Thông qua việc nghiên cứu, có thể đánh giá những ưu điểm cũng như những hạn chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo quan hệ Việt Nam với ASEAN; từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và mộ
Trang 1ĐÀO DUY TÙNG
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI ASEAN
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2018
Trang 2ĐÀO DUY TÙNG
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI ASEAN
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số : 60.22.03.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐÀO THỊ BÍCH HỒNG
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2018
Trang 3Tiến sĩ Đào Thị Bích Hồng Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 6 năm 2018 Tác giả luận văn
Đào Duy Tùng
Trang 4Nhân văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - nơi đã trang bị cho tôi những kiến thức khoa học trong quá trình học tập nâng cao trình độ và nghiên cứu khoa học của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đào Thị Bích Hồng - người đã thường xuyên hướng dẫn, giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thư viện Trường đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố hồ Chí Minh; Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh và các tác giả với các công trình đã công bố có liên quan đến đề tài luận văn tôi thực hiện Đây là nơi cung cấp những tư liệu quan trọng trong quá trình tôi thực hiện đề tài luận văn của mình
Cuối cùng, tôi xin gửi tới gia đình, cơ quan công tác, đồng nghiệp và bạn bè lời biết ơn sâu sắc đã luôn tạo mọi điều kiện, khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 6 năm 2018 Tác giả luận văn
Đào Duy Tùng
Trang 5Trang
MỞ ĐẦU……… 1
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Tình hình nghiên cứu……… 3
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu……… 11
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 13
5 Nguồn tư liệu thực hiện luận văn……… 13
6 Đóng góp của luận văn……… 14
7 Bố cục của luận văn……… 14
Chương 1: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI ASEAN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005……… 16
1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam………
16 1.1.1 Tình hình thế giới và khu vực……… 16
1.1.2 Quan hệ của Việt Nam trước năm 2001……… 23
1.2 Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với ASEAN 28
1.2.1 Chủ trương của Đảng……… 28
1.2.2 Quá trình thực hiện chủ trương của Đảng……… 34
Tiểu kết chương 1……… 58
Chương 2: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI ASEAN TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015………
59 2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam… 59 2.1.1 Tình hình thế giới và khu vực……… 59
2.1.2 Tình hình Việt Nam……… 64
2.2 Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển quan hệ của Việt Nam với ASEAN……… 66
2.2.1 Chủ trương của Đảng……… 66
2.2.2 Quá trình thực hiện chủ trương của Đảng……… 73
Tiểu kết chương 2……… 102
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT, KINH NGHIỆM VÀ KIẾN NGHỊ……… 103
Trang 63.2 Một số kinh nghiệm và kiến nghị……… 111
3.2.1 Một số kinh nghiệm……… 111
3.2.2 Một số kiến nghị……… 126
Tiểu kết chương 3……… 131
KẾT LUẬN……… 132
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 134
PHỤ LỤC……… 144
Trang 72 ACMECS
Ayeyarwady Chao Phraya MeKong Economic Cooperation Strategy
-Tổ chức Chiến lược hợp tác kinh
tế gồm 5 nước: Campuchia, Lào, Mianma, Thái Lan và Việt Nam
3 ADMM+ ASEAN Defence Ministerial
Meeting Plus
Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng
ASEAN mở rộng
4 AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
5 AIA ASEAN Investment Area Khu vực đầu tư ASEAN
6 AIPO ASEAN Inter-Parliamentary
Organization Tổ chức Liên nghị viện ASEAN
7 AMM ASEAN Ministerial Meeting Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao
10 ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn Khu vực ASEAN
11 ASC ASEAN Securyty
Community Cộng đồng An ninh ASEAN
12 ASEAN+1 ASEAN Plus One Hợp tác giữa ASEAN và một
bên đối thoại
13 ASEAN+3 ASEAN Plus Three Hợp tác giữa ASEAN và Trung
Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc
14 ASEAN+6 ASEAN Plus Six
Hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn
Độ, Ôxtrâylia, Niu Dilân
15 ASEM Asia - Europe Meeting Diễn đàn Hợp tác Á - Âu
Trang 817 CEPT Common Effective Preferential Tariff Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
18 COC Code of Conduct Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông
19 CLMV Cambodia, Laos, Myanmar, Vietnam
Cơ chế hợp tác 4 nước Campuchia, Lào, Mianma, Việt
Nam
20 CLV Cambodia, Laos, Vietnam Cơ chế hợp tác 3 nước
Campuchia, Lào, Việt Nam
21 DOC
Declaration on Conduct of the Parties in the Bien Dong
Sea
Tuyên bố về ứng xử của các bên
ở Biển Đông
22 EAS East Asia Summit Hội nghị cấp cao Đông Á
23 PMC Post Ministerial Conferences Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng
Ngoại giao ASEAN
24 TAC Treaty of Amity and
Cooperation
Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác
ở Đông Nam Á
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối ngoại là một trong những lĩnh vực trọng yếu để tăng cường sức mạnh của quốc gia Thực hiện tốt công tác đối ngoại không những tạo môi trường quốc tế thuận lợi mà còn tận dụng được những nguồn lực to lớn phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đông Nam Á là một khu vực có vị trí địa lý rất quan trọng trên trục lộ giao thông hàng hải quốc tế, là của ngõ nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nối liền các nước Tây Âu và Đông Á, … Ngay từ xa xưa, nơi đây đã trở thành một trong những trung tâm thương mại, trung chuyển hàng hóa sầm uất trên thế giới
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945), nhiều nước Đông Nam Á giành được độc lập đã có ý định thành lập một tổ chức khu vực nhằm tạo sự hợp tác, phát triển trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa Với mục tiêu cơ bản là đảm bảo ổn định, an ninh và phát triển của toàn khu vực Ngày
08 tháng 8 năm 1967, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (gọi tắt là ASEAN) được thành lập Khi mới ra đời, tổ chức này chỉ có 5 nước thành viên là Thái Lan, Xingapo, Inđônêxia, Malaixia và Philíppin Trong thời gian hơn 50 năm phát triển, ASEAN từ Hiệp hội của các quốc gia nghèo và chậm phát triển đã trở thành khu vực năng động của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Hiện tại ASEAN trở thành đối tác giàu tiềm năng của nhiều nước và tổ chức quốc tế
Ngày 28 tháng 7 năm 1995, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 28 diễn ra ở Brunây đã chính thức kết nạp Việt Nam thành thành viên thứ 7 của
tổ chức này Đây được xem là cột mốc quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ Việt Nam - ASEAN Kể từ đây, quan hệ giữa Việt Nam và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á sẽ bước sang một trang mới với nhiều cơ hội cũng như thách thức trong quá trình hội nhập, phát triển Mối quan hệ này không chỉ tác động
to lớn đến sự phát triển của Việt Nam mà còn với tất cả các quốc gia là thành viên của ASEAN cũng như trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nói chung
Trang 10Với những biến đổi nhanh chóng của nền chính trị thế giới và khu vực, hiện nay Đảng và Nhà nước đã nhận thức một cách sâu sắc rằng, để có môi trường quốc tế hòa bình, ổn định đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước đòi hỏi phải xây dựng được mối quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng và khu vực Do vậy, Đảng đã đổi mới tư duy đối ngoại, vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh “thêm bạn, bớt thù”, từng bước hình thành và triển khai chính sách đối ngoại
rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, ưu tiên cho việc củng cố, cải thiện quan hệ với các quốc gia láng giềng và khu vực trong đó có ASEAN
Là thành viên của Hiệp hội, Việt Nam ngày càng tham gia một cách chủ động và tích cực vào mọi hoạt động của ASEAN Từ đó, Việt Nam đã có nhiều đóng góp đối với sự phát triển các lĩnh vực hợp tác của ASEAN với các quốc gia trong khu vực cũng như các đối tác trên thế giới Tuy nhiên, bên cạnh những mặt
đã đạt được, Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế trong quá trình hợp tác với ASEAN như: những hợp tác kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của đất nước chưa có sự đột phá trong quá trình phát triển; Việt Nam đang thiếu hụt về nguồn nhân lực; vị thế của Việt Nam chưa thực sự tương xứng với thế và lực của đất nước, v.v
Chính vì vậy, việc nghiên cứu quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với các nước ASEAN là việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn Thông qua việc nghiên cứu, có thể đánh giá những ưu điểm cũng như những hạn chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo quan hệ Việt Nam với ASEAN; từ
đó rút ra những bài học kinh nghiệm và một số kiến nghị trong việc giải quyết quan
hệ với các nước trong khu vực; đồng thời, giúp những nhà hoạch định có thêm cơ sở khoa học để tiếp tục hoàn thiện đường lối, chính sách đối ngoại nhằm đưa Việt Nam hội nhập sâu, rộng với các nước trong khu vực và trên thế giới Mặt khác, luận văn cung cấp thêm một số tư liệu về quan hệ của Việt Nam với ASEAN nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy các bộ môn liên quan trong nhà trường
Từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với ASEAN từ năm 2001 đến năm 2015” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam
Trang 112 Tình hình nghiên cứu
Do vị trí địa lý và vai trò vô cùng quan trọng của mình nên Đông Nam Á nói chung, ASEAN nói riêng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều ngành khoa học khác nhau Đặc biệt, kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN, nhiều cơ quan chuyên môn nghiên cứu chuyên về Đông Nam Á, ASEAN, quan hệ Việt Nam với ASEAN như Viện nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Vụ ASEAN thuộc Bộ Ngoại giao, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trung tâm nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á thuộc Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh), Học viện Quan hệ quốc tế, … và một
số tổ chức cá nhân đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố Có thể chia thành các nhóm tư liệu sau:
- Các công trình nghiên cứu về ASEAN: Các công trình này là những tài liệu
cung cấp cho tác giả những vấn đề chung nhất của ASEAN như: Quá trình thành lập ASEAN; những thành tựu và hạn chế trong thời gian tồn tại cũng như những xu hướng và thách thức mà ASEAN gặp phải trong thời gian tới; quá trình hội nhập ASEAN của các quốc gia thành viên; quan hệ giữa các quốc gia thành viên trong ASEAN; quan hệ của ASEAN với các nước ngoài khu vực; kinh nghiệm hội nhập khu vực của một số quốc gia thành viên ASEAN; …v.v Một số công trình tác giả
đã tiếp cận như:
“Quan hệ đối ngoại của các nước ASEAN” [91] là công trình nghiên cứu của tác
giả Nguyễn Xuân Sơn Nội dung làm rõ quan hệ ngoại giao của các nước ASEAN với các quốc gia bên ngoài ASEAN và quan hệ của các nước ASEAN với nhau
“Tiến tới một ASEAN hòa bình, ổn định và phát triển bền vững” [86] của tác
giả Nguyễn Duy Quý là một công trình nghiên cứu tương đối toàn diện và hệ thống
về ASEAN: phân tích quá trình thành lập ASEAN, các thành tựu và tồn tại của Hiệp hội sau ba thập niên phát triển, đề cập các vấn đề khắc phục khủng hoảng tài chính, tiền tệ (1997 - 1998) để có thể phát triển bền vững
Trang 12“Kinh tế các nước Đông Nam Á: thực trạng và triển vọng” [95] là công trình
nghiên cứu của hai tác giả đồng chủ biên Phạm Đức Thành và Trương Duy Hòa Công trình nghiên cứu đã khái quát kinh tế các nước ASEAN trong những thập niên qua cũng như xu hướng phát triển kinh tế khu vực Đông Nam Á những năm tới Tiếp đến, các tác giả làm rõ thực trạng và triển vọng phát triển kinh tế của từng nước Đông Nam Á
“Sự hình thành chủ nghĩa khu vực ASEAN” [15] của tác giả Nguyễn Ngọc
Dung Trên cơ sở khái luận về chủ nghĩa khu vực, tác giả tiếp cận sự hình thành chủ nghĩa khu vực của ASEAN từ một chỉnh thể khu vực địa lý - văn hóa - lịch sử; từ bình diện địa - chính trị; từ bình diện địa - kinh tế; từ bình diện an ninh khu vực Cuối cùng, tác giả dự báo những cơ hội và thách thức của chủ nghĩa khu vực ASEAN trong thời gian sắp tới
“Hội nhập kinh tế khu vực của một số nước ASEAN” [45] của tác giả Nguyễn
Thị Hiền Trên cơ sở trình bày một số vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả đã làm rõ quá trình hội nhập kinh tế khu vực của ba nước Xingapo, Thái Lan và Philíppin Từ đó, tác giả nêu lên triển vọng hội nhập kinh tế khu vực và một số kinh nghiệm hội nhập kinh tế khu vực của ba nước Xingapo, Thái Lan và Philíppin
“Liên kết ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hóa” [59] do tác giả Trần Khánh
chủ biên đã trình bày sự hình thành và tiến triển của ASEAN qua các giai đoạn; tác động của toàn cầu hóa đến liên kết ASEAN và sự thích ứng của ASEAN trước toàn cầu hóa Đồng thời, trên cơ sở đánh giá chung về thực trạng liên kết ASEAN trong hơn ba thập niên qua, tác giả đã đưa ra một số dự báo về những triển vọng liên kết ASEAN và một vài suy nghĩ ban đầu
“Những vấn đề chính trị kinh tế Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI” [60]
của tác giả Trần Khánh đã phân tích những vấn đề nóng bỏng tạo nên diện mạo và xu hướng phát triển của Đông Nam Á hiện nay Xem xét Đông Nam Á trong vòng xoáy chiến lược được tạo nên bởi xu thế toàn cầu hóa và sự thay đổi địa chính trị khu vực, quá trình hợp tác trên nhiều cấp độ đa phương, khu vực, song phương; trên các lĩnh vực chính trị và kinh tế đã cho thấy thực tiễn những chuyển động khá phức tạp của
Trang 13ASEAN Từ những cơ hội và thách thức đối với khu vực và từng nước, tác giả đã làm nổi bật nhu cầu cần phải cải cách và đẩy mạnh hội nhập sâu rộng hơn nữa nhằm tạo lập khu vực Đông Nam Á hòa bình, ổn định, năng động và có tính cạnh tranh cao
“35 năm ASEAN hợp tác và phát triển” [84] của tác giả Nguyễn Trần Quế
Nội dung tác phẩm bao gồm những vấn đề về hợp tác và phát triển của ASEAN trong vòng 35 năm: hợp tác về thương mại, công nghiệp và du lịch; hợp tác về nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, kinh tế và quản lý hành chính nhà nước; hợp tác vì sự tiến bộ
xã hội; hợp tác quốc tế Tác giả còn dự báo xu hướng hợp tác và phát triển của ASEAN trong những thập niên đầu thế kỷ XXI Đồng thời tác giả còn khái quát quan hệ Việt Nam - ASEAN trong thời gian qua
“ASEAN: Từ Hiệp hội đến Cộng đồng - Những vấn đề nổi bật và tác động
đến Việt Nam” [20] của tác giả Nguyễn Duy Dũng Tác giả đã đánh giá quá trình
hình thành và xây dựng Cộng đồng ASEAN Trên cơ sở đó phân tích những vấn đề nổi bật trong quá trình chuyển từ Hiệp hội (ASEAN) sang Cộng đồng (AC) và nêu những triển vọng thực hiện Cộng đồng ASEAN đến năm 2020 và tác động chủ yếu đối với Việt Nam
- Các công trình nghiên cứu về đối ngoại Việt Nam: Đây là nguồn tài liệu
giúp tác giả tiếp cận những vấn đề liên quan đến quá trình thực hiện công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước như: những yếu tố tác động đến quá trình thực hiện công tác đối ngoại; những thành tựu, hạn chế cũng như những bài học kinh nghiệm
từ quá trình thực hiện công tác đối ngoại; dự báo các xu hướng phát triển của thế giới, khu vực và những giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu công tác đối ngoại trong
thời gian tới; … v.v Một số công trình tác giả đã tiếp cận như:
“Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000” [10] của Bộ Ngoại giao Đây là một
công trình nghiên cứu khoa học công phu của tập thể tác giả là các nhà ngoại giao, các chuyên gia hàng đầu về quan hệ quốc tế ở nước ta Với nguồn tài liệu phong phú và đáng tin cậy, các luận chứng chặt chẽ và súc tích, cuốn sách đã phác họa những nét chính của hoạt động ngoại giao Việt Nam trong 55 năm từ 1945 đến 2000; đồng thời, tập trung đề cập các đặc điểm, tính chất của nền ngoại giao Việt
Trang 14Nam hiện đại, những thành tựu chủ yếu trong hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và ngoại giao nhân dân; rút ra những bài học kinh nghiệm trong hoạt động ngoại giao, những thành công và cả một số mặt tồn tại, vừa mang tính lý luận vừa
có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
“Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới” [69] do tác
giả Phạm Bình Minh chủ biên Cuốn sách là tập hợp các công trình của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực đối ngoại nhằm luận giải nội hàm các chủ trương định hướng quan trọng của đường lối, chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới; đặc biệt là những phát triển mới trong tư duy về đối ngoại của Đảng qua những văn kiện của Đại hội XI Ngoài ra, các tác giả còn đưa ra những cách tiếp cận và phương pháp triển khai mới để đạt được các mục tiêu quốc gia về phát triển, an ninh và nâng cao vị thế đất nước; những chủ trương mới của hoạt động đối ngoại như xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hội nhập quốc tế, … trong bối cảnh hiện nay Trên cơ sở đánh giá kết quả hoạt động đối ngoại trên một số lĩnh vực, các tác giả cũng đề xuất một số phương hướng, nhiệm vụ cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XI của Đảng Các chuyên đề nghiên cứu đã bao quát một cách khá toàn diện những vấn đề trọng tâm của công tác đối ngoại
“Chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam (1986 - 2010)” [70] của tác giả
Phạm Quang Minh Tác giả đã phân tích quá trình hình thành, vận động và phát triển của chính sách đối ngoại đổi mới của Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2010 Qua đó đánh giá những thành tựu nổi bật, rút ra những bài học kinh nghiệm; đồng thời, chỉ ra những hạn chế cần khắc phục nhằm hoàn thiện chính sách đối ngoại trong thời gian tới
“Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến năm 2020” [68] do tác giả
Phạm Bình Minh chủ biên Nội dung cuốn sách tập trung trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại: Lợi ích quốc gia, dân tộc trong hoạt động đối ngoại Việt Nam; trường phái ngoại giao Việt Nam; về độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; về lòng tin trong quan hệ quốc tế và định hướng chiến lược xây dựng lòng tin trong quan hệ đối ngoại Việt Nam, … Cuốn sách còn đưa ra một số đánh giá và khuyến nghị khi nhìn
Trang 15lại quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam những năm qua; đặc biệt là hình ảnh, vị thế của Việt Nam sau 15 năm là thành viên ASEAN, đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả tham gia của Việt Nam tại các tổ chức, diễn đàn
đa phương Bên cạnh đó, các tác giả cũng có những nhận định, đánh giá riêng khi luận chứng cho bài viết của mình
“Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh mới” [99]
là công trình do tác giả Nguyễn Xuân Thắng chủ biên Công trình này nghiên cứu độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế từ năm góc độ chủ yếu: kinh tế, chính trị - đối ngoại,
an ninh - quốc phòng, văn hóa - xã hội và thể chế kinh tế Cụ thể, cuốn sách nghiên cứu thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế: trong lĩnh vực kinh tế thông qua việc mở cửa và đổi mới nền kinh tế đất nước; trong lĩnh vực chính trị - đối ngoại thông qua việc bình thường hóa và phát triển quan hệ với Mỹ, có ảnh hưởng quan trọng, mang tính chất khai thông đối với tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam; trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng thông qua việc gia nhập và hội nhập sâu hơn vào ASEAN với tính chất là một chiến lược lâu dài nhằm xây dựng môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực, góp phần đảm bảo an ninh của đất nước; trong lĩnh vực văn hóa - xã hội thông qua việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc với tính chất vừa là yêu cầu vừa là thách thức to lớn đối với sự phát triển văn hóa - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới; trong lĩnh vực thể chế kinh tế thông qua việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) với tính chất là bước ngoặt tạo
ra sự thay đổi lớn về thể chế kinh tế trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
“Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam 1940 - 2010” [82] là một công trình
nghiên cứu công phu, góp phần giới thiệu một cách có hệ thống quá trình lịch sử quan hệ đối ngoại của Việt Nam từ năm 1940 đến 2010 của tác giả Vũ Dương Ninh Cuốn sách khai thác vấn đề từ góc độ khoa học lịch sử, dẫn giải theo tiến trình lịch
sử để phác họa một cách hệ thống về quan hệ đối ngoại của nước nhà từ những ngày chuẩn bị Tổng khởi nghĩa đến Cách mạng tháng Tám, qua hai cuộc chiến tranh bảo
vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước thống nhất, hội nhập quốc tế cho tới thập niên đầu của thế kỷ XXI Nội dung cuốn sách trình bày những nét cơ bản về đường lối, chính
Trang 16sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước qua từng giai đoạn, bối cảnh quốc tế và trong nước dẫn đến các sự kiện, diễn biến trong quan hệ đối ngoại để từ đó rút ra những nhận định chung và những bài học kinh nghiệm
“Ngoại giao Việt Nam 2015” [11] là công trình của Bộ Ngoại giao Công trình
này bao gồm các nội dung: Khái quát tình hình thế giới và khu vực, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam năm 2015; điểm lại các hoạt động ngoại giao song phương và đa phương; kết quả của ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, … phục vụ sự nghiệp phát triển và bảo vệ
Tổ quốc; công tác đối ngoại của Đảng, đối ngoại Quốc hội, đối ngoại nhân dân; những nét lớn trong đường lối đối ngoại của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
- Các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam với ASEAN: Các công trình
này đã cung cấp cho tác giả những vấn đề liên quan đến quan hệ của Việt Nam với ASEAN như: Quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN; những thời cơ và thách thức Việt Nam gặp phải trong quá trình hội nhập khu vực; vai trò và những đóng góp của Việt Nam trong ASEAN; quan hệ của Việt Nam với các quốc gia thành viên ASEAN; những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong quá trình Việt Nam hội nhập khu vực; những xu hướng phát triển của khu vực và yêu cầu mới đối với Việt Nam khi tham gia vào hợp tác khu vực; … v.v Tác giả đã tiếp cận các công trình sau:
“ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam” [77] là công trình nghiên cứu do tác
giả Đào Huy Ngọc chủ biên Nội dung trình bày lịch sử của ASEAN, quá trình gia nhập ASEAN của Việt Nam và bước đầu Việt Nam gia nhập ASEAN, những khó khăn và thách thức mà Việt Nam gặp phải trong quá trình gia nhập ASEAN
“Việt Nam - ASEAN, cơ hội và thách thức” [94] của tác giả Phạm Đức
Thành Cuốn sách nêu một số đóng góp đáng kể của Việt Nam đối với ASEAN trong những năm đầu gia nhập ASEAN, đồng thời nêu lên những khó khăn và thuận lợi trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam - ASEAN hiện nay và trong tương lai: hợp tác Việt Nam - ASEAN trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn; trong quan
hệ kinh tế thương mại của Việt Nam với các nước ASEAN Lợi thế so sánh và khả năng bổ sung cơ cấu giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN
Trang 17“Tiến trình hội nhập Việt Nam - ASEAN” [66] của tác giả Đinh Xuân Lý đã
phác họa bức tranh toàn cảnh quan hệ Việt Nam - ASEAN từ khi ASEAN ra đời đến năm 1998 Bước đầu tác giả đánh giá ý nghĩa những quan điểm, chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước với khu vực, những thành tựu, những cơ hội cũng như những khó khăn, thách thức của tiến trình Việt Nam hội nhập ASEAN Bài học về thực hiện nhất quán và kiên trì đường lối đối ngoại của Đảng là nhân tố quyết định thành công việc mở rộng quan hệ ASEAN
“Việt Nam - ASEAN: Quan hệ đa phương và song phương” [79] do tác giả
Vũ Dương Ninh chủ biên Đây là một công trình khoa học có giá trị của các học giả, các nhà nghiên cứu chuyên sâu về ASEAN của nước ta Trên cơ sở phân tích khái quát tiềm năng, thế mạnh và cả những mặt hạn chế, tồn tại của từng quốc gia, công trình đã tập trung trình bày quan hệ giữa nước ta với tổ chức ASEAN và với từng nước thành viên trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, … với những thành công và những hạn chế còn tồn tại Từ đó tác giả nêu lên một số suy nghĩ về hướng phát triển của các mối quan hệ trong thời gian tới
“Việt Nam gia nhập ASEAN từ năm 1995 đến nay: Thành tựu, vấn đề và
triển vọng” [85] là công trình của tác giả Nguyễn Thị Quế và Nguyễn Hoàng Giáp
đồng chủ biên Hai tác giả đã khái quát quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN và làm rõ những nhân tố chủ yếu tác động đến quan hệ Việt Nam - ASEAN từ năm
1995 đến nay Công trình nghiên cứu còn làm rõ những thành tựu, khó khăn, hạn chế và các vấn đề đặt ra trong quan hệ Việt Nam - ASEAN từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN đến nay Đồng thời, hai tác giả đã nêu lên những triển vọng trong quan hệ Việt Nam - ASEAN và đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả
sự tham gia của Việt Nam trong hợp tác liên kết ASEAN đến năm 2020
“Việt Nam trong ASEAN nhìn lại và hướng tới” [96] là công trình do tác giả
Phạm Đức Thành và Trần Khánh chủ biên Trên cơ sở những vấn đề chung, tác giả
đã làm rõ nội dung sự hợp tác của Việt Nam với ASEAN trong thời gian qua trên lĩnh vực chính trị - an ninh và quan hệ đối ngoại; hợp tác và liên kết kinh tế; hợp tác chuyên ngành và các vấn đề văn hóa - xã hội
Trang 18“Vai trò của Việt Nam trong ASEAN” [120] là công trình do Nhà xuất bản
Thông Tấn cùng với Trung tâm Dữ kiện tư liệu - TTXVN phối hợp biên soạn Trên
cơ sở nhiều nguồn tư liệu phong phú, công trình đã cung cấp nguồn tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về ASEAN sau 40 năm hội nhập và phát triển Đặc biệt làm rõ vị trí
và vai trò đã được xác lập, khẳng định của Việt Nam trong ASEAN, những đóng góp tích cực, có hiệu quả của nước ta trong việc củng cố tình đoàn kết và sự thống nhất trong Hiệp hội, đẩy mạnh sự hợp tác và liên kết nội khối trên tất cả các lĩnh vực, mở rộng sự hợp tác với các nước và các tổ chức đối thoại
“Việt Nam tham gia Cộng đồng ASEAN - Cơ hội và thách thức” [1] là công
trình của Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề chung về hội nhập quốc tế, công trình
đã phân tích vai trò chủ động, tích cực của Đảng trong lãnh đạo sự nghiệp hội nhập quốc tế Đồng thời, công trình còn khái quát về Cộng đồng ASEAN và kết quả 20 năm Việt Nam tham gia ASEAN; điểm qua những nét chính về Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN (APSC), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN (ASCC)
- Một số luận án nghiên cứu về quan hệ Việt Nam và ASEAN: Đây là nguồn
tài liệu giúp tác giả học hỏi quy cách thực hiện bài luận văn cũng như cung cấp một
số tư liệu liên quan đến quan hệ của Việt Nam với ASEAN trong những năm Việt Nam mới trở thành thành viên của ASEAN
Luận án Tiến sỹ Lịch sử: “Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan
hệ đối ngoại với ASEAN (1967 - 1995) [103] của tác giả Nguyễn Đình Thực đã đề
cập đến những nét cơ bản trong chủ trương, chính sách và hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước đối với các nước Đông Nam Á trong đó có các nước ASEAN qua hai giai đoạn 1967 - 1986 và 1986 - 1995 Với mỗi bước phát triển về chủ trương, chính sách đối với ASEAN, luận án đã phân tích bối cảnh chung của thế giới và khu vực trong từng thời gian cũng như mối quan hệ khu vực đặt trong tác động chung của các nước lớn Tác giả luận án đã đánh giá mặt ưu điểm và hạn chế trong chính sách
Trang 19đối ngoại, phân tích thuận lợi và khó khăn trong quan hệ giữa Việt Nam với ASEAN, những thành tựu đạt được cho tới khi Việt Nam gia nhập ASEAN
Luận án Tiến sỹ Lịch sử: “Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt
Nam với khu vực Đông Nam Á từ năm 1995 đến năm 2006” [48] của tác giả Nguyễn
Thị Hoàn Trên cơ sở đi sâu phân tích chủ trương, chính sách và biện pháp của Đảng trong quan hệ với khu vực Đông Nam Á qua hai giai đoạn 1995 - 2001 và
2001 - 2006, tác giả đã đưa ra những nhìn nhận khách quan quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách đối ngoại của Việt Nam với các nước Đông Nam Á qua hai giai đoạn 1995 - 2001 và 2001 - 2006 Đồng thời, luận án còn nêu lên những thành tựu cũng như hạn chế trong chính sách đối ngoại của Đảng với khu vực Đông Nam
Á từ năm 1995 đến năm 2006 và rút ra những bài học kinh nghiệm
Ngoài các công trình được liệt kê trên, còn có rất nhiều công trình đã được xuất bản; nhiều cuộc hội thảo về Đông Nam Á, về ASEAN, về quan hệ Việt Nam với ASEAN đã được tổ chức; nhiều bài chuyên khảo, bài viết được đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Tạp chí Cộng sản,
…v.v Hầu hết các bài viết đều tập trung làm rõ quá trình ra đời, phát triển, những thành tựu của từng nước Đông Nam Á, tổ chức ASEAN; đề cập xu thế và khả năng hợp tác, phát triển giữa các nước Đông Nam Á; quá trình phát triển quan hệ và hợp tác cũng như vai trò, sự đóng góp của Việt Nam trong quan hệ với ASEAN; những thuận lợi, khó khăn, thách thức khi Việt Nam là thành viên của tổ chức này, v.v
Tuy nhiên chưa có một công trình nào đề cập đến nội dung Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với ASEAN từ năm 2001 đến năm 2015 dưới góc độ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam như đề tài tác giả đã lựa chọn Các công trình đã xuất bản, các bài viết đã công bố ở những mức độ khác nhau là nguồn tư liệu cần thiết, phong phú, quan trọng giúp tác giả thực hiện đề tài luận văn của mình
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quan hệ với ASEAN và quá trình thực hiện, triển khai đường lối đó từ năm 2001 đến năm 2015
Trang 203.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Giới hạn về mặt thời gian của đề tài là từ năm 2001 đến năm 2015
Năm 2001 là mốc lịch sử đánh dấu bước phát triển về chất trong tư duy đối ngoại của Đảng: Từ chủ trương “Hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” [22, tr 88] với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất
cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [22, tr 147] được đề ra tại Đại hội VII (tháng 6 năm 1991) sang chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [26, tr 42] tại Đại hội IX (tháng 4 năm 2001) Chính bước phát triển này đã chi phối đến toàn bộ quá trình thực hiện sự lãnh đạo của Đảng trong quan hệ của Việt Nam với ASEAN từ năm 2001 đến năm 2015
Việc lựa chọn năm 2015 làm mốc thời gian kết thúc của luận văn liên quan đến thời điểm đăng ký đề tài của tác giả Mặt khác, năm 2015 cũng là mốc thời gian đánh dấu 20 năm Việt Nam là thành viên của ASEAN
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả dựa trên cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ đối ngoại của Việt Nam nói riêng để nghiên cứu và tiếp cận vấn đề, đảm bảo tính khách quan và khoa học khi nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu: phương pháp lịch sử - logic, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp đối chiếu, phương pháp thống kê, … nhằm làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện luận văn
Trang 214 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Trình bày một cách có hệ thống đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với ASEAN từ năm 2001 đến năm 2015
+ Trình bày những nét cơ bản nhất quá trình vận động, phát triển quan hệ của Việt Nam với ASEAN dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 2001 đến năm 2015;
những ưu điểm, hạn chế của mối quan hệ này trong khoảng thời gian trên
+ Rút ra những kinh nghiệm trong quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quan hệ Việt Nam với ASEAN từ năm 2001 đến năm 2015 và đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quan hệ của Việt Nam với ASEAN trong thời gian tới
5 Nguồn tƣ liệu thực hiện luận văn
Để thực hiện và hoàn thiện luận văn, tác giả sẽ tiếp cận các nguồn tư liệu sau: + Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), IX (2001), X (2006), XI (2011) và các Nghị quyết của Trung ương Đảng và Chỉ thị của Bộ Chính trị, diễn văn, bài phát biểu, các tác phẩm, trả lời phỏng vấn của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước về lĩnh vực đối ngoại; các văn bản của Chính phủ, Bộ Ngoại giao và một số đơn vị liên quan
+ Các công trình nghiên cứu về ASEAN, về quan hệ Việt Nam - ASEAN, các bài báo, sách có liên quan do các cơ quan và cá nhân nghiên cứu có uy tín công bố
Trang 22+ Tài liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải Quan, các nguồn thông tin được khai thác qua internet, một số văn kiện chính thức của ASEAN như Hiến chương, Hiệp định, Thông cáo báo chí
+ Tham khảo các luận án, luận văn và các nguồn tài liệu liên quan đang được lưu trữ tại Thư viện Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khu vực II,
hệ của Việt Nam với ASEAN trong tương lai
6.2 Về mặt thực tiễn
+ Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngoại giao, quan hệ quốc tế
+ Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho những người hoạch định và thực hiện đường lối đối ngoại nước ta hiện nay
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Trang 23Chương 1: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với
ASEAN từ năm 2001 đến năm 2005
Chương 2: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển quan hệ của Việt
Nam với ASEAN từ năm 2006 đến năm 2015
Chương 3: Một số nhận xét, kinh nghiệm và kiến nghị
Trang 24CHƯƠNG 1 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM
VỚI ASEAN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
1.1.1 Tình hình thế giới và khu vực
Tình hình thế giới
Tình hình thế giới và khu vực những năm đầu thế kỷ XXI diễn biến phức tạp, nhanh chóng và có nhiều yếu tố bất trắc, khó lường Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001), Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định:
Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt Kinh tế tri thức
có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa
có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh, … Thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng
lẻ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương như: bảo
vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ về dân số, đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo, chống tội phạm quốc tế, … [26, tr 64 - 65]
Trong một vài thập kỷ tới, ít có khả năng xảy ra chiến tranh thế giới Nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố còn xảy ra
ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc Cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, dân sinh, tiến
bộ và công bằng xã hội sẽ có những bước tiến mới Khu vực Đông Nam
Á, Châu Á - Thái Bình Dương sau khủng hoảng tài chính - kinh tế có khả
Trang 25năng phát triển năng động nhưng vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định [26, tr 65 - 66]
Ngày 11 tháng 9 năm 2001, cuộc khủng bố diễn ra ở Mỹ Sau sự kiện này,
Mỹ phát động cuộc chiến tranh Ápganixtan dưới danh nghĩa chống khủng bố Mỹ ra
sức nhanh chóng tập hợp lực lượng trên thế giới để thực hiện “chống khủng bố”, tự
cho mình quyền can thiệp, tấn công bất cứ quốc gia nào bị coi là không thân thiện hoặc liên quan đến khủng bố Việc làm này đã tác động sâu sắc, lâu dài đến quan hệ quốc tế và cục diện thế giới cả về chính trị, an ninh và kinh tế
Vị trí Đông Nam Á đã thay đổi trong sách lược của Mỹ Mỹ coi Đông Nam Á
là mặt trận thứ hai trong cuộc chiến chống khủng bố vì đây là khu vực bao gồm quốc gia Hồi giáo lớn nhất thế giới Inđônêxia với hơn 200 triệu tín đồ và những nước có số dân theo đạo Hồi lớn như Malaixia, Brunây Quân đội Mỹ bắt đầu hiện diện trở lại khu vực Đông Nam Á, diễn tập song phương với quân đội Brunây, Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia, Xingapo, Philíppin Từ năm 2002, Mỹ chủ trương viện trợ cho các hoạt động huấn luyện và xây dựng các trung tâm chống khủng bố ở Đông Nam Á Cuối năm 2003, Tổng thống Mỹ - Bush thăm 4 nước ASEAN (Thái Lan, Philíppin, Xingapo và Inđônêxia) Trong chừng mực nào đó, chính sách này của Mỹ góp phần tạo nên môi trường ổn định có lợi cho sự hợp tác Việt Nam - ASEAN Tuy nhiên, việc can thiệp của Mỹ vào Đông Nam Á về vấn đề nhân quyền cũng như thái độ đứng ngoài của Mỹ trong vấn đề tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam đã gây nên những khó khăn nhất định trong việc thống nhất hành động của ASEAN
Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, EU, Nga, Ôxtrâylia cũng tăng cường tác động đến các nước trong khu vực Đông Nam Á, làm cho khu vực này trở thành địa bàn tranh chấp chiến lược giữa các nước lớn
Vì lợi ích to lớn từ ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản đã trở thành những đối thủ cạnh tranh trong quan hệ với ASEAN
Năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã triển khai xây dựng Khu mậu dịch tự
do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) Tại Hội nghị cấp cao ASEAN - Trung Quốc tổ chức ở Inđônêxia (tháng 11 năm 2003), Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến
Trang 26lược ASEAN - Trung Quốc đã được ký kết; đồng thời, Trung Quốc cũng đã chính
thức ký Hiệp ước thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á, trở thành một bên tham gia
Hiệp ước này Trung Quốc cũng tích cực hỗ trợ cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước ASEAN
Cùng với những phát triển trong quan hệ song phương giữa ASEAN và Trung Quốc, sự hợp tác giữa hai bên trong các tổ chức hợp tác đa phương ARF, ASEM, ASEAN+3, Hợp tác Đông Á ngày càng chặt chẽ hơn Trung Quốc ủng hộ ASEAN nắm vai trò chủ đạo trong tiến trình ARF, ủng hộ ASEAN duy trì vai trò lãnh đạo trong tiến trình ASEAN+3 và Thượng đỉnh Đông Á Trung Quốc đã hợp tác với Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo tiến trình ASEM trong nhiệm kỳ
2000 - 2002, hợp tác với ASEAN trong việc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống như chống ma túy, buôn bán phụ nữ, trẻ em, … v.v
Việc Trung Quốc và ASEAN ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện vào tháng 11 năm 2002 tiến tới thành lập Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc vào năm 2010 đã khiến Nhật Bản lo ngại Chính vì vậy, quan hệ giữa Nhật Bản với ASEAN ngày càng được Nhật Bản chú trọng Chỉ trong vòng 5 năm, Thủ tướng Nhật Bản Koizumi đã 7 lần đi thăm ASEAN, tiến hành 8 lần hội đàm với các nhà lãnh đạo ASEAN, trao đổi quan điểm và thảo luận về những vấn đề cùng quan tâm như vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, vấn đề chống khủng bố, … v.v
Trên cơ sở các văn kiện được thông qua một cách dồn dập từ năm 2002,
quan hệ ASEAN - Nhật Bản không ngừng phát triển Thực hiện Tuyên bố chung về
quan hệ đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản, ngày 08 tháng 10 năm 2003,
tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN - Nhật Bản ở Inđônêxia, hai bên đã ký “Khuôn
khổ quan hệ đối tác kinh tế toàn diện giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và Nhật Bản” tiến tới thành lập Khu mậu dịch tự do ASEAN - Nhật Bản sẽ được hoàn
Trang 27Bản trong thế kỷ XXI” Hai bên chủ trương thúc đẩy hợp tác kinh tế, chính trị - an
ninh song phương, hợp tác trong các tổ chức khu vực và quốc tế, đặc biệt là hợp tác Đông Á Theo đó, Nhật Bản sẽ hỗ trợ các hoạt động nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các thành viên ASEAN như phát triển khu vực Mê Kông, khu vực phát triển Brunây - Inđônêxia - Malaixia - Philíppin - Đông ASEAN, … v.v
Tháng 8 năm 2006, tại Hội nghị Tham khảo lần thứ 13 giữa Bộ trưởng kinh
tế ASEAN và Bộ trưởng Kinh tế, mậu dịch & Công nghiệp Nhật Bản họp tại Cuala
Lămpua, Nhật Bản đã đề xuất dự án “Sáng kiến không khí đầu tư chung ASEAN” do
Tổ chức Mậu dịch đối ngoại, Liên đoàn kinh doanh Nhật Bản và Phòng Thương mại & Công nghiệp Nhật Bản điều phối Mục đích của dự án là thúc đẩy đầu tư, đặc biệt trong các lĩnh vực có thể tạo nên các mạng lưới sản xuất khu vực Sáng kiến trên của Nhật Bản đã nhận được sự ủng hộ của các nước ASEAN Những động thái này, khiến xu thế liên kết hợp tác ASEAN+1, ASEAN+3 gia tăng nhanh chóng
Trong bối cảnh mới, với một vị trí chiến lược quan trọng đang trỗi dậy sau khủng hoảng kinh tế, Đông Nam Á được Ấn Độ chọn là hướng phát huy ảnh hưởng của mình trong khu vực Quan hệ kinh tế giữa Ấn Độ và các nước Đông Nam Á ngày càng mở rộng và trở nên sâu sắc hơn Vào cuối năm 2004, Ấn Độ và ASEAN đã ký
Hiệp định khung để xây dựng khu mậu dịch tự do giữa hai bên vào năm 2011
Năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh đầu tiên Ấn Độ - ASEAN đã được tổ chức Từ sau hội nghị đó, tiến trình ASEAN+1 giữa Ấn Độ và ASEAN đã được tổ
chức thường niên Năm 2004, Ấn Độ đã ký Hiệp ước Thân thiện & Hợp tác ở Đông
Nam Á và tham gia Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, tổ chức tại Cuala Lămpua vào
tháng 12 năm 2005
Ở cấp độ song phương, hợp tác chính trị - an ninh của Ấn Độ với các nước
Đông Nam Á cũng được thúc đẩy Ấn Độ đã ký Hiệp định hợp tác quốc phòng với
Lào năm 2002 Năm 2003, Ấn Độ và Thái Lan đã tiến hành các cuộc thảo luận về chống khủng bố và chia sẻ tin tức tình báo Ấn Độ cũng đề nghị cung cấp thiết bị quốc phòng cho Thái Lan Tháng 11 năm 2005, Ấn Độ và Inđônêxia đã nhất trí
nâng quan hệ giữa hai nước thành “quan hệ đối tác chiến lược” Hợp tác an ninh với
Trang 28Mianma (thành viên duy nhất của ASEAN có biên giới đất liền với Ấn Độ) đã phát triển đáng kể Ấn Độ không chỉ muốn tiếp cận với mỏ khí đốt và dầu mỏ của Mianma mà còn muốn Răng Gun hợp tác với Niu Đêli trong nỗ lực chống lại lực lượng ly khai tại các bang đông bắc Ấn Độ Kể từ cuối 2004, quân đội Mianma đã gián tiếp hậu thuẫn Ấn Độ tại bang Manipu
Quan hệ giữa EU với ASEAN vì còn vướng mắc về vấn đề nhân quyền, vấn
đề Mianma trong quan hệ chính trị nên hợp tác kinh tế giữa hai bên chưa đạt được như mong muốn nhưng đã có bước phát triển mới
Đầu tháng 4 năm 2003, tại Lào, EU và ASEAN đã nhất trí về một kế hoạch
loại bỏ rào cản thương mại trong năm 2004 và đề ra “Sáng kiến thương mại xuyên
khu vực” Tiếp đó, năm 2004, Hội nghị thượng đỉnh Á - ÂU lần thứ V tổ chức tại
Hà Nội đã tập trung vào ba nội dung chính: hợp tác về chính trị an ninh, kinh tế và văn hóa giáo dục Với những nội dung hợp tác này, cả hai châu lục hy vọng vào sự gia tăng thị phần của Châu Á đối với Châu Âu, gia tăng đầu tư của Châu Âu đối với Châu Á và tăng cường sự giao lưu văn hóa, đào tạo nguồn nhân lực cho Châu Á
Bước sang thế kỷ XXI, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ngày càng có vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Liên bang Nga Nga coi ASEAN là động lực chính trong các tiến trình hội nhập ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Tháng 12 năm 2005, Hội nghị Thượng đỉnh lần đầu tiên giữa Nga - ASEAN được
tổ chức tại Cuala Lămpua đưa ra bản Tuyên bố chung và Chương trình hành động
tổng thể phát triển quan hệ Nga - ASEAN giai đoạn 2005 - 2015
Những năm đầu thế kỷ XXI nổi lên nhiều xu hướng phát triển kinh tế Đó là
sự nổi lên của môi trường kinh tế toàn cầu có tính cạnh tranh hơn, sự bùng nổ của cuộc cách mạng điện tử với những mạng lưới thông tin liên lạc, sự quốc tế hóa quá trình sản xuất với sự tham gia của nhiều quốc gia trong việc sản xuất một sản phẩm Toàn cầu hóa, thể chế hóa kinh tế thế giới cũng tăng lên qua sự phát triển của hệ thống tổ chức quốc tế và luật lệ kinh tế quốc tế, góp phần tạo khuôn khổ hợp tác, hình thành cơ chế xử lý tranh chấp, … Bên cạnh đó, chủ nghĩa khu vực trong kinh
Trang 29tế tăng lên vừa như phương tiện tận dụng cơ hội của toàn cầu hóa, vừa như phản ứng chống lại sự tác động tiêu cực từ quá trình này
Những xu hướng nêu trên, ở những góc độ khác nhau đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới quan hệ của Việt Nam với khu vực Một mặt, các xu thế trên
đã khiến yếu tố kinh tế ngày càng nổi lên như một động lực quan trọng, cho dù quan
hệ kinh tế giữa các nước Đông Nam Á vẫn còn chưa lớn Mặt khác, chúng tạo ra cả
cơ hội và thách thức cho mối quan hệ này Đó là cơ hội cho sự phát triển và hợp tác Bên cạnh đó, các thách thức mới cũng tạo ra yêu cầu thúc đẩy hợp tác Chính điều này đòi hỏi quan hệ giữa Việt Nam - ASEAN phải chuyển mình để có sự thích ứng phù hợp Chiến lược thích hợp nhất lúc này để tận dụng và đối phó với những biến đổi đó chính là tăng cường hợp tác Trong quan hệ hợp tác thì hợp tác kinh tế phải được coi trọng, đặt lên hàng đầu, mức độ hợp tác phải được tăng cường hơn Hợp tác cả trên bình diện song phương lẫn đa phương Hợp tác để tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển
cấm vận, gây sức ép trên vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” Inđônêxia đạt được thỏa
thuận giải quyết hòa bình cuộc xung đột kéo dài 30 năm giữa Chính phủ và phong trào Achê tự do nhưng vẫn xảy ra các hoạt động khủng bố Chính trường Philíppin tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định do phe đối lập tiếp tục đòi phế truất Tổng thống Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo có mặt gia tăng phức tạp, nhất là vấn đề biển Đông Kinh tế nhiều nước trong khu vực suy thoái nghiêm trọng
Sau sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001, Đông Nam Á bị coi là nơi lánh nạn chủ yếu của các thành viên Al-Queda Tại một số quốc gia trong khu vực đã hình thành một mạng lướt khủng bố Hồi giáo hoạt động xuyên quốc gia và có quan hệ với
Trang 30Al-Queda Ở Inđônêxia xuất hiện những tổ chức cực đoan như phong trào thanh niên Hồi giáo, lực lượng bán quân sự thánh chiến, lực lượng bán quân sự bảo vệ đạo Hồi, lực lượng bán quân sự của những chiến binh thánh chiến Inđônêxia Ngày 12 tháng
10 năm 2002, khủng bố đã xảy ra tại đảo Bali làm 187 người chết và 300 người bị thương Tiếp đó, ngày 05 tháng 8 năm 2003, một vụ đánh bom ở bên ngoài khách sạn Marriot (Giacácta) làm ít nhất 12 người thiệt mạng và hơn 90 người bị thương
Dấu hiệu khủng bố còn xuất hiện ở Thái Lan Những tháng đầu năm 2004, tình hình miền nam Thái Lan trở nên căng thẳng Ngày 28 tháng 4 năm 2004, một
vụ đụng độ đẫm máu xảy ra khi các chiến binh Hồi giáo đồng loạt tấn công các chốt canh gác của cảnh sát Ngày 03 tháng 5 năm 2005, đã xảy ra 3 vụ đánh bom ở Philíppin, Malaixia, … làm cho tình hình an ninh khu vực chứa đựng nhiều nhân tố bất ổn định Nếu các nước trong khu vực không chế ngự được xu hướng Hồi giáo cực đoan và vấn đề khủng bố thì Đông Nam Á có thể trở thành tiêu điểm cho sự can thiệp của các nước lớn ngoài khu vực; đồng thời trong lòng khu vực sẽ tồn tại nguy
cơ mất ổn định an ninh chính trị
Nội bộ ASEAN giai đoạn này cũng bộc lộ một số vấn đề phức tạp như: một
số nước tìm cách trì hoãn Khu vực tự do thương mại ASEAN hoặc thiết lập Khu mậu dịch tự do riêng rẽ với các nước bên ngoài (Xingapo với Mỹ và Nhật Bản); một số nước muốn thúc đẩy hình thành các Diễn đàn mới (Thái Lan nêu ý tưởng về Diễn đàn hợp tác Châu Á, Inđônêxia nêu ý tưởng về Diễn đàn Tây Nam Thái Bình Dương) Xét trong tình hình nội bộ từng nước, một số nước trong khu vực có diễn biến phức tạp Cụ thể: Ở Campuchia, cuộc đấu tranh giữa Đảng Nhân dân với các lực lượng đối lập diễn ra quyết liệt, nhất là từ sau cuộc bầu cử Quốc hội khóa III (ngày 27 tháng 7 năm 2003) Đảng Sam Rênsy được Mỹ, Ôxtrâylia và một số nước khác tiếp tay, hậu thuẫn, câu kết với lực lượng cực đoan trong Đảng FUNCINPEC chống phá, chia rẽ Đảng Nhân dân quyết liệt và đòi gạt Thủ tướng Hun Xen, từng bước chiếm quyền ở Campuchia Không những thế, Đảng Sam Rênsy còn đề ra và thực hiện đường lối chống Việt Nam, kích động hận thù, đòi xóa bỏ các Hiệp định biên giới mà Campuchia đã ký với Việt Nam từ năm 1979
Trang 31Trước diễn biến quốc tế và khu vực không thuận lợi, tháng 10 năm 2003, Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 9 được tổ chức Hội nghị đã thông qua tuyên bố Hòa bình Bali II, nêu rõ: Một cộng đồng ASEAN sẽ được thiết lập với ba trụ cột chính là hợp tác an ninh chính trị, hợp tác kinh tế và hợp tác văn hóa xã hội đan xen, hỗ trợ chặt chẽ cho nhau vì mục đích đảm bảo hòa bình, ổn định và thịnh vượng chung trong khu vực thông qua việc thiết lập cộng đồng an ninh ASEAN, cộng đồng kinh
tế ASEAN và cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN Tuyên bố đã khẳng định lại các nguyên tắc cơ bản của ASEAN và định hướng cộng đồng ASEAN được thành lập vào năm 2015 Trong bối cảnh đó, sự hợp tác trong khu vực và giữa ASEAN với các đối tác tiếp tục được thúc đẩy Các nước Đông Nam Á đã cố gắng củng cố đoàn kết và hợp tác trên cơ sở phát huy các nguyên tắc cơ bản của ASEAN
1.1.2 Quan hệ của Việt Nam với ASEAN trước năm 2001
Bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX, trước những diễn biến nhanh chóng của tình hình thế giới và khu vực, Việt Nam đã xác định ưu tiên mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng, các nước trong khu vực nhằm phá vỡ thế bị bao vây cấm vận, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước
Năm 1997, khu vực Đông Nam Á diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ không chỉ tác động mạnh mẽ trên phương diện kinh tế, xã hội, mà còn ảnh hưởng sâu sắc trên phương diện chính trị: Ở Inđônêxia phong trào đấu tranh đòi độc lập của Đông Timo, phong trào Aceh trỗi dậy Do bị khủng hoảng, ASEAN bị suy yếu, các nước không hỗ trợ được cho nhau khắc phục khủng hoảng, nội bộ xuất hiện những mâu thuẫn mới Một số nước đòi thay đổi các nguyên tắc đồng thuận và không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước thành viên Một số nước ASEAN phụ thuộc nhiều hơn vào Mỹ và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cả về chính sách phát triển vĩ mô cũng như về đường lối chính trị Nội bộ một số nước như Inđônêxia, Malaixia mất ổn định Quan hệ giữa các nước ASEAN cũng xuất hiện một số vấn đề phức tạp như vai trò của Inđônêxia giảm sút Thái Lan muốn vươn lên nắm vị trí hàng đầu trong ASEAN Lúc này, xuất hiện sự khác biệt giữa nhóm ASEAN lục địa với nhóm ASEAN hải đảo, ASEAN Phật giáo với
Trang 32ASEAN Hồi giáo ASEAN đã hoàn thành ý tưởng ASEAN với 10 thành viên cùng phấn đấu cho hoà bình, ổn định ở khu vực, giữ vững bản sắc dân tộc và sự đoàn kết nhất trí, tinh thần tự cường khu vực Các nước trong Hiệp hội với chế độ chính trị
xã hội khác nhau, trình độ phát triển kinh tế xã hội không đồng đều nhưng cùng có nhu cầu hợp tác, liên kết kinh tế Tuy nhiên sự cạnh tranh giữa các nước cũng rất quyết liệt đang đặt ASEAN trước những thách thức mới Môi trường an ninh khu vực Đông Nam Á đang diễn biến hết sức phức tạp, chứa đựng những nhân tố tiềm
bị cuốn sâu vào cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế ở một số nước Châu Á mặc dù hậu quả của nó đối với nước ta cũng khá nặng nề; tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng và an ninh được tăng cường Sức mạnh về mọi mặt của nước ta đã lớn hơn nhiều [26, tr 80] Những thành tựu đạt được đã tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi
bộ mặt của đất nước và cuộc sống của nhân dân, củng cố vững chắc đoàn kết dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế
Bên cạnh thuận lợi đó, Việt Nam còn phải đối phó với nhiều khó khăn, thử thách, bao trùm lên tất cả là “nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực vẫn là thách thức to lớn và gay gắt do điểm xuất phát của ta quá thấp, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh quyết liệt” [23, tr 79] Ngoài ra, Việt Nam còn phải đối phó với những khó khăn thách thức khác như: Âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch; tình hình khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và biển Đông còn diễn biến phức tạp; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa và tệ quan liêu tham nhũng
Trang 33Trước tình hình thế giới diễn biến phức tạp, Đại hội VIII (tháng 6 năm 1996) của Đảng đã đề ra:
Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường hoà bình
và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế
- xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội [23, tr 120]
Về đường lối đối ngoại, Đại hội VIII khẳng định:
Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn làm bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển Hợp tác nhiều mặt song phương và
đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và tranh chấp bằng thương lượng [23, tr 120 - 121] Trên cơ sở đó, Đại hội cũng đề ra phương hướng đối ngoại cụ thể trong quan
hệ với ASEAN: “ra sức tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN” [23, tr 121]
Để đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số
01/NQ-TW ngày 18 tháng 11 năm 1996 Về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế
đối ngoại 5 năm 1996 - 2000 Nghị quyết đã đánh giá tình hình kinh tế đối ngoại,
những kết quả đạt được cũng như những thiếu sót, tồn tại: “Kinh tế đối ngoại phát triển trên nhiều mặt; kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu tăng nhanh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế xã hội” [25, tr 245] Song “hiệu quả kinh tế đối ngoại chưa cao Việc phát triển kinh tế chưa hướng mạnh vào xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu còn thấp, … cơ chế nhập khẩu chưa hợp lý Nhập siêu quá lớn …” [25, tr 246] Từ đó, Nghị quyết đưa ra nhiệm vụ kinh tế đối ngoại:
Trang 34Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, nhằm góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 1996 - 2000 và chuẩn bị cho sự phát triển vào đầu thế kỷ XXI theo các nguyên tắc độc lập tự chủ, tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, kết hợp chặt chẽ kinh tế đối ngoại với chính trị đối ngoại, quốc phòng, an ninh, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Đa phương hoá, đa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại nhưng có trọng tâm, trọng điểm, khai thác lợi thế so sánh của ta và tận dụng xu thế phát triển của thế giới và khu vực … [25, tr 248 - 249]
Nghị quyết 01/NQ-TW cũng chỉ ra những giải pháp, cơ chế, chính sách chủ yếu, trong đó về vấn đề thị trường và đối tác cần chú trọng trong Hiệp hội ASEAN
và các nước láng giềng
Để thúc đẩy quan hệ hợp tác với ASEAN, Chính phủ đã ra một loạt các Nghị định: Nghị định số 91/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 1995; Nghị định số 82/NĐ-CP ngày 13 tháng 12 năm 1996; Nghị định số 15/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 1998; Nghị định số 14/NĐ-CP ngày 23 tháng 3 năm 1999; Nghị định số 09/NĐ-CP ngày 21 tháng 3 năm 2000
Cuối năm 1999, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, trong bối cảnh vừa có những thuận lợi và thời cơ lớn, vừa đứng trước những khó khăn và thách thức Ở trong nước “qua 2 năm thực hiện kế hoạch 5 năm 1996 - 2000, nền kinh tế nước ta tiếp tục phát triển và đạt tăng trưởng khá (GDP tăng 9%) … Đời sống số đông nhân dân được cải thiện, ổn định chính trị được giữ vững Quốc phòng an ninh được đảm bảo Quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế quốc tế của nước ta được nâng cao” [24, tr 48 - 49]
Tiếp đến, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khoá VIII) cũng chỉ rõ những mặt còn yếu kém đó là “sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao và lâu bền …” [24, tr 49]
Trang 35Trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá đang diễn ra mạnh mẽ, Nghị quyết Hội nghị cũng chỉ rõ: “Chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và thế giới … Có kế hoạch cụ thể, chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA” [24, tr 60] Hội nghị đề ra nhiệm vụ “Xây dựng lộ trình giảm dần thuế nhập khẩu theo Hiệp định ưu đãi thuế quan (CEPT) áp dụng trong các nước ASEAN và các cam kết quốc tế khác” [24, tr 76 - 77]
Với những quan điểm chỉ đạo và quá trình thực hiện quan hệ Việt Nam với ASEAN, tính đến năm 2001, Việt Nam đã thực hiện tương đối tốt các chương trình,
cơ chế hợp tác của ASEAN: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định khung về Khu vực tự do hóa mậu dịch ASEAN (AFSA), Hiệp định khung về Khu vực đầu tư ASEAN (AIA), Hiệp định khung về Hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO), Sáng kiến Hội nhập (IAI), … Việt Nam đã cùng với các nước thành viên trong ASEAN đề ra nhiều sáng kiến mới nhằm khắc phục tình trạng trì trệ, yếu kém trong tổ chức này
Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị cấp cao lần thứ 6 (tháng 12 năm 1998) trong khi các nước trong khu vực đang phải đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm tổ chức, nhân lực còn hạn chế
“Tuyên bố Hà Nội” năm 1998 và “Tuyên bố Hà Nội về thu hẹp khoảng cách phát
triển, nhằm tăng cường liên kết ASEAN” năm 2001 thể hiện nhiều biện pháp thúc
đẩy việc phát triển nội khối Chương trình Hành động Hà Nội (HPA) được Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 6 thông qua (tháng 6 năm 1998) đã xác định rõ phương hướng và các biện pháp cụ thể cho hợp tác và phát triển của ASEAN trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới Việt Nam bắt đầu nhận trách nhiệm và đã hoàn thành tốt vai trò điều phối viên trong quan hệ ASEAN với các nước lớn (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Ốtxtrâylia, Canada) được các nước đối thoại đánh giá cao
Tính đến năm 2000, tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và ASEAN là 7068,0 triệu USD; trong đó Việt Nam xuất sang ASEAN 2619,0 triệu USD [106, tr 372] và nhập về từ ASEAN 4449,0 triệu USD [106, tr 374] Việt
Trang 36Nam đã cố gắng thu hẹp khoảng cách tụt hậu về kinh tế so với các nước phát triển trong ASEAN
Từ năm 1994 đến năm 2000, Việt Nam đã rút ngắn khoảng cách GDP/đầu người so với các nước trong khu vực: So với Xingapo từ 17.1 lần xuống còn 15 lần, với Malaixia từ 5 lần xuống còn 4.2 lần, với Thái Lan từ 4.4 lần xuống còn 3.4 lần, với Inđônêxia từ 2.3 lần xuống còn 1.7 lần, với Philíppin từ 2.5 lần xuống còn 1.9 lần [85, tr 114]
Có thể khẳng định rằng, từ năm 1995 đến năm 2001, mặc dù là thành viên mới, có chế độ chính trị xã hội khác so với các nước ASEAN và trình độ phát triển kinh tế xã hội còn thấp, song Việt Nam đã nhanh chóng tham gia tích cực và chủ động hầu hết các chương trình, các quan hệ hợp tác khu vực và quốc tế của ASEAN Qua các khuôn khổ hợp tác của mình, cũng như những kết quả đạt được, Việt Nam đã cho các nước thấy sự năng động của một thành viên, sự chủ động và tinh thần sẵn sàng trong hội nhập Dù có nhiều khó khăn, hạn chế song nước ta đã thực sự là một nhân tố thúc đẩy sự phát triển lớn mạnh của ASEAN cũng như có đóng góp quan trọng với hòa bình và ổn định khu vực
1.2 Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quan hệ của Việt Nam với ASEAN
1.2.1 Chủ trương của Đảng
Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN và trở thành thành viên thứ 7 của tổ chức này vào ngày 28 tháng 7 năm 1995 Tính đến năm 2001, Việt Nam đã gia nhập ASEAN được 6 năm Trong khoảng thời gian đó, Việt Nam đã tham gia đầy đủ và tích cực vào các hoạt động của Hiệp hội Quá trình hội nhập nhanh chóng và đóng góp tích cực của Việt Nam vào ASEAN được các nước thành viên trong Hiệp hội đánh giá cao
Từ năm 2001 đến năm 2005 là khoảng thời gian Việt Nam thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Trong 5 năm (2001 - 2005), bên cạnh những thuận lợi do tiến trình đổi mới tạo ra, Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn, thách thức do những yếu kém vốn có của nền kinh tế trình độ thấp; thiên tai, dịch bệnh xảy ra ở nhiều nơi cùng với tình hình thế giới và khu vực diễn biến
Trang 37phức tạp Tuy nhiên với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng
Nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, năm sau cao hơn năm trước, bình quân trong 5 năm (2001 - 2005) là 7,51% và phát triển tương đối toàn diện Văn hóa và xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt; việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, nhất là trong công cuộc xóa đói giảm nghèo; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được tăng cường; quan hệ đối ngoại có bước phát triển mới Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến
bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy Công tác xây dựng Đảng đạt một số kết quả tích cực [30, tr 14]
Trong Báo cáo của Tổng cục Thống kê khẳng định:
Tình hình kinh tế - xã hội nước ta trong 5 năm 2001 - 2005 tiếp tục diễn biến theo chiều hướng tích cực Nền kinh tế có thêm nhiều thành tựu mới
và tương đối toàn diện Hầu hết các ngành, các lĩnh vực then chốt đều thu được những kết quả vượt trội so với kế hoạch 5 năm 1996 - 2000, với nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội vượt và đạt mục tiêu kế hoạch đề ra trong Đại hội Đảng lần thứ IX Đáng chú ý là, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng năm sau luôn luôn cao hơn năm trước với tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm 7,51%; cơ sở hạ tầng và dịch vụ được tăng cường; đời sống các tầng lớp dân cư tiếp tục được cải thiện; sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế
và nhiều lĩnh vực xã hội khác cũng có những mặt tiến bộ [125]
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, trong 5 năm (2001 - 2005), Việt Nam còn tồn tại những khuyết điểm và yếu kém:
Tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với khả năng; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn kém; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm
Cơ chế, chính sách về văn hóa - xã hội chậm đổi mới; nhiều vấn đề xã hội
Trang 38bức xúc chưa được giải quyết tốt Các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại còn một số mặt hạn chế Tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân còn một số khâu chậm đổi mới Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu [30, tr 15]
Nền kinh tế vẫn chưa ra khỏi tình trạng kém phát triển và còn nhiều mặt mất cân đối; đời sống của một bộ phận dân cư còn khó khăn; nhiều vấn đề xã hội bức xúc chậm được giải quyết; tình trạng vi phạm kỷ cương phép nước
và quan liêu, tham nhũng chưa có chiều hướng giảm, đang làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Những hạn chế và bất cập này nếu không có biện pháp xử lý và khắc phục có hiệu quả thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 và các kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội những năm tiếp theo [125]
Nhìn một cách tổng thể, sau 5 năm (2001 - 2005) thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, với những thành tựu đạt được đã tạo ra thế và lực mới cho đất nước tăng cường, mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới nói chung và các nước trong khu vực Đông Nam Á nói riêng
Nhằm phát huy những kết quả đã đạt được của công tác đối ngoại nói chung, quan hệ giữa Việt Nam với ASEAN nói riêng, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX (tháng 4 năm 2001), Đảng khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [26, tr 119]
Đại hội cũng xác định: độc lập, tự chủ là cơ sở để thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa Đại hội đã có bước phát triển mới trong đường lối đối ngoại với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [26, tr 120] được đề ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng thành “Việt
Trang 39Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [26, tr 119]
Đây là bước phát triển mới về tư duy đối ngoại và sự nhận thức sâu sắc hơn của Đảng về bối cảnh cũng như xu hướng vận động trong quan hệ quốc tế đang diễn ra; đồng thời, khẳng định vị thế mới của Việt Nam trong quan hệ với các nước Nhiệm vụ đối ngoại được Đảng đề ra tại Đại hội IX là:
Tiếp tục giữ vững môi trường hòa bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia; đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội [26, tr 119 - 120]
Trong quan hệ với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Đảng xác định đây là
ưu tiên hàng đầu trong quan hệ đối ngoại Đại hội chỉ rõ: “Nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tác với các nước ASEAN, cùng xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, không có vũ khí hạt nhân, ổn định, hợp tác cùng phát triển” [26, tr 121]
Tăng cường phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước ASEAN là một chính sách nhất quán của Đảng, xuất phát từ yêu cầu ổn định và phát triển của đất nước, từ vị thế địa chính trị, địa kinh tế và địa chiến lược của nước ta trong khu vực cũng như thế giới
Củng cố và phát triển quan hệ với các nước trong khu vực có ý nghĩa chiến lược đối với an ninh, ổn định và phát triển của Việt Nam; đồng thời, còn góp phần quan trọng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển môi trường hòa bình, ổn định lâu dài của khu vực và trên thế giới Quan hệ hợp tác với các nước ASEAN được đẩy mạnh theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả của sự hợp tác song phương và đa phương, tích cực chủ động góp phần giữ vững các nguyên tắc cơ bản của ASEAN, tăng cường đoàn kết trong Hiệp hội, hạn chế tác động từ bên ngoài, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình không có vũ khí hạt nhân, ổn định, hợp tác cùng phát triển, nâng cao vị thế của khu vực trên trường quốc tế
Trang 40Nhằm cụ thể hóa chủ trương được nêu tại Đại hội IX của Đảng: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường” [26, tr 120], ngày 27 tháng 11 năm 2001, Bộ Chính trị đã ra Nghị
quyết số 07-NQ/TW “Về hội nhập kinh tế quốc tế”
Nghị quyết đã chỉ rõ mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [29, tr 255]
Để thực hiện tốt các mục tiêu, cần xác định:
Một là, hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; trong quá trình
hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Hai là, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh và
cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tuỳ theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể; vừa phải đề phòng
tư tưởng trì trệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng giản đơn, nôn nóng
Ba là, nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta, từ đó đề ra kế hoạch
và lộ trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia; tranh thủ những ưu đãi dành cho các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường
Bốn là, kết hợp chặt chẽ quá quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu
cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, thông qua hội nhập để tăng sức mạnh tổng hợp của quốc gia nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước,