1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đảng bộ huyện quảng xương (thanh hóa) lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở từ năm 1991 đến năm 2010

118 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu mà Nghị Quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa VIII 16/7/1998 đã nêu là: “Phải xây dựng môi trường văn hóa từ trong mỗi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÙI THỊ THU

ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNG (THANH HÓA) LÃNH ĐẠO

XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ

TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÙI THỊ THU

ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNG (THANH HÓA) LÃNH ĐẠO

XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, hội nhập với các nền văn hóa thế giới, việc đổi mới nâng cao chất lượng đời sống văn hóa ở cơ sở được Nhà nước ta hết sức quan tâm - Đây là vấn đề mang tính chiến lược của sự nghiệp văn hóa cả nước nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng

Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta đặt ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (3/1982) Đây là một chủ trương quan trọng có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng văn hóa, lối sống và con người phù hợp với đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng cũng đã ghi rõ: “Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, bảo đảm mỗi xã, phường ấp đều có đời sống văn hóa Tổ chức hơn nữa đời sống văn hóa mới” [23, tr.105]

Xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa, thông tin ở cơ sở là một trong

ba chương trình công tác chính hàng năm của Bộ văn hóa thông tin Vì cơ sở

là nơi trực tiếp động viên, giáo dục xã hội và phát triển cá nhân, điều này chứng tỏ việc tổ chức xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một chủ trương mang tính chiến lược lâu dài, thực hiện suốt trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta

Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở được coi

là bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo định hướng XHCN Đó là công cuộc xây dựng kết cấu cơ sở hạ tầng văn hóa với mục tiêu chính là giáo dục hoàn thiện nhân cách phát triển toàn diện: giáo dục đạo lý “mình vì mọi người, mọi người vì

Trang 4

mình”, giáo dục ý thức lao động sáng tạo, giáo dục phẩm chất đạo đức trong sáng tình cảm lành mạnh, giáo dục cách ứng xử văn hóa trong mỗi cá nhân, gia đình, xã hội

Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu mà Nghị Quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa VIII (16/7/1998) đã nêu là:

“Phải xây dựng môi trường văn hóa từ trong mỗi gia đình, làng bản, xã phường, khu tập thể, cơ quan… xây đựng đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong việc xây dựng nếp sống văn minh” [21, tr.56]

Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở chính là thực hiện một cách cụ thể, thiết thực và sinh động chủ trương của Đảng là nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại, khuyến khích nhân dân lao động tham gia sự nghiệp văn hóa trên cả hai mặt sáng tạo và hưởng thụ

Huyện Quảng Xương (tỉnh Thanh Hóa) là một huyện đồng bằng ven biển, được xem là “vệ tinh” của toàn tỉnh, do đó mọi hoạt động kinh tế - xã hội, văn hóa của huyện có tác động rất lớn đến các vùng lân cận Là huyện có

bề dày truyền thống cách mạng, nhiều phong tục tập quán tốt đẹp được lưu giữ thông qua lễ hội truyền thống, các gia phả dòng họ, gia đình Đặc biệt được thể hiện trong quy ước, hương ước của làng, xã văn hóa Thấm nhuần Nghị quyết đại toàn quốc của Đảng khóa VII, khóa VIII, thực hiện chủ trương của UBND tỉnh Thanh Hóa, trực tiếp là Sở Văn hóa - Thông tin, huyện ủy, UBND huyện Quảng Xương đã tiến hành công tác xây dựng đời sống văn hóa

ở cơ sở nhằm tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh, đời sống kinh tế phát triển, trật tự an ninh quốc phòng được đảm bảo Quảng Xương là một trong những huyện đi đầu trong việc xây dựng làng văn hóa của tỉnh Thanh Hóa

Trang 5

Từ năm 1991 đến nay, công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của huyện Quảng Xương đã có những thành tích to lớn, góp phần tích cực vào việc hoàn thành thắng lợi các mục tiêu chính trị, kinh tế- xã hội của huyện nhà Với những thành tựu đạt được, ngành Văn hóa thông tin huyện Quảng Xương luôn là một trong những đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua toàn tỉnh

Bên cạnh những thành tựu đạt được, những đóng góp của công tác xây dựng đời sống văn hóa đối với đời sống kinh tế xã hội, công tác xây dựng đời sống văn hóa còn bộc lộ một số khó khăn, đặc biệt là việc nâng cao chất lượng hoạt động của các phong trào văn hóa trong thời kỳ đổi mới

Vì vậy, việc tìm hiểu “Đảng bộ huyện Quảng Xương (tỉnh Thanh Hóa) lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở từ năm 1991 đến năm 2010” có ý nghĩa về mặt khoa học, thực tiễn và giáo dục

Xuất phát từ lý do trên tôi đã chọn đề tài “Đảng bộ huyện Quảng Xương (Thanh Hóa) lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở từ năm 1991 đến năm 2010” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Văn hoá và công tác xây dựng nền văn hoá là một vấn đề được nhiều tác giả, cơ quan của Đảng và Nhà nước quan tâm nghiên cứu Có nhiều công trình nghiên cứu văn hóa đã ra mắt bạn đọc Đầu tiên phải kể đến các công

trình như: Văn hóa đổi mới (1994) của Thủ tướng Phạm Văn Đồng nêu lên một số luận điểm về mối quan hệ giữa văn hóa và sự nghiệp đổi mới; Cơ sở văn hóa Việt Nam và Bản sắc văn hóa Việt Nam (1998) của GS Trần Quốc Vượng và Cơ sở văn hóa Việt Nam và Bản sắc văn hóa Việt Nam của PGS.TS Trần Ngọc Thêm; Văn hoá và văn minh (1998) của Hồ Sỹ Quý; Văn hoá và cách tiếp cận mới (1991) của Phan Ngọc; Văn hoá và văn hoá thế kỷ mới cuả

Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, đã đưa ra nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá và các cách tiếp cận nghiên cứu về văn hoá phong phú,

Trang 6

đa dạng Đó là những tài liệu tác giả tham khảo định hình cho mình một quan niệm đúng về văn hoá được sử dụng trong luận văn

Để nhấn mạnh tầm quan trọng và vai trò của văn hoá trong thời kỳ đổi mới đất nước, đồng thời khắc phục loại bỏ những quan niệm sai lầm về văn hoá

đã có các công trình nghiên cứu như: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa ở nước ta (1999) của GS Hoàng Vinh; Những vấn đề vê xây dựng đời sống văn hóa cơ sở hiện nay (1985) của Nguyễn Văn Hy; Văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa của TS Nguyễn Hữu Thức; Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đã bản sắc dân tộc của Nguyễn Khoa Điềm trên Tạp chí Tư tưởng văn hoá - 2001; Những điểm mới về văn hoá trong văn kiện Đại hội X của Bùi Đình Phong trên tạp chí Tư tưởng Văn hoá - 2006

Cùng với công trình nghiên cứu về lĩnh vực văn hoá nói chung, cũng xuất hiện những công trình nghiên cứu về đời sống văn hoá ở cơ sở, góp phần làm rõ hơn những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn đối với đời sống văn

hoá tinh thần của mỗi người dân như: Một số giá trị văn hóa truyền thống với đời sống văn hóa ở cơ sở nông thôn hiện nay (1998) của Phạm Việt Long và Nguyễn Đạo Toàn; Các vùng văn hóa Việt Nam của Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận;Văn hóa các vùng truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ của hội văn

nghệ dân gian Nghệ An; Nhiều công trình đã tổng kết thực tiễn cuộc vận động xây dựng làng văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa cơ sở có giá trị như:

Xây dựng môi trường văn hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn (2006) do Ban văn hóa Tư tưởng Trung ương ấn hành; Về xây dựng môi trường văn hoá

cơ sở (2004) của Tiến sĩ Văn Đức Thanh

Trên cơ sở thực tiễn, tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện đề tài khoa học

“Làng văn hóa Thanh Hóa” và trở thành một trong những địa phương đi đầu

trong cả nước về công tác nghiên cứu vấn đề này Những năm 90 trở lại đây,

có các công trình nghiên cứu về làng văn hóa Thanh Hóa được công bố rộng

rãi như: Văn hóa làng và làng văn hóa Xứ Thanh (1995); Những làng văn hóa

Trang 7

tiêu biểu tỉnh Thanh (1998); Xây dựng làng văn hóa Thanh Hóa (2003) do Sở

Văn hóa Thông tin Thanh Hóa xuất bản, đã giới thiệu khái quát về truyền thống văn hóa tiêu biểu ở một số làng điển hình ở Thanh Hóa Luận văn Thạc

sĩ khoa học lịch sử của Bùi Thị Oanh với nội dung “Cuộc vận động xây dựng làng văn hóa ở huyện Nga Sơn, Tỉnh Thanh Hóa” (2006)

Những công trình nghiên cứu trên bước đầu đưa ra những kết quả, giải pháp trong việc xây dựng môi trường văn hoá ở cơ sở (làng văn hoá) Tuy nhiên cho đến nay có rất ít công trình nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện

về sự lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa của Đảng bộ cơ sở, cũng như đánh giá vai trò của đời sống văn hóa ở cơ sở đối với sự phát triển của kinh tế, chính trị ở địa phương Đây cũng là một trong những lý do tôi chọn vấn đề này làm nội dung nghiên cứu về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở cho luận văn của mình

Tuy nhiên, các công trình trên là những tài liệu quý mà tôi có thể tham khảo để thực hiện luận văn

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khái quát những vấn đề tư duy lý luận về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, luận văn làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo trong xây dựng đời sống văn hóa của huyện và những tác động của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội của huyện

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, truyền thống lịch sử- văn hóa, kinh tế - xã hội của huyện Quảng Xương; phác họa diện mạo các mặt của

đời sống văn hóa ở Quảng Xương trước năm 1991

- Phác họa quá trình lành đạo xây dựng làng văn hóa của Đảng bộ huyên Quảng Xương trong 20 năm đổi mới (1991-2010)

Trang 8

- Tổng kết thực trạng, những thành tựu và hạn chế khó khăn trong quá trình xây dựng Từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, tổ chức xây dựng các mặt của đời sống văn hóa cơ sở trong thời gian tiếp theo

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Quá trình Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

- Những tác động của việc xây dựng đời sống văn hoá cơ sở đối với đời sống kinh tế, xã hội, chính trị của huyện Quảng Xương từ năm 1991 đến năm 2010

5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

- Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam liên quan đến vấn đề văn hóa

- Kế thừa kết quả nghiên cứu về văn hóa từ trước đến nay

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp logic

và chú trọng phương pháp thống kê, so sánh đối chiếu

Trang 9

Luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp liên ngành

để tìm ra mối liên hệ, tác động qua lại giữa đời sống văn hóa đối với tình hình kinh tế xã hội trong hoàn cảnh lịch sử nhất định

6 Đóng góp của luận văn

Từ quá trình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của Đảng bộ huyện Quảng Xương, dựa vào nguồn tư liệu phong phú, luận văn khôi phục lại bức tranh về sự thay đổi diện mạo của đời sống văn hóa trước đổi mới cũng như sự giao thoa những yếu tố giữa truyền thống và hiện đại trong đời sống văn hóa từ 1991 đến năm 2010

Từ thực tiễn nghiên cứu, nêu lên những điểm nổi bật, những điểm mạnh, những hạn chế, những khó khăn trong quá trình đảng bộ huyện lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Trên cơ sở đó, đưa ra một số nhận xét

và bài học kinh nghiệm, mong góp phần nào việc nâng cao chất lượng hoạt động của các phong trào văn hóa, hoàn thiện những bước đi trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

Luận văn cung cấp thêm tư liệu phục vụ cho công tác tuyên truyền vận động xây dựng nếp sống mới văn hóa ở cơ sở địa phương, cho việc nghiên cứu giảng dạy, học tập lịch sử địa phương

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo Luận văn gồm 3 chương, 7 tiết:

Chương 1: Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo xây dựng đời sống

văn hóa ở cơ sở từ năm 1991 đến năm 2000

Chương 2: Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo xây dựng đời sống

văn hóa ở cơ sở từ năm 2001 đến năm 2010

Chương 3: Thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm

Trang 10

Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN QUẢNG XƯƠNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000

1.1 Cơ sở của việc xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn huyện Quảng Xương

1.1.1 Khái niệm văn hóa và đời sống văn hóa

1.1.1.1 Khái niệm văn hóa

* Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về văn hóa

Chủ nghĩa Mác-Lênin quan niệm người ta sinh ra ăn, mặc, ở trước rồi mới hát, múa, vẽ, viết và bàn triết lý sau Kinh tế là nền tảng của một xã hội,

là hạ tầng cơ sở Chính trị pháp luật, văn hoá là những cái được xây dựng trên nền tảng đó, là thượng tầng kiến trúc của xã hội

Mác, Ănghen, Lênin là những người thầy, những lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân đã làm một cuộc cách mạng thực sự trong vũ trụ quan, xây dựng một học thuyết mới về văn hoá Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng văn hoá bao gồm mọi sinh hoạt của con người, nó không chỉ hạn chế trong lĩnh vực tư tưởng, đời sống tinh thần của xã hội Văn hoá là tất cả những gì con người xây dựng nên, tất cả những thành tích của loài người về mặt sản xuất, xã hội

và tinh thần

Lênin đã đưa ra quan điểm được coi như một định nghĩa về văn hoá và xây dựng nền văn hoá mới: “Nền văn hoá vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không phải do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hoá

vô sản bịa ra Tất cả cái đó là hoàn toàn nhảm nhí Nền văn hoá vô sản phải là

sự phát triển hợp quy luật của cái vốn kiến thức mà loài người đã tạo ra dưới ách áp bức của xã hội tư bản, của xã hội địa chủ, của xã hội quan liêu” [42, tr.17] Từ đó Lênin khẳng định: “Tất cả những con đường lớn nhỏ đó đã và đang tiếp tục đưa tới nền văn hoá vô sản, cũng hệt như khoa kinh tế chính trị

Trang 11

do mác xây dựng lại đã chỉ ra cho ta thấy xã hội loài người tiến lên đấu tranh giai cấp, tiến lên bước đầu của cuộc cách vô sản” [42, tr.20]

Những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin là những phác thảo cơ bản

về nền văn hoá mới mang nội dung và đại diện cho giai cấp công nhân Nền văn hoá đó có truyền thống từ lâu đời, là tinh hoa của mỗi dân tộc và toàn nhân loại

* Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Cùng những tư tưởng vĩ đại của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang chiếu sáng con đường chúng ta đi Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin vào cách mạng Việt Nam, trong đó có lĩnh vực văn hoá, văn nghệ

Hồ Chí Minh có cách nhìn nhận sâu sắc về văn hoá: “… Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, nghệ thuật, văn học… những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương tiện

sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là

sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với những nhu cầu đời sống, những đòi hỏi của sự sinh tồn” [44, tr.431]

Người cũng đã nêu: “Năm điểm lớn xây dựng nền văn hoá dân tộc

1 Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường

2 Xây dựng luân lý: Biết hy sinh mình cho quần chúng

3 Xây dựng xã hội: Một sự nghiệp có liên quan tới phúc lợi nhân dân

Trang 12

lập Uỷ ban trung ương vận động đời sống mới Đến tháng 3/1947, Người viết cuốn sách “Đời sống mới” để hướng dẫn việc xây dựng đời sống mới trong các tầng lớp nhân dân, trong toàn bộ xã hội

Khái niệm “Đời sống mới” được Hồ Chí Minh nêu ra bao gồm cả đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới Trong đạo đức mới “nêu cao và thực hành Cần, Kiệm, Liêm, Chính tức là nhen lửa cho đời sống mới” Lối sống mới (lối sống mà Hồ Chí Minh xây dựng cho mọi người được thể hiện ngay ở bản thân của Người), trước hết là lối sống có lý tưởng, có đạo đức Đó còn là lối sống văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hoà truyền thống tốt đẹp của dân tộc

và tinh hoa văn hoá nhân loại Quá trình xây dựng lối sống mới cũng là quá trình làm cho thói quen ở mỗi người thành phong tục tập quán của cả cộng đồng, trong phạm vi một địa phương hay mở rộng ra cả nước Nếp sống mới

mà chúng ta xây dựng phải kế thừa những truyền thống tinh thần tốt đẹp, những thuần phong mỹ tục lâu đời của nhân dân: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng phải bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ Thí dụ: ta phải bỏ hết tính lười biếng tham lam… Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý Thí dụ: Đơm cúng, cưới hỏi quá xa xỉ ta phải giảm bớt đi Cái gì cũ mà tốt thì ta phát triển thêm Thí dụ: ta phải tương thân tương ái, tận trung với nước tận hiếu với dân hơn khi trước Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm Thí dụ: ăn ở cho hợp vệ sinh làm việc cho nó ngăn nắp” [45, tr.426]

Như vậy việc xây dựng đời sống mới đã được Hồ Chí Minh nêu ra từ rất sớm, bao gồm vấn đề lối sống, nếp sống, phong cách sống, chất lượng sống, Quan điểm xây dựng đời sống mới thực sự là quan điểm rất độc đáo của Hồ Chí Minh về văn hoá Văn hoá là bộ mặt tinh thần của xã hội, nhưng

bộ mặt tinh thần ấy không phải cái gì cao siêu, trừu tượng mà lại được thể hiện ra ngay trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người, rất dễ hiểu, dễ thấy

Trang 13

1.1.1.2 Quan niệm về đời sống văn hóa

* Khái niệm

Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội là một phức hợp những hoạt động sống của con người, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần và vật chất Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một thực thể sinh học, nhu cầu tinh thần giúp con người tồn tại như một thực thể xã hội, tức nhân cách văn hóa Hai nhu cầu cơ bản này xuất hiện ngay khi con người hình thành về mặt giống loài, tức là từ buổi bình minh của

xã hội loài người Khi xã hội phát triển đến mức độ cao, đạt tới trình độ khác nhau của nền văn minh thì những nhu cầu cũng đạt tới trình độ tương ứng Từ hai nhu cầu cơ bản trên của con người đã hình thành nhu cầu văn hóa

Nhu cầu văn hóa là biểu hiện của nhu cầu tinh thần, nhưng nó không đồng nhất với nhu cầu tinh thần, chỉ có các bộ phận nhu cầu tinh thần hướng tới giá trị cao cả, và sự đáp ứng nhu cầu này góp phần phát triển con người theo hướng nhân bản hóa thì mới xem là nhu cầu văn hóa Nhu cầu văn hóa không phải là cái nhất thành bất biến, mà nó có tính năng động và phát triển Đáp ứng nhu cầu văn hóa cững phải năng động và thường xuyên đổi mới chất lượng Các hoạt động nhằm vào sự đáp ứng nhu cầu văn hóa của con người được gọi là hoạt động văn hóa

Đơn vị cơ sở là một hình thức tổ chức cơ bản của xã hội, là địa bàn mà nơi đó cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong sinh hoạt về đời sống vật chất và đời sống tinh thần, có địa bàn sống ổn định và tổ chức hành chính ổn định Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một quá trình bao gồm toàn thể các hoạt động sống của con người nhằm làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, hướng con người đến các giá trị chân, thiện, mỹ, và nhân văn

* Vai trò của công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Đơn vị cơ sở là nơi quần chúng lao động hàng ngày, cũng là nơi tổ chức cho nhân dân thực hiện mọi nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ công dân, nơi

Trang 14

tổ chức đời sống trực tiếp cho nhân dân Mọi nhiệm vụ do trung ương đề ra chưa đến cơ sở tổ chức cho nhân dân thì nhiệm vụ đó không thể hoàn thành Với phương châm “hướng về cơ sở”, quán triệt và tổ chức để nhân dân thấm nhuần và thực hiện nghị quyết của Đảng tại cơ sở chính là mục tiêu cuối cùng của việc đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là xây dựng đời sống văn hóa ngay trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân Đó là xây dựng đời sống văn hóa cho từng cá nhân thành viên của các đơn vị cơ sở và cho chính các đơn vị cơ

sở Vì vậy hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở có hai chiều tác động: một mặt đưa những giá trị văn hóa cao tới quần chúng nhân dân, làm cho quần chúng nhân dân tiếp cận được với những giá trị đó Mặt khác cần phải động viên, tổ chức phát động quần chúng nhân dân tham gia hoạt động sáng tạo, trao đổi văn hóa

Bộ Văn hóa - Thông tin coi xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một trong những trọng tâm công tác của ngành mình Đây không chỉ là chủ trương chiến lược lâu dài mà còn mang tính thời sự và cấp bách Vì công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở theo định hướng chung, vừa biết khơi dậy những sáng tạo văn hóa ở cơ sở, phát huy truyền thống văn hóa địa phương, góp phần làm phong phú nền văn hóa của dân tộc Cuộc đấu tranh chống tệ nạn xã hội, các tiêu cực xã hội được tiến hành đồng thời với công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở được coi như bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là công việc xây dựng kết cấu hạ tầng văn hóa để tiến hành các hoạt động giáo dục xã hội chủ nghĩa đối với nhân dân lao động, đồng thời tổ chức sự giao lưu văn hóa giữa họ Ngoài ra, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở còn là xây dựng những điều kiện để tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh trong thời gian rãnh rỗi của nhân dân Góp phần sáng

Trang 15

tạo ra lực lượng sản xuất mới, củng cố quan hệ sản xuất mới, xóa bỏ cái cũ, xây dựng cái mới trong mọi mặt của đời sống vật chất cũng như tinh thần ở địa phương; là bước đầu xây dựng ở khắp nơi một cuộc sống hạnh phúc, trong

đó mọi người vì mỗi người, mỗi người vì một người

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tạo dựng một lối sống văn minh lịch sự, những phong tục tập quán tốt đẹp vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa phù hợp với trào lưu văn hóa tiến bộ của nhân loại Đồng thời, đó còn là động lực to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở

Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở về một phương diện nào đó còn là cuộc đấu tranh gay gắt trên mặt trận tư tưởng và văn hóa Đó là cuộc đấu tranh một mặt nhằm khẳng định các giá trị dân chủ nhân dân và tiến bộ của văn hóa, giáo dục nếp sống đạo đức và phong cách ứng xử có văn hóa cho mọi người Mặt khác, cần kiên quyết chống lại những hành vi thô bạo, lai căng phản văn hóa, phi đạo đức và nhân tính

Như vậy, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một công cuộc xây dựng

cơ bản, chúng ta chỉ có thể giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh “ai thắng ai” trên mặt trận văn hóa xã hội chủ nghĩa chỉ bằng cách xây dựng thành công đời sống văn hóa ở cơ sở

* Các hoạt động của văn hóa ở cơ sở

Thứ nhất: Hoạt động thông tin, tuyên truyền Đây là hình thức giáo dục

nhẹ nhàng mà sâu sắc Các tổ đội thông tin cổ động cũng là một hình thức tổ chức linh hoạt, có thể truyền đạt chủ trương của Đảng và Nhà nước đến tận những bản làng xa xôi hẻo lánh Hoạt động này là công cụ định hướng tư tưởng, hướng dẫn suy nghĩ và hành động của toàn dân Qua tuyên truyền, cổ động phát huy vai trò làm chủ tích cực sáng tạo của quần chúng nhân ở cơ sở trên các lĩnh vực, góp phần tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với dân và tăng cường sự đồng thuận trong toàn xã hội

Trang 16

Nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động thông tin, tuyên truyền và cổ động là tập trung phục vụ nhiệm vụ chính trị và những công tác lớn của địa phương; thực hiện phổ biến rộng rãi trong công chúng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước: bao gồm các quyết định của cơ quan lãnh đạo địa phương, đồng thời nêu gương người tốt việc tốt, phê phán thói hư tật xấu, góp phần tạo dựng nếp sống văn hóa cơ sở

Các cơ quan phát thanh, truyền hình và báo chí của địa phương là cơ quan ngôn luận của Đảng và nhà nước và phản ánh nguyện vọng của nhân dân Đài truyền thanh ở cơ sở là tờ báo âm thanh của cơ sở, vừa là cơ quan nhân bản các giá trị văn hóa từ trên xuống, vừa là cơ quan sản xuất và phân phối các giá trị văn hóa cho tất cả người dân

Ngày nay, trong thời đại bùng nổ thông tin con người dễ bị lúng túng trước nhiều nguồn thông tin phong phú và đa dạng, nhiều chiều Công tác thông tin, tuyên truyền, cổ động ở điạ phương có nhiệm vụ sàng lọc và định hướng giúp mọi người lựa chọn, định hướng tiếp cận thông tin một cách đúng đắn mà nhanh chóng và thuận lợi nhờ đó mà xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong phạm vi ở cơ sở Đồng thời hoạt động thông tin tuyên truyền,

cổ động còn là một con đường để thực hiện xã hội hóa các phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

Thứ hai: Hoạt động văn nghệ quần chúng Đây là dạng hoạt động văn

nghệ không chuyên, khá hấp dẫn tại đơn vị ở cơ sở Có thể nói hoạt động văn nghệ quần chúng là diện mạo khởi sắc làm nên sức sống của một đơn vị văn hóa cơ sở

Nhiệm vụ của hoạt động văn nghệ quần chúng chủ yếu là phản ánh kịp thời và sinh động cuộc sống đa dạng của nhân dân địa phương bằng thơ văn, nhạc, kịch Từ đó đề cao tấm gương tốt, phê phán những thói hư tật xấu Đáp ứng kịp thời những đòi hỏi về thưởng thức nghệ thuật của quần chúng nhân dân, qua đó bồi dưỡng năng lực nhận thức, xây dựng thị hiếu thẫm mỹ theo

Trang 17

hướng lành mạnh, tiến bộ Mặt khác, đáp ứng nhu cầu sáng tác và biểu diễn của quần chúng, từ đó phát hiện và nhanh chóng bồi dưỡng các tài năng trẻ trở thành hạt nhân cho phong trào Có thể xem văn nghệ quần chúng là vườn ươm nghệ thuật, nhiều nghệ sĩ đã trưởng thành từ phong trào văn nghệ quần chúng ở cơ sở

Thứ ba: Hoạt động của thư viện ở cơ sở Sách báo là nguồn tri thức vô

tận, góp phần trực tiếp vào việc nâng cao hiểu biết cho mọi người Vì vậy hoạt động thư viện, phòng đọc chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động khai trí văn hóa cho nhân dân của cơ quan văn hóa

Tổ chức thư viện và vận động quần chúng đọc sách báo có mối quan hệ hữu cơ với nhau Phong trào đọc sách lấy thư viện làm cơ sở, ngược lại thư viện phải dựa vào phong trào đọc sách báo của nhân dân mà duy trì và phát triển

Thứ tư: Hoạt động giáo dục truyền thống và bảo vệ, phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hoá, lễ hội

Để giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử và cách mạng ngành văn hóa chủ trương xây dựng các nhà bảo tàng, phòng truyền thống ở những nơi có địa danh văn hóa lịch sử và cách mạng nổi tiếng trong phạm vi cả nước Ngoài ra, ở tất cả các đơn vị văn hóa cơ sở có thể xây dựng phòng truyền thống hoặc trụ sở làm việc của cơ quan Ngành văn hóa còn chủ trương bảo tồn những địa điểm danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử, lễ hội quan trọng dành cho nghiên cứu và tham quan du lịch

Thứ năm: Hoạt động xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, đơn vị văn hoá, nếp sống văn hoá

Cơ sở hạ tầng xã hội của văn hóa là gia đình, dòng họ và làng xã Trong truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc ta là làng xã có vị trí cực kỳ quan trọng: làng là tế bào, là bộ phận kết nối hợp thành trong mối quan hệ keo sơn giữa cá nhân - gia đình - họ hàng - làng - nước Là nơi bắt nguồn và kết tinh

Trang 18

biết bao di sản giá trị tinh thần, đạo đức của văn hóa, góp phần chung đúc thành những giá trị chung của dân tộc

Chính vì lẽ đó, làng và văn hóa làng giữ vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở nông thôn Sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta do vậy cần phải dựa chủ yếu trên nền tảng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở đô thị, nông thôn, đặc biệt trên cơ sở làng và văn hóa làng thể hiện cụ thể trong việc xây dựng làng văn hóa Xây dựng làng văn hóa cũng chính là thực hiện một cách cụ thể, thiết thực việc giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại, khuyến khích nhân dân lao động tham gia sự nghiệp văn hóa trên cả hai mặt sáng tạo và hưởng thụ Xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa là một trong những biện pháp nhằm thực hiện chiến lược con người và chiến lược văn hóa của Đảng và Nhà nước ta Thực chất của việc xây dựng gia đình văn hóa là xây dựng đời sống văn hóa trong phạm vi mô, đó là gia đình Đây là yếu tố nền tảng và cốt lõi nhất; bởi lẽ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa gia đình được xem với tư cách là “là tế bào của xã hội” và là “cái nôi nuôi dưỡng suốt cả đời người”

Xây dựng nếp sống văn hóa là một mặt không thể thiếu trong xây dựng đơn vị văn hóa ở cơ sở Nếp sống văn hóa là những mô thức ứng xử của con người trong mối quan hệ với thiên nhiên, xã hội và với chính bản thân con người, được vận dụng và lặp đi lặp lại nhiều lần trong cuộc sống trở thành thói quen, thành phong tục - tức là một hệ thống các chuẩn mực xã hội được cộng đồng chấp nhận và tự nguyện thực hiện xây dựng nếp sống văn hóa tiêu chuẩn Đó là điều kiện cần thiết để xây dựng nên làng, khu phố, đơn vị văn hóa, gia đình văn hóa

Thứ sáu: Hoạt động thể dục - thể thao, vui chơi giải trí Là hoạt động

không những nhằm mục đích tăng cường thể chất mà còn rèn luyện nên những phẩm chất tinh thần như ý chí bền bỉ, lòng dũng cảm, hoạt bát, thông

Trang 19

minh và tinh thần tập thể đồng đội và làm tan biến những căng thẳng đầu óc sau thời gian làm việc liên tục

Ở những nơi có nhà văn hóa, hội trường, sân vận động thì có thể xây dựng thành các điểm vui chơi thường xuyên Nơi chưa có điều kiện nên tổ chức các hoạt động thể dục - thể thao, vui chơi giải trí theo định kỳ tại cơ sở

* Thiết chế văn hóa cơ sở

Nhờ sự xuất hiện của các phương tiện thông tin đại chúng, các sản phẩm văn hoá do xã hội tạo ra có thể đến thẳng tới từng đối tượng, cho nên sản phẩm của văn hoá phải thông qua các thiết chế văn hoá - xã hội, tức là phải qua trạm trung chuyển để đến với công chúng Bao gồm các yếu tố sau:

Một là: Có bộ máy điều hành, bao gồm cán bộ quản lý và một số cán

bộ chuyên môn

Hai là: Các quy chế, điều lệ cho các hoạt động văn hoá

Ba là: Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ các hoạt động văn hoá

Ba yếu tố trên quy tụ vào một cơ quan văn hoá như: nhà văn hoá, trung tâm văn hoá, thư viện, nhà bảo tàng, các câu lạc bộ…

Do kinh nghiệm thực tiễn vài năm qua, ngày nay chúng ta thấy thay vào nhà văn hóa cần xây dựng “trung tâm văn hóa” Là một thiết chế văn hóa tổng hợp, trung tâm văn hóa bao chứa hầu hết các hoạt động văn hóa cơ sở Tại đây có thể xây dựng sana khấu ngoài trời, có một số phòng ốc dành cho hoạt đông khác như thư viện, phòng truyền thống, phòng họp trụ sở của cơ quan văn hóa Ngoài ra, có cả sân vận dộng để tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao và vui chơi giải trí

1.1.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Quảng Xương

1.1.2.1 Đặc điểm tự nhiên

Quảng Xương là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Thanh Hoá, thuộc khu vực châu thổ sông Mã, sông Chu Phía Bắc giáp thành phố Thanh Hoá;

Trang 20

phía Đông Bắc giáp thị xã du lịch Sầm Sơn; phía Nam giáp huyện Nông Cống, Tĩnh Gia; phía Tây giáp Đông Sơn

Diện tích tích tự nhiên của huyện là 227,63 km2 được phân bố: vùng biển 15%, vùng trọng điểm lúa 60%, vùng trồng hoa mầu 25% Trước năm

1945, trung tâm của huyện có tên là Bùi Thôn (ở Quảng Giao) Đến tháng Tám năm 1945 chuyển về Quảng Ninh và hiện nay đặt tại Lưu Vệ (Quảng Tân) cách thành phố Thanh Hoá 8 km về phía bắc Cơ cấu toàn huyện có 41

xã, 1 thị trấn với trên 400 thôn, làng, khu phố Có trên 30 cơ quan hành chính

sự nghiệp, có 6 trường THPT, 1 trung tâm Giáo dục thường xuyên và dạy nghề, có 132 trường của 3 cấp học Mầm non, tiểu học và THCS

Với chiều dài bờ biển gần 18km, chạy dài chênh chếch theo hướng Bắc

- Tây Nam với những bãi cát mịn thoai thoải bằng phẳng, giữa vùng đất ven biển thuộc thị xã Sầm Sơn hiện nay nổi lên khóm núi Trường Lệ nhô ra biển tạo thành một thắng cảnh với khu du lịch nghỉ mát và tắm biển nổi tiếng Hai đầu của huyện tiếp giáp với hai cửa sông lớn là cửa Ghép (còn gọi là cửa Hàn), phía Bắc là cửa Chào (còn gọi là cửa Hới) là cửa ngõ giao thông đồng thời cũng là những điểm chốt hết sức quan trọng để phòng vệ mặt biển Huyện có địa hình cao trung bình từ 3 mét đến 5 mét so với mực nước biển, dạng sống trâu chạy theo hướng Bắc - Nam, chia huyện thành hai tiểu vùng:

- Tiểu vùng đồng bằng gồm 21 xã, thị trấn phía Tây đường quốc lộ 1A, đất đai khá bằng phẳng với điều kiện kinh tế là sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ

- Tiểu vùng ven biển gồm 20 xã phía Đông đường quốc lộ 1A, địa hình phức tạp, có dạng làn sóng Đặc điểm kinh tế là sản xuất nông nghiệp, biển và

có nhiều khả năng phát triển du lịch

Về mặt giao thông, Quảng Xương có quốc lộ 1A, quốc lộ 45, quốc lộ

47 và tỉnh lộ 4A, tỉnh lộ số 10 đi qua Đây là những trục đường chính được hình thành từ trước Cách mạng Tháng Tám Ngoài ra còn có một hệ thống

Trang 21

đường cái liên xã được xây dựng tạo nên một mạng lưới giao thông thuận tiện dày đặc

Huyện Quảng Xương với những đất cát pha bồi tụ cao ráo, cư dân đông đúc, những vùng đất thấp mầu mỡ nổi lên với từng tụ điểm dân cư trù phú, những con sông hiền hoà chạy theo hướng Bắc Nam, núi Hoà Trường, núi Văn Trinh ở phía Tây Nam, núi voi ở Tây Bắc hoà trong tiếng sóng biển rì rào tạo nên một cảnh trí thiên nhiên phong phú đa dạng có phần thơ mộng nhưng cũng không kém phần khắc nghiệt

Với vị trí địa lý như vậy nên khí hậu của Quảng Xương nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng lớn của khí hậu vùng ven biển, nền nhiệt đới cao với hai mùa chính là mùa Hạ và mùa Đông khô lạnh, xen kẽ hai mùa chính là khí hậu chuyển tiếp: giữa mùa hạ sang Đông là mùa Thu ngắn có bão lụt, giữa Đông sang Hạ là mùa Xuân không rõ rệt có mưa phùn, mặt khác còn chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng về mùa Hạ, sương muối về mùa Đông độ, nắng, mưa… nhìn chung là thuận lợi cho huyện Quảng Xương phát triển cây trồng, vật nuôi đánh bắt hải sản và phát triển một nền kinh tế đa dạng Tuy nhiên, vẫn có một số thời điểm do tthời tiết không thuận lợi thường gây thiệt hại cho mùa màng nông nghiệp và tổn thất cho ngư dân

1.1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Là một huyện đất rộng người đông, có vị trí địa lý, khí hậu tương đối thuận lợi là những điều kiện để huyện Quảng Xương thu hút được nhiều vốn đầu tư, phát triển thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội

Dân số của huyện năm 2007 là 280.000 người, với 1168 người/km2, vì vậy huyện có một lực lượng lao động dồi dào Dân số của huyện tuy đông nhưng phân bố tương đối hợp lý trên cả ba vùng (biển, mầu, lúa) Do đó thuận lợi cho việc khai thác các nguồn lực, sử dụng thời gian nhàn rỗi vào việc sáng tạo nghệ thuật và hưởng thụ nghệ thuật chuyên nghiệp cũng như văn nghệ quần chúng Cư dân Quảng Xương chủ yếu làm nông nghiệp và ngư nghiệp

Trang 22

ngoài ra còn có cái nghề như dệt chiếu cói (ở Quảng Phúc, Quảng Vọng); mây tre đan Quảng Phong; nghề mộc và làm nón, làm muối mắm (Quảng Nham); trồng thuốc lào, nuôi trồng thuỷ sản (Quảng Định, Quảng Trung)

Phía Bắc huyện có khu công nghiệp Lễ Môn quy mô 200 ha đã đi vào sản xuất, có cảng sông, biển - một đầu mối giao thông quan trọng với thị trường bên ngoài, là trung tâm du lịch của tỉnh, phía Đông Bắc giáp thị xã Sầm Sơn có bãi biển đẹp nổi là trung tiếng trong cả nước Phía Nam của huyện giáp với khu công nghiệp Nghi Sơn, là đô thị cấp III, địa bàn thu hút tương đối hàng hoá thực phẩm nông sản và lao động của Quảng Xương tham gia phát triển Phía Tây giáp huyện Đông Sơn, là địa bàn quan trọng trong giao lưu buôn bán với huyện

Trong 25 năm đổi mới, dưới đưòng lối lãnh đạo của Đảng bộ huyện, kinh tế huyện nhà đã đạt được những thành tựu quan trọng đáng khích lệ, tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, đáp ứng cơ bản nhu cầu đời sống vật chất và nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần ổn định tình hình chính trị - xã hội, tạo tiền đề vững chắc để thực hiện đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

1.1.2.3 Truyền thống văn hoá

Quảng Xương là một huyện có bề dày truyền thống cách mạng, nhiều

di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, di tích kiến trúc nghệ thuật, phong tục tập quán tốt đẹp được lưu giữ qua các lễ hội truyền thống, các gia phả của gia đình, dòng họ và được thể hiện rõ nét trong hương ước, quy ước xây dựng làng xã

Các công trình kiến trúc văn hoá ở Quảng Xương hiện nay như Chùa Kênh (Quảng Hùng); Đền thờ An Dương Vương (Quảng Châu); chùa Mậu Xương (Quảng Lưu); Đền thờ Trần Nhật Duật (Quảng Hợp); Phủ thờ Bùi Sỹ Lâm (Quảng Tân); Phủ Voi (Quảng Thịnh); Nghè Ngọc Nhị (Quảng Vọng) Đây là các công trình văn hoá đã được xếp hạng cấp tỉnh và quốc gia Hay

Trang 23

những cảnh trí thiên nhiên có bàn tay gia công của con người như núi Voi (Quảng Thắng), núi Trường Lệ, núi Văn Trinh, sông Lý, sông Vạn Lịch… phản ánh phong tục tập quán cư dân nông nghiệp mang mầu sắc “Văn hoá biển” của Quảng Xương

Với một bề dày truyền thống lao động, chiến đấu anh dũng kiên cường nơi đầu sóng ngọn gió, từng bước hoàn chỉnh bộ mặt thiên nhiên, xây dựng và bảo vệ quê hương xóm láng Để có một Quảng Xương như ngày hôm nay, nhân dân có quyền tự hào về đóng góp của cha ông mình trong hành trình lịch sử đầy quang vinh nhưng cũng không ít khó khăn thử thách, gian khổ của dân tộc

Truyền thống không thể thay thế được hiện thực nhưng truyền thống sẽ biến thành sức mạnh vật chất một khi hiểu biết cội nguồn, tự hào về cội nguồn

để vững vàng vươn tới tương lai Trong dòng chảy không ngừng của thời gian bất tận, Quảng Xương với bề dày truyền thống và lịch sử đã và sẽ viết nên những trang sử mới hào hùng, cùng nhân dân cả nước xây dựng một tổ quốc Việt Nam giàu mạnh, văn minh

Trong những năm qua, cùng với việc quan tâm xây dựng huyện nhà trở thành đơn vị phát triển toàn diện Đảng bộ, chính quyền, các cơ quan ban ngành đoàn thể và nhân dân huyện Quảng Xương đã luôn quan tâm đến công tác xây dựng và phát triển đời sống văn hoá cơ sở, vượt qua những khó khăn bước đầu góp phần tích cực vào thành tựu chung của công cuộc đổi mới đất nước

1.1.3 Thực trạng đời sống văn hóa của huyện Quảng Xương trước năm 1991

Sau năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước bước vào kỷ nguyên mới thống nhất và quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Những năm đầu tiên đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, đất nước ta gặp rất nhiều khó khăn, cơ sở vật chất và kỹ thuật nghèo nàn lạc hậu Nhưng Đảng ta vẫn quan tâm đến xây dựng đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân nhằm

Trang 24

từng bước xây dựng kiến trúc thượng tầng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội và giáo dục nhân dân ta tinh thần yêu lao động, yêu tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Cùng với nhân dân cả nước, Đảng bộ và nhân huyện Quảng Xương đã trải qua những tháng ngày khó khăn chồng chất do hậu quả của chiến tranh để lại, do thiên tai khắc nghiệt và nền kinh tế nghèo nàn Đảng bộ huyện Quảng Xương tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIII (5/1975) đề ra chỉ tiêu 55.000 tấn lương thực, 6 vạn con lợn, 5.400 tấn cá biển… với sự nỗ lực quyết tâm chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, vận dụng sáng tạo các chủ trướng của Đảng và chính sách của Nhà nước vào điều kiện cụ thể của địa phương, vì vậy chỉ trong một thời gian ngắn huyện Quảng Xương đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh, cải thiện một bước đời sống của nhân dân

về ăn, mặc, ở, đi lại, học tập và chữa bệnh: mức ăn bình quân đầu người vụ chiêm 16kg/tháng, vụ mùa là 13 kg/tháng Khắc phục tình trạng nghèo nàn của kinh tế góp phần làm cho công tác xây dựng đời sống văn hóa mới được chú trọng và tiến hành rộng khắp, nhằm xóa bỏ những tàn dư lạc hậu của chế

độ xã hôi thực dân nửa phong kiến tồn tại trong tư tưởng và nếp sống của nhân dân, xác lập những nhân tố mới của nền văn hóa XHCN đã đạt được một

số thành tựu bước đầu

Trang 25

Quán triệt và thực hiện Nghị Quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1976), nghị quyết của Đại hội Đảng

bộ Quảng Xương lần 14 (10/1976), trong những năm 1977- 1978 công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở được mở rộng về quy mô và tiến nhanh về tốc

độ Tăng cường cơ sở vật chất và phát triển mạnh về mạng lưới hoạt động: làm mới thêm 75 phòng học kiên cố, 141 phòng học bán kiên cố, 41 xã đều có trường; 39/41 xã có thư viện, 21/41 xã có đội văn nghệ thông tin, 9/41 xã co

5000 gia đình văn hóa chiếm 1/7 dân số toàn huyện [28, tr.15]

Trên mặt trận thông tin tuyên truyền, huyện chỉ đạo mỗi xã thành lập một đội thông tin giao cho cán bộ văn hóa chuyên trách Các cơ sở tập trung tuyên truyền các Nghị quyết của Đảng, giáo dục tinh thần làm chủ tập thể XHCN, cổ vũ phong tròa thi đua lao động hoàn thành kế hoạch Nhà nước, nêu tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng lên đường chiếnđấu bảo vệ Tổ quốc Thời điểm này ngành Văn hóa - Thông tin đã xây dựng được 3 phòng: Phòng văn hóa, phòng thông tin, phòng Thể dục - Thể thao

Năm 1978, huyện đã hoàn thành việc tu sửa nhà truyền thống, nhà thư viện và xây dựng xong nghĩa trang liệt sỹ Phong trào thể dục thể thao ở cơ sở nhất là trong các trường học có sự chuyển biến nhanh và mạnh Các đoàn thể quần chúng nhân dân tiếp tục đẩy manh phong trào “Ba xung kích làm chủ tập thể”, xây dựng nếp sống mới, giáo dục đạo đức, tác phong sinh hoạt lành mạnh, đặc biệt là trong thanh niên, ở mỗi làng, xã, trường học, cơ quan, xí nghiệp đều có phong trào hành động

Năm 1979, toàn huyện có 17/41 xã có phong trào văn hóa quần chúng tốt Các đội chiếu bóng cho 913000 lượt người xem, 9 xã có hệ thống loa tuyền thanh, đảm bảo phát thanh tuyên truyền thường xuyên, phát hành

115000 bộ sách Phong trào văn hóa văn nghệ có chuyển biến thể hiện rõ hơn trong hội diễn văn nghệ quần chúng

Trang 26

Tháng 1/1983, Đại hội Đảng bộ huyện Quảng Xương lần thứ 17 đã diễn ra Thực hiện nghị quyết của Đại hội trong những năm 1983-1991 công tác xây dựng đời sống văn hóa của huyện có nhiều tiến bộ và nét khởi sắc mới Trên địa bàn huyện đã xây dựng được hơn 40 đội văn nghệ nghiệp dư cấp xã và hợp tác xã, các cơ quan công tác thể dục - thể thao có nhiều cố gắng

Bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ văn hóa cũng được quan tâm, huyện ủy đã cố gắng bố trí đưa cán bộ đi học các lớp đào tạo trung cấp và sơ cấp lý luận về văn hóa Tăng cường cán bộ có trình độ chuyên môn cho phòng ban, mạnh dạn bố trí cán bộ là nữ, cán bộ trẻ vào hoạt động làm khơi dậy phong trào văn hóa của huyện

Như vậy, trải qua 15 năm (1976 -1991) Đảng bộ huyện Quảng Xương

đã vươn lên trong mọi lĩnh vực, đáp ứng kịp thời yêu cầu cách mạng của từng giai đoạn lịch sử đặt ra, trong đó có lĩnh vực xây dựng đời sống văn hóa cơ

sở, đã đạt được những thành tích đóng góp một cách thiết thực vào việc xây dựng đất nước và cải thiện nâng cao một phần đời sống tinh thần của nhân dân huyện nhà

Cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động văn hoá còn nghèo nàn lạc hậu, chưa đồng bộ Công tác thể dục - thể thao có cố gắng nhưng chưa trở thành phong trào văn hoá phát triển Vì vậy công tác văn hoá chưa phát huy hết vai trò của mình trong việc thúc đẩy sự phát triển chung của huyện nhà

Sau 15 năm đất nước thống nhất, công tác xây dựng đời sống văn hoá

cơ sở của huyện nhà bên cạnh những thành tích đã đạt được còn tồn tại nhiều

Trang 27

thiếu sót, chưa tương xứng với sự mong đợi của nhân dân trong huyện Song những thành tựu đó có ý nghĩa thực tiễn rất đáng tự hào, đáng trân trọng trong điều kiện đất nước ta còn gặp nhiều khó khăn, đồng thời đã đem lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho Đảng bộ và nhân dân huyện Quảng Xương bước vào thời kỳ mới một cách sáng tạo, chủ động và tự tin

1.2 Chủ trương và quá trình lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa của đảng bộ huyện Quảng Xương từ năm 1991 đến năm 2000

1.2.1 Quan điểm của Đảng về vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ

sở ở nước ta giai đoạn 1991 - 2000

Công tác tổ chức, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một trong những chủ trương lớn, được Đảng và Nhà nước ta đặt ra từ rất sớm Ngay từ năm

1943 Đảng đã có “Đề cương văn hóa” do đồng chí Trường Chinh soạn thảo, nhằm khẳng định văn hóa là một trong ba mật trận (kinh tế, chính trị, văn hóa)

và định hướng cho hoạt động văn hóa ở nước ta theo tinh thần “Dân tộc, khoa học, đại chúng” “Đề cương văn hóa” được đánh giá như một bản tuyên ngôn, cương lĩnh về văn hóa của Đảng, là phương hướng chỉ đạo mọi hoạt động văn hóa của cả nước trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và tiến hành xây dựng CNXH ở miền Bắc

Năm 1975, Khi đất nước hòa bình thống nhất sau 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, Đảng tiếp tục lãnh đạo cả nước bước vào thời kỳ quá độ đi lên xây dựng CNXH Nhằm khắc phục những hậu quả do chiến tranh để lại, từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội mới, động viên tinh thần của nhân dân, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12/1976), Đảng xác định “Nắm vững chuyên chính vô sản… tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng XHCN: cách mạng quan hệ sản xuất; cách mạng khoa học - kỹ thuật; cách mạng trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng…” [23, tr.298]

Để thực hiện cuộc cách mạng XHCN trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng Đảng đưa ra nhiệm vụ: “…phát triển nền văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân

Trang 28

tộc trong nước, đẩy mạnh phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng Nâng cao không ngừng trình độ thưởng thức và năng lực sáng tạo nghệ thuật của quần chúng, thõa mãn ngày càng đầy đủ nhu cầu thưởng thức và hoạt động văn hóa của nhân dân trên mọi miền của đất nước

… Xây dựng nếp sống văn minh, trật tự, tươi vui lành mạnh trong xã hội, đưa cái đẹp vào đời sống hàng ngày, vào lao động sản xuất Xây dựng nhiều công viên, cung văn hóa, cung thiếu nhi, câu lạc bộ, nhà văn hóa Chú ý

tổ chức tốt đời sống văn hóa ở các vùng kinh tế mới, ở các công trường, nông trường, lâm trường, các vùng dân tộc, miền núi, hải đảo” [23, tr.321]

Sau một thời gian tiến hành thực hiện, công tác văn hóa chưa đi vào đời sống của nhân dân có hiệu quả Cũng cần nói thêm rằng, cơ chế quản lý hành chính quan liêu, bao cấp cũng ăn sâu vào nếp nghĩ, tâm lý của những người làm công tác lãnh đạo, quản lý trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Thêm vào đó cũng như các lĩnh vực khác, chúng ta chưa có ý thức phân biệt công việc lãnh đạo với công việc quản lý các hoạt động văn hóa - nghệ thuật…

Những sai sót và yếu kém trên tuy chưa gây trở ngại lớn cho việc phát triển văn hóa sau khi đất nước được hoà bình, thống nhất, nhưng đã dần tích lũy và cản trở sự phát triển của văn hóa trong giai đoạn mới Yêu cầu đổi mới

tư duy trên lĩnh vực văn hóa là cực kỳ quan trọng và cần thiết

Với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã tiến hành đổi mới toàn diện nền kinh tế -

xã hội nước ta, trước hết là đổi mới tư duy về kinh tế, xóa bỏ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước định hướng XHCN

Trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Đảng cũng có quan điểm mới, đặc biệt chú ý tới xây dựng quan hệ xã hội và lối sống lành mạnh, khắc phục các hiện tượng tiêu cực Tư tưởng đó không chỉ giải đáp được những băn

Trang 29

khoăn trong suy nghĩ của những người làm văn hóa, mà còn là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển đúng định hướng và có hiệu quả Về vị trí và vai trò của văn hóa, Đại hội VI nhấn mạnh: “không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn hóa, văn học nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người” [17, tr.138] Vì vậy Đảng chủ trương: “Công tác văn hoá, văn học, nghệ thuật phải được nâng cao chất lượng… Đẩy mạnh các hoạt động văn hoá quần chúng thành nề nếp, nhất là trong thanh niên, khắc phục bệnh phô trương, hình thức Xây dựng và sử dụng các hệ thống thư viện, câu lạc bộ, nhà văn hoá, viện bảo tàng, nhà truyền thống từ trung ương đến cơ sở, ở các ngành và các địa phương…phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng thông tin, đưa đến tận các đơn vị cơ sở những giá trị văn hoá, nghệ thuật của dân tộc và thế giới, những kiến thức phổ thông và hiện đại về khoa học, kỹ thuật Đưa văn hoá, văn nghệ đến vùng rừng núi và nông thôn hẻo lánh… Nhà nước cùng với nhân dân xây dựng những cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết cho văn hoá, văn nghệ, giữ gìn và tôn tạo những di tích lịch sử, văn hoá” [17, tr.139]

Từ Đại hội VI công cuộc đổi mới tư duy nói chung và đổi mới tư duy trên lĩnh vực văn hóa của Đảng đã được tiếp tục Nhưng trong khuôn khổ của một Đại hội Đảng, lĩnh vực văn hóa mới chỉ được đề cập ở khía cạnh những quan điểm và phương hướng cơ bản, trở thành nền tảng cho nội dung các hoạt động

về văn hóa, văn nghệ, trong đó có vấn đề lãnh đạo và quản lý hoạt động này

Bám sát yêu cầu của đường lối đổi mới do Đảng đề xướng và lãnh đạo,

Bộ Văn hoá Thông tin đã chủ động đổi mới phương thức tổ chức xây dựng đời sống văn hoá thông tin văn hoá ở cơ sở cho phù hợp với điều kiện kinh tế đất nước Năm 1990, Bộ Văn hoá Thông tin đã tiến hành phát động phong trào thực hiện xây dựng làng văn hoá

Tiếp nối tinh thần trên, Đại hội VII (năm 1991) đã thông qua Cương

Trang 30

lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, trong đó

chỉ rõ: xã hội chúng ta xây dựng là xã hội có một nền văn hóa tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc Đảng chủ trương “Phát triển sự nghiệp văn hoá Việt Nam, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Vận động toàn dân thực hiện lối sống cần, kiệm, văn minh, lịch sự Phát động phong trào quần chúng bài trừ mê tín dị đoan và các

tệ nạn xã hội khác” [18, tr.201]

Trên cơ sở đó, Đảng nhận thức rõ: “Xây dựng gia đình văn hoá có ý nghĩa rất quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phát triển lực lượng sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống, thực hiện kế hoạch hoá dân số, giữ gìn

và phát huy những truyền thống đạo đức, văn hoá tốt đẹp của dân tộc Nâng cao ý thức và nghĩa vụ gia đình đối với mọi người, kết hợp và phát huy vai trò của xã hội, các đoàn thể, nhà trường, tập thể lao động và tập thể dân cư trong việc chăm lo bồi dưỡng tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách cao đẹp

và nếp sống có văn hoá” [18, tr.206]

Lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật cũng được Đảng ta đánh giá là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa, gắn bó với đời sống nhân dân và sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo và khuyến khích tự do sáng tạo văn hóa, nghệ thuật là tiến tới hoàn thiện con người, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm cao đẹp, đề cao tinh thần tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, phấn đấu làm cho dân giầu nước mạnh, phê phán những thói hư tật xấu, cái độc ác, thấp hèn Đồng thời phát triển sự nghiệp thông tin, báo chí,xuất bản theo hướng dẫn nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu thông tin và nâng cao kiến thức mọi mặt cho nhân dân Tăng đầu tư phương tiện phát thanh, truyền hình, đưa thông tin đến mọi vùng của đất nước, đến phần lớn các gia đình, nhất là ở nông thôn miền núi

Trên cơ sở thực tiễn và yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, Nghị quyết Đại hội VIII (6/1996) đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần

Trang 31

của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường lành mạnh cho sự phát triển của xã hội… củng cố, tăng cường mạng lưới văn hóa cơ sở” [20, tr.135]

Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến

bộ và hành phúc làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là

tổ ấm của mỗi người Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác” [20, tr.136]

Từ Đại hội VII (năm 1991), cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh - gia đình văn hoá đã được thực hiện trong cả nước Nhiều tỉnh, thành phố đã có những việc làm thiết thực đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hoá, thôn ấp văn hoá; bước đầu hình thành một số nghi thức mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội, cải tạo phong tục tập quán lạc hậu, phát huy truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn, hiếu thảo, thuỷ chung của dân tộc

Trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế sang cơ chế thị trường ở nước ta đã có phần buông lỏng chỉ đạo, quản lý trên một số lĩnh vực văn hoá - xã hội, xem nhẹ việc giáo dục nếp sống và lối sống, thiếu sự hướng dẫn kịp thời về phong tục, thiếu những quy định cụ thể của Nhà nước đối với việc cưới, việc tang, lễ hội nên đã để phát sinh nhiều hiện tượng không lành mạnh trong xã hội Nhiều gia đình, trong đó có cả những cán bộ có chức quyền, vì động cơ hiếu danh, vụ lợi, tổ chức đám cưới, đám tang linh đình, phô trương, có những trường hợp thực chất là "bán cỗ thu tiền" Mê tín dị đoan cùng nhiều hủ tục, kể cả một số hủ tục mới hình thành do thói đua đòi,

và do cách học theo nước ngoài thiếu sự phê phán, chọn lọc, đang có khuynh hướng phục hồi và phát triển khá phổ biến ở nhiều nơi

Những hiện tượng trên trở thành những vấn đề xã hội nhức nhối, làm

Trang 32

xói mòn các giá trị đạo đức truyền thống, lối sống cần kiệm, giản dị của dân tộc, phá hoại thuần phong, mỹ tục, ảnh hưởng xấu tới đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân, ngày càng bị những bộ phận tiên tiến trong nhân dân lên

án, không đồng tình

Trước tình hình đó, theo Chỉ thị số 27/CT-TW ngày 12-1-1998, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc vận động sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân đẩy mạnh xây dựng nếp sống văn minh - gia đình văn hoá, trong đó có việc thiết lập nếp sống lành mạnh trong việc cưới, việc tang, lễ hội theo những định hướng:

“Bảo tồn có chọn lọc, cải tiến, đổi mới những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc; loại bỏ dần trong cuộc sống những hình thức lỗi thời, lạc hậu; nghiên cứu xây dựng và hình thành dần những hình thức vừa văn minh, vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong việc cưới, việc tang, lễ hội

- Lành mạnh, tiết kiệm, tránh xa hoa lãng phí, phiền nhiễu

- Chống khuynh hướng kinh doanh, vụ lợi

- Xoá bỏ hủ tục, bài trừ mê tín dị đoan” [71, tr.11]

Để thực hiện chủ trương trên, cần làm tốt một số công việc sau đây:

1 Cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp phải thực sự quan tâm, có

kế hoạch cụ thể chỉ đạo xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng của địa phương ngay trong dịp tết và Xuân Mậu Dần này

2 Phát động phong trào quần chúng rộng rãi, nêu cao vai trò làm chủ, ý thức tự giác của nhân dân, xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn

về nếp sống văn minh - gia đình văn hoá

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội đóng vai trò nòng cốt phối hợp kế hoạch tiến hành cuộc vận động

từ cơ sở xã, phường, lôi cuốn mọi người, mọi lực lượng tham gia, tạo

Trang 33

ra dư luận xã hội mạnh mẽ phê phán những biểu hiện cổ hủ, xa hoa lãng phí, hiếu danh, vụ lợi trong cưới xin, ma chay, tế lễ không phù hợp với yêu cầu của cuộc sống văn minh

3 Cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, nhân viên nhà nước và cán bộ chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân phải gương mẫu chấp hành những quy định của Nhà nước, quy ước của địa phương, cơ quan, đơn vị về nếp sống văn minh, bài trừ hủ tục,

mê tín dị đoan, cổ hủ, xa hoa lãng phí, vụ lợi trong việc cưới, việc tang,

lễ hội, coi đây là một tiêu chuẩn để đánh giá cán bộ, đảng viên, đoàn viên Nghiêm khắc phê bình và xử lý kỷ luật thích đáng đối với những đảng viên, đoàn viên, cán bộ và chiến sĩ vi phạm nếp sống văn minh

4 Ngành văn hoá - thông tin có trách nhiệm xây dựng và hướng dẫn những nghi thức phù hợp trong việc cưới, việc tang, lễ hội; kiến nghị Nhà nước bổ sung luật lệ và quy định về lĩnh vực này theo các định hướng đã nêu ở trên; các địa phương dựa vào các quy định này

mà cụ thể hoá và vận dụng thích hợp với điều kiện của từng vùng, miền

và đồng bào các dân tộc

5 Các cơ quan truyền thông đại chúng, văn hoá, nghệ thuật có nhiệm vụ thường xuyên tuyên truyền về cuộc vận động này, nêu gương những điển hình tiên tiến, những mô hình làm tốt về nếp sống văn minh

- gia đình văn hoá, giữ gìn thuần phong mỹ tục; hình thành những tập quán mới tiến bộ, khắc phục các tập quán lạc hậu

6 Các cấp uỷ đảng, cơ quan, chính quyền tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và có kế hoạch cụ thể để bảo đảm thực hiện thắng lợi cuộc vận động [71, tr.17]

Mốc đánh dấu sự đổi mới toàn diện trong tư duy về văn hóa của Đảng

thể hiện ở Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) (7/1998) "Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" Nghị

Trang 34

quyết chủ trương “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” và đưa ra phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta: “…làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động

xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trê đất nước

ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” [21, tr.136]

Đây được xem là văn kiện mang tính cương lĩnh của Đảng về văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với 5 quan điểm chỉ đạo, 10 nhiệm vụ cụ thể, 4 nhóm giải pháp lớn để thực hiện phương hướng chung Trong đó phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa cơ sở” và huy động mọi tầng lớp nhân dân và cả hệ thống chính trị tích cực tham gia phong trào “người tốt việc tốt, uống nước nhớ nguồn, đền

ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, xây dựng gia đình văn hóa, làng xã, phường văn hóa, toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở các khu dân cư… và toàn bộ các phong trào ấy đều hướng vào cuộc thi đua yêu nước, tất

cả vì mục tiêu dân giầu nước mạnh xã hôi công bằng văn minh”

Ngày 23/12/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cấp Trung ương Đến ngày 12/4/ 2000, Trưởng ban chỉ đạo Trung ương đã ban hành kế hoạch triển khai phong trào trên phạm vi toàn quốc và làm lễ phát động tại Quảng Nam

Đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, nguyện vọng của nhân dân, hơn 10 năm qua, Nghị quyết Trung ương 5 đã bước đầu đi vào đời sống, tạo ra chuyển biến nhận thức của xã hội về vai trò của văn hóa Văn hóa mang đầy đủ ý nghĩa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Vấn đề xây dựng con người Việt Nam trong

Trang 35

giai đoạn cách mạng mới, xây dựng môi trường văn hóa được quan tâm hơn Hoạt động phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa các dân tộc thiểu số được xây dựng thành

các chương trình, dự án và tổ chức thực hiện có kết quả Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được hưởng ứng rộng rãi, góp phần

không nhỏ vào việc xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú của nhân dân, củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc Công tác quản lý của Nhà nước

về văn hóa được đổi mới một bước, có nhiều tiến bộ, thể hiện tính tích cực, chủ động, kiên quyết với các giải pháp thiết thực, tạo sự chuyển biến trên nhiều mặt

1.2.2 Đảng bộ huyện Quảng Xương lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa từ năm 1991 đến 2000

Mặc dù đã bước vào thời kỳ đổi mới được 5 năm, đời sống kinh tế -xã hội đã có những biến chuyển, song Quảng Xương là huyện thuần nông nên người dân chịu ảnh hưởng nặng nề của bão lụt, gặp khó khăn đói giáp hạt, hệ thống doanh nghiệp phục vụ nông nghiệp bị thua lỗ, mất vốn đứng trước nguy

cơ giải thể, ngân sách tích lũy thấp Ở hầu hết các xã trên địa bàn huyện Quảng Xương nhân dân vẫn còn mang nặng tư tưởng ỷ lại, chậm tiến của thời

kỳ bao cấp, những tác động của nền kinh tế thị trường cùng với mặt trái của

nó đã làm xói mòn quan hệ thân tộc, láng giềng, làm thay đổi mục tiêu, lý tưởng của một bộ phận thanh niên, ảnh hưởng không nhỏ đến truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo… Thực tế này đã dẫn đến sự sa sút về đạo đức, ảnh hưởng tới trật tự xã hội, làm mất đi những nét đẹp truyền thống của làng xã Trong khi đó, yêu cầu đặt ra của thời kỳ đổi mới đất nước nói chung và huyện Quảng Xương nói riêng đòi hỏi phải có những con người văn hóa, môi trường văn hóa, tạo động lực để thực hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra Trong bối cảnh đó, đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền huyện Quảng Xương

Trang 36

phải thực sự bình đẳng và bản lĩnh cách mạng để lãnh đạo huyện phát triển theo kịp sự phát triển chung của cả tỉnh Thanh Hóa

Tháng 4/1991, Đại hội Đảng bộ huyện Quảng Xương lần thứ XX được tiến hành Đây là sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị của nhân dân toàn huyện, có nhiệm vụ phát huy kết quả đạt được qua đại hội cơ sở, mở rộng dân chủ Mục tiêu lớn của Đại hội là khắc phục những yếu kém trong sản xuất nông nghiệp, hạ tỷ lệ tăng dân số xuống 1,7%, xóa nạn mù chữ cho lớp người dưới 35 tuổi và tổ chức sắp xếp lại bộ máy chính quyền

Ngày 22/7/1994, Hội đồng nhân dân Tỉnh Thanh Hóa đã ra nghị quyết

về xóa đói giảm nghèo Huyện ủy Quảng Xương kết hợp với các phong trào quần chúng đẩy mạnh hoạt động kinh tế - xã hội Đến năm 1996 cơ bản xóa

hộ đói gay gắt tình trạng thiếu đói lương thực được giải quyết, xóa được nạn

“bán lúa non” và cho vay nặng lãi số hộ giàu tăng lên chiếm 12,46%, cơ cấu kinh tế nông thôn bước đầu có sự chuyển đổi, trong huyện hình thành một số thị trấn phát triển nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và dịch vụ

Cùng với phát triển kinh tế nhằm cải thiện đời sống vật chất, xây dựng đời sống văn hóa nâng cao tinh thần cho nhân dân cũng nhận được sự quan tâm của Đảng, Tỉnh ủy Thanh Hóa, huyện ủy huyện Quảng Xương và ngành văn hóa

Trong công tác xây dựng đời sống văn hóa, Đảng bộ huyện Quảng Xương luôn bám sát mục tiêu cơ bản: “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động về văn hóa, hưởng thụ, sáng tạo những giá trị văn hóa, tạo dựng nên nếp sống văn minh lành mạnh, tiến bộ trong những phong tục tập quán, lễ thức tốt đẹp đậm đà bản sắc dân tộc” [28, tr.192]

Tháng 2/1996, tại Đại hội lần thứ XXI của Ban chấp hành Đảng bộ huyện đã đề ra chủ trương: khôi phục và phát triển các loại hình văn hóa truyền thống, thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển các loại hình văn

Trang 37

hóa phù hợp với xu thế thời đại, kiên quyết chống những hành vi phi văn hóa Tập trung xây dựng quy ước nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa [3, tr.21]

Văn kiện Đại hội cũng chỉ rõ: Ngành văn hóa cần phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quần chúng, xây dựng phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng rộng rãi, có chất lượng ở hầu hết các cơ sở Đồng thời tuyên truyền phổ biến kịp thời các đường lối, chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước, các thông tin kinh tế - văn hóa xã hội đến từng gia đình, từng người dân Huy động các nguồn vốn, xây dựng một số cơ sở phục vụ hoạt động văn hóa ở các cụm dân cư; khôi phục và tôn tạo một số di tích lịch sử văn hóa Nâng cấp nhà văn hóa trung tâm làm nòng cốt cho phong trào văn hóa toàn huyện, khôi phục và phát triển phong trào tập luyện thể dục - thể thao như bóng đá, bóng chuyền, vật tự do, chạy việt dã, bơi lội… Củng cố và bổ sung tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa thông tin, thể dục - thể thao [3, tr.21-22]

Quán triệt và vận dụng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VII (6/1991), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, Đảng bộ huyện đã tiến hành Đại hội lần thứ XX (11/1991) với tinh thần tranh thủ thời cơ thuận lợi, vượt lên trên khó khăn thử thách Sau 5 năm (1996) Đảng bộ và nhân dân toàn huyện đã đạt được những thành tựu quan trọng, trong đó có những thành tựu về hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cho nhân dân

Trong hoạt động văn hóa thông tin tuyên truyền, cổ động có nhiều

tiến bộ rõ nét, góp phần quan trọng đua đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân, hướng dẫn tổ chức nhân dân tham gia các hoạt động về chính trị, kinh tế, xã hội; từ đó đã nêu được những điển hình tiên tiến góp phần khởi sắc bộ mặt quê hương Đến năm 1991, huyện đã tập trung xây dựng được 15 đài truyền thanh xã, đầu tư nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự nghiệp văn hóa - xã hội với số lượng vốn lên tới hàng trăm triệu đồng

Về hoạt động phong trào văn nghệ quần chúng nhân dân, từ khi

Nghị quyết 4 của BCHTW Đảng khóa VII (1/1993) đề ra nhiệm vụ trung tâm

Trang 38

của văn hóa, văn nghệ là góp phần bồi dưỡng con người Việt Nam có trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách cao đẹp, có bản lĩnh ngang tầm sự nghiệp đổi mới đất nước, mau chóng bắt kịp xu thế phát triển của thời đại Để góp phần vào việc đó, các hoạt động văn hóa, văn nghệ phải được phát triển lành mạnh, phong phú, đa dạng cả về số lượng lẫn chất lượng

Hoạt động giáo dục truyền thống và bảo vệ di tích lịch sử cũng được

quan tâm Là huyện có nhiều đối tượng chính sách, do vậy việc thực hiện chính sách “Đền ơn đáp nghĩa người có công với nước”, “phụng dưỡng ông

bà, cha mẹ”, “Giúp đỡ những người cô đơn, tàn tật”, “Trả lại nụ cười cho trẻ thơ bị tật nguyền”, “Ủng hộ nhân dân Cu Ba”… là nhiệm vụ lớn và được Huyện ủy chỉ đạo các cấp, các ngành trong huyện thực hiện Đến cuối năm

1995 toàn huyện khánh thành 25 đài, bia tưởng niệm các liệt sỹ, xây dựng 47 nhà tình nghĩa, 68 ngôi mộ chí Bà mẹ Việt Nam anh hùng, trao tặng 1.600 sổ tiết kiệm cho các đối tượng chính sách [28, tr.180]

Hoạt động xây dựng gia đình văn hóa, làng, đơn vị văn hóa và nếp sống văn hóa Trong những năm 1991 -1995 phong trào xây dựng gia đình

văn hóa, làng văn hóa trong toàn huyện đã đạt được những kết quả ban đầu,

có 186 làng (43,5%) được quy ước nếp sống văn hóa, hơn 50% số hộ đăng ký phấn đấu đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa mới, có 25/42 số xã xây dựng được các làng văn hóa Các xã như Quảng Tâm, Quảng Thịnh, Quảng Ngọc, Quảng Hợp, Quảng Long, Quảng Phúc, Quảng Văn …đã lấy việc xây dựng quy ước văn hóa, làng văn hóa để thúc đẩy việc vận động xây dựng gia đình văn hóa

Có các dòng họ như: Lê Văn (Quảng Thọ), họ Nguyễn (Quảng Giao), họ Trần (Quảng Lưu), họ Lữ (Quảng Ninh)… nhân ngày giỗ tổ hàng năm đều gặp mặt con cháu trong họ để kiểm điểm việc thực hiện nếp sống văn hóa làng, thành lập quỹ khuyến học, biểu dương con cháu đạt thành tích trong học tập, rèn luyện nhằm giáo dục các thành viên trong dòng họ giữ được gia phong nề nếp Ở các xã có số lượng giáo dân đông (xã Quảng Hợp, xã Quảng Trường),

Trang 39

chính quyền địa phương đã hướng dẫn cho giáo dân thực hiện sống tốt đời đẹp đạo, nhiều gia đình được cấp giấy chứng nhận “ông bà, cha mệ mẫu mực, con cháu hiếu thảo” Xã Quảng Tâm nhiều năm liền được Bộ văn hóa - Thông tin tặng bằng khen về xây dựng đời sống cho nhân dân và xây dựng làng văn hóa Đến cuối năm 1995 toàn huyện có 13.500 gia đình đạt gia đình văn hóa (trong đó có 530 gia đình đạt văn hóa xuất sắc) [28, tr.178-179]

Quảng Xương là huyện đồng bằng ven biển, đất rộng người đông, dân

số trên 28 vạn người, 41 xã, thị trấn với trên 400 thôn, làng, khu phố, các tập tục cưới xin, ma chay, lễ hội rất phong phú đa dạng Trong 10 năm (1991-2000), do nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên, vì vậy các tập tục lạc hậu trong đời sống ở nhiều địa phương có xu hướng phát triển không lành mạnh, ảnh hưởng không tốt đến tình hình kinh tế - xã hội của huyện nhà và đời sống của nhân dân Để khắc phục tình hình trên, năm 1999 huyện ủy Quảng Xương

ra chỉ thị về “Tăng cường chỉ đạo công tác thể dục - thể thao trong giai đoạn mới”, đồng thời phát động “Phong trào thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội”

Bên cạnh các hoạt động văn hóa, huyện ủy cũng quan tâm chỉ đạo xây

dựng thiết chế văn hóa Với mục tiêu nâng cao đời sống văn hóa tinh thần

cho nhân dân, được sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, ngành văn hóa thông tin, nhà văn hóa của huyện đã được xây dựng và đi vào hoạt động

kể từ năm 1988, được đặt tại thị trấn Quảng Xương - là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của huyện Qua thực tiễn hoạt động, nhà văn hóa trung tâm huyện đã từng bước khẳng định được vị trí của mình là trung tâm tổ chức sinh hoạt hội diễn, hội thảo, đào tạo và nâng cấp các hoạt động văn hóa - văn nghệ của huyện đồng thời thực hiện tốt chức năng hướng dẫn hệ thống văn hóa ở các địa phương

Trang 40

Trong 10 năm (từ năm 1991 đến 2000), sau 5 năm đưa đất nước phát triển đi lên theo ánh sáng đổi mới của Đảng từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần

VI (12/1986), Đảng bộ huyện Quảng Xương đã quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, và Tỉnh ủy Vận dụng linh hoạt vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của địa phương, nhân dân huyện Quảng Xương với tinh thần hăng say, cần cù trong lao động sản xuất và sáng tạo trong thực hiện xây dựng đời sống văn hóa tạo nền tảng bước đầu cùng nhân dân cả nước vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước vào thời kỳ mới - đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đời sống đại bộ phận các tầng lớp nhân dân đã được cải thiện về ăn, mặc, ở, học hành, chữa bệnh, phương tiện giao thông đi lại An ninh xã hội được duy trì giữ vững Các hoạt động văn hóa - xã hội ngày càng được quan tâm và phát huy, dần xóa bỏ được những

hủ tục lạc hậu, tăng tỷ trẻ em đến trường (nhất là các xã vùng biển), xóa nhà tranh vách đất

Đời sống kinh tế dần được cải thiện là cơ sở quan trọng để nhân dân tham gia, ủng hộ đông đảo chủ trương xây dựng đời sống văn hóa do Đảng bộ huyện đề ra Vì vậy đã đạt được những kết quả khích lệ, nâng cao bộ mặt tinh thần của huyện Quảng Xương, chuẩn bị nền tảng cùng cả nước tiến vào thế kỷ XXI nhiều thách thức và thời cơ

Ngày đăng: 23/03/2020, 21:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Xương (1992), Quảng Xương - Lịch sử đấu tranh cách mạng, tập 1 (1930-1954) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Xương - Lịch sử đấu tranh cách mạng
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Xương
Năm: 1992
5. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Xương (2003), Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng của nhân dân Quảng Xương, tập 2 (1954-1975) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng của nhân dân Quảng Xương
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Xương
Năm: 2003
7. Ban Chỉ đạo Trung ương phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa (2005), Văn bản chỉ đạo, hướng dẫn Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản chỉ đạo, hướng dẫn Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
Tác giả: Ban Chỉ đạo Trung ương phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
Năm: 2005
8. Ban liên lạc đồng hương Quảng Xương ở Hà Nội (2002), Quảng Xương quê tôi, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng Xương quê tôi
Tác giả: Ban liên lạc đồng hương Quảng Xương ở Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2002
9. Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2000), Tên làng xã Thanh hóa, tập 1, Nxb. Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên làng xã Thanh hóa
Tác giả: Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa
Nhà XB: Nxb. Thanh Hóa
Năm: 2000
10. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2000), Một số văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng văn hóa, Tập 2 (1986-2000), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng văn hóa
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
11. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2002), Tài liệu bồi dưỡng công tác tuyên giáo ở cơ sở, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng công tác tuyên giáo ở cơ sở
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
12. Bộ Văn hóa, Viện Văn hóa (1984), Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
Tác giả: Bộ Văn hóa, Viện Văn hóa
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 1984
13. Bộ Văn hóa - Thông tin (1995), Đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Thông tin
Năm: 1995
14. Bộ Văn hóa (13/9/2005), Quy chế mẫu về tổ chức và các hoạt động của Trung tâm văn hóa - thông tin cấp huyện (Ban hành kèm theo Quyết định số 49/2005/QĐ-BVHTT của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế mẫu về tổ chức và các hoạt động của Trung tâm văn hóa - thông tin cấp huyện
16. Lê Ngọc Dương (2009), Báo cáo tốt nghiệp: Công tác xây dựng làng văn hóa tại xã Quảng Tân, huyện Quảng Xương, (Chuyên ngành quản lý văn hóa) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tốt nghiệp: Công tác xây dựng làng văn hóa tại xã Quảng Tân, huyện Quảng Xương
Tác giả: Lê Ngọc Dương
Năm: 2009
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1986
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1994
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1998
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 2001
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Các Đại hội, hội nghị của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1930 đến nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Đại hội, hội nghị của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1930 đến nay
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w