các chức danh cụ thể và nhóm chức danh đội ngũ cán bộ dân tộcKhmer Một trong những vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng đội ngũ cán
bộ người dân tộc Khmer là phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị của từng xã,phường, thị trấn, xây dựng đội ngũ cán bộ gắn với kiện toàn bộ máy và đổi mới
hệ thống chính trị các cấp, phát huy truyền thống đoàn kết các dân tộc anh em
Nguyễn Văn Côi (2012), Luân chuyển cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn hiện nay [16] Tác giả
đã nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về luân chuyển cán bộ diệnBan Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc Vai trò của độingũ cán bộ này được tác giả xác định: Là những người đi đầu, giữ vai trò
Trang 20nòng cốt trong mọi hoạt động ở địa phương, cơ quan, đơn vị và đề xuất thammưu cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương về các hoạt động, là trung tâmđoàn kết của toàn đảng bộ ở các tỉnh, trực tiếp là các đảng bộ trực thuộc Tácgiả luận án đã đánh giá thực trạng, chỉ ra những ưu điểm, khuyết điểm,nguyên nhân và những kinh nghiệm; bước đầu đề xuất những phương hướng
và những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh luân chuyển cán bộ thuộc diệnBan Thường vụ Tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc đến năm 2020
* Những công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ ở các địa phương
Thân Minh Quế (2007), “Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của độingũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở tỉnh Bắc Giang” [106] Tác giả đãkhái quát thực tế đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn ở Bắc Giang đếnnăm 2006 đã cơ bản đủ về số lượng, trình độ học vấn, lý luận chính trị, chuyênmôn, nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo, tổ chức, điều hành công việc ở cơ sở đã đượcnâng lên một bước Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở cũng đangtồn tại nhiều hạn chế, bất cập: Cơ cấu chưa đồng bộ, năng lực lãnh đạo, điềuhành của một số cán bộ chưa đáp ứng được với đòi hỏi của thực tiễn, độ tuổibình quân cao….Từ thực tế đó tác giả phân tích 04 giải pháp mà Ban Thường vụTỉnh ủy Bắc Giang đề ra nhằm nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, quản lý củađội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cơ sở trong đó nhấn mạnh: Tăng cường đàotạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng; thực hiện đồng bộ cáckhâu trong công tác cán bộ đảm bảo dân chủ, công khai; tăng cường chỉ đạo, đônđốc, kiểm tra của cấp trên; củng cố bộ máy, kiện toàn đội ngũ cán bộ của hệthống chính trị; tạo điều kiện cho cán bộ chủ chốt thực hiện nhiệm vụ
Tác giả Trần Đình Thu (2007), “Bốn giải pháp nâng cao chất lượng độingũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở Kon Tum” [125], đã chỉ ra những tồn tại trongcông tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Kon Tum:
Trang 21Vẫn còn nhiều chức danh chưa đạt chuẩn theo quy định số 04/2004 của Bộtrưởng Bộ Nội vụ, nhiều đồng chí còn tự ty, chưa chịu khó học tập, rèn luyện,tác phong công tác, nền nếp làm việc chuyển biến chậm…Tác giả đã đưa ra
04 giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt,trong đó nhấn mạnh giải pháp: Các cấp ủy trực tiếp là cấp ủy huyện, thị, cơ sở
và các cơ quan chức năng có liên quan nhận thức đầy đủ nội dung của côngtác xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Cao Khoa Bảng (2008), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của
hệ thống chính trị cấp tỉnh, thành phố (Qua kinh nghiệm của Hà Nội) [5] Tác giả
đã khẳng định: “cán bộ là người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định, làmviệc trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị; là người giữ chức
vụ trong các tổ chức, cơ quan của hệ thống chính trị” [5, tr.14] Từ thực trạng quátrình xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị diện Ban Thường
vụ Thành ủy Hà Nội quản lý, tác giả đã đúc rút một số kinh nghiệm và đặt ra yêucầu đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trịthuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay
Bùi Văn Tiếng (2010), trong bài viết “Tạo nguồn cán bộ phường, xã ở
Đà Nẵng” [130] đã tổng quan tình hình cán bộ phường, xã trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng 20 năm qua và nhận định có hai chuyển động: Một là, đã có sự chuyển giao thế hệ đối với các chức danh lãnh đạo chủ chốt Hai là, đã có sự
chuyển đổi, hoán vị cán bộ từ quận, huyện xuống phường, xã và ngược lại ĐàNẵng đã sớm chủ động tạo nguồn cán bộ lãnh đạo riêng cho phường, xã bằngnhiều hình thức như: Thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học, xây dựng và tổ chức
thực hiện Đề án Tạo nguồn cán bộ cho chức danh bí thư đảng ủy và chủ tịch ủy ban nhân dân phường, xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Trong bài viết tác
giả đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tạo động lực học tập cho ngườihọc, và việc tự đào tạo trong thực tiễn công tác của đội ngũ cán bộ
Trang 22Tác giả Hoàng Việt Cường (2012) trong bài viết “Xây dựng đội ngũcán bộ cơ sở ở tỉnh Hòa Bình đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa”[19], đã khẳng định: Đội ngũ cán bộ cơ sở đã được cấp ủy các cấp quan tâm
từ khâu đánh giá, quy hoạch cán bộ để chủ động nguồn cán bộ đến công tácđào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chínhtrị, quản lý nhà nước Vì vậy, đội ngũ cán bộ cơ sở ở Hòa Bình đã có sựtrưởng thành về mọi mặt Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra một số hạn chế ởđội ngũ cán bộ này: Tỷ lệ chưa qua đào tạo hoặc đào tạo chưa đúng chuyênmôn, nghiệp vụ còn cao, khả năng nhận thức, vận dụng, cụ thể hóa các chủtrương, đường lối của cấp trên còn yếu, còn lúng túng trong giải quyết nhữngvấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở…
Bùi Ngọc Hà (2015), Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt từ năm 1997 đến năm 2010 [37], đã chỉ rõ
cán bộ chủ chốt là những người đứng đầu quan trọng nhất, họ có tráchnhiệm và quyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một tổ chức, để thựchiện những nhiệm vụ của tập thể hoặc tổ chức ấy, thậm chí có thể chi phối,dẫn dắt toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định Trên cơ sở phân tíchthực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt của tỉnh Phú Thọtrước khi tái lập tỉnh, tác giả Bùi Thị Hà đã trình bày những chủ trương và sựchỉ đạo về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt (1997 - 2010).Đồng thời, đưa ra nhận xét và đúc rút thành 05 bài học kinh nghiệm, trong đónhấn mạnh: Đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng bộ tỉnh phải gương mẫu,nghiêm túc thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng - nhân tố quan trọng nângcao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt
Các công trình trên nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng cóchung một mục đích là tập trung xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, trong đó
có đội ngũ cán bộ cơ sở ở các vùng miền, địa phương, đơn vị, đồng thời nêu lênthực trạng đội ngũ cán bộ cơ sở ở các địa phương trong cả nước Nêu lên những
Trang 23quan niệm mới phù hợp trong đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ hiện nay, cũngnhư đề xuất, làm rõ một số quan điểm và những giải pháp thiết thực trong xâydựng đội ngũ cán bộ cơ sở đáp ứng đòi hỏi của Đảng, của nhân dân, của đấtnước, trong sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay. Các công trìnhtrên đã có những đóng góp lớn vào việc nâng cao lý luận và thực tiễn để xâydựng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn ngày một vững mạnh thêm.
2.3 Nhóm công trình nghiên cứu đề cập đến xây dựng đội ngũ cán
bộ của tỉnh Khánh Hòa
Tác giả Hồ Hữu Đức (2004), “Khánh Hòa luân chuyển cán bộ” [35], đãkhái quát toàn bộ kết quả việc luân chuyển cán bộ ở tỉnh Khánh Hòa từ khi cóNghị quyết 11-NQ/TƯ Từ thực tiễn quá trình luân chuyển cán bộ của tỉnh KhánhHòa, tác giả đã rút ra một số kinh nghiệm: Phải quán triệt trong các cấp ủy, tổchức đảng, các cấp, các ngành…Phải coi luân chuyển cán bộ là một chủ trươnglớn và đúng đắn của Đảng, là khâu đột phá trong công tác xây dựng Đảng Phảigiúp mọi người thấy được cán bộ là vấn đề “cốt tử” trong toàn bộ sự nghiệp cáchmạng của Đảng; Các cơ quan Đảng và Nhà nước thực hiện đồng bộ từ quy hoạch,đào tạo, bồi dưỡng, nhận xét đánh giá cho đến bố trí, sử dụng cán bộ; Phươngpháp, quy trình luân chuyển phải được tiến hành một cách chặt chẽ, thận trọng, cóbước đi thích hợp tránh gây xáo trộn lớn….Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập tớinhiệm vụ và giải pháp luân chuyển cán bộ trong thời gian tới của Tỉnh
Tác giả Hồ Thị Ngọc Mai (2006), “Thực hiện chính sách dân tộc ở KhánhHòa” [174], nhận định: Đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số của tỉnh KhánhHòa được đào tạo một cách cơ bản, ngày càng tăng; Đảng bộ tỉnh Khánh hòa đãthực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ tại chỗ cho các huyện miền núi, đồng thời cóchính sách ưu đãi ban đầu, trợ cấp hằng tháng đối với cán bộ được tăng cường,điều động đến công tác ở miền núi có thời hạn Thực hiện chủ trương tuyển dụngsinh viên, học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp tình nguyện về công tác ở cơ sở, tăng cường cho các xã miền núi cán bộtrẻ, khoẻ, năng động, sáng tạo Đặc biệt UBND tỉnh còn thực hiện chủ trương
Trang 24của Tỉnh uỷ về công tác luân chuyển cán bộ, đã tăng cường cán bộ từ huyện về
xã, trong đó chú trọng tăng cường về các cơ sở chi bộ xã, thị trấn 01 Phó Bí thưphụ trách kinh tế, để giúp cho cơ sở trong việc quy hoạch, kế hoạch phát triển
KT - XH của địa phương
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa (2007), Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Khánh Hòa (1975 - 2005) [3] Công trình đã trình bày
quá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo khắc phục hậu quả chiến tranh, ổnđịnh tình hình trong tỉnh từ sau giải phóng đến lãnh đạo nhân dân trong cải tạoXHCNvà xây dựng CNXH, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Về côngtác cán bộ được Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa xác định: “là công việc có ý nghĩaquyết định đến nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng” [3, tr.227] Chính vì vậy,cần phải tạo sự chuyển biến đúng trong nhận thức, trong thực tế về đánh giá,tuyển chọn và sử dụng cán bộ, phải tiến hành khảo sát, đánh giá đội ngũ cán bộhiện có, kiện toàn đội ngũ cán bộ chủ chốt ở tỉnh và cơ sở, sắp xếp bố trí hợp lýđội ngũ cán bộ, đề bạt bổ nhiệm đúng lúc, giao việc đúng tầm, khuyến khíchcán bộ vươn lên đảm nhiệm chức vụ cao hơn
Lê Xuân Hạnh (2007), “Cải cách hành chính ở tỉnh Khánh Hòa năm 2006 vànhiệm vụ trọng tâm năm 2007” [42] Tác giả đã khái quát kết quả của công cuộc cảicách hành chính năm 2006, trong đó: Mở lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạchchuyên viên cho 80 người, kiến thức quản lý nhà nước chính quyền cơ sở cho 90học viên Nhiệm vụ trọng tâm của năm 2007: Từng bước hoàn thiện công tác tuyểndụng, quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức sự nghiệp theo yêu cầu đổimới và phân cấp; hoạch định chương trình, kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ, côngchức đến năm 2010 và năm 2010 trở đi; hoàn thiện các chế độ chính sách khuyếnkhích cán bộ, công chức tự nâng cao trình độ, trong đó tác giả nhấn mạnh phải chútrọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Trang 25Phạm Quang Vịnh (2007), trong bài viết: “Khánh Hòa thực hiện công tácluân chuyển cán bộ” [167], đã khẳng định: Luân chuyển cán bộ là một trong nhữngbước đột phá nhằm đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ởcác cấp, các ngành Tác giả Phạm Quang Vịnh đã chỉ rõ kết quả sau 5 năm thựchiện Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị, tỉnh Khánh Hòa đã tăng cường được
số cán bộ của các sở, ban, ngành, đoàn thể của Tỉnh về công tác ở các huyện, thị xã
và các địa bàn cần thiết, từng bước khắc phục được tình trạng cục bộ, khép kíntrong từng địa phương, đơn vị Đồng thời, tác giả cũng rút ra 05 bài học kinhnghiệm để công tác luân chuyển cán bộ trong tỉnh thời gian tới đạt kết quả cao hơn
Phạm Thu Linh (2008), “Công tác đào tạo cán bộ, công chức của tỉnhKhánh Hòa” [71], đã nêu những hạn chế, bất cập của đội ngũ cán bộ, công chức,viên chức của tỉnh Khánh Hòa trước năm 2001, khái quát kết quả sau 05 năm thực
hiện Chương trình số 02-CT/TU về đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán
bộ, công chức, viên chức đến năm 2010 và xây dựng, đào tạo nguồn cán bộ sau năm 2010: Trình độ các mặt của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Khánh
Hòa tiếp tục được nâng lên về mọi mặt Trong đó tác giả nhấn mạnh, đội ngũ cán
bộ, công chức xã, phường, thị trấn được chuẩn hóa một bước về trình độ (trình độhọc vấn trung học phổ thông chiếm 79,4%, so với năm 2001 tăng 21,5%; trình độ
lý luận chính trị trung cấp chiếm 35,1%, so với năm 2001 tăng 10,2%; trình độtrung cấp chuyên môn chiếm 32,5%, so với năm 2001 tăng 17,5%) Tiếp đó tác giảPhạm Thu Linh đã chỉ rõ những mục tiêu hướng tới của Chương trình 07-CT/TU
về đào tạo, nâng cao năng lực, tạo nguồn cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn
2006 - 2010 và xây dựng, đào tạo nguồn cán bộ sau năm 2010 của Tỉnh ủy
Phạm Đình Toàn (2008), “Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3
khóa VIII ở huyện Diên Khánh, Khánh Hòa” [175] Tác giả đã khái quát cơ cấu, số
lượng cán bộ của huyện Diên Khánh sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyếtTrung ương 3 khóa VIII về “Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công
Trang 26nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và đã có sự so sánh chất lượng đội ngũ cán bộ
xã, thị trấn qua các thời kỳ: Đội ngũ cán bộ chuyên trách có trình độ trung học phổthông là 132/193 đ/c, chiếm 68,39%, so 2006 tăng 19,35%; cao đẳng và đại học26/193 đ/c, chiếm 13,47%, so 2006 tăng 7,28%; cao cấp chính trị 5/193 đ/c và trungcấp chính trị 108/193 đ/c, chiếm 58,54%, so 2006 tăng 12,83% Đội ngũ công chức
có trình độ trung học phổ thông là 107/111 đ/c, chiếm 96,39%, so 2006 tăng10,56%; cao đẳng và đại học 13/111 đ/c, chiếm 11,71%, so 2006 tăng 6,7%; trungcấp chính trị 31/111 đ/c, chiếm 27,92%, so 2006 tăng 7,09% Đội ngũ cán bộ khôngchuyên trách có trình độ trung học phổ thông 226/406 đ/c, chiếm 55,66%, so 2006tăng 19,41%; cao đẳng và đại học 16/406 đ/c, chiếm 3,94%, so 2006 tăng 2,19%;trung cấp chính trị 31/406 đ/c, chiếm 7,63%, so 2006 tăng 1,2% [175, tr.1 - 2]
Tác giả Nguyễn Văn Tự (2009), “Khánh Hòa phấn đấu trở thành trung tâmkinh tế, du lịch của miền Trung và cả nước” [144], đã khái quát tình hình kinh tếcủa tỉnh Khánh Hòa từ năm 2008 liên tục tăng, văn hóa xã hội được chăm lothường xuyên, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được đẩy mạnh, quốcphòng an ninh không ngừng được củng cố, trật tự trị an được giữ vững, bộ mặt củathành thị, nông thôn, hải đảo, miền núi có nhiều khởi sắc, đời sống vật chất, tinhthần của nhân dân không ngừng được nâng cao…Tác giả Nguyễn Văn Tự cũng đãnêu lên 04 giải pháp nhằm xây dựng tỉnh Khánh Hòa thực sự trở thành trung tâmkinh tế, du lịch lớn của khu vực miền Trung và cả nước, trong đó giải pháp thứ tưtác giả đã nhấn mạnh: Tích cực triển khai thực hiện công tác tạo nguồn cán bộ dự bịdài hạn theo tinh thần Chương trình số 07-CT/TU của Tỉnh ủy về đào tạo, nâng caonăng lực cán bộ, công chức của Tỉnh đến năm 2010 và xây dựng, tạo nguồn cán bộsau năm 2010, coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu trong công tác xâydựng Đảng mà tỉnh Khánh Hòa cần tập trung thực hiện tốt trong các năm tiếp theo
Lê Thanh Quang (2009), “Khánh Hòa - 20 năm xây dựng đổi mới và pháttriển (1989 - 2009)” [104] Tác giả đã khái quát được toàn bộ quá trình xây dựng,đổi mới và phát triển trong 20 năm, từ khi tỉnh Khánh Hòa được tái lập (1 - 7 -
Trang 271989) theo quyết định số 83-QĐ/TW của Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khóaVI), tác giả khẳng định: Thành tựu nổi bật nhất của Tỉnh là đã chuyển từ nền kinh
tế kế hoạch hóa, tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN,phát triển tương đối toàn diện và liên tục tăng trưởng với nhịp độ cao trong đóGDP tăng 11%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực từ công nghiệp - nông nghiệp
- dịch vụ và du lịch sang dịch vụ, du lịch - công nghiệp - nông nghiệp (năm 2008:dịch vụ - du lịch: 43%, công nghiệp: 41%, nông nghiệp: 16%); Công tác bố trí, sửdụng và bổ nhiệm cán bộ đã thể hiện được tính dân chủ, công khai Việc bố trí, sửdụng, giới thiệu cán bộ ứng cử, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ được cấp ủy Đảng
từ huyện đến cơ sở quan tâm chỉ đạo và thực hiện tốt theo nguyên tắc Đảng thốngnhất lãnh đạo và quản lý công tác cán bộ Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộhằng năm đều đạt và vượt kế hoạch Công tác quy hoạch cán bộ, để tạo nguồn cán
bộ kế cận đủ chuẩn tăng cường cho các tổ chức thành viên trong hệ thống chính
trị Việc thực hiện chính sách đối với cán bộ, nhất là chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ luôn được huyện và cơ sở quan tâm
Phạm Quang Vinh (2011), “Khánh Hòa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức xã, phường, thị trấn” [177] Tác giả đã nhấn mạnh vai trò của đội ngũ cán
bộ, công chức cơ sở: Là những người trực tiếp chuyển tải và tổ chức thực hiện cácchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống của nhân dân Thựctrạng việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn của tỉnhKhánh Hòa năm 2005: Có trình độ học vấn phổ thông trung học là 1.697 người,chiếm 79,37%; trung cấp chuyên môn, nghiệp vụ 694 người, chiếm 32,4%; đạihọc 166 người, chiếm 7,76%; sau đại học 02 người, chiếm 0,09%; trung cấp lýluận chính trị 751 người, chiếm 35,12%, [177, tr.1] Bên cạnh đó, tác giả PhạmQuang Vinh cũng đã khái quát chủ trương, sự chỉ đạo, của Đảng bộ tỉnh về côngtác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn giai đoạn 2006 - 2010
Ban Tổ chức Tỉnh ủy (2012), “Luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý ở tỉnhKhánh Hòa” [170] Công trình đã tổng hợp kết quả luân chuyển cán bộ của tỉnh
Trang 28Khánh Hòa trong 10 năm, đã luân chuyển 83 đồng chí cấp huyện về công tác tạicác xã, phường, thị trấn và 21 đồng chí từ xã phường, thị trấn về công tác tại cácphòng, ban cấp huyện Trong quá trình thực hiện luân chuyển cán bộ của Tỉnhtrong thời gian qua rút ra một số kinh nghiệm cơ bản nhằm nâng cao hơn nữacông tác luân chuyển cán bộ ở tỉnh Khánh Hòa trong thời gian tới: Tổ chức quántriệt sâu sắc Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ lãnhđạo, quản lý; phải có phương pháp, cách làm, bước đi phù hợp mới đạt được hiệuquả thiết thực; luân chuyển cán bộ phải dựa trên quy hoạch cán bộ mới đảm bảotính kế thừa và phát triển; nắm bắt và triển khai các chủ trương của Trung ương,của Tỉnh ủy, vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tế của địa phương, đơn vị.
Trần Sơn Hải (2013), “Tỉnh Khánh Hòa triển khai kế hoạch đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 - 2015” [39] Tác giả đã khái quát quátrình triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong tỉnh, thống
kê, so sánh Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐND về việc quy định chế độ hỗ trợ đàotạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, xây dựng nguồn cán bộ quy hoạch
dự bị dài hạn và thu hút nhân tài với Nghị quyết số 05/2008/NQ-HĐND, theo đócác chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức được điềuchỉnh tăng thêm 40% so với năm 2008
Đình Lâm, Thế Anh (2015), “Khánh Hòa: Làn gió mới từ đội ngũ cán bộtrẻ” [172] Các tác giả đã nhận định về đội ngũ cán bộ trẻ trong tỉnh thời gian qua:Năng động, nhiệt tình, có trình độ chuyên môn tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng,đang từng ngày trưởng thành, đảm bảo được tính kế thừa trong bộ máy nhà nước
Để minh chứng cho điều này tác giả nêu lên một số gương mặt cán bộ trẻ tiêu biểunhư: 1 Nguyễn Thanh Hà - Phó Bí thư Đảng ủy Sở Nội vụ, 2 Cà Tam - Chủ tịch
xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, 3 Mười chín phó chủ tịch xã, phường của thànhphố Nha Trang - 19 gương mặt trong Đề án đưa trí thức trẻ về công tác tại xã,phường để bầu chức vụ phó chủ tịch UBND cấp xã, số cán bộ trẻ này đã kịp để lạinhững dấu ấn nhất định Theo như nhận định của ông Võ Văn Thịnh - Trưởngphòng Nội vụ UBND thành phố Nha Trang ghi nhận: Lớp tri thức trẻ về công tác
Trang 29ở các xã, phường đã và đang mang lại một sức sống mới trong bộ máy chínhquyền Các em có sức trẻ, lòng nhiệt huyết và năng động trong công việc Chính
sự năng động ấy đã làm thay đổi lề lối làm việc, tạo nên những cú hích, đem lạihiệu quả cao trong công việc
Các công trình trên đây đã bước đầu tiếp cận nghiên cứu về công tác đàotạo, bồi dưỡng, luân chuyển đội ngũ cán bộ ở tỉnh Khánh Hòa đồng thời cũng đã
đề cập đến những yêu cầu cơ bản phải xây dựng đội ngũ cán bộ trong tỉnh ngàycàng vững mạnh, đáp ứng với những đòi hỏi của thời kỳ mới Tuy nhiên, đếnnay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống vềĐảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở xã, phường,thị trấn trong giai đoạn 2001 - 2010
3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài và những vấn
đề đặt ra luận án tập trung giải quyết
3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận án
Một là, nhóm công trình ở nước ngoài, dưới góc độ tiếp cận khác nhau
nhưng tựu chung đã khái quát được quá trình, phương pháp và đặc trưngtrong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ ở các quốc gia, điển hình là TrungQuốc và Nhật Bản
Nhóm công trình này đã giúp cho nghiên cứu sinh sự nhìn nhận toàndiện hơn trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ Từ đó có sự so sánh giữaviệc tiến hành xây dựng cán bộ ở các nước với chiến lược xây dựng đội ngũcán bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thấy được những nétđặc thù trong quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ nước ta
Hai là, với những cách tiếp cận khác nhau, nhóm các công trình nghiên
cứu về đội ngũ cán bộ chung trên phạm vi cả nước đã đề cập một cách khá
Trang 30toàn diện về một số vấn đề chung và một số khâu cụ thể về công tác xây dựngđội ngũ cán bộ nói chung trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Các công trình trong nhóm này đã cho nghiên cứu sinh có được nhậnthức tổng quan về người cán bộ nói chung, cán bộ cơ sở nói riêng và vị trí vaitrò đặc biệt quan trọng của họ trong tình hình mới Nghiên cứu sinh cũngnhận thấy được công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cũng như công tác
bố trí sử dụng, luân chuyển và các chính sách đối với đội ngũ cán bộ trong thời gianvừa qua của Đảng Các công trình trong nhóm đã có những đóng góp nhất định cảtrên phương diện lý luận và phương diện thực tiễn về vấn đề cán bộ và công tác cán
bộ mà tác giả có thể tham khảo, kế thừa trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận án.Trong đó nổi bật lên là các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phú Trọng,Trần xuân Sầm, Trần Đình Hoan, Trần Đình Thắng… Một số công trình đã đi vàonghiên cứu từng khâu cụ thể trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ điển hình nhưcông trình của tác giả: Nguyễn Duy Hùng, Võ Hồng Loan…
Ba là, nhóm các công trình nghiên cứu về công tác xây dựng đội ngũ
cán bộ cơ sở ở các vùng miền và địa phương trong cả nước, được thể hiện đadạng với những cách tiếp cận khác nhau thể hiện tính đặc thù của từng địaphương, đưa ra nhiều thông tin mà nghiên cứu sinh có thể tham khảo
Nhóm các công trình này đã đi vào trình bày, phân tích thực trạng độingũ cán bộ cơ sở và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở ở các khu vựcnhư đồng bằng sông Hồng, khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên…và ở một số địaphương cụ thể như: Đà Nẵng, Phú Yên, Hòa Bình…trên cơ sở đó đã đề xuấtnhững giải pháp; một số công trình đã đúc rút những kinh nghiệm về xâydựng đội ngũ cán xã, phường, thị trấn trong giai đoạn tiếp theo Bằng các tưliệu, số liệu cho phép nghiên cứu sinh sử dụng để so sánh với tỉnh Khánh Hòa
về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở
Trang 31Bốn là, nhóm các công trình nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ ở tỉnh
Khánh Hòa trên nhiều góc độ khác nhau như: Chủ trương của Đảng về xây dựng độingũ cán bộ, về giáo dục đào tạo, luân chuyển cán bộ, về trẻ hóa cán bộ
Các công trình nghiên cứu về cán bộ ở tỉnh Khánh Hòa đã thể hiện được thựctrạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ thời gian qua trên từng bình diện cụ thể Vềkinh nghiệm luân chuyển cán bộ, có công trình của tác giả Hồ Hữu Đức, về xây dựngđội ngũ cán bộ trẻ có công trình của tác giả Đình Lâm, Thế Anh, về giải pháp để xâydựng đội ngũ cán bộ có công trình của tác giả Phạm Quang Vịnh…
Những kết quả của các công trình nghiên cứu trên là nguồn tại liệu vôcùng phong phú mà nghiên cứu sinh có thể khai thác, tham khảo, kế thừanhằm hoàn thiện luận án của mình
Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tàinghiên cứu sinh nhận thấy:
1 Chưa có công trình nào nghiên cứu thực hiện hệ thống hóa, phân tíchlàm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa về xây dựngđội ngũ cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn
2 Đã có một số công trình nghiên cứu về công tác xây dựng đội ngũ cán
bộ ở tỉnh Khánh Hòa, song mới chỉ nghiên cứu dưới góc độ xây dựng đội ngũcán bộ nói chung, hoặc mới chỉ đi vào nghiên cứu một mảng, một khâu trongcông tác xây dựng đội ngũ cán bộ
3 Dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng, chưa thấy một công trình nào nghiêncứu dưới góc độ tổng kết lịch sử Đảng, làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnhKhánh Hòa về xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là trong giai đoạn 2001 - 2010
Như vậy, có thể thấy rằng: “Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xâydựng đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010” đang là một ”khoảngtrống” khoa học để nghiên cứu sinh có thể lựa chọn và bắt tay nghiên cứuđảm bảo tính khoa học, độc lập có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết
Trang 32Khi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạoxây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010”, tác giả xác địnhnhững vấn đề cần phải tập trung giải quyết:
Một là, làm rõ những yếu tố tác động tới quá trình Đảng bộ tỉnh Khánh
Hòa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở (2001 - 2010)
Để làm rõ các yếu tố tác động nghiên cứu sinh tập trung đi vào phântích về vị trí, vai trò, đặc điểm đội ngũ cán bộ cơ sở và thực trạng công tác xâydựng đội ngũ cán bộ cơ sở ở tỉnh Khánh Hòa trước năm 2001 Khái quát chủtrương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
và những yêu cầu đặt ra phải xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở ở tỉnh Khánh Hòa(2001 - 2010), trong đó chỉ rõ xuất phát từ: Yêu cầu xây dựng nâng cao chấtlượng lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh; yêu cầu xây dựng nâng cao chất lượng quản
lý của chính quyền tỉnh; yêu cầu lãnh đạo, quản lý đổi mới, phát triển KT - XHtrên địa bàn tỉnh, nhất là ở địa bàn cơ sở; yêu cầu quản lý xây dựng địa phươngvững mạnh toàn diện, củng cố, giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội
Hai là, hệ thống, phân tích làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ
tỉnh Khánh Hòa về xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở trong những năm 2001 - 2010
Tác giả hệ thống, tập trung phân tích quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ vàgiải pháp trong chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở của Đảng bộ tỉnhKhánh Hòa (2001 - 2010) Làm rõ sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa vềxây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở từ khâu đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồidưỡng, bố trí sử dụng, luân chuyển đến chính sách đối với đội ngũ cán bộ cơ
sở, nêu lên kết quả đạt được về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở củaĐảng bộ tỉnh giai đoạn 2001 - 2005 và giai đoạn 2006 - 2010 Thống qua kếtquả đó khẳng định sự phát triển của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sởgiai đoạn 2006 - 2010 so với giai đoạn 2001 - 2005
Trang 33Ba là, nhận xét về những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và rút ra một
số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng độingũ cán bộ cơ sở (2001 - 2010)
Tác giả tập trung nêu rõ những ưu điểm, hạn chế của Đảng bộ tỉnh KhánhHòa trong nhận thức và hoạch định chủ trương; trong tổ chức quá trình chỉ đạothực hiện; chỉ ra kết quả đạt được từ tổ chức thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ
cơ sở ở tỉnh Khánh Hòa trong những năm 2001 - 2010 Từ thực tiễn nghiên cứuquá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở(2001 - 2010), tác giả đúc rút một số kinh nghiệm thiết thực thể hiện rõ đặc thùcủa Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa trong lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở
Trang 34Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ (2001 - 2005) 1.1 Những yếu tố tác động và yêu cầu đối với quá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Khánh Hòa
* Về điều kiện tự nhiên
Khánh Hòa có diện tích tự nhiên là 5.217,6 km2, phần đất liền của Tỉnhnằm ở tọa độ địa lý từ vĩ độ 11055’00’N đến vĩ độ 12054’00’B Điểm cựcĐông trên đất liền của Khánh Hòa nằm tại Mũi Đôi trên bán đảo Hòn Gốm,huyện Vạn Ninh Đây cũng là điểm cực Đông trên đất liền của Việt Nam Bờbiển tỉnh Khánh Hòa kéo dài từ xã Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh, có độdài 385 km (tính theo mép nước) với nhiều cửa lạch, đầm vịnh, với khoảng
200 đảo lớn, nhỏ ven bờ và các đảo san hô của quần đảo Trường Sa [180]
Chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có bờ biển dài nên khí hậu
ở Khánh Hòa rất ôn hòa, quanh năm nắng ấm, mát mẻ, nhiệt độ trung bìnhhàng năm là 260C, chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô, được baobọc bởi nhiều hòn đảo lớn, nhỏ ít chịu ảnh hưởng của bão nhiệt đới, chính vìvậy Tỉnh có điều kiện lý tưởng cho phát triển du lịch, nghỉ dưỡng, phục hồisức khỏe, nhất là du lịch biển đảo
Có địa hình tương đối cao, độ cao trung bình so với mực nước biểnkhoảng 60m Núi ở Khánh Hòa tuy hiếm những đỉnh cao chót vót, phần lớn chỉtrên dưới một ngàn mét nhưng gắn với dải Trường Sơn, lại là phần cuối phía cựcNam nên địa hình núi khá đa dạng từ đó tạo ra cho Khánh Hòa với đủ các yếu tốđồng bằng, biển cả, hải đảo và rừng núi, tạo nên sắc thái đặc trưng riêng thu hútcông dân của các tỉnh trong cả nước về định cư, sinh sống Cũng chính từ nhữngđiều kiện tự nhiên đa dạng của Tỉnh đặt ra một thực tế trong công tác xây dựngđội ngũ cán bộ trong tỉnh nói chung, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở, xã, phường,
Trang 35thị trấn nói riêng phải hết sức linh hoạt nhằm vừa khắc phục những khó khăn củacác xã, phường, thị trấn ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo vừa đảm bảo tính tổng thểthống nhất trong toàn tỉnh và trong cả nước.
* Về điều kiện kinh tế - xã hội
Là một trong những tỉnh có nền kinh tế phát triển nhanh và vững củaViệt Nam Khánh Hòa có tốc độ tăng trưởng khá vững chắc và ổn định, tốc độtăng trưởng GDP hằng năm (1998 - 2000) đạt 8,2% GDP bình quân đầungười năm 2001 đạt 401 USD/năm và là 1 trong 5 tỉnh, thành phố có thu nhậpbình quân đầu người cao nhất nước Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướngtăng dần tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ và du lịch (năm 2001 công nghiệp, xâydựng chiếm 38,5% trong GDP, dịch vụ, du lịch chiếm 37,1%, nông lâmnghiệp, thủy sản chiếm 24,3%), kim ngạch xuất khẩu năm 2001 đạt 240 triệuUSD Các khu công nghiệp lớn trong tỉnh như Khu công nghiệp Suối Dầu,Khu công nghiệp Ninh Hòa, Khu công nghiệp Bắc và Nam Nha Trang, cùngvới những cảng biển lớn đang được đầu tư xây dựng, giúp cho Khánh Hòa trởthành một trong 10 tỉnh, thành có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất nước Từ
đó, đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở trong những năm 2001 - 2005đáp ứng được nhiệm vụ phát triển kinh tế mạnh mẽ, năng động của Tỉnh [180]
Khánh Hòa có Quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy dọc theođịa phận tỉnh, nối Khánh Hòa với các tỉnh, thành phố trong cả nước Quốc lộ
26 nối Khánh Hòa với các tỉnh Tây Nguyên Nhiều cảng biển nước sâu như:cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong, cảng Nha Trang, cảng Cam Ranh…cóvai trò vừa là cảng trung chuyển thương mại quốc tế, vừa là cảng du lịch đưađón khách quốc tế đến Nha Trang
Khánh Hòa có 2 thành phố trực thuộc tỉnh: Nha Trang, Cam Ranh, 1 thị
xã Ninh Hòa và 6 huyện: Cam Lâm, Diên Khánh, Khánh Sơn, Khánh Vĩnh,Vạn Ninh, Trường Sa Các huyện, thị xã, thành phố được chia thành 35 phường
6 thị trấn và 99 xã (01 thị trấn và 03 xã đảo; 02 thị trấn và 32 xã vùng cao, miền
Trang 36núi; 35 phường, 03 thị trấn và 64 xã đồng bằng) Trong đó, đặc biệt có huyệnđảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa vớihơn 100 hòn đảo và bãi cạn san
hô, nằm trải rộng trên một vùng biển khoảng 180.000 km2, cư dân Việt Namđang sinh sống trên 21 điểm đảo, với 9 đảo nổi và 12 đảo chìm bao gồm cả cưdân quân sự và dân sự, số lượng không ổn định, luôn có sự luân chuyển giữa cácđịa phương Để có được một đội ngũ cán bộ đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn ở các
xã, phường, thị trấn đòi hỏi Đảng bộ tỉnh ngoài những chủ trương chung cần cónhững chỉ đạo riêng, cụ thể đối với những xã, phường, thị trấn ở vùng đồngbằng, đô thị, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có dông đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống và đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ cơ sở ở các xã đảo [180]
Toàn tỉnh có 1.054.658 người (năm 2000) Tỉnh Khánh Hòa có 32 dântộc đang sinh sống trên địa bàn, trong đó dân tộc Kinh chiếm 95,3% sống phân
bố đều khắp huyện, thị, thành phố, nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là các vùngđồng bằng, thành phố, thị xã, thị trấn Dân tộc Raglay chiếm 3,4% sống tập trungchủ yếu ở hai huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh trong các bản làng (palây) Dântộc Hoa chiếm 0,86% sống chủ yếu ở Nha Trang, Diên Khánh và Ninh Hòa Cácnhóm chính khác gồm Cơ-ho chiếm 0,34%, Ê-đê chiếm 0,25% Ngoài ra, còn
có các dân tộc Tày, Nùng, Mường, Chăm Chính vì vậy, trong việc lãnh đạoxây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ cơ sở nói riêng của Đảng bộ tỉnh cầnquan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số [180]
Với điều kiện KT - XH của một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có tiềmnăng phong phú về hải sản, khoáng sản cùng với vị trí chiến lược về hàng hải
và quốc phòng - an ninh đang là lợi thế to lớn để phát triển KT - XH của tỉnhKhánh Hòa Bên cạnh đó cũng đặt ra cho tỉnh Khánh Hòa những thách thứcnhất là trong điều kiện mới hiện nay Chính vì vậy, công tác xây dựng đội ngũcán bộ của Tỉnh nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở xã, phường, thị trấn đòi hỏi phải
có chiến lược lâu dài và có những bước thực hiện phù hợp để đảm bảo có thểgiữ vững và đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển của tỉnh Khánh Hòa, góp phầnthực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Trang 371.1.2 Vị trí, vai trò, đặc điểm và thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ
cơ sở của tỉnh Khánh Hòa trước năm 2001
* Một số vấn đề chung về đội ngũ cán bộ
Cán bộ là một danh xưng đầy niềm tự hào và vinh dự trong nhân dân
Nó xuất hiện trong đời sống xã hội Việt Nam khoảng mấy chục năm gần đây,
để chỉ một lớp người là những chiến sĩ cách mạng, lớp người mới, sẵn sàngchịu đựng gian khổ, hy sinh, gắn bó với nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp cao
cả giành độc lập, tự do cho dân tộc
Trong từ điển tiếng Việt, “cán bộ” được định nghĩa là: Người làm
công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước, đảng và đoàn thể;người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệtvới người không có chức vụ
Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008: “Cán bộ là công dân ViệtNam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm
kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị
-xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung làcấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấphuyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [78, tr.8]
Cán bộ cách mạng: Chính là cầu nối liền giữa Đảng với nhân dân Cán
bộ là những người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dânchúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáocho Đảng, cho chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng
Cán bộ cơ sở: Là những cán bộ giữ vị trí trọng yếu nhất trong bộ máy
Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn là nhữngngười trực tiếp chuyển tải và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước vào cuộc sống của nhân dân Họ trực tiếp lãnh đạo, điềuhành, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của hệ thống chính trị cấp xã, phường,thị trấn Tổ chức, động viên quần chúng tham gia tích cực thực hiện sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc tại địa phương Đây là trách nhiệm và nhiệm vụ
Trang 38rất nặng nề, đòi hỏi ý thức phục vụ nhân dân và trình độ các mặt của cán bộ,công chức ở cơ sở phải không ngừng được nâng cao
Luật Cán bộ, công chức đã nêu rõ: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đâygọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm
kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thưĐảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội” [78, tr.9]
Đội ngũ cán bộ cơ sở gồm có cán bộ chuyên trách và cán bộ khôngchuyên trách, cụ thể:
Cán bộ chuyên trách, là những cán bộ phải dành phần lớn thời gian lao
động làm việc công để thực hiện chức trách được giao, bao gồm:
Cán bộ giữ chức vụ qua bầu cử gồm: cán bộ chủ chốt của cấp ủy đảng,HĐND, UBND, những người đứng đầu ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoànthể chính trị - xã hội Bên cạnh đó, còn cán bộ chuyên môn được UBND tuyểnchọn bao gồm: công an trưởng, xã đội trưởng, cán bộ văn phòng, địa chính, tàichính - kế toán, tư pháp, văn hóa - xã hội
Cán bộ không chuyên trách là những người chỉ tham gia việc công trong
một phần thời gian lao động Căn cứ vào hướng dẫn của Trung ương, UBNDcấp tỉnh quy định khung về số lượng và mức phụ cấp cho cán bộ không chuyêntrách trong hệ thống chính trị ở cấp cơ sở
Đội ngũ cán bộ cơ sở gồm:
Bí thư, phó bí thư đảng ủy, thường trực đảng ủy cấp xã (nơi không có phó
bí thư chuyên trách công tác đảng); bí thư, phó bí thư chi bộ xã (nơi chưa thànhlập đảng ủy cấp xã)
Chủ tịch, phó chủ tịch HĐND
Chủ tịch, phó chủ tịch UBND
Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Bí thư Đoàn Thanh niên
Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ
Trang 39Chủ tịch Hội Nông dân (áp dụng đối với những xã, phường, thị trấn có hoạtđộng lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân).
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh
* Vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở
Hệ thống chính trị của nước ta hiện nay gồm bốn cấp là Trung ương; tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương; quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
và xã, phường, thị trấn Như vậy, cấp xã là đơn vị hành chính nhỏ nhất ở nước
ta, là nơi diễn ra mọi hoạt động sinh sống của người dân và cũng là hình ảnh thunhỏ của xã hội và đời sống xã hội Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sựnghiệp cách mạng của mình luôn quan tâm và chăm lo xây dựng cấp xã, người
đã đúc rút: “Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làmđược việc thì mọi việc đều xong xuôi” [91, tr.371] Như vậy, đội ngũ cán bộ cấp
xã là chủ thể cuối cùng tiếp nhận và trực tiếp tuyên truyền, vận động, tổ chứcnhân dân hiện thực hóa nghị quyết của cấp trên và nhiệm vụ chính trị ở cơ sở
Trong hệ thống cán bộ thì đội ngũ cán bộ cơ sở có vị trí và vai trò quantrọng đặc biệt Họ là những người gần dân nhất, trực tiếp đưa đường lối, chínhsách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, trực tiếp phục vụ nhân dân Bảnchất của Nhà nước, của chế độ là “của dân, do dân, vì dân” cũng được thểhiện trực tiếp qua đội ngũ cán bộ cơ sở Do đó, chính sách của Đảng, Nhànước có đến được với dân, có tạo được sức mạnh từ đông đảo quần chúngnhân dân hay có duy trì được sự ổn định vững vàng để đổi mới và phát triển
từ mọi địa phương cơ sở hay không, phụ thuộc trực tiếp vào sự vững mạnhcủa đội ngũ cán bộ này
Trong những năm đổi mới cho thấy, sự thành công hay chưa thành côngcủa Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển KT - XH ở cơ sở phụ thuộc rất lớnvào đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Những sai lầm và khuyết điểm trong lãnhđạo KT - XH bắt nguồn từ những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức
và công tác cán bộ của Đảng Trong toàn bộ hoạt động của bộ máy đảng, chính
Trang 40quyền, các đoàn thể thì đội ngũ cán bộ cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng.Tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ này quyết định khả năng hiện thực hóađường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, vì cán bộ cấp xãvừa là người đại diện cho Đảng và Nhà nước trong việc quản lý, điều hành mọimặt: Chính trị, KT - XH, quốc phòng, an ninh ở cơ sở; vừa là người trực tiếplãnh đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, thực thi quyềnhành pháp, cũng như tiến hành tổ chức, triển khai các chương trình KT - XH ởđịa phương Mặt khác, cán bộ cơ sở cũng là người thường xuyên chăm lo đếnmọi mặt trong đời sống, cả vật chất và tinh thần tới mọi người dân; là người đạidiện cho ý chí, quyền lợi của nhân dân địa phương, luôn đấu tranh và bảo vệmọi quyền lợi chính đáng của người dân khi bị vi phạm Đúng như Chủ tịch HồChí Minh đã nói: “Cán bộ vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trungthành của nhân dân” Cán bộ cấp xã là đội ngũ thể hiện cụ thể và trực tiếp nhấtchức năng, yêu cầu bản chất này.
Thực tiễn cho thấy, chất lượng của đội ngũ cán bộ có ảnh hưởng đếnquá trình phát triển KT - XH ở địa phương Ở xã nào, địa phương nào cóđội ngũ cán bộ tốt thì ở đó các phong trào đều khá, KT - XH phát triển, tìnhhình an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội đảm bảo Thực tế cũngchứng tỏ: “Cán bộ nào thì phong trào đó”
Cán bộ cấp xã là người sống và hoạt động thường xuyên liên hệ mậtthiết và trực tiếp với nhân dân, cán bộ tốt hay không tốt đều có tác động trựctiếp đến phong trào Do vậy, người cán bộ một mặt phải được trang bị đầy đủkiến thức, trình độ và năng lực chuyên môn để chủ động, vững vàng trongquản lý điều hành, mặt khác người cán bộ cấp xã cần có đủ các tiêu chuẩn vềphẩm chất chính trị, đạo đức, có lối sống trong sạch, lành mạnh, trung thànhvới mục tiêu, lý tưởng của Đảng, biết hy sinh, gương mẫu để lôi cuốn quầnchúng nhân dân tích cực tham gia lao động sản xuất, thực hiện tốt các chươngtrình, phong trào phát triển KT - XH ở địa phương