20 Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ, PHƯỜNG TRONG NHỮNG NĂM ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, THỰC HIỆN CÔNG 2.1.. Để nghiên cứu lịch sử củ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ, PHƯỜNG TRONG NHỮNG
NĂM 1986-2001
NGƯỜI THỰC HIỆN : VŨ THỊ HOÀNG OANH
HÀ NỘI - 2005
HÀ NỘI, 2006
Trang 2Chương 1:
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ, PHƯỜNG TRONG 5 NĂM ĐẦU
CỦA THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 - 1990).
6 1.1.Nhận thức về vai trò của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở và thực trạng
xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã phường của Đảng bộ tỉnh
Thanh Hóa trước đổi mới ( 1975 - 1985) 6
1.2 Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã phường trong 5 năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986 - 1990) 20
Chương 2:
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ, PHƯỜNG TRONG NHỮNG NĂM
ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI, THỰC HIỆN CÔNG
2.1 Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã, phường trong những năm đẩy mạnh công cuộc đổi
mới (1991 - 1995) 41
2.2 Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã, phường phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
Trang 3MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài:
Xây dựng đội ngũ cán bộ luôn luôn là nhiệm vụ quan trọng của Đảng
Hồ Chí Minh đã nói: “ Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, "công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.[23.269,240]
Cán bộ có vai trò quan trọng ở mọi cấp, mọi ngành, nhất là ở cơ sở Cấp chính quyền cơ sở xã, phường là nơi đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước được trực tiếp đưa vào cuộc sống, đây là nơi người cán bộ của Đảng sống gần dân nhất Uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng được biểu hiện một cách cụ thể đối với dân thông qua người cán bộ cơ sở Mọi tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của quần chúng nhân dân được Đảng nắm bắt trước hết là từ cán bộ cơ sở Việc nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm, đề ra các chủ trương, hoạch định đường lối cũng bắt nguồn từ thực tế do cán bộ cơ
sở đề đạt Vì vậy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở giữ một vị trí quan trọng trong chiến lược cán bộ của Đảng ta
Trước đây, do có đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có năng lực và phẩm chất để lãnh đạo phong trào cách mạng ở các địa phương, nên Đảng ta
đã tạo ra được sức mạnh giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt là phải vừa phát huy những ưu điểm về nhiệt tình và phẩm chất chính trị, vừa phải vươn lên rất nhiều về năng lực chuyên môn để quản lý và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ở cơ sở Để đưa sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đến thành công đòi hỏi phải có một đội ngũ cán
bộ có phẩm chất và năng lực ngày càng cao hơn trước Vì thế, nhiệm vụ xây
Trang 4dựng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ của Đảng, mà trước hết là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trở nên vô cùng cần thiết và cấp bách
Để nghiên cứu lịch sử của Đảng trong thời kỳ đổi mới nói chung, lịch
sử của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa nói riêng, đồng thời để góp phần tổng kết những kinh nghiệm trong lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ CBCC cấp cơ sở có phẩm chất và năng lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay, tôi đã quyết
định chọn nghiên cứu vấn đề “Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lãnh đạo xây dựng
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã phường trong những năm 1986 - 2001” làm đề
tài cho bản luận văn thạc sĩ khoa học, chuyên ngành lịch sử Đảng, của mình
2 - Lịch sử nghiên cứu của vấn đề
Do tầm quan trọng của vấn đề cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở, nên lâu nay đã có nhiều bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở trung ương và địa phương về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Trên các tạp chí tiêu biểu có các bài: “Bố trí đúng cán bộ chủ chốt,
phong trào chuyển biến”, của Hoàng Đức Hiền (Tạp chí Xây dựng Đảng,
9-1987); “Bàn về năng lực của người bí thư cơ sở” của Lê Duy Thái (Tạp chí Giáo dục lý luận, 3-1989); “Đào tạo, bồi dưỡng phục vụ công tác quy hoạch
cán bộ” của Tô Huy Rứa (Tạp chí Cộng sản, 21-1991); "Đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ" của Tiến Hải (Tạp chí Cộng sản, 15- 1998)
Sách đã xuất bản có: “Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán bộ” của PGS PTS Đức Vượng (NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995); "Đổi mới để
tiến lên" của Nguyễn Văn Linh (Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1998); Luận
án Phó tiến sĩ có: "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quá trình xây dựng đội
Trang 5ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp cơ sở từ 1975 1993" của Bùi Thị Hồng Tiến (Hà Nội, 1994)
-Trong các bài viết, các công trình nghiên cứu đó, các tác giả đã đề cập đến vấn đề vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, sự cần thiết phải đổi mới công tác cán bộ, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở; xác định cơ cấu, tiểu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị; đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở Song chưa có tác giả nào nghiên cứu đến quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã phường ở Thanh Hoá từ năm 1986 đến năm 2001 dưới góc độ lịch sử Đảng Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả kế thừa một cách có chọn lọc những nội dung cơ bản đã nêu trên, đồng thời tập hợp các tư liệu ở Thanh Hóa để nêu lên kết luận, nhận xét, rút ra các kinh nghiệm
từ kết quả nghiên cứu cụ thể các vấn đề ấy trên địa bàn Thanh Hoá
3 - Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một lĩnh vực hoạt động quan
trọng của Đảng bộ tỉnh Thanh hoá: hoạt động lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở trong những năm 1986 - 2001, để góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử Đảng bộ Thanh Hóa thời kỳ này; đồng thời qua đó rút ra một
số kinh nghiệm phục vụ yêu cầu thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã phường ở Thanh Hóa hiện nay
Nhiệm vụ của luận văn là trình bày một cách có hệ thống quá trình
Đảng bộ Thanh Hoá lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ
1986 đến 2001; nêu lên vai trò của cán bộ chủ chốt xã phường trong hoạt động thực tiễn và các thành tựu, hạn chế của Đảng bộ Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã phường trong những năm 1986-
2001 Từ đó rút ra một số kinh nghiệm về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
Trang 6chốt cấp xã phường ở Thanh Hoá để góp phần phục vụ nhiệm vụ này ở Thanh Hóa hiện tại
4 - Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quan điểm, chủ trương
lãnh đạo xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã phường của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (gồm một số chức danh chủ yếu như: bí thư đảng uỷ, phó bí thư trực đảng, chủ tịch uỷ ban nhân dân, chủ tịch mặt trận tổ quốc, bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, hội trưởng hội phụ nữ…)
Giới hạn nghiên cứu: về thời gian là trong những năm 1986 đến 2001, về
phạm vi nghiên cứu là trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
5 - Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về công tác cán bộ, nhất là với cán bộ chủ chốt cấp xã phường
Nguồn tư liệu viết luận văn là một số tác phẩm của Hồ Chí Minh về
vấn đề cán bộ; các nghị quyết của Đảng, luật pháp Nhà nước, các báo cáo của mặt trận và các đoàn thể cấp Trung ương, Nghị quyết các đại hội, các báo cáo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá ở một số huyện, một số phường, xã, thị trấn trong tỉnh từ 1986 đến năm 2001; là các sách, các bài viết có liên quan đến đề tài luận văn của các tác giả đã được công bố
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp lịch sử kết hợp
với phương pháp logic, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích, tổng hợp…, thông qua các sự kiện lịch sử, các số liệu được trình bày có hệ thống để rút ra những nhận định, những kinh nghiệm lịch sử phục vụ hiện tại
Trang 76 - Đóng góp của luận văn
Thông qua việc hệ thống hóa, phân tích các sự kiện, tư liệu lịch sử, luận văn góp phần làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã phường từ năm 1986 đến 2001; qua đó nêu lên thực trạng mạnh, yếu của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Thanh Hoá
Rút ra một số kinh nghiệm về lãnh đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã phường của Đảng bộ Thanh Hoá để góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa và đổi mới công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã phường ở Thanh Hóa hiện nay
7- Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo
luận văn chia thành 3 chương 6 tiết
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã, phường trong 5 năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986 - 1990)
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã, phường trong những năm đẩy mạnh công cuộc đổi mới thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1991 - 2001)
Chương 3: Nhận xét chung và những kinh nghiệm chủ yếu.
Trang 8Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HOÁ LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ, PHƯỜNG TRONG 5 NĂM ĐẦU CỦA THỜI
KỲ ĐỔI MỚI (1986 -1990)
1 1 Nhận thức chung về vai trò cán bộ chủ chốt cấp cơ sở và thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, phường của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trước đổi mới (1975-1986)
1.1.1 Quan điểm, nhận thức chung của Đảng ta về vai trò cán bộ chủ chốt và công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ luôn có một vị trí và tầm quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp cách mạng của quần chúng nhân dân Nhìn vào lịch
sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, ở bất cứ thời kì nào chúng ta cũng thấy các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê Nin đều đề cao vai trò cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
C.Mác, và Ph.Ăngghen là những người đặt nền móng cho vấn đề cán
bộ của giai cấp vô sản Hai ông không chỉ là những người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học mà còn là những người đem lý luận khoa học đó kết hợp với phong trào công nhân, lập nên tổ chức cộng sản đầu tiên trên thế giới Trong điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng ở thời kỳ Đảng chưa nắm chính quyền, C.Mác và Ph.Ăngghen chưa có thực tế để bàn nhiều về vấn đề cán bộ
và công tác cán bộ Nhưng hai ông rất quan tâm đến việc xây dựng một đội ngũ những nhà tuyên truyền, cổ động, truyền bá tư tưởng cộng sản; lãnh đạo,
tổ chức các phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, trên cơ sở đó kết hợp với phong trào công nhân để lập nên chính đảng của giai cấp công nhân Hai
ông cho rằng: “Tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì hết Muốn
Trang 9thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”[22.181]
C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ cho giai cấp vô sản thấy rằng: nếu không
có những hoạt động thực tiễn có mục đích thì những tư tưởng tốt đẹp bao nhiêu cũng chẳng đem lại kết quả mong muốn nào cả; Đảng cộng sản phải quan tâm đến công tác cán bộ thì cách mạng vô sản mới thành công Theo hai ông vấn đề cán bộ hoàn toàn xuất phát từ thực tế khách quan do lịch sử đòi hỏi Mỗi thời đại, xã hội muốn phát triển được đều phải có đội ngũ cán bộ tương ứng cho thời kỳ lịch sử của mình Nghĩa là công tác cán bộ cũng phải vận động và phát triển theo sự vận động của cách mạng
Bước lên vũ đài chính trị trong những hoàn cảnh mới từ cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản, V.I.Lênin không chỉ là người kế tục xuất sắc về mặt lý luận học thuyết của Mác, bảo vệ chủ nghĩa Mác trước sự tấn công của
kẻ thù, mà còn là nhà thực tiễn lỗi lạc, đã làm được công việc vĩ đại là đưa lý luận cách mạng vào phong trào công nhân, tổ chức ra đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, lãnh đạo thực hiện thành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiên trong lịch sử nhân loại, biến những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen trở thành hiện thực
Cuộc đời hoạt động sôi nổi không mệt mỏi của V.I.Lênin là minh chứng hùng hồn cho vai trò của cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ V.I.Lênin đã chỉ ra một cách sâu sắc và khoa học tầm quan trọng của vấn đề cán bộ trong việc thực hiện các mục tiêu có tính cương lĩnh của Đảng Trong mọi thời kỳ cách mạng, vai trò này bắt nguồn từ sứ mệnh lịch sử khách quan của đảng cộng sản - lãnh tụ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh xoá bỏ chế độ xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới, xã hội chủ nghĩa
Trang 10Ngay từ khi thành lập Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân V.I.Lênin
đã đặc biệt chú ý đến vấn đề cán bộ Người khẳng định: “Trong lịch sử chưa
hề có giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong
có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào" [19.473];
Lênin còn nhấn mạnh rằng trong đội ngũ cán bộ nói chung thì đội ngũ cán bộ chủ chốt giữ vị trí hết sức quan trọng, vì họ là hạt nhân, là những người lãnh đạo chủ yếu, những người được giao trách nhiệm quan trọng nhất trong mỗi tổ chức của Đảng và Nhà nước Và từ việc phân tích sâu sắc những bài học lịch sử, Lênin chỉ ra rằng: vấn đề cán bộ, lựa chọn người bố trí vào
cương vị lãnh đạo là nhiệm vụ quan trọng nhất của Đảng Lênin gọi đó là “cái
chốt” của tình hình
Như vậy, qua tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin chúng ta có thể thấy rõ tầm quan trọng và yêu cầu khách quan của nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Nhiệm vụ đó được bắt nguồn từ sứ mệnh lịch sử khách quan của giai cấp vô sản, và nó phải luôn luôn không ngừng được đổi mới nhằm xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ phù hợp với sự chuyển biến, với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng
Hồ Chí Minh- người sáng lập và rèn luyện Đảng ta đã phải quán triệt sâu sắc vận dụng sáng tạo và phát triển hơn nữa quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của cán bộ và công tác cán bộ
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đặc
biệt quan tâm đến công tác cán bộ Người cho rằng “Cán bộ là nguồn gốc của
mọi công việc”, “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [23.269,240] Chính từ nhận thức đó mà trong quá trình chuẩn bị các
mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng cộng sản Người đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ Người tập hợp những thanh niên Việt
Trang 11Nam yêu nước ở hải ngoại, mở các lớp huấn luyện ở Quảng Châu (Trung
Quốc), Người viết “Đường cách mệnh” làm tài liệu và trực tiếp huấn luyện
cán bộ Người lập ra Hội Việt Nam cách mạng thanh niên là một trong những tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản để giáo dục, đào tạo cán bộ cho cách mạng nước ta
Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ, đảng viên của Đảng phải không ngừng học tập và rèn luyện cả Đức và Tài để phục vụ cách mạng tốt hơn nữa, nhiều
hơn nữa Người nói “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người ngày hôm qua
là Vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu rơi vào chủ nghĩa cá nhân” [27.557,558] Người khuyên cán bộ đảng viên hãy ghi
nhớ lời dạy của Lênin “Học, học nữa, học mãi” và đòi hỏi cán bộ phải học tập
theo yêu cầu và nội dung mới
Trong hội nghị bàn về công tác huấn luyện học tập năm 1950, Hồ Chí
Minh căn dặn: “Ai lãnh đạo ngành hoạt động nào thì phải biết chuyên môn về
ngành đó mới có thể lãnh đạo mới sát” [24.47] Người yêu cầu cán bộ, đảng
viên phải chịu khó học tập chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật để nâng cao năng lực kinh tế phát triển, chiến đấu thắng lợi, đời sống nhân dân ngày càng
ấm no, vui tươi Người khẳng định vấn đề có ý nghĩa quyết định là cán bộ,
cho nên phải “đào tạo thật nhiều cán bộ Chỉ có như thế chúng ta mới xây
dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội”[26.313]
Và trong bản Di chúc lịch sử, Người còn căn dặn chúng ta trước lúc đi
xa: “Đảng là Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên, cán bộ phải thật sự thấm
nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải giữ gìn Đảng thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”
Trang 12Tư tưởng của Hồ Chí Minh về cán bộ có ý nghĩa cách mạng sâu sắc,
Người cho rằng: người cán bộ, đảng viên phải vừa “hồng” vừa “chuyên”; phải
không ngừng học tập trau dồi lý tưởng cách mạng, chuyên môn, nghiệp vụ, tri thức mới, phong cách làm việc khoa học Để luôn xứng đáng với vai trò lãnh
đạo của Đảng Đồng thời chỉ ra yêu cầu hàng đầu là phẩm chất của “người
lãnh đạo chính trị” vừa nói lên phẩm chất chỉ có ở người lãnh đạo của giai
cấp vô sản là tính quần chúng Chính điều đó làm cho người cán bộ không
đứng trên quần chúng mà phục vụ quần chúng, là “đầy tớ của nhân dân” chứ không phải là “quan cách mạng”
Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh, Đảng ta từ Trung ương đến cơ
sở đã luôn chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ Trong quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng
đã đặc bịêt quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ và ngày càng nhận thức rõ rằng: năng lực lãnh đạo và chiến đấu của Đảng phụ thuộc một cách quyết định vào chất lượng của đội ngũ cán bộ Phải coi công tác cán bộ là vấn đề có tầm quan trọng chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của mình Về cơ bản Đảng đã từng bước xây dựng được một đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực thực hiện các nhiệm vụ cơ bản của từng giai đoạn cách mạng
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cả nước ta đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện: tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động nhanh chóng và phức tạp Nhiệm vụ mới trong tình hình mới đòi hỏi Đảng phải có phương thức hoạt động mới đội ngũ cán bộ tương ứng Nhận thức được điều đó nhiều nghị quyết mà Đảng và Nhà nước ta trong thời
kì này đã chỉ rõ phải: “bồi dưỡng và nâng cao nhanh chóng trình độ và năng
lực công tác của các loại cán bộ, trước hết cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý”
Thế nhưng trong thực tế chúng ta đã có thiếu sót là không tích cực và kịp thời
Trang 13đưa cán bộ ưu tú đã trải qua kháng chiến đi đào tạo, bồi dưỡng một cách có kế hoạch, bài bản
Thời kỳ này còn có quan niệm cho rằng ta đã đánh thắng Mỹ thì việc gì cũng làm được; cán bộ có quyết tâm, có nhiệt tình, có lý lịch trong sạch là có thể làm bất cứ việc gì Đảng giao; ai đã trúng vào cấp uỷ thì bố trí làm việc gì cũng tốt Vì vậy trong lựa chọn và bố trí cán bộ có thiên hướng nặng về tiêu chuẩn, nhiệt tình, ý chí, quá trình công tác mà xem nhẹ trình độ học vấn, kiến thức khoa học, chất lượng và hiệu quả công tác Có thể nói nhiệm vụ mới rất nặng nề nhưng cán bộ chưa được chuẩn bị, trình độ hiểu biết và năng lực quản
lý còn nhiều hạn chế
Đó cũng là một nguyên nhân cơ bản dẫn đến những chủ trương sai lầm góp phần làm trầm trọng thêm những khó khăn trong thời kì khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối những năm 70 đầu những năm 80 Khi đánh giá tình hình Thanh Hoá thời kỳ này, văn kiện Đại hội đại biểu tỉnh Thanh Hoá lần thứ XII
(1986) viết: “ Trong việc thực hiện nhiệm vụ hai chiến lược còn những
nhược điểm, khuyết điểm, nổi lên là kinh tế phát triển chậm chưa toàn diện, chất lượng hiệu quả còn thấp, có những mặt còn yếu kém như kinh tế rừng, kinh tế biển, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xuất khẩu Công tác quốc phòng an ninh chưa được xây dựng thực sự vững mạnh từ cơ sở” Nguyên
nhân là do: “cán bộ chủ chốt và các cơ quan lãnh đạo, quản lý kinh tế còn nặng
chủ quan, giản đơn và bảo thủ Việc tổ chức chỉ đạo thực hiện còn quan liêu, hành chính bao cấp nặng, chưa bám sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết
Tổ chức bộ máy và cán bộ còn nhiều chỗ chưa phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ”
[14]
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, cũng chỉ ra nguyên nhân của những sai lầm, khuyết điểm trong thời gian qua:
Trang 14“Những sai lầm và khuyết điểm trong lãnh đạo kinh tế, xã hội bắt nguồn từ
những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng”, do “sự lạc hậu về nhận thức lý luận và sự vận dụng các quy luật đang hoạt động trong thời kì quá độ” [9.27]
Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nhấn mạnh: “Chúng ta nhận thức
sâu sắc rằng nếu không kiên quyết đổi mới về tổ chức bộ máy và cán bộ thì không một chủ trương, chính sách nào thực hiện được tốt Nhiệm vụ đổi mới
tổ chức bộ máy và cán bộ vẫn tiếp tục là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta hiện nay và sắp tới” [18.132], và Đại hội VI xác định: “Đổi mới đội ngũ cán bộ có nghĩa là đánh giá, lựa chọn, bố trí lại đi đôi với đào tạo, bồi dưỡng để có được một đội ngũ cán bộ có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực lãnh đạo, quản lý ngang tầm nhiệm vụ” [9.132]
Từ nội dung được trình bầy ở trên, chúng ta có thể thấy rõ từ trước đến nay cả về lý luận và thực tiễn, đổi mới công tác cán bộ luôn là một đòi hỏi khách quan Điều đó xuất phát từ vị trí và vai trò của cán bộ cũng như công tác cán bộ lối với sự nghiệp cách mạng của Đảng cộng sản Đặc biệt ở những mốc chuyển giai đoạn của cách mạng, khi mà nhiệm vụ và phương thức hoạt động thay đổi, đội ngũ cán bộ hiện có chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới thì đổi mới công tác cán bộ lại càng trở nên vô cùng cần thiết,
và đó là một đòi hỏi khách quan
1.1.2 Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã phường ở Thanh Hóa trước đổi mới (1975-1985)
Thanh Hoá là một tỉnh có tiềm năng kinh tế lớn nằm cách thủ đô Hà Nội 153 Km về phía Nam, với 98 km đường quốc lộ 1A đi qua Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 11.168 km2, bằng 3,3% diện tích cả nước với trên 500 km địa giới tỉnh và quốc gia, khoảng 102 km bờ biển, 70% đất đai là đồi núi và
Trang 15rừng Có thể nói Thanh Hoá như là một hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam với đủ các vùng rừng núi, trung du, đồng bằng và thềm lục địa; có khả năng
hỗ trợ và liên kết với nhau để xây dựng và phát triển nền kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp tương đối hoàn chỉnh
Cùng với sự phát triển của lịch sử dân tộc, nhân dân Thanh Hoá cũng
đã đóng góp nhiều sức người sức của vào quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Những Bà Triệu, Lê Lợi, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân đã luôn là niềm tự hào của nhân dân Thanh Hoá Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân Thanh Hoá đã có nhiều đóng góp vô cùng to lớn Chỉ tính riêng trong chiến dịch Điện Biên Phủ nhân dân Thanh Hoá đã đóng góp 1.061.593 lượt người dân công, hàng chục tấn vũ khí, 4.361 tấn gạo, 1.300 con bò, 2000 con lợn, 250.000 quả trứng, 450 tấn cá khô, 2000 hũ nước mắm, 150 tấn đậu các loại Trong lần về thăm Thanh Hoá lần thứ hai (13-6-1957), Hồ Chí Minh đã khen ngợi “Bây giờ tiếng Việt nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hoá cũng có một phần vinh dự đến đó” [ 25.400]
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước(1954 - 1975), Thanh Hoá còn là hậu phương lớn cung cấp sức người, sức của cho chiến trường Miền Nam Đặc biệt là qua hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, mặc dù bị tàn phá rất nặng nề nhưng nhân dân Thanh Hoá đã có những đóng góp to lớn rất đáng tự hào cho cuộc kháng chiến anh dũng của cả dân tộc Những con người ưu tú của Quê hương Thanh Hoá đã lần lượt lên đường đi chiến đấu và nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường Tính từ tháng
8 năm 1945 đến tháng 10 năm 1995, Thanh Hoá có 391.657 người đi bộ đội, 41.863 người đi thanh niên xung phong Toàn tỉnh có 6.559 liệt sĩ, 32.146 thương binh, 25 đơn vị và 71 cá nhân được tuyên dương anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân, có 1.125 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 2 đơn vị và 16 cá
Trang 16nhân được tuyên dương Anh hùng lao động Đó là những con số biết nói, nói lên truyền thống đánh giặc, bảo vệ và xây dựng của quê hương Thanh Hoá
Bên cạnh đó thời kỳ trước đổi mới Thanh Hoá còn một số vấn đề phải quan tâm hơn như: Tỷ lệ dân số ở mới là quá cao (2,3%) Số người đến tuổi lao động mỗi năm tăng thêm 31.000 người nhưng chưa đủ việc làm Phân bố lao động lên trung du, miền núi chậm Trên dưới 15% số hộ nông dân còn thiếu ăn Đời sống của những người ăn lương, hưởng trợ cấp xã hội, lực lượng
vũ trang, một số gia đình liệt sỹ, thương binh còn nhiều khó khăn do giá cả tăng vọt, tiền lương thực tế giảm sút nhanh Một bộ phận cán bộ công nhân viên, thanh niên bị cuốn hút vào chủ nghĩa thực dụng tầm thường, sa sút về phẩm chất và nếp sống
Công tác tổ chức, chăm lo đời sống nhân dân về vật chất và tinh thần chưa được giải quyết tốt từ cơ sở
Sự nghiệp giáo dục, văn hoá thông tin, phát thanh, y tế tiến bộ chậm, chất lượng thấp
Sinh hoạt văn hoá tinh thần ở vùng sâu, vùng xa ít được quan tâm
Vệ sinh phòng bệnh, thể dục thể thao chưa thành phong trào rộng rãi thường xuyên, chất lượng khám chữa bệnh, sản xuất phân phối thuốc vẫn kém Hoạt động y tế cơ sở, ở các bệnh viện còn nhiều phiền hà, tốn kém cho người bệnh Lòng tin của quần chúng đối với Đảng và Nhà nước bị giảm sút [14]
Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XII ( 10-1986), Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ đã nêu lên nguyên nhân của tình hình trên:
Trước hết là do sự lãnh đạo của Đảng bộ và sự điều hành của chính quyền các cấp nhất là cấp tỉnh chưa phát huy mạnh mẽ truyền thống cách mạng vẻ vang của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khả năng hiện thực và tiềm lực phong phú của địa phương và từng ngành Cụ thể là:
Trang 171) Việc bố trí cơ cấu kinh tế - xã hội, cơ cấu đầu tư, tổ chức lại sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ còn nhiều chỗ chưa sát hợp, vừa chậm trễ vừa phân tán
2) Chưa vận dụng tốt đồng thời 3 cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt Chưa sử dụng và phát huy tốt sức mạnh tổng hợp của chuyên chính vô sản trong đấu tranh chống tiêu cực, đấu tranh giai cấp giữa hai con đường Đặc biệt chưa kết hợp hữu cơ và năng động việc củng cố và tăng cường quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa với phát triển lực lượng sản xuất; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chưa coi trọng lấy kế hoạch hoá làm trung tâm và các chính sách đòn bẩy kinh tế Cán bộ chủ chốt
và các cơ quan lãnh đạo, quản lý kinh tế còn nặng chủ quan, giản đơn và bảo thủ
3) Việc tổ chức chỉ đạo thực hiện còn quan liêu, hành chính bao cấp nặng, chưa bám sát cơ sở, thiếu kiểm tra đôn đốc, sơ kết, tổng kết Tổ chức bộ máy và cán bộ còn nhiều chỗ chưa phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ [14.28,29]
Có thể nói những nguyên nhân của tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội ở Thanh Hoá vào đầu những năm 80 như Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XII đã nêu lên đều là những nguyên nhân chủ quan Nó phản ánh trình độ và năng lực đội ngũ cán bộ, trong đó đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới - thời kỳ cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; chưa phát huy được truyền thống, chưa khơi
dậy được tiềm năng, và ngay cả những “khả năng hiện thực” - như trong Văn
kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XII đã viết - cũng còn chưa phát huy được Để làm rõ hơn điều này chúng ta hãy xem xét một số đặc điểm chung nhất về thực trạng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã phường ở Thanh Hoá trước đổi mới
Trang 18Những ưu điểm chính : Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở xã, phường ở Thanh Hoá có số đông được rèn luyện, thử thách trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, trong sản xuất và công tác trong những năm chiến tranh khó khăn
nên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với lý tưởng của Đảng, sẵn sàng hi sinh bảo vệ Đảng, bảo vệ lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc, bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa
Đây là đặc điểm chung nhất và là thế mạnh lớn nhất của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, phường ở Thanh Hoá trước đổi mới Đặc điểm này vẫn được duy trì đến tận ngày nay Theo kết quả điều tra năm 1995 ở 172 xã, phường thuộc 17 huyện và thành phố Thanh Hoá thì hiện đang còn 60% cán bộ chủ chốt xã, phường nguyên là bộ đội hoặc thanh niên xung phong trở về, chỉ có 20,4% trưởng thành từ cơ sở và 19,6% là từ những nguồn khác [ phụ lục 1]
Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Thanh Hoá có tinh thần khắc phục khó khăn gian khổ, sẵn sàng nhận và phấn đấu để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao Xã, phường nào cũng có những tấm gương cán bộ tận tuỵ làm việc
không ngại khó khăn và tỏ ra năng động trong công tác, hoàn thành được nhiệm vụ chung và tổ chức làm kinh tế gia đình tốt Nhiều cơ sở ở nông thôn vốn là những điển hình kinh tế tiên tiến trong những năm chiến tranh thì ở giai đoạn này vẫn giữ được và có bước phát triển như: Hoằng Quý, Hoằng Anh (Hoằng Hoá); Xuân Thành (Thọ Xuân); Tiến Nông (Triệu Sơn); Nga Thuỷ (Nga Sơn) ở thời điểm năm 1984, loại hợp tác xã nông nghiệp được đánh giá là khá đã tăng từ 13,4% lên 25%; loại hợp tác xã trung bình từ 46,8% lên đến 50,6%; loại yếu kém giảm từ 39,8% xuống còn 24,3% Số bí thư Đảng uỷ xã được xếp đảng viên loại A (xuất sắc) và B chiếm 91,4%; chủ tịch xã được xếp loại A và B chiếm 89% Phó Bí thư trực Đảng xếp loại A và
B chiếm 87% Số Đảng viên bị xếp loại C ở cả 3 chức danh trên chỉ chiếm tỷ
lệ thấp: Bí thư Đảng uỷ: 8,4%; Chủ tịch xã: 13%; Trực Đảng uỷ xã: 13% [41]
Trang 19Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Thanh Hoá có tinh thần học tập nâng cao trình độ công tác và cầu tiến bộ Đa số cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở
Thanh Hoá thời kì trước đổi mới nguyên là bộ đội hoặc thanh niên xung phong trong chiến tranh Trong thời kì chiến tranh họ đang còn học dở phổ thông hoặc vừa tốt nghiệp phổ thông xong thì phải xếp sách bút lại lên đường
đi chiến đấu Được thử thách trong chiến tranh họ trưởng thành lên về bản lĩnh chính trị song kiến thức văn hoá lại bị rơi rụng nhiều, nay trở về địa phương được giao trọng trách, họ ở trong tình trạng thừa nhiệt tình nhưng lại thiếu kiến thức thực tế về sản xuất, về lãnh đạo kinh tế và các hoạt động xã hội khác Vì vậy họ rất ham học tập nhằm năng cao trình độ và năng lực công tác Điều này được biểu hiện ở một số người đăng ký theo học ở trường Đảng tỉnh hàng năm: Đã trong nhiều năm nay trường Đảng Hoàng Văn Thụ trước đây và trường chính trị tỉnh Thanh Hoá ngày nay không có năm nào vắng bóng học viên Năm nào số người đăng ký theo học cũng vượt quá chỉ tiêu chiêu sinh Riêng năm 1985 ngoài 3 lớp trung cấp lý luận học tập trung ở trường Đảng Hoàng Văn Thụ với 260 học viên và 7 lớp tại chức mở tại các huyện với hơn 700 học viên, còn có 1969 cán bộ chủ chốt xã, phường đương chức được tổ chức cho học tập, bồi dưỡng về lý luận và nghiệp vụ [44] Ngoài
ra, đội ngũ cấn bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Thanh Hoá nhìn chung còn có đức tính cần cù, giản dị, gần gũi quần chúng, được quần chúng yêu mến
Trên đây là những ưu điểm và thế mạnh rất cơ bản của đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường ở Thanh Hoá Những ưu điểm và thế mạnh đó là một trong những nhân tố quan trọng góp phần ổn định tình hình chính trị - xã hội
ở Thanh Hoá trong những năm khủng hoảng kinh tế - xã hội, đưa Thanh Hoá vượt qua khó khăn, đạt được những thành tích trên nhiều lĩnh vực, nhất là trên mặt trận sản xuất lương thực
Trang 20Bên cạnh những ưu điểm và thế mạnh nói trên, đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp cơ sở ở Thanh Hoá cũng có một số mặt yếu và hạn chế sau:
Đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường ở Thanh Hoá còn mang nặng tư tưởng sản xuất nhỏ của người tiểu nông, nhiều đồng chí chưa có tầm suy nghĩ chiến lược, làm ăn lớn Có một số cán bộ chịu ảnh hưởng khá nặng tư tưởng
phong kiến, gia trưởng, cục bộ địa phương, tư tưởng dòng họ trong công tác cán bộ, trong việc bàn bạc quyết định xây dựng các công trình phục vụ sản xuất và đời sống ở cơ sở Những tư tưởng lạc hậu nêu trên là lực cản đáng kể, cản trở tính sáng tạo của cán bộ, đảng viên và quần chúng, ảnh hưởng không tốt đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội ở địa phương
Trình độ của đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường ở Thanh Hoá trước đổi mới còn quá thấp so với yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế thời kỳ sau chiến tranh Năm 1985, còn “có những đảng bộ cơ sở còn chưa xác định rõ
cơ cấu kinh tế, chưa xác định được bước đi và tạo điều kiện phát triển nhanh, nhất là mở rộng nghành nghề và xuất khẩu” [44] Số đông cán bộ ở miền núi,
vùng sâu vùng xa mới chỉ có trình độ văn hoá bậc tiểu học, một số ít mới học xong trung học cơ sở và hầu như còn chưa được đào tạo chuyên môn gì Do trình độ cán bộ thấp như vậy nên đã ảnh hưởng lớn đến việc tiếp thu, truyền đạt và tổ chức thực hiện các đường lối, chính sách của Đảng, các chỉ thị, nghị quyết cấp trên Chỉ tính riêng trong đợt sinh hoạt tự phê bình và phê bình
được tiến hành đầu năm 1985 thì đến tháng 7- 1985 đã có 73 cán bộ cấp xã
phường bị xử lý phải đình chỉ công tác hoặc phải thay thế do năng lực yếu hoặc hoàn cảnh ra đình quá khó khăn [42]
Cơ cấu cán bộ không hợp lý: cán bộ trẻ và cán bộ nữ còn ít, đặc biệt số
cán bộ chủ chốt là nữ giảm nhanh chóng Nếu như năm 1969, số đảng viên cấp xã, phường là nữ còn chiếm tới 30% thì năm 1984 chỉ còn 14,4% Cũng năm 1969, số chủ tịch xã, phường là nữ chiếm 34,3% thì năm 1984 còn
Trang 214,3%; nữ chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp năm 1969 là 11,4% đến năm
1984 còn 1,7% [43] Số cán bộ tuổi cao vẫn đang còn nhiều và tuổi bình quân cán bộ lại ngày một cao Tình hình đó là không phù hợp với yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở xã, phường trong giai đoạn mới, bởi lẽ nó hạn chế việc huy động tính sáng tạo và khả năng to lớn tiềm tàng của chị em phụ nữ tham gia thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội ở địa phương; mặt khác yêu cầu công tác ở xã, phường đòi hỏi người cán bộ chẳng những phải
có phẩm chất tốt, trình độ công tác giỏi mà còn phải có sức khoẻ tốt để “sáng
đi huyện, chiều lội đồng, tối dầm mưa” tổ chức nhân dân chống lụt bão hoặc giải quyết những vụ việc đột xuất thường phát sinh ở cơ sở
Có nhiều nguyên nhân làm cho đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường ở
Thanh Hoá có những mặt yếu và hạn chế nói trên, song có thể nêu lên mấy
nguyên nhân chủ yếu sau:
Do nước ta phải tiến hành hai cuộc kháng chiến liên tiếp và lâu dài, ác
liệt cho nên nhiều đồng chí cán bộ chủ chốt xã, phường trong thời niên thiếu
đã phải bỏ dở việc học hành, lên đường đi chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu
Đến khi trở về phải bước vào xây dựng và tổ chức cuộc sống gia đình mà không có điều kiện đến trường học tiếp hoặc học lên những bậc học cao hơn,
vì vậy trình độ mọi mặt thấp Hơn nữa lại quen sống trong cơ chế bao cấp kéo dài, tâm lý ỷ lại, trong chờ cấp trên đã được định hình nên chậm thích nghi, rất lúng túng trong cơ chế thị trường, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
Do nước ta bước vào cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa
xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, trải qua chiến tranh kéo dài,
đời sống nhân dân quá khó khăn, chưa có môi trường kinh tế thị trường và khoa học kỹ thuật phát triển để đào luyện người cán bộ trong thực tế Ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, của tâm lý tiểu nông còn rất lớn Vì vậy đội
Trang 22ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở còn thiếu những hiểu biết cần thiết về khoa học
kỹ thuật, về quản lý xã hội theo pháp luật
Công tác tổ chức cán bộ chủ chốt xã, phường còn nhiều thiếu sót: Chưa tiêu chuẩn hoá được cán bộ, chưa xây dựng quy hoạch cán bộ một cách khoa học Việc bố trí cán bộ ở nhiều xã, phường còn mang nặng tính chủ
quan, chắp vá, thiếu ổn định Vì vậy nhiều đồng chí cán bộ chủ cốt ở cơ sở thiếu yên tâm công tác, vừa làm việc vừa chuẩn bị tư thế nghỉ, hạn chế đến tinh thần vươn lên trong học tập và nhiệt tình công tác
Trong một thời gian dài chúng ta thực hiện chế độ trả lương và phụ cấp cho đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường còn mang nặng màu sắc duy tâm, chưa tương xứng với công sức mà các đồng chí cán bộ đã bỏ ra trong quá
trình thực thu nhiệm vụ được giao Vì vậy đời sống của nhiều đồng chí cán bộ chủ chốt xã, phường còn nhiều khó khăn, thiếu thốn Càng liêm khiết, tận tuỵ với công việc thì đời sống gia đình lại càng khó khăn Do đó cán bộ thiếu phấn khởi chưa đem hết khả năng cống hiến cho phong trào
Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ còn chưa thật sự khoa học, còn mang tính hình thức, chưa thiết thực Chất lượng đào tạo chưa cao, chưa đáp
ứng tốt yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, văn hoá, xã hội ở cơ sở
Tóm lại, đó là 5 nguyên nhân chủ yếu làm cho đội ngũ cán bộ chủ chốt
xã, phường ở Thanh Hoá có những mặt yếu hạn chế nói trên Hai nguyên nhân đầu là những nguyên nhân khách quan, còn ba nguyên nhân sau đều là những nguyên nhân chủ quan cần sớm được khắc phục để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Thanh Hoá
Trang 231.2 Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã phường trong 5 năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986 - 1990)
1.2.1 Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XII và quan điểm của Đảng bộ về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã phường trong những năm 1986 - 1990.
Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XII diễn ra từ ngày 23 - 29/10/1986 tại Hội trường 25B của Tỉnh Đại hội thảo luận, đóng góp ý kiến vào dự thảo báo cáo chính trị của BCH TW Đảng, bổ sung sửa đổi điều lệ trình Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ VI Thảo luận báo cáo của BCH Đảng bộ tỉnh về tổ chức thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XI
và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị nhiệm kỳ XII Bầu BCH Đảng bộ Tỉnh và đoàn Đại biểu đi dự đại hội Đảng VI
Đại hội bầu BCH Đảng bộ tỉnh khóa XII gồm 54 đồng chí chính thức
và 18 đồng chí dự quyết BCH bầu 15 đồng chí vào BTV tỉnh uỷ Đồng chí
Hà Trọng Hòa làm bí thư, đồng chí Quách Lê Thanh làm phó bí thư trực Đảng, đồng chí Hà Văn Ban làm phó bí thư phụ trách chính quyền
Với thái độ và phương pháp đánh giá tình hình của Đảng ta là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XII (10-1986) sau khi khẳng định những thành tựu đạt được trong những năm 1981-1985, đã mạnh dạn nêu lên thực trạng yếu kém về kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Thanh Hoá lúc bấy giờ; cũng như chỉ ra những nguyên nhân của nó Đặc biệt, Đại hội chỉ ra những sai lầm khuyết điểm của
công tác cán bộ là: “chưa có chủ trương kế hoạch cụ thể để tăng cường, đề
bạt cán bộ nữ và cán bộ xuất thân từ công nhân vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý Quan điểm xem xét đánh giá cán bộ còn bảo thủ và thiếu nhất quán
Trang 24Công tác quy hoạch cán bộ gắn liền với kế hoạch huấn luyện đào tạo, bồi dưỡng còn sơ sài, chưa ăn khớp, nhất là công tác quản lý cán bộ còn lỏng lẻo, chất lượng thấp” [14.72]
Từ đó, Đại hội khẳng định: “Đổi mới công tác cán bộ là yêu cầu tất yếu
khách quan và có tính chất quyết định, đảm bảo thực hiện thắng lợi đường lối cách mạng, nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh và công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn mới”[14.77] Về nội dung đổi mới công tác
cán bộ trong thời kỳ mới, Đại hội chỉ rõ: Trước hết phải đổi mới về quan điểm
đánh giá, nhận xét, phát hiện, lựa chọn, đề bạt cán bộ sao cho phù hợp với cơ cấu kinh tế - xã hội, phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý Khắc phục tư tưởng phong kiến, bảo thủ, cục bộ địa phương, cảm tình, định kiến cá nhân, thiên lệch trong công tác cán bộ Phải: "Từ lợi ích chung của cách mạng, từ chính sách cán bộ thống nhất cuả Đảng mà xem xét, lựa chọn, đối sử với cán
bộ công minh, vô tư, lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất và năng lực, lấy nhu cầu nhiệm vụ chính trị làm căn cứ để bố trí cán bộ" Đổi mới cán bộ có nghĩa là:" xây dựng một đội ngũ cán bộ có đủ kiến thức
và năng lực quản lý, có tư duy mới, có phong cách làm việc ngang tầm với nhiệm vụ mới Đồng thời bao hàm ý nghĩa trẻ hoá đội ngũ cán bộ” [14.77]
Về tài năng và phẩm chất cán bộ lãnh đạo và quản lý, Tỉnh uỷ Thanh Hoá xác định phải đảm bảo các tiêu chuẩn chủ yếu sau:
Có bản lĩnh chính trị vững vàng, đã được thử thách trong hoạt động thực tiễn, nắm vững và biết vận dụng sáng tạo đường lối chính sách của
Đảng, các nghị quyết của cấp uỷ, biết tính toán sản xuất và kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao, tuyệt đối trung thành và trung thực, luôn luôn đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân trên hết
Dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, năng động sáng tạo trên cơ sở nguyên tắc và ý thức tổ chức kỷ luật, không bảo thủ, không làm ẩu
Trang 25Có nếp sống gương mẫu, trong sáng, kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực, chống bè phái chia rẽ, bảo vệ chân lý, bảo vệ người tốt và đúng
Có phong cách làm việc tốt, có ý thức tập thể dân chủ, dám chịu trách nhiệm, đi sâu đi sát cơ sở và thực tiễn, gần gũi quần chúng, quan tâm đến con người, đoàn kết động viên được nhiệt tình, cách mạng của cán bộ đảng viên và quần chúng" [14.77,78]
Từ những tiêu chuẩn trên mà lựa chọn, bồi dưỡng, bố trí một đội ngũ cán bộ chủ chốt từ tỉnh đến cơ sở thật trong sạch vững mạnh
Đại hội còn nhấn mạnh: Các cấp uỷ, các ngành và đơn vị cơ sở phải tiếp tục bổ sung, điều chỉnh quy hoạch cán bộ, chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế tục phải được đặt lên thành nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của các tổ chức đảng Mở rộng các hình thức đào tạo bồi dưỡng dài ngày, ngắn ngày; nâng cao chất lượng dạy và học thông qua hệ thống trường đảng; các trường chuyên nghiệp để nâng cao trình độ lý luận, nghiệp vụ và phương pháp công
tác cho tất cả các loại cán bộ lãnh đạo và quản lý từ tỉnh đến cơ sở Chấn
chỉnh và nâng cao chất lượng công tác quản lý cán bộ Chuyển hướng xuống địa bàn chính là cơ sở Tăng cường công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết”
[14.79]
Đại hội đã tổng kết: Cán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc trong
tỉnh đã nâng cao tinh thần cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn phá hoại nhiều mặt của địch… “công tác xây dựng Đảng đã bám sát nhiệm vụ chính trị và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh, đấu tranh chống tiêu cực, đoàn kết nội bộ, tăng cường đội ngũ cán bộ chủ chốt từ Tỉnh đến cơ sở”.[61.232]
Đại hội xác định phương hướng và đưa ra khẩu hiệu hành động: nâng
cao năng lực lãnh đạo và ý trí cách mạng tiến công, đổi mới tư duy, đổi mới
tổ chức và cán bộ, tiếp cận tiến bộ khoa học hiện đại, thực hiện cơ chế quản
Trang 26lý mới, sáng tạo cách làm, đi lên với tốc độ nhanh, năng suất, chất lượng và hiệu quả cao [61.233]
Đại hội đã chỉ ra: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các
tổ chức cơ sở Đảng về tư tưởng, tổ chức, phong cách làm việc đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân và các hiện tượng tiêu cực trong cán bộ, đảng viên Đặc biệt phải đoàn kết nhất trí trong nội bộ Đảng, đề cao nguyên tắc tập trung dân chủ, ý thức tổ chức kỷ luật, đổi mới công tác cán bộ và phong cách làm việc
Sau Đại hội XII, Tỉnh uỷ Thanh Hoá còn có một số chỉ thị, nghị quyết nhằm tăng cường công tác cán bộ và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở
1.2.2 Quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã phường từ năm 1986 đến năm 1990 của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XII(1986) đã đánh giá đúng tình hình và đề ra chủ trương phù hợp về công tác cán bộ Chủ trương
đó vừa đáp ứng đúng yêu cầu của tình hình trong tỉnh lúc bấy giờ, vừa phù
hợp với nội dung đường lối đổi mới trong đó có nội dung “đổi mới đội ngũ
cán bộ, kiện toàn các cơ quan lãnh đạo và quản lý” mà Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) đã đề ra Đó chính là cái “mắt xích quan
trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng” [9.132]
Thời gian từ sau Đại hội XII của Tỉnh Đảng bộ, đặc biệt là từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cho đến nửa đầu năm 1988 là giai đoạn chuẩn bị các quá trình đổi mới trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội để thực hiện Nghị quyết Đại hội VI Nhưng cũng trong thời gian đó, Thanh Hoá gặp rất nhiều khó khăn: thiên tai liên tiếp xảy ra và gây thiệt hại rất nặng nề,
Trang 27phương hướng phát triển lúng túng, nhiều tiêu cực trong xã hội phát sinh, trật
tự an toàn xã hội cũng như tư tưởng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và quần chúng diễn biến phức tạp Phong trào quần chúng chưa đồng đều, quyền làm chủ tập thể của nhân dân vẫn chưa thật sự được tôn trọng và phát huy Hoạt động của các đoàn thể vẫn mang tính hành chính, chưa nắm vững tâm tư nguyện vọng và giải quyết thích đáng những yêu cầu của quần chúng Thêm vào đó, tình trạng mất đoàn kết nghiêm trọng và kéo dài trong Đảng bộ Thanh Hoá mà trước hết là ở các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của tỉnh
đã hạn chế khả năng và sự tập trung chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị đã
đề ra Sự mất đoàn kết nội bộ cùng với những sai sót khác ở Thanh Hoá lúc
bấy giờ “ đã gây nên tình hình thiếu ổn định, tâm trạng lo lắng, bực dọc, nghi
ngờ nhau trong không ít cán bộ, đảng viên, làm giảm lòng tin của đảng viên, quần chúng đối với sự lãnh đạo của Ban thường vụ Tỉnh uỷ và Tỉnh uỷ”[2]
Vì vậy, mặc dù đã có chủ trương đúng nhưng trong khoảng một năm kể
từ sau Đại hội XII của Đảng bộ tỉnh và Đại hội VI toàn quốc (1986), Đảng bộ Thanh Hoá chưa làm được nhiều cho nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung cũng như đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở nói riêng Sự tập trung chỉ đạo thực hiện những nhiệm vụ chính trị đã đề ra bị hạn chế
Được sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Đảng bộ Thanh Hoá đã tập trung tiến hành đợt kiểm tra sâu rộng trong toàn Đảng bộ nhằm làm rõ đúng – sai, khuyến khích phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng Ngày 1- 4 - 1987, Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã ra chỉ thị số 03/CT-TW về việc tăng cường tổ chức và nâng cao hiệu lực hoạt động thanh tra Trong bản chỉ thị đó, Thường vụ Tỉnh uỷ yêu cầu các cấp uỷ Đảng, chính quyền, thủ trưởng các ngành thực hiện tốt những việc sau:
1 Các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, thủ trưởng các ngành cần nhận thức
rõ: Thanh tra là một khâu không thể thiếu được trong công tác lãnh đạo - Tổ
Trang 28chức thanh tra là hình thức tổ chức của quần chúng để thực hiện quyền làm chủ tập thể của mình trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội
2 Về tổ chức: Thanh tra nhân dân phải được đặc biệt coi trọng, vì đây
là lực lượng chủ yếu, làm nòng cốt để thực hiện việc giám sát, kiểm tra thường xuyên, tại chỗ và từ cơ sở
Trưởng ban thanh tra nhân dân các đơn vị xã, phường, thị trấn phải do các đồng chí Thường vụ cấp uỷ hoặc Đảng uỷ viên phụ trách và là đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp
3 Về chỉ đạo hoạt động của thanh tra: Các cơ quan Thanh tra các cấp
từ tỉnh đến cơ sở phải đổi mới tư duy, cải tiến về tổ chức, đổi mới cách nghĩ, cách làm, chủ động, sáng tạo, bám sát cơ sở, trong hoạt động phải thật sự quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc” [33]
Tiếp đó ngày 9-5-1987, Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã ra chỉ thị số 05/CT-TW
về tăng cường lãnh đạo công tác kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, nhằm chủ động giúp đỡ, thúc đẩy tất cả các đảng viên tự giác chấp hành Điều
lệ - kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tư cách đảng viên, nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng phân công; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, hạn chế đến mức thấp nhất sai lầm khuyết điểm của đảng viên, bảo vệ được cán bộ, đảng viên, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, lập lại kỷ cương, củng cố kỷ luật trong Đảng và bộ máy Nhà nước, góp phần xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, thực hiện thắng lợi Nghị quyết
Đại hội VI và các nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ Chỉ thị nêu rõ: “Chú ý đổi
mới phương pháp kiểm tra là phải dựa vào tổ chức Đảng, phát động quần chúng và phát huy tự giác của đảng viên kết hợp với kiểm tra xác minh để xem xét được toàn diện, kết luận được khách quan, chính xác”[36]
Trang 29Ngày 12-7-1987, Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá ra nghị quyết số 08/ NQ-TW về công tác đảng viên, công tác chi bộ và đảng bộ cơ sở Nghị quyết nhận định: “Chi bộ và đảng bộ cơ sở có vị trí vô cùng quan trọng Đây là nơi trực tiếp lãnh đạo, tổ chức phân công hành động và kiểm tra thực hiện các mặt công tác của Đảng ở địa phương, đơn vị; là nơi giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên, xem xét thi hành kỉ luật những đảng viên sai phạm và lựa chọn, bồi dưỡng kết nạp những người ưu tú vào Đảng, là nơi gắn liền giữa Đảng và quần chúng
“Đối với đảng viên và cán bộ lãnh đạo ở chức vụ công tác nào phải hoàn
thành tốt nhiệm vụ công tác đó, ngoài ra phải phấn đấu trong thời gian nhất định đạt được một trình độ cao hơn để đáp ứng nhiệm vụ mới đòi hỏi Phải có trình độ tiếp thu nhanh nhạy đường lối chủ trương, chính sách, có khả năng
cụ thể hoá để vận dụng sát hợp vào đơn vị và tổ chức thực hiện có hiệu quả
Phải: tôn trọng và phát huy dân chủ nội bộ chống những biểu hiện ra
trưởng dùng chức quyền để lấn áp, đứng ngoài và đứng trên tổ chức” [35]
Ngày 18-8-1987, Tỉnh uỷ ra Nghị quyết 10-TW Trong phần “Những
biện pháp cấp bách để hoàn thành thắng lợi kế hoạch kinh tế – xã hội năm 1987” Nghị quyết chỉ rõ: “Thực hiện phong cách sâu sát cơ sở, trực tiếp truyền đạt chủ trương chính sách xuống dân, lắng nghe ý kiến và giải quyết ngay những đề nghị chính đáng của nhân dân Đấu tranh mạnh mẽ chống bệnh quan liêu"
Chính quyền tỉnh, huyện, xã phải: cải tiến lề lối làm việc, tăng cường
chức năng điều hành Nhà nước trong các vấn đề kinh tế - xã hội, đời sống,
Trang 30trật tự trị an Triển khai việc bồi dưỡng, tập huấn ngắn ngày về chức năng
nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân xã, phường Đảm bảo thực sự phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động trong thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước” [35]
Để thực hiện những chủ trương, biện pháp đã nêu trong các chỉ thị, nghị quyết nói trên, Đảng bộ Thanh Hoá quan tâm nhiều hơn đến chất lượng của chính quyền và năng lực, trình độ của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ Trong năm 1986 có 5860 cán bộ chủ chốt học các lớp trung cấp lý luận (cả tập trung và tại chức); thay 39 chủ tịch xã,
33 trưởng công an xã, 28 xã đội trưởng, 12 Bí thư đoàn thanh niên, 17 chủ tịch Hội phụ nữ xã Ngay sau Đại hội VII, thay 543 cấp uỷ viên ở 311 cơ sở nông thôn So với năm 1985, trong hai năm 1986 và 1987 cơ sở Đảng vững mạnh tăng từ 21,4% lên 22,7% rồi 25,3%; cơ sở yếu kém giảm từ 20,4% xuống còn 11,1% [45-47] Sang đầu năm 1987, các uỷ ban nhân dân xã, phường ở Thanh Hoá có tổng số là 3.733 uỷ viên, trong đó có 10% là cán bộ
nữ, cán bộ dưới 35 tuổi chiếm 41,9%, cán bộ có trình độ văn hoá phổ thông trung học 27,8%, trình độ chuyên môn trung cấp 10%, đại học 0,8% [46]
Cùng thời gian này, qua báo cáo của một số cơ quan có trách nhiệm, qua nhiều thư từ của cán bộ, đảng viên và báo trí phản ánh về tình hình tỉnh Thanh Hoá, và theo đề nghị của Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá, ngày 16-09-
1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định số 18/QĐ-TW thành lập Đoàn kiểm tra để giúp Ban Bí thư xem xét, kết luận một số vấn đề của tỉnh Thanh Hoá Ngày 8-03-1988, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra Thông báo
số 74/TB-TW “ Về việc kiểm tra một số vấn đề ở Thanh Hoá” Bản thông báo chỉ rõ nguyên nhân mất đoàn kết nội bộ ở Thanh Hoá, về tư tưởng: đó là chủ nghĩa cá nhân mang mầu sắc phong kiến, tiểu tư sản; về tổ chức: đó là sự
thiếu nhất trí và những khuyết điểm trong công tác cán bộ, trong việc chấp
Trang 31hành các nguyên tắc về tổ chức sinh hoạt đảng” [2] Thông báo này được phổ biến toàn văn đến các chi bộ ở Thanh Hoá Đây là kết quả quá trình đấu tranh giải quyết vấn đề nội bộ ở Thanh Hoá và mở ra một thời kỳ mới của Đảng bộ, đem lại lòng tin cho cán bộ, đảng viên, nhân dân trong tỉnh, là động lực mới cho Đảng bộ tiến lên
Như vậy, trong hơn một năm đầu của quá trình đổi mới, do hoàn cảnh cụ thể tương đối đặc biệt, Đảng bộ Thanh Hoá chưa làm được nhiều để đổi mới công tác cán bộ, đổi mới đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở Nhưng trong hoàn cảnh khó khăn đó, ban chấp hành tỉnh Đảng bộ cũng đã nhận thức rõ được vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đối với sự nghiệp cách mạng và yêu cầu bức thiết phải đổi mới công tác cán bộ trong thời
kỳ mới Những chỉ thị, Nghị quyết của Thường vụ Tỉnh uỷ và Tỉnh uỷ Thanh Hoá trong thời gian này đã là những định hướng ban đầu giúp cho công tác cán
bộ Tỉnh uỷ Thanh Hoá đi dần vào nề nếp trong những năm tiếp theo
Sau khi có thông báo 74/ TB-TW của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá đề ra kế hoạch thực hiện trong toàn Đảng bộ Tỉnh uỷ xác định việc thực hiện Thông báo là trách nhiệm của các cấp uỷ, phải chỉ đạo chặt chẽ, phân công cụ thể từng đồng chí phụ trách, đôn đốc từng mặt công tác Thường vụ tỉnh uỷ chịu trách nhiệm về tổ chức chỉ đạo thực hiện
Gắn việc thực hiện Thông báo 74/TB-TW với Nghị quyết 04 của Bộ chính trị, Nghị quyết 05/CT-TW, Thường vụ Tỉnh uỷ đã giành rất nhiều thời gian và công sức chỉ đạo Chỉ trong vòng 1 năm đã tổ chức 4 lần sơ kết, xem xét lại những việc đã làm, chưa làm được và quyết định các chủ trương, biện pháp tiếp theo Trong đợt triển khai thực hiện Thông báo 74/TB-TW, Đảng bộ Thanh Hóa cũng đã thực hiện một bước đổi mới trong Đại hội Đảng bộ cơ sở
và Đại hội huyện, thị Thường vụ Tỉnh uỷ nhận định rằng: Đại hội 2 cấp huyện và cơ sở là cơ hội tốt nhất, quan trọng nhất để tổ chức thực hiện Thông
Trang 32báo 74/TB-TW từ cơ sở, giải quyết vấn đề nhận thức, tư tưởng, tổ chức cán
bộ Thường vụ đã có kế hoạch chỉ đạo chặt chẽ, từ làm thí điểm để rút kinh nghiệm đến chỉ đạo mở rộng đều có sơ kết tại chỗ, kịp thời, để đảm bảo kết quả của Đại hội Đến đầu tháng 2-1989, các cơ sở Đảng đại hội xong
Đại hội đã quan tâm hơn trong việc bàn định mục tiêu, phương hướng
phát triển kinh tế và cơ chế “khoán hộ”, đã đưa nội dung Thông báo
74/TB-TW vào để thảo luận và đẩy lùi những sai lầm khuyết điểm từ cơ sở Qua đại hội, cấp uỷ cơ sở được kiện toàn và đổi mới 38,2%, tuổi đời bình quân của cấp uỷ viên là 38,5% giảm được 1,4% Tuy nhiên, việc thảo luận đổi mới về cán bộ chưa sâu sắc, số cấp uỷ viên là nữ giảm, nhất là cán bộ ở miền núi (54,1%
số đảng bộ xã không có cấp uỷ viên là nữ), tỷ lệ các bộ chủ chốt nguyên là cán bộ hưu trí còn cao (huyện Quảng xương 47%, huyện Tĩnh Gia 32% )
Để làm tốt hơn công tác cán bộ đối với cấp cơ sở, Thường vụ Tỉnh uỷ
chủ trương phải: “Tổng kết đại hội cơ sở và huyện, xây dựng quy hoạch các
bộ theo nội dung Nghị quyết 05 - TW, thực hiện chặt chẽ quy trình đánh giá, đào tạo, đề bạt, xử lý cán bộ công khai, dân chủ, không để len lỏi chủ nghĩa
cá nhân, không để tồn đọng quá lâu, quá nhiều cán bộ chờ bố trí công tác gây
ra tình trạng bối rối và co cụm mới” [39]
Bước sang năm 1989, ở Thanh Hoá thiên tai xảy ra liên tiếp, đặc biệt là hai cơn bão số 6 và số 9 đã gây thiệt hại nặng nề và để lại hậu quả rất nghiêm trọng; tình hình tổ chức sau Thông báo 74/TB-TW còn phức tạp; các cơ chế mới đang được vận hành nhưng gặp nhiều lúng túng trong khi các chính sách tài chính, tín dụng thay đổi nhiều lần càng gây khó khăn cho sản xuất và kinh doanh Những diễn biến phức tạp trên thế giới có tác động lớn đến tư tưởng trong Đảng và nhân dân Trong tình hình đó, Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã coi trọng
và chỉ đạo công tác một cách liên tục và tích cực
Công tác tuyên truyền bước đầu đã có sự đổi mới, đã tập trung tổ chức quán triệt các Nghị quyết của Trung ương và của Tỉnh uỷ Tổ chức thông tin
Trang 33kịp thời tình hình thời sự quốc tế, trong nước và các diễn biến trong tỉnh cho cán bộ, đảng viên và quần chúng; phối hợp với các đoàn thể và các nghành tổ chức cho quần chúng học tập và thảo luận các bộ luật mới của Nhà nước, tuyên truyền kịp thời và có chất lượng hơn các chủ trương của cấp uỷ và chính quyền địa phương, nên đã bước đầu giải đáp được một phần tâm trạng băn khoăn của quần chúng, từng bước củng cố được lòng tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo được sự nhất trí cao đối với quan điểm đổi mới của Đảng
Riêng khu vực trung du và miền núi Thanh Hóa có nhiềm tiềm năng rất lớn về đất đai, rừng núi khoáng sản, là địa bàn quan trọng về quốc phòng, an ninh và môi trường sống Trong nhiều năm qua, Đảng bộ và đồng bào các dân tộc ở Thanh Hoá đã nổ lực rất lớn khắc phục nhiều khó khăn, thực hiện cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng phát triển kinh tế văn hoá, vận động định canh định cư, tiến hành sản xuất, đảm bảo đời sống, phát triển sự nghiệp văn hoá xã hội Hệ thống giáo dục phổ thông cơ sở, trạm y tế được xây dựng đến các xã Đời sống của đồng bào dân tộc đang được cải thiện từng bước Trong quá trình đó, Đảng bộ Thanh Hoá đã đào tạo, bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ ở miền núi ngày càng đông và trưởng thành, đang vươn lên trong công cuộc đổi mới chung của Đảng Bộ
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế, xã hội ở miền núi Thanh Hoá cũng còn nhiều khuyết điểm như: Tài nguyên của núi rừng ngày càng giảm sút nghiêm trọng; đất trồng đồi núi trọc ngày càng nhiều, vốn rừng, rừng đặc sản bị huỷ hoại; nguồn khoáng sản chưa được khai thác, đặc biệt là vàng sa khoáng bị mất dần; tán che của rừng bị giảm xuống dưới mức bình thường Tình hình đó
đã và đang gây ra hậu quả rất nghiêm trọng làm mất cân bằng sinh thái, làm xói mòn đất và khí hậu trở nên khắc nghiệt, nguồn nước bị khô cạn, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân Nhiều sản phẩm chủ yếu bị sa
Trang 34sút như: luồng, gỗ, quế, cánh kiến Nhiều ngành nghề truyền thống của các dân tộc bị mai một như trồng gai lấy sợi, trồng bông dệt vải, dệt thổ cẩm
Hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản rất thấp Vốn bỏ ra nhiều nhưng diện tích rừng mới không tăng Rừng trồng không được bảo vệ, sản phẩm khai thác giảm, sản phẩm của các nông, lâm trường vùng kinh tế mới không tương xứng với quy mô đất đai, lao động, vốn đầu tư máy móc và thiết bị Nhiều cơ sở kinh tế nặng về hình thức Nhiều điểm định canh định cư phải trở lại du canh du cư đốt phá rừng làm rẫy
Đời sống vật chất và văn hoá của đồng bào các dân tộc, nhất là vùng cao xa xôi hẻo lánh vẫn còn nhiều khó khăn Nhiều nhu cầu thiết yếu như lương thực, vải mặc muối ăn, thuốc chữa bệnh, dầu thắp Thường xuyên thiếu thốn Nạn mù chữ và sốt rét tái diễn ở nhiều nơi và có chiều hướng gia tăng [38]
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết vẫn là những nguyên nhân chủ quan, nhất là đội ngũ cán bộ Tại Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ ngày 5-10-1989, Tỉnh uỷ và Thanh Hoá đã nêu lên mấy nguyên nhân chủ yếu sau:
Phương hướng sản xuất của các vùng, các đơn vị chưa được xác định đúng, nặng về tự túc tự cấp, kinh tế hàng hoá phát triển chậm, chưa đi vào thế mạnh của từng vùng và kinh tế vùng chưa gắn chặt kinh tế quốc doanh với kinh tế tập thể và kinh tế gia đình
Việc tổ chức sản xuất, cải tiến quản lý không sát với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng và trình độ của từng cán bộ Các chính sách kinh tế- xã hội đối với đồng bào các dân tộc chưa được quan tâm, thường giản đơn rập khuôn đồng loạt theo cách tổ chức quản lý hợp tác xã của đồng bằng; các nông, lâm trường tách rời với xã hội trên địa bàn dân cư
Trang 35Sự hiểu biết về quản lý kinh tế và sản xuất hàng hoá của cán bộ còn nhiều hạn chế, một số còn tự tin, trông chờ, thiếu vươn lên để tiếp nhận công cuộc đổi mới của Đảng
Tổ chức bộ máy của huyện và cơ sở vừa cồng kềnh vừa hình thức rập khuân Vai trò tham mưu quản lý điều hành rất hạn chế, gây nhiều trì trệ trong việc triển khai thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng
Từ đó, Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã rút ra kết luận rằng: Đổi mới cơ chế quản
lý ở trung du miền núi không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn phải gắn với vấn đề
xã hội, với chính sách dân tộc của Đảng Động lực của quản lý chỉ có thể phát
huy khi nó gắn liền với việc đổi mới chính sách xã hội, tăng cường bồi dưỡng đào tạo cán bộ, đổi mới tổ chức chỉ đạo thực hiện của các cấp, các ngành trong tỉnh Phải cải tiến tăng cường một bước hệ thống bộ máy tổ chức đội ngũ cán bộ và phương pháp chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở đảm bảo cho các chủ trương chính sách của Đảng Tổ chức bộ máy phải gọn nhẹ, có hiệu lực và phù hợp với trình độ tổ chức sản chính quyền xã; phát huy dân chủ của nhân dân, giáo dục nhân dân tự giác chấp hành các luật xuất, điều kiện kinh tế - xã hội của trung du miền núi Tỉnh uỷ chủ trương ở cơ sở cần: xây dựng các chòm, bản thành đơn vị quản lý hành chính chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ ban nhân dân xã Mỗi chòm bản có 1-2 biên chế quản lý hành chính kinh tế và
xã hội Người và phụ cấp do dân bàn và Hội đồng nhân dân xã chuẩn y
Phát huy hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội ; xây dựng tình đoàn kết của dân tộc, xây dựng bản làng, xã an toàn làm chủ
Tăng cường công tác Đảng bộ, chi bộ, phát triển đảng viên mới và phát huy vai trò các tổ chức quần chúng
Tổ chức cơ sở Đảng ở nông thôn, miền núi, và các đơn vị hoạt động ở miền núi có trách nhiệm lãnh đạo trực tiếp sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hộ
Trang 36ở trung di miền núi Phải xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh thực sự là nòng cốt của công cuộc đổi mới
Tập trung xây dựng các chi bộ nông thôn miền núi theo chòm bản và ngành nghề” [38]
Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ cơ sở lên một bước, trong năm 1989, tỉnh Thanh Hoá đã mở được 51 lớp huấn luyện cho 3.684 đảng viên mới; 58 lớp trung, sơ cấp lý luận cho 1.830 học viên; 7 lớp bồi dưỡng tại chức Có 5 huyện đã mở được lớp bồi dưỡng theo 8 chuyên
đề cho cán bộ cốt cán của xã và các ngành của huyện, đã góp phần tích cực nâng cao trình độ hiểu biết và năng lực công tác cho cán bộ cốt cán của xã và các ngành của huyện, đã góp phần tích cực nâng cao trình độ hiểu biết và năng lực công tác cho cán bộ
Tỉnh cũng đã tiến hành đợt khảo sát nghiên cứu ở 18 đơn vị cơ sở ở cả vùng núi, ven biển và thành thị gồm: 7 đơn vị xã, phường, 4 cơ sở sản xuất kinh doanh, 7 cơ quan hành chính sự nghiệp Kết quả cho thấy là: số cán bộ chủ chốt ở 7 xã, phường và 4 đơn vị sản xuất kinh doanh hoàn thành tốt nhiệm vụ được quần chúng tín nhiệm đạt 86,36%; ở 7 cơ quan hành chính sự nghiệp là 93,75% Số bị hạn chế ở xã, phường và 4 đơn vị sản xuất kinh doanh là 13,6% và ở 7 đơn vị hành chính sự nghiệp là 6,25% [49] Nhìn chung năng lực cán bộ chủ chốt ở cơ sở còn hạn chế nhiều mặt Một bộ phận cán bộ còn thiếu gương mẫu, chưa thực sự lo lắng đến công việc chung, còn nặng vun vén cá nhân, đặc quyền, đặc lợi, việc gì mình có lợi thì hăng hái, việc gì không kiếm được lợi thì đùn đẩy Đại bộ phận cán bộ không thích làm công tác Đảng
Như vậy, qua 2 năm thực hiện Thông báo 74/TB-TW, mặc dù còn nhiều khó khăn do những vấn đề cũ đọng lại và những vấn đề mới phát sinh, việc giải quyết phải có thời gian nhưng được sự quan tâm chỉ đạo của Ban Bí thư,
Trang 37Đảng bộ Thanh Hoá đã phát huy được truyền thống cách mạng, nêu cao ý chí phấn dấu vượt qua nhiều khó khăn, các mặt công tác đang ổn định dần và phát triển
Sang đầu năm 1990 những biến động lớn trên thế giới và sự thay đổi về
cơ chế quản lý kinh tế - xã hội lại làm xuất hiện những tiêu cực mới: Một số cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí chiến dấu và nhiệt tình cách mạng, trong đó
có đảng viên thoái hoá về chính trị, biểu hiện: không tha thiết với lý tưởng, hành động trái với nguyên tắc Đảng, lời nói không đi đôi với việc làm, vô ý thức tổ chức kỷ luật, tuyên truyền quan điểm cá nhân trái với quan điểm, nghị quyết của Đảng Một số khác gây bè phái, cục bộ, gây mất đoàn kết, mất ổn định cơ sở Có cả những đảng viên theo đuôi quần chúng làm những việc trái
với nguyên tắc Đảng và pháp luật của Nhà nước Dẫn đến tình trạng: "Một bộ
phận đảng viên thiếu trách nhiệm trước quần chúng; làm ngơ trước yêu cầu chính đáng và hợp pháp của quần chúng; thậm chí xâm phạm quyền dân chủ của quần chúng, ức hiếp quần chúng, bị quần chúng oán giận, không tin cậy Một bộ phận cán bộ, đảng viên lợi dụng sơ hở của cơ chế mới, sự lỏng lẻo về quả lý đã tham nhũng làm giàu bất chính bằng nhiều thủ đoạn, số này tuy ít nhưng đã ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng” [40]
Tỉnh uỷ Thanh Hoá đã nhận thức rằng nếu các khuyết điểm trên không kịp thời được khắc phục và Đảng không tự đổi mới mình thì sẽ không đảm bảo vai trò lãnh đạo và không thể thúc đẩy được công cuộc đổi mới tiến lên
Vì vậy, ngày 10-7-1990, Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ đã ra Nghị quyết
số 24/NQ-TW về thực hiện cuộc vận động “Tăng cường củng cố tổ chức cơ
sở Đảng, làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ đảng viên” Đây là cuộc vận động lớn ở tỉnh Thanh Hoá lúc bấy giờ nhằm đem lại
sức sống mới cho Đảng bộ, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, kiện toàn lại đội
Trang 38ngũ cán bộ cơ sở, thúc đẩy công cuộc đổi mới, chuẩn bị tốt nhất cho Đại hội Đảng bộ các cấp
Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 24/NQ-TW được chia làm 4 bước và dự kiến sẽ được hoàn thành vào tháng 12- 1990
Bước 1: Tổ chức phổ biến, nghiên cứu, quá triệt Nghị quyết của Tỉnh
uỷ, các chỉ thị, nghị quyết hướng dẫn ở phần nội dung kế hoạch trong toàn đảng bộ, chi bộ và nhân dân, từ đó mà nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm xây dựng Đảng, nhằm củng cố tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên
Bước 2: phát động quần chúng tham gia ý kiến xây dựng Đảng, phê
bình cán bộ, đảng viên
Bước 3: Tiến hành kiểm điểm tự phê bình, phê bình cán bộ, đảng viên Bước 4: Thực hiện thủ tục và chính sách xử lý đảng viên phạm sai lầm
khuyết điểm
Cuộc vận động “Tăng cường củng cố tổ chức cơ sở Đảng, làm trong
sạch và nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ cán bộ, đảng viên” ở Thanh Hoá
đã diễn ra từ tháng 7-1990 cho đến đầu năm 1991, và gắn liền với việc kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng Tính đến cuối tháng 12-1990 có 1.170
cơ sở Đảng làm xong, chiếm 63% tổng số cơ sở Đảng Theo báo cáo của 970
cơ sở Đảng đã làm xong thì có 77.603/79.794 đảng viên dự phân loại, chiếm 96,6%, trong đó:
Loại 1: 36.328 người = 47,7% (trong đó có 10 -15% được biểu dương) Loại 2: 36.394 người = 48% Trong đó diện phải xử lý là
14.239 người = 48,4% của loại 2
Loại 3: 386 người = 4,24%
Việc thực hiện Nghị quyết 24 đã làm trong sạch một bước đội ngũ cán
bộ, đảng viên, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, củng cố được lòng tin của
Trang 39quần chúng đối với Đảng Đi đôi với củng cố chính quyền xã, các huyện đã xây dựng tổ chức quản lý xã hội trên địa bàn toàn thôn, xóm, làng, bản Điều đáng chú ý là qua việc thực hiện Nghị quyết 24 cho thấy tính chiến đấu, tinh thần đấu tranh ở Đảng bộ, chi bộ nông thôn tỏ ra mạnh hơn, tốt hơn ở cơ quan, xí nghiệp, trường học, thể hiện trong việc tự phê bình, phê bình, phân loại, xử lý Chẳng hạn đảng viên loại 1 ở cơ sở nông thôn, nơi thấp đạt 28%, trong khi đó khối cơ quan nơi thấp là 60-70%, nơi cao đạt 100% Điều này là không phù hợp với thực tế
Về công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trong những năm 1986-1990, Thanh Hoá đã có những cố gắng và có sự tìm tòi cải tiến nội dung đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn ở cơ sở ở thời kỳ này học viên về trường Đảng tỉnh được chia thành 3 lớp học theo 3 chức danh chủ chốt ở cơ sở lúc bấy giờ là: Bí thư Đảng uỷ xã, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, và Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp Những học viên nào khi đi học đang làm công tác Đảng ở cơ sở hoặc dự nguồn cán bộ Đảng thì được xếp vào lớp Bí thư; những học viên nào đang làm công tác chính quyền hoặc dự nguồn cán bộ chính quyền thì vào lớp Chủ tịch; học viên nào đang làm Chủ nhiệm, Phó chủ nhiệm hợp tác xã thì vào lớp chủ nhiệm Và như vậy ngoài phần lý luận chung được coi là phần cứng của chương trình đào tạo thì các lớp Bí thư sẽ được học kỹ hơn về môn xây dựng Đảng và nghiệp vụ công tác Đảng; các lớp Chủ tịch
sẽ học kỹ hơn về môn Quản lý Nhà nước; các lớp chủ nhiệm là môn quản lý kinh
Trang 40Tuy nhiên sau 5 năm thực hiện, mô hình đào tạo theo chức danh tỏ ra không thích hợp, bởi vì cán bộ cơ sở là do dân bầu và được phân công theo từng nhiệm kỳ, do đó có người học về nhưng không trúng cử nên không tham gia công tác gì, có người học lớp Bí thư nhưng lại được phân công làm Chủ tịch hoặc Chủ nhiệm v.v và v.v Vì vậy đến khoá học 1989-1990 trường Đảng tỉnh lại đào tạo cán bộ có trình độ trung cấp lý luận nói chung mà không đào tạo theo chức danh nữa Nhưng có một điều đáng lưu ý là dù đào tạo theo chức danh hoặc không theo chức danh thì suốt trong thời kỳ này ở nhiều trường Đảng tỉnh, Thành trong cả nước gặp khó khăn về khâu chiêu sinh thì trường Đảng tỉnh Thanh Hoá, và sau đó là trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá luôn chiêu sinh đủ đối tượng, đúng kế hoạch Số học viên trung cấp lý luận học tập trung tại trường luôn luôn có khoảng 200-250 người/năm Ngoài ra hàng năm vẫn luôn luôn có từ 5-7 lớp trung cấp lý luận tại chức và trung cấp Quản lý Nhà nước hệ tại chức mở tại các huyện với số học viên từ 500-700 người Điều đó góp phần đáng kể cho việc nâng cao trình độ lý luận, trình độ nhận thức, tư tưởng và trình độ nghiệp vụ Quản lý Nhà nước cho cán bộ, đảng viên cơ sở, và có ý nghĩa tạo nguồn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt
Kể từ khi có Thông báo 74/TB-TW của Ban bí thư Trung ương Đảng thì tình hình Thanh Hoá mới dần dần đi vào thế ổn định, Đảng bộ Thanh Hoá mới quan tâm được nhiều hơn đến đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở Nhưng cũng giống như nhiều địa phương khác trong cả nước, ở thời kỳ này công tác quy hoạch cán bộ ở Thanh Hoá còn chưa thật sự khoa học, chưa đi vào nề nếp, còn chủ yếu dựa vào đội ngũ sẵn có mà bố trí, sắp xếp, thay thế khi hết nhiệm kỳ của cấp uỷ và của cán bộ tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở Nguồn cán bộ thì dựa vào số bộ đội, thanh niên xung phong về, và thậm chí là
cả số cán bộ viên chức đã nghỉ về chế độ Việc phát hiện chọn nguồn từ xa mang tính chiến lược lâu dài còn chưa được quan tâm đúng mức Quy hoạch