Bởi đây là một trong những đội ngũ cán bộ quan trọng của Đảng và Nhà nước, là những người hoạt động chuyên nghiệp trên các lĩnh vực tuyên giáo, làm nhiệm vụ tham mưu, và giúp cấp ủy Đảng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ BÍCH NHUNG
ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TUYÊN GIÁO CÁC CẤP
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.56
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Trang 2Tôi xin cam đoan đề tài “Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng đội
ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp từ năm 2000 đến năm 2010” do tôi nghiên cứu Các
số liệu dẫn chứng của đề tài có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
Nếu không đúng Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Bích Nhung
Trang 3Trang 4
6 CNH : Công nghiệp hóa
7 HĐH : Hiện đại hóa
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 4
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
7 Hướng tiếp cận tư liệu 7
8 Kết cấu đề tài: 7
Chương I: VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ NÓI CHUNG VÀ CÁN BỘ TUYÊN GIÁO NÓI RIÊNG 9
1 Khái quát chung về Khánh Hòa 9
1.1 Đặc điểm tự nhiên và tiềm năng phát triển của tỉnh Khánh Hòa 9
1.2 Sự hình thành địa danh hành chính tỉnh Khánh Hòa qua các thời kỳ lịch sử 10
1.3 Đặc điểm dân cư của tỉnh Khánh Hòa 12
1.2 Khái quát về Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa và Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ 14
1.2.1 Khái quát về Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa từ 1930 đến trước năm 2000 14
1.2.2 Khái quát về lịch sử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy từ 1930 đến trước năm 2000 18
1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về cán bộ và cán bộ Tuyên giáo 24 1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về vấn đề cán bộ 24
1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về cán bộ Tuyên giáo 32
1.3.3 Vai trò của cán bộ Tuyên giáo trong công tác xây dựng Đảng 37
Chương II: QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ BAN TUYÊN GIÁO TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 45
2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ tỉnh Khánh Hòa trước năm 2000, những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra cho Đảng bộ xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo 45
2.1.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ trước năm 2000 45
Trang 62.1.3 Quan điểm xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng trong thời kỳ đổi mới 54
2.2 Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp từ năm 2000 đến năm 2010 61
2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa về xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp từ năm 2000 đến năm 2010 61
2.2.2 Những giải pháp của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa chỉ đạo thực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo từ năm 2000 đến năm 2010 75
2.2.3 Kết quả xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo các cấp của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa từ năm 2000 đến năm 2010 84
Chương III: MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 100 3.1 Ưu điểm 100
3.1.1 Chăm lo bồi dưỡng phẩm chất cách mạng cho cán bộ Tuyên giáo 100
3.1.2 Chú trọng công tác đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ và trình độ lý luận 101
3.2 Hạn chế 104
3.3 Bài học kinh nghiệm 107
3.4 Phương hướng, nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa trong những năm tiếp theo 110
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC 131
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 đã đạt được những thành tựu to lớn, đưa đất nước ta vượt qua khủng hoảng kinh tế xã hội, thoát nghèo, bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Đại đa số cán bộ, đảng viên, nhân dân phấn khởi tin vào Đảng, Nhà nước, công cuộc đổi mới của Đảng Trong những thắng lợi quan trọng ấy, có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ“ cán bộ là cái gốc của mọi công việc… Công việc có thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu” Mỗi một người cán bộ trong quá trình hoạt động của mình đều cần phải qua đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng để đáp ứng nhiệm vụ cách mạng qua mỗi thời kỳ đặc biệt là đối với bộ phận cán bộ Tuyên giáo các cấp Bởi đây là một trong những đội ngũ cán bộ quan trọng của Đảng và Nhà nước, là những người hoạt động chuyên nghiệp trên các lĩnh vực tuyên giáo, làm nhiệm vụ tham mưu, và giúp cấp ủy Đảng thực hiện công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và trực tiếp tác chiến trên các lĩnh vực tư tưởng – văn hóa, văn nghệ, báo chí, giáo dục lý luận chính trị, khoa học, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng và lĩnh vực xã hội khác
Tuy nhiên, do những tác động tự phát của cơ chế kinh tế thị trường cùng với những yếu kém của công tác tuyên giáo khiến cho tình hình tư tưởng trong nước và trong tỉnh có những biến động phức tạp Cùng với những thách thức trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế thì tình hình thế giới, trong nước cũng như trong tỉnh Khánh Hòa đang có những diễn biến phức tạp
Trang 8Trong những năm tới, đất nước nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng tiếp tục có những chuyển biến quan trọng xuất phát từ quá trình hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng XHCN trong đó có quá trình xã hội hóa nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội; từ quá trình phát huy dân chủ, xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; từ quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia ngày càng sâu và toàn diện vào hội nhập quốc tế với tư cách là thành viên của WTO, nó tác động mạnh mẽ vào tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân
Trước tình hình ấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã có chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ Tuyên giáo các cấp nói riêng, nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của đất nước Như Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đã ghi rõ: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng…“ Hội nghị lần thứ chín, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương III khóa VIII đã kết luận: “Cán bộ là nhân tố quyết định thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng Phải thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Trên tinh thần ấy, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XIV nhiệm kỳ 2000 – 2005, đã ban hành “Chương trình số 02-Ctr/TU về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ, công chức, viên chức đến 2010 và xây dựng đào tạo cán bộ sau năm 2010” Để thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Tỉnh ủy Khánh Hòa tiếp tục đề ra Chương trình số 07- Ctr/TU về “Đào tạo, nâng cao, tạo nguồn cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2006- 2010 và xây dựng đào tạo nguồn cán bộ sau 2010”
Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác Tuyên giáo của tỉnh trong giai đoạn mới, Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa cần phải tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung
và đội ngũ cán bộ Tuyên giáo nói riêng Xuất phát từ lý do đó, tôi chọn hướng
Trang 9nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp trong 10 năm qua Qua đó để thấy được những thành tựu
và hạn chế mà Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đã đạt được trong việc lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đưa
ra những hướng giải quyết cho những năm tiếp theo
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài đội ngũ cán
bộ, song các công trình ấy chủ yếu nghiên cứu trên bình diện khái quát chung Còn vấn đề nghiên cứu dưới góc độ của đề tài còn rất ít, đáng chú ý có một số công trình sau:
- Tài liệu bồi dưỡng công tác tuyên giáo ở cơ sở của Ban Tư tưởng – Văn hóa
Trung ương (2002)
- Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tuyên giáo ở cơ sở của Hồ Văn Chiểu
và Nguyễn Viết Thông (2006)
- Công tác tư tưởng của Đào Duy Quát (2010)
- Nguyên lý công tác tư tưởng của Lương Khắc Hiếu (2008), tập 1, tập 2
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay,
của Bùi Đình Phong Tác giả đề cập đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên về các mặt như: bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất đạo đức cách mạng, trên cơ
sở Nghị quyết Trung ương VI khóa X và những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Nâng cao phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn của đội ngũ giảng
viên lý luận, của Nguyễn Quốc Bảo Tác giả thông qua phân tích nâng cao chất
lượng phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, đã đưa ra một số kiến nghị
- Đội ngũ cán bộ, cộng tác viên dư luận xã hội ở Ban Tuyên giáo các tỉnh
thành phố hiện nay, của Nguyễn Mậu Việt Hưng trên cơ sở khảo sát về đội ngũ cán
Trang 10bộ trực tiếp làm công tác dư luận xã hội trên 32 tỉnh, thành phố đại diện cho 8 khu vực trong cả nước
- Đội ngũ báo cáo viên, của Trương Minh Tuân (2009) Tác giả nêu lên những
thành tựu và hạn chế của đội ngũ báo cáo viên, đồng thời đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ báo cáo viên cấp tỉnh, thành trong giai đoạn mới
- Khánh Hòa đẩy mạnh công tác tuyên truyền biển đảo, của Phạm Thị Hồng
Thu (2009) trình bày khái quát về sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa đối với công tác tuyên truyền biển đảo, chỉ ra những hạn chế yếu kém của công tác tuyên truyền biển đảo
- Cán bộ Tuyên giáo – Người dẫn chương trình của Đảng, của Nguyễn Thái
Hòa đề cập đến những phẩm chất cần có của người cán bộ Tuyên giáo
Những tài liệu kể trên là cơ sở tham khảo cho đề tài Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đề cập một cách hệ thống việc xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ tuyên giáo ở một Đảng bộ
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
- Đề tài “Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên
giáo các cấp từ năm 2000 đến năm 2010”, nhằm mục đích làm rõ quá trình lãnh
đạo xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa, từ
đó đưa ra những đánh giá về hệ thống quan điểm, chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa trong lĩnh vực xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp; đánh giá phẩm chất, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ Tuyên giáo
và những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa, từ đó đưa ra những giải pháp góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp trong những năm tiếp theo
Trang 11- Nhiệm vụ của đề tài:
+ Làm rõ vai trò, nhiệm vụ, chức năng và đặc điểm của đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp ở tỉnh Khánh Hòa
+ Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa vận dụng đường lối của Đảng
và Nhà nước để đề ra chủ trương, chính sách cụ thể về xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp và triển khai thực hiện chủ trương ấy
+ Đánh giá thành tựu, hạn chế trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh về xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm cho quá trình lãnh đạo của Đảng bộ trong những năm tiếp theo
+Dựa trên cơ sở thực tiễn và quá trình nghiên cứu, đề tài đề xuất những giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận cho những người nghiên cứu khoa học Macxit, nhất là trên lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội trong đó đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic là chủ yếu Bên cạnh
đó, đề tài còn sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, phân tích tài liệu để làm rõ những vấn đề mà đề tài đặt ra
Ngoài ra, học viên đã thực hiện nhiều chuyến đi thực tế, trực tiếp tìm hiểu về đội ngũ cán bộ Ban Tuyên giáo các cấp của tỉnh để có thêm kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình nghiên cứu của đề tài
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quan điểm, chủ trương, chính sách
và giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa và thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp từ năm 2000 đến năm 2010
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Trang 12+ Về mặt không gian: đội ngũ cán bộ tuyên giáo là một khái niệm rộng, là những người hoạt động chuyên nghiệp trên các lĩnh vực tuyên giáo, gồm cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị, cán bộ chuyên trách làm chức năng tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra, thẩm định trên các lĩnh vực tuyên giáo ở Ban Tuyên giáo các cấp; cán bộ báo chí-xuất bản, cán bộ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa-văn nghệ, thông tin, cán bộ chính trị trong lực lượng vũ trang,…Với quy mô của một luận văn Cao học đề tài giới hạn trong phạm vi sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đối với cán bộ Ban Tuyên giáo các cấp Cán bộ Ban Tuyên giáo được đề cập trong luận văn bao gồm cả cán bộ lẫn công chức, viên chức Ban Tuyên giáo các cấp
+ Về mặt thời gian: Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đã trải qua 16 kỳ đại hội Qua mỗi thời kỳ, Đảng bộ đã có sự lãnh đạo đối với việc phát triển đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ Tuyên giáo nói riêng Song đề tài được giới hạn khoảng thời gian từ năm 2000 – 2010, là thời gian Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa trải qua 2 nhiệm kỳ 2000 – 2005 và 2005 – 2010 với những chủ trương, giải pháp tích cực nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Ban Tuyên giáo các cấp
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa và những kinh nghiệm trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp, góp phần vào việc xây dựng Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Đề tài cung cấp những tư liệu cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp Những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm đề tài rút ra có thể làm tư liệu tham khảo cho các Đảng bộ địa phương có điều kiện tương đồng
+ Làm tư liệu cho các lớp sinh viên, học viên sau, khi muốn nghiên cứu về vấn đề cán bộ làm công tác tư tưởng
Trang 13+ Làm tư liệu giảng dạy Lịch sử Đảng khi vận dụng vai trò lãnh đạo của Đảng ở địa phương
7 Hướng tiếp cận tư liệu
- Các văn bản của Đảng và Nhà nước chỉ đạo nâng cao chất lượng cán bộ
- Các văn kiện của Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội X
- Nghị quyết của các Hội nghị Trung ương Đảng qua các kỳ Đại hội
- Các Văn kiện của Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XIV, XV, XVI
- Các báo cáo, tổng kết của Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ và các Đảng bộ trực thuộc…
- Kế thừa và sử dụng số liệu, nhận xét, đánh giá của một số công trình nghiên cứu khoa học có liên quan
8 Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia thành 3 chương
Chương I: Vị trí và vai trò của cán bộ nói chung và cán bộ Tuyên giáo nói riêng
1 1Khái quát chung về Khánh Hòa
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên và tiềm năng phát triển của tỉnh Khánh Hòa
1.1.2 Sự hình thành địa danh hành chính tỉnh Khánh Hòa qua các thời kỳ lịch sử 1.1.3 Đặc điểm dân cư của tỉnh Khánh Hòa
1.2 Khái quát về Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa và Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ
2.1 Khái quát về Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa từ 1930 đến trước năm 2000
2.2 Khái quát về Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy từ 1930 đến trước năm 2000
1.3Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về cán bộ và cán bộ Tuyên giáo 1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về vấn đề cán bộ
1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và Quan điểm của Đảng về cán bộ Tuyên giáo
Trang 141.3.3 Vai trò của cán bộ Tuyên giáo trong công tác xây dựng Đảng
Chương II:Quá trình lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ Ban Tuyên giáo từ năm
2000 đến năm 2010
2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ tỉnh Khánh Hòa trước năm 2000, những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra cho Đảng bộ xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp 2.1.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ trước năm 2000
2.1.2 Những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra cho Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp
2.1.3 Quan điểm xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng trong thời kỳ đổi mới
2.2 Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp
3.3 Bài học kinh nghiệm
3.4 Phương hướng, nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa trong những năm tiếp theo
Trang 15Chương I: VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ NÓI CHUNG VÀ CÁN BỘ
TUYÊN GIÁO NÓI RIÊNG
1 Khái quát chung về Khánh Hòa
1.1 Đặc điểm tự nhiên và tiềm năng phát triển của tỉnh Khánh Hòa
Khánh Hòa là vùng đất thuộc Duyên hải Nam Trung Bộ nằm giữa hai vĩ tuyến 12 và 13, ở tọa độ địa lý từ 1080 40’ 33” đến 1090 27’ 55” kinh độ Đông và từ
110 42’ 50” đến 120 52’ 15” vĩ độ Bắc, phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Tây giáp hai tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng và phía Đông giáp biển Đông Khánh Hòa có vị trí đặc biệt quan trọng của cả nước bởi nằm trên trục quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc – Nam và là cửa ngõ của Tây Nguyên xuống đồng bằng qua quốc lộ 26, với diện tích đất liền 4693 km2 và hơn 200 hòn đảo và quần đảo là 5197km2 Là tỉnh nằm sát dãy núi Trường Sơn nên đa số diện tích của Khánh Hòa là núi non Nơi đây hẹp và thon ở hai đầu, có nơi chỉ rộng 10 đến 15 km, gần trung tâm của tỉnh có nơi rộng nhất trên 60km với hai đồng bằng là Diên Khánh và Ninh Hòa Miền đồng bằng rất hẹp, chỉ khoảng 400km2, chiếm chưa đến 1/10 diện tích toàn tỉnh và bị chia thành từng ô, ngăn cách bởi những dãy núi ăn ra biển, nên
đi dọc tỉnh phải qua khá nhiều đèo như: đèo Cả, đèo Cổ Mã, đèo Chín Cụm, đèo Bánh Ít, đèo Rọ Tượng, đèo Rù Rì [28, tr30]
Khánh Hòa là một trong những tỉnh có đường bờ biển đẹp của Việt Nam kéo dài từ xã Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh với độ dài khoảng 385km tính theo mép nước và có nhiều khúc khuỷu, lồi lõm, nhiều cửa lạch, đầm, vịnh cùng khoảng 200 đảo lớn nhỏ ven bờ và đảo san hô của quần đảo Trường Sa Khánh Hòa có sáu đầm
và vịnh lớn: Đại Lãnh, Vân Phong, Hòn Khói, Nha Phu, Nha Trang và Cam Ranh Trong đó nổi tiếng nhất là vịnh Cam Ranh với chiều dài 16km, chiều rộng 32km, thông với biển qua eo biển rộng 1,6km có độ sâu từ 18 đến 20m, được xem là cảng biển có điều kiện tự nhiên tốt nhất Đông Nam Á Nhờ đó mà Khánh Hòa có nhiều danh thắng du lịch biển như bãi biển Đại Lãnh, Dốc Lết, Bãi Trũ, Nha Trang… Cùng với biển là hệ thống sông ngòi tuy không lớn nhưng mật độ khá dày Nhìn
Trang 16chung các con sông ở đây ngắn và dốc, cả tỉnh có khoảng 40 con sông dài từ 10km trở lên và bắt nguồn tại vùng núi phía Tây trong tỉnh chạy xuống biển Trong đó có hai sông lớn là sông Cái (Nha Trang) và sông Dinh (Ninh Hòa) Dọc bờ biển, cứ khoảng 5 đến 7km có một cửa sông
Khánh Hòa có khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng tương đối ôn hòa hơn so với các tỉnh tính từ phía Bắc Đèo Cả trở ra và phía Nam từ Ghềnh Đá Bạc trở vào, với hai mùa mưa nắng rõ rệt Nên vùng đất Khánh Hòa có tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng với nhiều loại đặc sản, đặc biệt là yến sào được coi là “vàng trắng”
có giá trị xuất khẩu cao Cùng với đó là lợi thế về rừng chiếm ¾ diện tích toàn tỉnh, phần lớn cao trên 1000m, gắn với dải Trường Sơn, lại là phần cuối phía cực Nam nên địa hình khá đa dạng, tạo ra nhiều cảnh quan đẹp và gắn với nhiều truyền thuyết dân gian Ngoài ra Khánh Hòa có nhiều loại lâm sản quý hiếm có giá trị kinh tế cao đặc biệt là trầm hương là loại hương liệu và dược liệu có giá trị kinh tế cao
1.2 Sự hình thành địa danh hành chính tỉnh Khánh Hòa qua các thời kỳ lịch sử
Năm 1653, sau khi vua Chiêm Thành dâng vùng đất từ bờ bắc sông Phan Rang (Ninh Thuận ngày nay) trở ra đến núi Đá Bia – Đèo Cả (ranh giới giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay), Chúa Nguyễn (Nguyễn Phúc Tần) đặt dinh Thái Khang gồm hai phủ là Thái Khang (quản hai huyện Quảng Phước và Tân Định, tức huyện Vạn Ninh và Ninh Hòa ngày nay) và Diên Ninh (quản ba huyện Vĩnh Xương, Phước Điền, Hoa Châu, nay là thành phố Nha Trang, Cam Ranh, huyện Diên Khánh, Khánh Sơn, Khánh Vĩnh của Khánh Hòa và một phần đất từ sông Phan Rang ra đến ranh giới địa phận Khánh Hòa – Ninh Thuận) Dinh đóng tại huyện Tân Định phủ Thái Khang Như vậy, năm 1653 là năm mở đầu cho sự hình thành địa phận hành chính tỉnh Khánh Hòa ngày nay [28, tr34]
Năm 1690, chúa Nguyễn Phúc Trăn đổi phủ Thái Khang thành phủ Bình Khang và lấy luôn tên dinh là Bình Khang Năm 1742, chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi phủ Diên Ninh thành phủ Diên Khánh Năm 1744, tổ chức hành chính nhà Nguyễn đàng Trong được sắp xếp lại, phủ chúa gọi là điện, cơ quan trực thuộc phủ
Trang 17chúa được chia thành lục bộ, lãnh thổ đàng Trong (từ sông Gianh – Quảng Bình vào đến Cà Mau) được chia thành 12 dinh, trong đó có dinh Bình Khang gồm hai phủ Bình Khang và Diên Khánh với 5 huyện Quảng Phước, Tân Định, Phước Điền, Vĩnh Xương, Hoa Châu
Năm 1792, sau khi đánh Nam, dẹp Bắc, Quang Trung – Nguyễn Huệ thực hiện thống nhất đất nước, dinh Bình Khang thuộc nhà Tây Sơn không có gì thay đổi
về hành chính
Sau khi đánh bại triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi với niên hiệu Gia Long (1802), đến năm 1803, dinh Bình Khang được đổi thành dinh Bình Hòa, phủ Bình Khang đổi thành phủ Bình Hòa, dinh quan trấn thủ đóng tại Thành Diên Khánh ngày nay Năm 1808, triều Nguyễn tiến hành cải cách hành chính trên quy
mô toàn quốc thì dinh đổi thành trấn nên dinh Bình Hòa đổi thành trấn Bình Hòa quản 2 phủ, 5 huyện, 18 tổng và 290 làng Năm 1831 phủ Bình Hòa đổi tên thành phủ Ninh Hòa Năm 1832, vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính lần thứ 2, cải trấn thành tỉnh, lập 31 tỉnh trong toàn quốc Từ đây, trấn Bình Hòa được đổi thành tỉnh Khánh Hòa với 2 phủ và 4 huyện, trong đó phủ Ninh Hòa quản hai huyện Quảng Phước và Tân Định còn phủ Diên Khánh quản hai huyện Vĩnh Xương và Phước Điền [28 T8, tr35-36]
Từ khi thực dân Pháp đánh chiếm Khánh Hòa (1885), tổ chức hành chính Khánh Hòa tiếp tục có sự thay đổi Năm 1888, vua Đồng Khánh nhập vùng đất huyện An Phước phủ Ninh Thuận của tỉnh Bình Thuận và 7 xã của huyện Tuy Phong, 2 tổng của huyện Hòa Đa sáp nhập vào huyện Vĩnh Xương Địa giới tỉnh Khánh Hòa được mở rộng Vào năm 1901, Khánh Hòa gồm 2 phủ Diên Khánh (2 huyện Phước Điền quản 5 tổng với 38 xã thôn, huyện Vĩnh Xương quản 4 tổng với
45 xã thôn) và phủ Ninh Hòa (2 huyện Quảng Phước quản 6 tổng với 83 xã thôn và huyện Tân Định quản 3 tổng với 73 xã thôn) Năm 1904, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Trung tâm hành chính Củng Sơn – Phú Yên cùng với M’Deak – Đắc Lắc sát nhập vào tỉnh Khánh Hòa nhưng đến năm 1923 lại được tách ra và giao lại cho Đắc Lắc quản lý Bước sang năm 1924, thị trấn Nha Trang được thiết lập với 4
Trang 18làng Xương Huân, Phương Câu, Vạn Thạnh, Phương Sài Năm 1931, chính quyền thực dân Pháp đổi huyện Tân Định thành phủ Ninh Hòa (huyện Ninh Hòa ngày nay), phần đất còn lại đổi thành huyện Vạn Ninh Năm 1939, Toàn quyền Đông Dương thành lập Đại lý hành chính Ba Ngòi Đến năm 1944, thị trấn Nha Trang được đưa lên thành thị xã với 5 phường: Xương Huân, Phương Câu, Vạn Thạnh, Phương Sài, Phước Hải [28, tr37-38]
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công nhưng liền sau đó thực dân Pháp quay trở lại đánh chiếm Khánh Hòa tiếp đến là đế quốc Mỹ, nên địa lý hành chính tỉnh Khánh Hòa trong suốt chặng đường 30 năm, từng lúc, từng nơi có những thay đổi phù hợp với tình hình và nhiệm vụ cách mạng Sau khi đất nước thống nhất, vào năm 1975 hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa sát nhập thành tỉnh Phú Khánh Nhưng 7/1989 lại tách thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa [28, tr38-39] Ngày 23 tháng 12 năm 2010 thị xã Cam Ranh được Chính phủ công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh Khánh Hòa1 Hiện nay, tỉnh Khánh Hòa gồm 2 thành phố (Nha Trang và Cam Ranh), 1 thị xã (Ninh Hòa) và 6 huyện (Vạn Ninh, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Cam Lâm, Trường Sa) Các huyện, thị, thành phố của Khánh Hòa được phân thành 35 phường, 6 thị trấn và 99 xã [106]
1.3 Đặc điểm dân cư của tỉnh Khánh Hòa
Cách đây khoảng từ 4500 – 5000 năm, tỉnh Khánh Hòa đã có các cư dân sinh sống: tộc người thuộc ngữ hệ Malayo – Polenexia (dân tộc Chăm, Raglai, E-đê) và tộc người thuộc ngữ hệ Môn Khơ-me (dân tộc T’ring…) [28, tr32] Hai tộc người này chia thành hai nhóm sinh thái và nhân văn: nhóm người Chăm sống ở ven biển
và đồng bằng còn nhóm người Raglai, Ede, T’ring…sống sâu trong đất liền [30, tr21] Từ cuối thế kỷ XVII bờ cõi Việt Nam được mở rộng về phía nam, người Kinh
từ phía Bắc do những hoàn cảnh khác nhau di cư đến vùng đất này để cư trú và sinh sống Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX có thêm một bộ phận người Hoa đã cộng cư cùng với các cư dân đã có trên địa bàn Khánh Hòa ngày nay Đến khi thực
1 http://www.chinhphu.vn/vanbanpq/lawdocs/NQ65CP.PDF?id=103466
Trang 19dân Pháp rồi phát xít Nhật và đế quốc Mỹ lần lượt đánh chiếm nước ta thì Khánh Hòa tiếp tục được bổ sung thêm nguồn dân cư mới từ các tỉnh phía Bắc vào làm ăn cùng với bộ đội và cán bộ từ các tỉnh trong cả nước đến chiến đấu và công tác Đặc biệt là từ sau ngày giải phóng đến nay thì nguồn dân cư của Khánh Hòa ngày một được tăng cường nhờ có các chính sách đưa dân cư đi xây dựng vùng kinh tế mới của Chính phủ và từ nguồn di dân tự phát của các tầng lớp nhân dân Từ đây dân cư của Khánh Hòa ngày một đông đúc và ngày nay dân số Khánh Hòa là 1.156.903 người với 32 dân tộc: dân tộc Kinh chiếm 95,3% sống phân bố đều khắp huyện, thị, thành phố nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là các vùng đồng bằng, thành phố, thị xã, thị trấn; Dân tộc Raglai chiếm 3,4% sống tập trung chủ yếu ở hai huyện Khánh Sơn
và Khánh Vĩnh trong các bản làng; Dân tộc Hoa chiếm 0,86% sống chủ yếu ở Nha Trang và Ninh Hòa Các nhóm chính khác gồm Cơ – ho chiếm 0,34%, Ê – đê chiếm 0,25% Ngoài ra, còn có các dân tộc Tày, Nùng, Mường, Chăm… Tuy người Chăm là cư dân bản địa ở Khánh Hòa, nhưng từ giữa thế kỷ XVII về sau này thì lần lượt di chuyển về phía Nam Nên ngày nay, người Chăm ở Khánh Hòa còn lại số lượng không đáng kể Khánh Hòa có dân số phân bố không đều, tập trung đông ở thành phố Nha Trang với mật độ 31,24% dân số toàn tỉnh Các huyện và thị xã ở đồng bằng có mật độ dân cư không chênh lệch lớn còn nơi có mật độ dân số thấp nhất là các huyện miền núi Khánh Sơn và Khánh Vĩnh Ngoài ra ở huyện đảo Trường Sa hầu như dân cư không cố định [106]
Mặc dù cư dân Khánh Hòa được thiết lập từ nhiều nguồn khác nhau nhưng tất cả đều cùng sát bên nhau, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệ vùng đất của mình cũng như bảo vệ đất nước trước mọi sự xâm lược và phá hoại của kẻ thù trong và ngoài nước.Trải qua nhiều thế kỷ cộng cư và hòa cư, người Việt ở Khánh Hòa đã giao lưu, tiếp nhận và tiếp biến những tinh hoa văn hóa truyền thống của các dân tộc anh em để từ đó tạo nên một bản sắc văn hóa của chính mình, làm giàu thêm kho tàng di sản văn hóa dân tộc Trong đó văn hóa của người Việt là chủ thể
Trang 201.2 Khái quát về Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa và Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ
1.2.1 Khái quát về Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa từ 1930 đến trước năm 2000
Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Khánh Hòa ra đời từ tổ chức đảng tiền thân là Đông Dương Cộng sản Liên đoàn với sự kiện ngày 24/2/1930, đồng chí Ngô Gia Tự đại diện cho Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam ký quyết định công nhận Đông Dương Cộng sản Liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam Khi đó, Tỉnh ủy lâm thời Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Khánh Hòa gồm các đồng chí Trần Hữu Duyệt – Bí thư Tỉnh ủy kiêm phụ trách Nha Trang, đồng chí Lê Dung phụ trách hai huyện Tân Định và Vạn Ninh, đồng chí Nguyễn Biền phụ trách hai huyện Vĩnh Xương và Diên Khánh, đồng chí Đỗ Long làm nhiệm vụ liên lạc với các tỉnh bạn và với Xứ ủy Nam Kỳ Và các đồng chí Trương Hiệu, Trần Đình Giáp giúp việc cho đồng chí Trần Hữu Duyệt một số việc
do Xứ ủy giao đối với các tỉnh “Ngũ Trang” cũ
Sau khi thành lập, Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đã từng bước lãnh đạo phong trào cách mạng trong tỉnh giành nhiều thắng lợi Trong những năm 1930 – 1935, do địch khủng bố ác liệt, đàn áp dã man phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống, các tổ chức cơ sở đảng bị tan vỡ Tuy nhiên phong trào vẫn không dập tắt mà âm ỉ tồn tại trong quần chúng nhân dân nên từ những đảng viên còn lại không bị lộ và những đảng viên vượt ngục trở về từng bước gây dựng, phục hồi lại các tổ chức cơ
sở đảng Từ khi chuyển hướng sang đấu tranh theo các mục tiêu dân sinh, dân chủ thời kỳ 1936 – 1939, điển hình là các cuộc đấu tranh ở vùng cao su Đồng Trăn, Suối Dầu, công nhân hỏa xa Nha Trang,… Tỉnh ủy Khánh Hòa từng bước được khôi phục lại tổ chức và lực lượng, phát triển mạnh mẽ trong cao trào vận động giải phóng dân tộc thời kỳ 1939 – 1945 Tháng 4/1945, Tỉnh ủy được thành lập lại, tích cực xây dựng các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng
vũ trang, đón thời cơ phát động quần chúng khởi nghĩa trong toàn tỉnh giành chính quyền ngày 19/8/1945
Trang 21Tháng 10/1945, thực dân Pháp đã quay trở lại đánh chiếm Nha Trang Đảng
bộ tỉnh Khánh Hòa tiếp tục sự nghiệp lãnh đạo quần chúng tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa tiến hành 2 lần Đại hội Đảng bộ tỉnh Đại hội Đảng
bộ tỉnh lần thứ nhất họp từ ngày 10 đến 17 tháng 3 năm 1950 tại Hòn Ngang (Hòn Hèo) với trên 100 đại biểu thay mặt cho 2949 đảng viên toàn tỉnh; bầu Ban Chấp hành mới gồm 13 đồng chí trong đó Bí thư là đồng chí Tôn Thất Vỹ Đại hội Đảng
bộ tỉnh lần thứ hai họp vào tháng 12/1951 tại căn cứ Đá Bàn với 130 đại biểu về dự đại hội; Ban Chấp hành mới được bầu với 15 đồng chí trong đó đồng chí Nguyễn Xuân Hữu là Bí thư Trong suốt 9 năm kháng chiến dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là Đảng bộ tỉnh, quân và dân Khánh Hòa lần lượt đánh bại 5 kế hoạch chiến lược chiến tranh của Pháp đồng thời có nhiều trận đánh và chiến dịch lớn Tiêu biểu là cuộc chiến đấu 101 ngày đêm bao vây quân Pháp tại Nha Trang (13/10/1945 – 1/2/1946)
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), Đảng bộ tỉnh đã 7 lần tiến hành Đại hội đại biểu toàn tỉnh Đại hội Đảng bộ lần thứ ba diễn ra vào 2/1962 tại buôn A-Xây phía Tây Nam hòn Dù với 40 đại biểu và tại Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành mới với 13 ủy viên, đồng chí Mai Dương là Bí thư Tỉnh ủy Tháng 2/1965, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ tư được tiến hành với trên 100 đại biểu và Ban Chấp hành của nhiệm kỳ này có 13 ủy viên, đồng chí Tô Văn Ơn làm Bí thư Tỉnh
ủy Vào tháng 11/1968, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 5 được triệu tập tại Gia Ao (Vĩnh Sơn) có 106 đại biểu và Ban Chấp hành mới có 21 ủy viên, đồng chí Nguyễn Hồng Châu làm Bí thư Tỉnh ủy Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ sáu được tổ chức ngày 18/10/1971 tại Tà Gộc – Khánh Vĩnh có 80 đại biểu tham dự, Đại hội bầu ra Ban Chấp hành mới gồm 25 ủy viên, đồng chí Ngũ Hữu Ngật làm Bí thư Ngày 8/10/1973, Đảng bộ tỉnh lần thứ bảy được triệu tập tại Hòn Dù xã Khánh Minh, Ban Chấp hành nhiệm kỳ này gồm 23 ủy viên, đồng chí Võ Cứ giữ chức vụ quyền Bí thư Tỉnh ủy Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo quân dân tỉnh Khánh Hòa đánh bại các thủ đoạn chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng tỉnh vào ngày 3/4/1975, góp
Trang 22phần vào Đại thắng mùa xuân 1975 thống nhất nước nhà Như vậy sau 30 năm kháng chiến, Đảng bộ và nhân dân Khánh Hòa đã trải qua một chặng đường đấu tranh gian khổ hy sinh và giành được những chiến công vẻ vang và rất đáng tự hào
Sau khi giành được độc lập thống nhất đất nước, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III (8/1975) quyết định giải thể Trung ương cục Miền Nam
và các Khu ủy ở cả hai miền, sáp nhập một số tỉnh thành Hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên được hợp nhất thành tỉnh mới với tên tỉnh Phú Khánh (11/1975), Ban Chấp hành mới được chỉ định gồm 43 ủy viên, Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 15 ủy viên do đồng chí Nguyễn Xuân Hữu làm Bí thư Tỉnh ủy Nhằm chuẩn bị cho Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 4 của Đảng, Đảng bộ tỉnh Phú Khánh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ nhất: vòng 1 từ ngày 11 đến 17/11/1976 tại thị xã Nha Trang với 223 đại biểu chính thức thay mặt cho trên 10.000 đảng viên toàn tỉnh về dự; vòng 2 từ ngày 21 đến 26/3/1977 cũng tại thị xã Nha Trang và Ban Chấp hành Đảng
bộ tỉnh Phú Khánh (khóa I) mới gồm 37 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết, Ban Thường vụ Tỉnh ủy có 11 ủy viên, đồng chí Nguyễn Xuân Hữu, Uỷ viên Trung ương Đảng được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Từ ngày 12 đến 19/10/1979 đã diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Khánh lần thứ 2 tại thành phố Nha Trang với 330 đại biểu chính thức thay cho 11.400 đảng viên ở 970 chi bộ và Đảng bộ cơ sở, Ban Chấp Đảng bộ tỉnh (khóa II) được bầu mới gồm 43 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết, Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 13 ủy viên, đồng chí Nguyễn Xuân Hữu, Ủy viên Trung ương Đảng được bầu lại làm Bí thư Tỉnh ủy Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Khánh lần thứ 3 vòng 1 tiến hành từ ngày 8 đến 16/1/1982; vòng 2 từ ngày 31/1 đến 3/2/1983 tại thành phố Nha Trang với 350 đại biểu thay mặt hơn 12.000 đảng viên trong toàn tỉnh về dự, Ban Chấp hành Đảng bộ (khóa III) gồm 41 ủy viên chính thức
và 3 ủy viên dự khuyết, Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 13 ủy viên, đồng chí Nguyễn Xuân Hữu tiếp tục được bầu lại làm Bí thư Từ ngày 20 đến 26/10/1986, Đảng bộ tỉnh Phú Khánh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ 4 tại thành phố Nha Trang, Ban Chấp hành mới được bầu với 60 đồng chí, trong đó có 45 đồng chí ủy viên chính
Trang 23thức và Ban Thường vụ có 13 đồng chí, đồng chí Nguyễn Duy Luân làm Bí thư Tỉnh ủy
Sau hơn 13 năm, Đảng bộ tỉnh Phú Khánh đã lãnh đạo quân và dân trong tỉnh đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng bên cạnh đó việc hợp nhất hai tỉnh
đã bộc lộ những mặt hạn chế không khắc phục được Căn cứ trên đề nghị của tỉnh Phú Khánh (tại Hội nghị lần thứ 13 của Tỉnh ủy Phú Khánh vào 2/1989), Bộ Chính trị ra Quyết định số 83 về việc chia tỉnh Phú Khánh thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa Thực hiện Quyết định số 83 của Bộ Chính trị và Nghị quyết của kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa VIII về tái lập tỉnh Khánh Hòa, Ban Bí thư Trung ương Đảng
ra quyết định thành lập Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa và chỉ định Ban Chấp hành gồm
30 đồng chí trong đó 6 đồng chí trong Ban Thường vụ và đồng chí Bùi Hồng Thái làm Quyền Bí thư Tỉnh ủy (26/10/1989 đồng chí được quyết định làm Bí thư Tỉnh
ủy Khánh Hòa)
Tháng 4/1991, Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa tiến hành Đại hội lần thứ 12 vòng 1
từ ngày 26 đến 30/4, do tình hình mất đoàn kết nội bộ ở một số đồng chí trong Tỉnh
ủy nên vòng 2 không được tiến hành, Tỉnh ủy Khánh Hòa đã họp Hội nghị lần thứ 7
từ ngày 2 đến 7/11/1991 để kiểm điểm sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và kiểm điểm một
số cá nhân trong nhiệm kỳ 1987 – 1991, đồng chí Lê Phước Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương về dự và chỉ đạo Hội nghị Và Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ 13 diễn ra từ ngày 23 đến 26/4/1996 với sự tham
dự của 298 đại biểu đại diện cho hơn 12.000 đảng viên của Đảng bộ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa khóa XIII gồm có 43 đồng chí, Ban Thường vụ Tỉnh
ủy có 13 ủy viên, đồng chí Nguyễn Thị Hồng Vân làm Bí thư Tỉnh ủy
Như vậy từ khi ra đời đến năm 2000, Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đã trải qua nhiều bước thăng trầm, bên cạnh những thành tựu đạt được thì vẫn còn những mặt hạn chế cần khắc phục nhưng tựu chung thì Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đã thực hiện được việc thống nhất lòng dân, lãnh đạo toàn bộ nền kinh tế - văn hóa – xã hội trong tỉnh phát triển theo kinh tế thị trường định hướng XHCN
Trang 241.2.2 Khái quát về lịch sử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy từ 1930 đến trước năm 2000
a Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa từ năm 1930 – 1975
Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Khánh Hòa được thành lập vào ngày 24/2/1930 với những cán bộ đầu tiên như Bùi Giao, Nguyễn Khắc Tài, Dương Chước, Lê Dung, đồng thời đây cũng là đội ngũ cán bộ đầu tiên của tỉnh làm công tác tư tưởng Khi ra đời Đảng bộ tỉnh hoạt động trong điều kiện bí mật và nhiều khó khăn do sự đàn áp dã man của bọn thực dân, phong kiến, nên chưa có điều kiện để thành lập cơ quan tham mưu riêng về công tác tư tưởng mà chỉ có những hoạt động tuyên truyền và cổ động của các đồng chí trong Đảng bộ vừa làm công tác lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng vừa làm công tác tuyên truyền, cổ động Tuy chưa thiết lập cơ quan tham mưu nhưng Đảng bộ luôn quan tâm đến công tác tư tưởng, đến đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng nên đã mở nhiều lớp học bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, do đồng chí Trần Hữu Duyệt phụ trách chung, Trương Hiệu phụ trách trực tiếp lớp học Người có công truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin, xây dựng những tổ chức cách mạng và tổ chức quần chúng đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Khánh Hòa thời kỳ này là đồng chí Trần Hữu Duyệt – Bí thư Tỉnh ủy cùng với ủy viên liên lạc của Tỉnh ủy là đồng chí Đỗ Long, Lê Dung, Nguyễn Chước, Nguyễn Thế [30, tr55]
Từ năm 1930 đến cách mạng Tháng tám năm 1945, với sự giúp đỡ của đồng chí Phạm Xuân Hòa về đường lối và phương pháp hoạt động, đồng chí Thìn cùng với đồng chí Nguyễn Văn Huyên đã tái thiết lại các tổ chức cơ sở đảng với việc thành lập Ban Cán sự Đảng của tỉnh tại Chín Cụm do đồng chí Phạm Xuân Hòa chủ trì, đồng chí Thìn được bầu làm Bí thư ban cán sự Đảng [30, Tr.75] Ngày đó, Ban Cán sự Đảng lâm thời chưa hình thành các cơ quan tham mưu, giúp việc, mà tất cả cán bộ, đảng viên đều làm công tác tuyên truyền tổ chức và phát động quần chúng nhân dân tỉnh Khánh Hòa tiến hành đấu tranh Tuy chưa có ban tham mưu nhưng với những hoạt động của các đồng chí làm công tác tuyên truyền, vận động, dưới ánh sáng của chương trình và điều lệ Mặt trận Việt Minh như: Ngô Đức Diễn, Hà Huy Tập, Trần Hữu Duyệt, Lê Dung, Đỗ Long, Trần Đình Giáp, Trương Hiệu…
Trang 25đảm nhận luôn công tác tuyên truyền của Đảng góp phần tạo nên nhiều hình thức đấu tranh của quần chúng nhân dân trong tỉnh từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa trong toàn tỉnh giành chính quyền về tay nhân dân diễn ra đầu tiên tại hai huyện Ninh Hòa và Vạn Ninh Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Khánh Hòa đã thắng lợi góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám của cả nước Và đây là một tiền đề vững chắc, tạo niềm tin vững chắc cho nhân dân tỉnh Khánh Hòa vào sự lãnh đạo của Đảng trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ tiếp theo
Ngay sau khi thực hiện Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong cả nước, Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo thành lập Bộ Tuyên truyền để chỉ đạo công tác tuyên truyền trong toàn quốc Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng và Chính phủ đồng thời do nhận thức được vai trò và vị trí quyết định của công tác tư tưởng đối với thực hiện nhiệm vụ cách mạng của tỉnh, năm 1947 Tỉnh ủy thành lập Tiểu ban tuyên huấn thuộc Ban Đảng vụ Tỉnh ủy chủ trương tăng cường cán bộ cho cơ sở nhất là các địa bàn quan quan trọng như Nha Trang, Vĩnh Xương Từ đó nhiều chi bộ đảng được thành lập tiến tới thành lập các Huyện ủy, thị ủy để có thể lãnh đạo chỉ đạo quần chúng khắp nơi trong tỉnh thực hiện đấu tranh đánh đuổi kẻ thù cướp nước và bán nước Quán triệt phương hướng chiến lược mới của Đảng, 13/2/1949, Tỉnh ủy triệu tập Hội nghị cán bộ bất thường với vấn đề lựa chọn cán bộ ưu tú để kiện toàn cơ quan lãnh đạo và bộ máy giúp việc các ngành dân, chính, đảng từ tỉnh đến cơ sở Trên cơ sở đó cuối năm 1949, Tỉnh ủy quyết định thành lập các cơ quan chuyên môn giúp việc cho Tỉnh ủy và Ban Tuyên huấn được thành lập do một đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách Ban Tuyên huấn ra đời và ngày càng hoàn thiện về bộ máy đã tham mưu cho Tỉnh ủy công tác xây dựng Đảng về mặt tư tưởng
và trực tiếp lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng bộ Các đồng chí cán bộ trong Ban
đã kiên trì, bền bỉ tuyên truyền giáo dục làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh hiểu và nắm vững đường lối kháng chiến của Đảng, nhận rõ âm mưu và tội ác của bè lũ cướp nước và bán nước, nuôi dưỡng chí căm thù giặc và xây dựng ý chí quyết tâm kháng chiến đến cùng Chính vì vậy công tác tư tưởng của Đảng bộ
Trang 26dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Ban Tuyên huấn tỉnh góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ đế quốc Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về Việt Nam làm Thủ tướng để củng cố chính quyền tay sai, với âm mưu biến Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng Phong trào cách mạng của tỉnh chuyển hướng từ đấu tranh
vũ trang sang đấu tranh chính trị Tỉnh ủy Khánh Hòa sắp xếp, bố trí lại lực lượng lãnh đạo từ tỉnh đến cơ sở, chuyển hướng phương châm, phương thức đấu tranh; cơ quan lãnh đạo huyện, xã tổ chức tinh giản gọn nhẹ Lúc này cán bộ làm công tác tuyên truyền chủ yếu được phân công về mỗi xã để tuyên truyền giải thích cho nhân dân hiểu rõ ý nghĩa thắng lợi của Hiệp định Gionevo, gây cơ sở, chuẩn bị cho hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà
Tháng 5/1962 Tỉnh ủy đã thành lập lại Ban Tuyên huấn, tổ chức được bộ phận in ấn tài liệu, ra được bản tin, in truyền đơn Bộ máy của Ban ngày càng kiện toàn gồm có Tiểu ban Tuyên truyền – văn nghệ và Tiểu ban Giáo dục, do một đồng chí ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm Trưởng ban
Từ năm 1970 đến năm 1975, Ban đảm nhiệm chỉ đạo trực tiếp và tác nghiệp trên tất cả lĩnh vực của công tác tư tưởng – văn hóa Bộ máy của Ban gồm có 3 tiểu ban là Tuyên truyền có đài vô tuyến diện Minh Ngữ, nhà in và mạng lưới thông tin văn hóa các huyện; Tiểu ban văn nghệ có Ban biên tập báo “Giải phóng”, đội văn công, đội điện ảnh; Tiểu ban Giáo dục có trường bổ túc văn hóa, bộ phận xây dựng phong trào phổ thông, bổ túc văn hóa các huyện và trường Đảng Trưởng ban là một đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, có 3 Phó Trưởng ban, số lượng cán bộ thời
kỳ này lên tới 76 đồng chí [63]
b Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa từ 1975 đến năm 2000
Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và Quyết định của Ban Bí thư, từ ngày 20/10/1975 đến ngày 3/11/1975, tại thị xã Nha Trang, Ban Chấp hành Đảng
bộ tỉnh Phú Khánh họp hội nghị lần thứ nhất – Hội nghị hợp nhất Tỉnh ủy Khánh Hòa và Phú Yên Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác tư tưởng – khoa giáo và thi hành chỉ thị số 03 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc thành lập
Trang 27Ban Tuyên giáo ở các tỉnh phía Nam đồng thời theo đề nghị của Ban Tổ chức Tỉnh
ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra quyết định số 03/QĐ/TU ngày 6/4/1977 về việc
“Thành lập Ban Tuyên giáo” với việc sát nhập hai Ban Tuyên huấn và Ban Khoa giáo Theo đó, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy được giao nhiệm vụ làm công việc của hai Ban Tuyên huấn và khoa giáo Như vậy, khi đó Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy mới có hai
bộ phận nghiệp vụ là tuyên huấn và khoa giáo Cùng với quyết định về việc giao nhiệm vụ cho Ban Tuyên giáo, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng quyết định tổ chức bộ máy của Ban được xây dựng trên cơ sở tổ chức hiện có của Ban Tuyên huấn đồng thời có bổ sung cán bộ theo khả năng của tỉnh Căn cứ quyết định của Ban Thường
vụ Tỉnh ủy về việc thành lập Ban Tuyên giáo, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy họp ngày 31/7/1977 phân công nhiệm vụ cho các đồng chí trong Ban
Ngày 5/6/1976, Tỉnh ủy Phú Khánh ra Quyết định số 121 thành lập Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng trực thuộc Tỉnh ủy với chức năng nhiệm vụ như Ban Bí thư Trung ương quy định Lực lượng cán bộ gồm có 1 đồng chí nguyên là chuyên viên Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa cũ cùng với đội ngũ cán bộ mới tốt nghiệp Đại học Biên chế của Ban có thường xuyên từ 10 đến 18 cán bộ công nhân viên trong đó có 1 Trưởng ban, 2 Phó Trưởng ban
Sau khi tách tỉnh (7/1989), Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy thực hiện sát nhập ba cơ quan: Ban Tuyên huấn, Ban Khoa giáo và Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng cho đến nay
Thực hiện Quy định số 10-QĐ/TU ngày 23/3/1989 của Thường vụ Tỉnh Phú Khánh về việc “sắp xếp bộ máy và cán bộ”, theo tinh thần Quyết định 83 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 14 của Tỉnh ủy Phú Khánh, Lãnh đạo Ban Tuyên giáo đã họp hai lần để bàn thống nhất phân công cán bộ lãnh đạo Ban về hai tỉnh Phú Yên
và Khánh Hòa Sau đó Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã lập tờ trình gửi Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ban Tổ chức Tỉnh ủy “về dự kiến tổ chức bộ máy và phân công của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Theo đó tổ chức của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy được bố trí như sau: Ban gồm có 1 Trưởng ban nhưng trong tình hình hiện giờ chưa có Trưởng ban
Trang 28mà Tỉnh ủy chỉ định đồng chí Phó Trưởng ban thường trực phụ trách chung (bộ phận tuyên truyền, văn hóa văn nghệ và văn phòng ban đồng thời là chủ tài khoản của ban) và 3 Phó ban phụ trách bộ phận khoa giáo, nghiên cứu lịch sử Đảng và bộ phận Huấn học, Trung tâm giáo dục chính trị Biên chế của Ban có từ 29 đến 32 người trong đó biên chế các bộ phận đã có cũ là 32 nay rút xuống còn 20 người và thành lập mới nhà xuất bản chính trị với 13 người, được phân công thành 4 bộ phận – Tuyên huấn, nghiên cứu lịch sử đảng, khoa giáo và văn phòng ban
Phương thức hoạt động của Ban được thực hiện theo chế độ thủ trưởng và chuyên viên Trưởng Ban Tuyên giáo là người được cấp ủy phân công chịu trách nhiệm trước cấp ủy và tập thể Ban về toàn bộ hoạt động của ban và chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy và hướng dẫn của các Ban Tư tưởng văn hóa, Ban khoa giáo và Viện nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, đồng thời trực tiếp phụ trách công việc nghiên cứu lịch sử Đảng Phó Trưởng ban Thường trực là người thay mặt trưởng ban giải quyết các công việc trong ban khi Trưởng ban đi vắng và thường xuyên giúp Trưởng ban trong việc điều hành các công việc trong ban, phụ trách văn phòng ban và là chủ tài khoản của ban, một Phó Trưởng ban phụ trách khoa giáo và một Phó Trưởng ban là giám đốc Trung tâm giáo dục chính trị Cùng với chế độ thủ trưởng là chế độ chuyên viên, các chuyên viên ở từng lĩnh vực công tác sinh hoạt theo các bộ phận chuyên môn sau:
- Bộ phận tuyên huấn đảm nhiệm toàn bộ công tác tuyên truyền, huấn học, văn hóa, văn nghệ thuộc phạm vi chức năng nhiệm vụ của ban gồm 3 bộ phận định biên
6 chuyên viên: huấn học, tuyên truyền và văn hóa – văn nghệ;
- Bộ phận khoa giáo với nhiệm vụ đảm nhiệm toàn bộ công tác khoa giáo thuộc phạm vi chức năng của Ban do 1 phó ban trưởng ban trực tiếp phụ trách và có
3 chuyên viên được phân công theo dõi về giáo dục và 1 cán bộ theo dõi y tế, thể dục thể thao, sức khỏe y học dân tộc, chữ thập đỏ;
- Bộ phận nghiên cứu lịch sử Đảng đảm nhiệm toàn bộ công tác nghiên cứu lịch sử Đảng theo chức năng nhiệm vụ của Ban với 2 chuyên viên;
Trang 29- Bộ phận Văn phòng ban làm nhiệm vụ giúp cho Trưởng ban và tập thể lãnh đạo làm công tác tổng hợp, tổ chức, hành chính quản trị có 6 cán bộ công nhân viên;
- Trung tâm giáo dục chính trị là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, là trung tâm hoạt động báo cáo viên của tỉnh, trung tâm bồi dưỡng lý luận chính trị và cung cấp thông tin về công tác tư tưởng cho cán bộ lãnh đạo và cán bộ làm công tác tư tưởng của tỉnh Trung tâm giáo dục chính trị thực hiện các chức năng nhiệm vụ quy định của Ban Tổ chức Trung ương và nhà giáo dục chính trị Trung ương Biên chế của Trung tâm giáo dục chính trị có từ 10 đến 30 người
Căn cứ Hướng dẫn 75-LB/TTVH-TC, ngày 13-2-1993, của Liên ban Tư tưởng - Văn hóa - Tổ chức TW, Hướng dẫn số 06-HD/TCTW ngày 3-2-1993 của Liên ban Khoa giáo - Tổ chức TW hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Tuyên giáo Tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương; Căn cứ Quy chế số 07-QC/TU ngày 6-1-1997 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa quy định chức năng, nhiệm vụ của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; Đồng thời Căn cứ tình hình thực tế trong công tác hoạt động tuyên giáo, 6/1997, Ban Tuyên giáo Tỉnh
ủy ra qui định về chế độ làm việc của cơ quan
Như vậy từ khi ra đời cho đến năm 2000, Ban Tuyên giáo các cấp Tỉnh Khánh Hòa đã trải qua 70 năm xây dựng và phát triển với nhiều khó khăn, gian khổ
và hy sinh nhưng đó cũng là chặng đường đầy vinh quang và tự hào của đội ngũ cán
bộ làm công tác tư tưởng nói chung và của đội ngũ cán bộ Tuyên giáo các cấp tỉnh Khánh Hòa nói riêng Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy từng bước được cải tiến, đổi mới phù hợp với thời kỳ mới và đội ngũ cán bộ ngày càng được xây dựng lớn mạnh cả
về số lượng lẫn chất lượng Tuy nhiên tổ chức bộ máy của Ban chưa hoàn chỉnh và cần được lãnh đạo Ban và Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Bộ Chính trị tiếp tục có sự thay đổi cải tiến mới nhằm đảm bảo cho công tác tuyên giáo đạt được nhiều kết quả hơn và hạn chế được nhiều khó khăn
Trang 301.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về cán bộ và cán bộ Tuyên giáo
1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về vấn đề cán bộ
a Khái niệm về cán bộ
Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa cán bộ là: “1 Người làm công tác có
nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước; 2 Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường không có chức vụ” [2
Tr109]
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh “cán bộ là người đem chính sách của Đảng, của
Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng.” [57 t5, tr269]
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm đến xây dựng đội ngũ cán bộ Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều Nghị quyết chuyên đề về cán bộ và công tác cán bộ Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đã chỉ rõ: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành
bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [35] Hội nghị lần thứ 9, Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khóa X), trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết
Trung ương 3 (khóa VIII) đã kết luận nêu rõ: “Cán bộ là nhân tố quyết định thành
bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng Phải thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” [41]
Trong Luật Cán bộ và công chức có hiệu lực năm 2010 thì khái niệm cán bộ
được hiểu hẹp hơn: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ
nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở Tỉnh, Thành phố
Trang 31trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [72, chương I, điều 4, khoản 1] Và “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội….” [72, chương I, điều 4, khoản 3)
Ở các nước khác nhau thì khái niệm về cán bộ cũng khác nhau, đa số các nước đều giới hạn cán bộ, công chức trong phạm vi bộ máy hành chính nhà nước (Chính phủ và cấp chính quyền địa phương) Ở nước ta, phù hợp với thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước, Đảng, đoàn thể, chúng ta dùng khái niệm “cán bộ, công chức”
Đề tài “Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ Tuyên
giáo các cấp từ năm 2000 đến năm 2010” sử dụng khái niệm cán bộ bao gồm toàn
bộ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Ban Tuyên giáo các cấp
Ngày nay, xu hướng thế giới đang phát triển theo hướng toàn cầu hóa, trong nước và trong tỉnh đang tiến hành CNH, HĐH thực hiện sự nghiệp đổi mới của
Đảng cần có đội ngũ cán bộ chuyên sâu về mỗi lĩnh vực “đội ngũ cán bộ là những
người được lựa chọn, đào tạo bồi dưỡng theo những tiêu chuẩn chức danh quy định, được giao trọng trách lãnh đạo, quản lý hoặc đảm nhiệm những công tác chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ chủ yếu trong hệ thống tổ chức xã hội nhất định”
[69 tr29]
b Tiêu chuẩn của cán bộ
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn công việc hoàn thành tốt phải có người cán bộ đạt tiêu chuẩn, nghĩa là vừa có tài, vừa có đức, cán bộ lãnh đạo chủ chốt
giống như vị tướng ra trận mà “tướng là kẻ giúp nước Tướng giỏi thì nước mạnh,
tướng xoàng thì nước hèn” [57 T3, Tr519] Đảng ta là Đảng tiên phong của giai
cấp công nhân đồng thời là đại biểu cho quyền lợi của dân tộc nên người cán bộ có
đức được coi là quan trọng bởi một lẽ “cũng như sông thì có nguồn thì mới có
Trang 32nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo” Người cách mạng phải có đức, không có đức thì dù tại giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [57 T5, Tr252] Song giữa tài và đức thì đức là phẩm chất căn
bản, là “gốc” của người cách mạng bởi “giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho
loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản,
tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì” [57 T5, Tr253]
Sự nghiệp cách mạng của nước ta phải trải qua nhiều gian khổ, hi sinh và mất mát nên rất cần đội ngũ cán bộ có đạo đức cách mạng – đạo đức tiến bộ, đạo
đức mang tính nhân văn cao cả, đạo đức cho mọi người, bởi vì “làm cách mạng để
cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp cách mạng rất vẻ vang, nhưng
nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xe Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [57 t9, Tr283] và vì “có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất
cả lợi ích riêng của cá nhân mình Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc Đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của đạo đức cách mạng” [57 t9, Tr284]; một lẽ nữa đó là vì nếu có đạo đức cách mạng thì trong bất
kỳ hoàn cảnh nào người cán bộ, đảng viên cũng sẽ “phải quyết tâm đấu tranh,
chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu Có như thế mới thắng được địch và thực hiện được nhiệm
vụ cách mạng” [57 t9, Tr287], đồng thời trong mọi hành động và lời nói “phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết Nếu lợi ích của Đảng và lợi ích của cá nhân mâu thuẫn với nhau, thì lợi ích cá nhân phải tuyệt đối phục tùng lợi ích của Đảng” [57
t9, Tr289], bởi vì “ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi
ích gì khác Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức nhân dân, lãnh đạo nhân dân để giải phóng nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hóa, chính trị của nhân dân Vì toàn dân được giải phóng, tức là Đảng được giải phóng Vì vậy, mỗi người trong Đảng
Trang 33phải hiểu rằng: lợi ích cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài” [57.T5, Tr250] Trong cuộc sống, nhiều khi lợi
ích cá nhân không phù hợp với lợi ích của Đảng, lúc đó điều cần thiết của người cán
bộ là “phải kiên quyết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Đảng Khi cần đến
tính mệnh của mình cũng phải vui lòng hy sinh cho Đảng” [57 T5, Tr251] và “phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết… Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên, cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích cá nhân lại sau Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng Đó là tính đảng” [57.T5, Tr252]
Người cán bộ có đạo đức cách mạng cũng là người có tư cách, tư cách ấy là
“dám hy sinh cho Tổ Quốc, hy sinh cho đồng bào, hy sinh vì nghĩa” [57 t5, Tr244],
và “phải tuyệt đối yêu Tổ quốc, dũng cảm hy sinh cho Tổ quốc” [57 T7, Tr66] Khi
có phẩm chất đạo đức cách mạng thì khi đó cán bộ, đảng viên sẽ phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng Có trung thành và quyết tâm phấn đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc thì mới dám hy sinh quên mình vì nghĩa lớn, mới quyết tâm rèn luyện mình theo lẽ sống cao cả và
tình cảm cách mạng mới “nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường, tận trung với
nước, tận hiếu với dân” [57 T7, Tr.480] Bên cạnh đó, tư cách của người cán bộ
đòi hỏi cần phải có một đời tư trong sáng, phải là tấm gương sáng trong cuộc sống Bởi nếu cán bộ không có một đời tư trong sáng thì sẽ không thuyết phục, vận động được nhân dân trong các phong trào cách mạng Người cán bộ là một hạt nhân của
xã hội nên ngoài việc phải hoàn thành tốt công việc chung của Đảng đã được phân công, còn phải là một thành viên tốt của gia đình, là một công dân tốt ở khu dân cư
và ngoài xã hội Như vậy tư cách của một người cách mạng là:
- “Tự mình phải: Cần kiệm Hòa mà không tư Cả quyết sửa lỗi mình Cẩn
thận mà không nhút nhát Hay hỏi Nhẫn nại (chịu khó) Hay nghiên cứu, xem xét
Vị công vong tư Không hiếu danh, không kiêu ngạo Nói thì phải làm Giữ chủ nghĩa cho vững Hy sinh Ít lòng tham muốn về vật chất Bí mật
Trang 34- Đối với người phải: Với từng người thì khoan thứ Với đoàn thể thì nghiêm
Trực mà không táo bạo Hay xem xét người
- Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng Quyết đoán Dũng cảm Phục
tùng đoàn thể.” [57 t2, Tr260]
Tuy ở mỗi giai đoạn cách mạng nhất định, phẩm chất đạo đức cách mạng có những yêu cầu cụ thể Nhưng nhất quán và xuyên suốt trong tư tưởng của Người là những đức tính: nhân, nghĩa, trí, dũng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; giám
xả thân cho lý tưởng cách mạng; đi đầu trong các phong trào; dám đấu tranh chống lại các thế lực thù địch trong đó có việc dám đấu tranh chống lại các căn bệnh như: tham lam, ích kỷ, cục bộ địa phương, óc bè phái, óc hẹp hòi, lối làm việc bàn giấy, tính vô kỷ luật, hủ hóa, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh Một trong những yêu cầu của đạo đức cách mạng đặt ra cho người cán bộ là sự thống nhất
giữa lời nói và việc làm phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay
làm Chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh” [57 t5, Tr699] và phải
“thống nhất giữa lý luận và thực tế” [57, t8, Tr496], vì “lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [57, t8, Tr496] Điều này được coi như là cẩm nang
giúp người cán bộ vươn lên trong cuộc sống, khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa cũng như bệnh giáo điều trong lý luận Như vậy đạo đức cách mạng được coi
là một yêu cầu có tính chất tiên quyết đối với cán bộ cách mạng
Người nhấn mạnh đến yếu tố đạo đức, coi đó là yếu tố gốc để tuyển dụng, lựa chọn cán bộ, song Người không hề coi nhẹ tài năng, năng lực của người cán bộ, đức là gốc nhưng đức phải gắn với tài và tài phải có đức đảm bảo Bởi có đức mà không có tài thì việc gì cũng khó, có tài mà không có đức sẽ không làm được điều
gì lợi ích cho đời, thậm chí có hại và sinh ra những thói hư tật xấu Đức và tài thường được ví như hồng và chuyên, đó là chính trị và chuyên môn Cán bộ phải
“chẳng những thạo về chính trị mà còn phải giỏi về chuyên môn, không thể lãnh
đạo chung chung ra sức đào tạo thật nhiều cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý cần
Trang 35thiết cho sản xuất phát triển, chỉ có như thế chúng ta mới xây dựng thắng lợi CNXH” [57 T10, Tr313]
Lãnh đạo việc gì, ngành nào phải am hiểu kỹ chuyên môn của ngành ấy, việc
ấy, có như vậy lãnh đạo mới có kết quả, mới tạo được sự nhất trí, đồng thuận Trong kiến quốc và xây dựng CNXH, cán bộ nhất định phải có học thức; phải có văn hoá làm gốc, phải có nghề, thạo nghề Người cán bộ có vị trí quan trọng quyết định đến
sự thành bại của cách mạng, đảm bảo cho mọi đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước được thực hiện thắng lợi trong thực tế, đồng thời đó là mắt xích gắn bó Đảng với nhân dân Do vậy đòi hỏi người cán bộ phải có một trình độ, trí tuệ nhất định Nếu không, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, người cán bộ sẽ làm sai lệch tinh thần, nội dung của đường lối chính sách Việc truyền đạt, giải thích và triển khai thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước là một việc thật khó khăn và phức tạp hơn nhiều là nắm chắc được tâm tư, tình hình, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, cũng như phản ánh đúng thực chất của tình hình để làm căn cứ cho việc tham mưu, hoạch định chính sách Công việc này đòi hỏi người cán bộ phải đạt tiêu chuẩn ở mức cao hơn để có thể tổng kết thực tiễn, khái quát, nâng cao thành lý luận
Không chỉ có năng lực về chuyên môn mà người cán bộ còn phải có năng lực trong việc liên hệ mật thiết với nhân dân, thực hiện đoàn kết quần chúng thành một lực lượng dưới con đường lãnh đạo của Đảng Đây có thể được coi là yêu cầu đối với cán bộ ở tất cả các thời kỳ cách mạng nhất là trong thời điểm Đảng cầm quyền thì càng quan trọng hơn Người nhấn mạnh đến việc người cán bộ phải bằng hành động thực tế của mình, phải làm cho dân tin, dân yêu, dân kính, dân phục; đứng có mang danh cộng sản để đè đầu cưỡi cổ, phải yêu dân, kính dân; phải việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố gắng làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố tránh; phải khổ trước thiên hạ và vui sau thiên hạ; phải vừa là người lãnh đạo vừa là người đày
tớ thật trung thành của nhân dân Ngoài ra trong năng lực công việc của mình, người cán bộ cần phải luôn luôn học tập để nâng cao trình độ Đó là điều mà bản thân Người là một tấm gương sáng về sự nỗ lực vươn lên, tự rèn luyện Theo Người
Trang 36một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, ngày nay không thể lãnh đạo chung chung được, trong sự nghiệp cách mạng chỉ có lòng nhiệt tình cách mạng không thôi thì chưa đủ mà còn phải có tri thức nữa
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam nên quan điểm của Đảng đều được xây dựng trên nền tảng của tư tưởng của Người Đội ngũ cán bộ của Đảng được xây dựng và trưởng thành trong thực tiễn cách mạng DTDCND và XHCN Lúc đầu là những cán bộ chính trị hoạt động ở nhà máy và ở nông thôn, đến nay đã phát triển thành một lực lượng cán bộ rất đông đảo và mạnh
mẽ ở tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, KHKT và văn hoá – xã hội Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng ta đều cố gắng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, phát triển và phân bố lực lượng cán bộ cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ chính trị Đảng đã huấn luyện cho cán bộ nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, các kiến thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, đưa họ vào cuộc thử thách trong phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ và trong nền kinh tế thị trường ngày nay
Để phù hợp với nhiệm vụ của mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đều xây dựng những tiêu chuẩn cho cán bộ của mình trên nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh, là phải có cả đức và tài Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân, do điều kiện hoàn cảnh đất nước đang còn phải trải qua những năm tháng chiến tranh, nhiệm vụ đặt ra lúc bấy giờ là phải làm sao giải phóng được đất nước, thống nhất nước nhà nên tiêu chuẩn đối với cán bộ lúc bấy giờ được Đảng ta ưu tiên
hàng đầu đó là phẩm chất cách mạng, Đảng xác định “kiên quyết tuyển chọn những
người có đủ tiêu chuẩn về đạo đức và tài năng” [53 t28, Tr313] và tiêu chuẩn đạo
đức và tài năng được cụ thể hóa: “1- Trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã
hội, với chủ nghĩa Mác - Lênin Hết lòng hết sức vì Tổ quốc, vì nhân dân mà phục
vụ, không sợ gian khổ hy sinh; 2- Nhất trí với quan điểm, đường lối chính trị của Đảng Hăng hái phấn đấu để thực hiện các chính sách và nghị quyết của Đảng, các chủ trương và pháp luật của Nhà nước; 3- Có năng lực hoàn thành nhiệm vụ, có kiến thức cần thiết về ngành nghề được giao Tích cực học tập để không ngừng
Trang 37nâng cao trình độ và năng lực công tác; 4- Gần gũi quần chúng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân; 5- Làm việc tập thể, tôn trọng kỷ luật Chí công vô tư, trung thực và khiêm tốn” [53 t34, Tr32]
Ngày nay khi đất nước đã thống nhất, non song thu về một mối, cả nước đang chung tay thực hiện CNH, HĐH nhằm đưa đất nước phát triển hòa nhịp vào xu hướng phát triển của thế giới, phấn đấu trong một tương lai gần đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp, Đảng tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng tiêu chuẩn đối với đội ngũ cán bộ của Đảng, gồm có tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn riêng cho từng loại cán bộ trong thời kỳ đổi mới Đảng xác định đã là cán bộ của Đảng, Nhà nước và nhân dân thì cần phải hoàn thiện mình
theo những tiêu chuẩn như: “Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân
dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý thức tổ chức kỷ luật Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm; Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.” [35]
Trên nền tảng chung ấy, Đảng căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực của cán bộ công tác để xây dựng nên các tiêu chuẩn riêng cho từng loại cán bộ Đối với cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đoàn thể thì phải mang trong mình các tiêu
chuẩn: “Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân,
tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật; thuyết phục và tổ chức nhân dân thực hiện Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; Gương mẫu về đạo đức, lối sống
Có tác phong dân chủ, khoa học, có khả năng tập hợp quần chúng, đoàn kết cán
Trang 38bộ; Có kiến thức về khoa học lãnh đạo và quản lý Đã học tập có hệ thống ở các trường của Đảng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân; trải qua hoạt động thực tiễn có hiệu quả”
Đối với cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang thì phải: “Tuyệt đối trung thành
với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân, sẵn sàng hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN Có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, giữ gìn bí mật quân sự,
bí mật quốc gia Nắm vững và có khả năng vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân Nắm được những vấn đề cơ bản về quản
lý kinh tế xã hội.” [35]
Đảng xây dựng tiêu chuẩn đối với cán bộ khoa học, chuyên gia là phải “có tư
duy độc lập, sáng tạo, có ý thức hợp tác, say mê trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ” sau đó phải đáp ứng tiêu chuẩn “bám sát đời sống xã hội, có khả năng tổng kết thực tiễn” và phải “có khả năng tập hợp và đào tạo cán bộ khoa học” [35]
Còn đối với cán bộ quản lý kinh doanh thì đáp ứng tiêu chuẩn là“hiểu biết
sâu sắc các quan điểm kinh tế của Đảng Có phẩm chất và đạo đức, cần, kiệm, liêm chính, không lợi dụng chức quyền để tham ô, lãng phí, xa hoa Có kiến thức về kinh
tế thị trường và quản trị doanh nghiệp, hiểu biết khoa học, công nghệ, pháp luật và thông lệ quốc tế Có khả năng tổ chức kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế - xã hội.” [35]
1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về cán bộ Tuyên giáo
a Khái niệm
Cán bộ Tuyên giáo là một bộ phận trong đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước nên cũng mang những đặc điểm, tiêu chuẩn của người cán bộ của Đảng Tuy nhiên do tính chất đặc trưng của công việc mà ngoài ra đây còn là đội ngũ hoạt động chuyên nghiệp vừa làm công tác tham mưu vừa trực tiếp tác nghiệp trên các lĩnh vực tuyên giáo, là lực lượng trực tiếp tiến hành công tác tư tưởng trên phạm vi
Trang 39toàn xã hội, là người “đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân
làm Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại” [57.t5, Tr.162] và
vì “lãnh đạo về kỹ thuật chưa đủ Còn phải lãnh đạo về tinh thần Phải là người
tuyên truyền Phải là những người nói cho dân hiểu Có phao đồn gì, phải giải thích cho dân Có mệnh lệnh của Chính phủ, phải giải thích cho dân biết rõ tại sao Chính phủ đã ban bố mệnh lệnh đó” [57.T4, Tr.149]
Xét theo lĩnh vực và hoạt động nghề nghiệp, Đảng Cộng sản Việt Nam quy định cán bộ tuyên giáo gồm: cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị; cán
bộ chuyên trách làm chức năng tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra, thẩm định trên các lĩnh vực tuyên giáo trong cơ quan Ban Tuyên giáo các cấp; cán bộ báo chí – xuất bản; cán bộ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa – văn nghệ, thông tin; cán bộ trong lực lượng vũ trang… Cán bộ tuyên giáo trong cơ quan Ban Tuyên giáo các cấp là một bộ phận trong đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước ta, là đội ngũ tham mưu cho các cấp ủy Đảng và giúp các cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, quản lý, kiểm tra, thẩm định và trực tiếp tác chiến trên các lĩnh vực tuyên giáo như tư tưởng- văn hóa, văn nghệ, báo chí, giáo dục lý luận chính trị, khoa học, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, lịch sử Đảng, và các lĩnh vực xã hội khác
Do đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng mà cán bộ Ban Tuyên giáo có tên gọi khác nhau nhưng tựu chung thì về cơ bản chức nhiệm vụ, nhiệm vụ là giống nhau vì đều xuất phát từ bốn lĩnh vực công tác: công tác tư tưởng, văn hóa, khoa giáo, nghiên cứu lịch sử Đảng Từ sau 1954, cán bộ tham mưu cho cấp ủy về công tác tuyên truyền giáo dục, văn hóa – văn nghệ mang tên là cán
bộ Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy, sau đó chuyển thành Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vào những năm 70 và những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, được phân thành cán
bộ Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy và Cán bộ Ban khoa giáo Tỉnh ủy Nhưng hiện nay hầu hết các tỉnh, thành phố đều có chung một tên gọi là cán bộ Ban tuyên giáo Riêng ở cấp huyện thì từ năm 1995 đến nay, bên cạnh đội ngũ Ban tuyên giáo còn có cán bộ hoạt động ở Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện làm nhiệm vụ bồi dưỡng lý luận, chính trị và cung cấp thông tin cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong huyện Ở xã,
Trang 40phường, thị trấn có cán bộ Ban tuyên giáo của Đảng ủy gồm có 4 đến 5 cán bộ đương chức kiêm nhiệm được phân công, giao nhiệm vụ, chứ không có cán bộ chuyên trách, không nằm trong biên chế nhà nước, hưởng phụ cấp chứ không hưởng lương Trưởng Ban thường là đồng chí Bí thư Đảng ủy kiêm nhiệm hoặc một đồng chí thường vụ Đảng ủy kiêm nhiệm Phó Trưởng ban thường kiêm trưởng ban văn hóa xã
b Tiêu chuẩn
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh người cán bộ phải đảm bảo cả hai tố chất là đức
và tài, hai mặt ấy không thể thiếu mặt nào nhưng riêng cán bộ tuyên truyền phải là người có những khả năng nói cho dân hiểu, giải thích cho dân biết rõ và cần phải thực hành những gì mình đã nói bởi rằng nói miệng ai cũng nói được nhưng thực hành được thì không phải ai cũng có thể làm được Cho nên đã là người cán bộ
tuyên truyền thì“trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và
khi đi công tác, gắng làm gương cho dân Làm gương về cả ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hóa” [57 T4, Tr.150]
Người cán bộ làm công tác tuyên truyền trong mọi quan hệ dù đối với quần chúng nhân dân hay đối với kẻ thù thì cũng cần phải giữ một thái độ khoan hồng, không nên quá khắt khe bởi người Việt Nam vốn có tiếng là nhân đạo Không chỉ
có vậy người cán bộ tuyên truyền cần phải chú ý một điều nữa đó là trước một sự vật, sự việc, một hiện tượng cần phải giữ thái độ tôn trọng sự thật, một cách nhìn khách quan Bởi có như vậy thì mới có nhiều người nghe và làm theo [57 T4,
Tr.151] Đồng thời, người cán bộ tuyên truyền khi thực hiện công tác cần “phải chịu
khó nói rõ cho mọi người hiểu… Nói một lần họ chưa hiểu thì nói nhiều lần Nói đi, nói lại, bao giờ người ta hiểu, người ta làm mới thôi Nói thì phải nói một cách giản đơn, thiết thực với hoàn cảnh mỗi người; nói sao cho người ta nghe rồi làm được ngay… Tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước” [57 T5, Tr.107 - 108]