1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn nghệ dân gian của người BANA

33 581 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó giúp tôi thấy được mỗi dân tộc mỗivùng miền lại có một nét văn hóa đặc trưng riêng, cho tôi hiểu được về đờisống vật chất cũng như văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG 1

1.KHÁI QUÁT VỀ TỈNH GIA LAI VÀ TỘC NGƯỜI BANA 1

1.1.Khái quát về tỉnh Gia Lai 1

1.1.1.Vị trí địa lý 1

1.1.2.Dân số 1

1.1.3.Kinh tế-xã hội 1

1.2.Khái quát về tộc người Bana 2

1.2.1.Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bố dân cư 2

1.2.2.Đặc điểm về đời sống văn hóa của người Bana 3

2.MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI BANA 5

2.1.Một số loại hình văn nghệ dân gian 5

2.1.1 Sử thi 5

2.1.2.Thơ ca dân gian 7

2.1.3.Dân ca .8

2.1.4.Múa dân gian 10

2.1.5.Nhạc cụ dân gian 12

2.2 Lễ hội 13

2.2.1 Lễ hội đâm trâu 13

2.2.2 Lễ hội Sơmă Kơcham 15

2.2.3 Lễ tạ ơn mẹ 16

2.3.Gía trị văn nghệ dân gian của người Bana đối với kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam 18

2.3.1 Gía trị lịch sử 18

2.3.2 Gía trị văn hóa, nghệ thuật 18

2.3.3 Gía trị nhân văn 19

Trang 2

2.3.4.Gía trị cố kết cộng đồng 19

3.GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA NGƯỜI BANA 20

3.1.Thực trạng việc bảo tồn những giá trị dân gian của người Bana tại Gia Lai .20

3.1.1 Ưu điểm 20

3.1.2 Nhược điểm 20

3.2.Giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của người Bana 21

3.2.1 Nâng cao công tác tổ chức quản lý 21

3.2.2 Nâng cao ý thức người dân 22

3.2.3 Kết hợp giữa phát triển kinh tế và văn hóa 22

3.2.4.Giáo dục và tuyên truyền 22

KẾT LUẬN 24

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

PHỤ LỤC 26

Trang 3

tế, trang phục, nhà cửa, ẩm thực, hôn nhân, ma chay, tín ngưỡng, văn nghệdân gian, lễ hội, thiết chế xã hội Từ đó giúp tôi thấy được mỗi dân tộc mỗivùng miền lại có một nét văn hóa đặc trưng riêng, cho tôi hiểu được về đờisống vật chất cũng như văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số và

đó cũng là vốn nền tảng kiến thức để tôi tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về giátrị văn hóa dân gian của người Bana

Việt Nam với 54 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc, mỗi vùngmiền đều mang trong mình một nét bản sắc văn hóa riêng Cũng như các dântộc khác, dân tộc Bana cũng có một kho tàng văn nghệ dân gian hết sứcphong phú, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam đa màu sắc Dân tộcBana là một trong những tộc người sinh sống lâu đời ở Trường Sơn-TâyNguyên Người Bana cư trú trải rộng trên các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, phíaTây Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa

Trong bài tiểu luận này, tôi tập trung nghiên cứu về văn nghệ dân gian của người Bana tại Gia Lai.

Trang 4

NỘI DUNG

1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH GIA LAI VÀ TỘC NGƯỜI BANA.

1.1 Khái quát về tỉnh Gia Lai

1.1.1 Vị trí địa lý.

Gia Lai là một tỉnh vùng cao nằm ở phía Bắc Tây Nguyên trên độ cao trungbình 700 đến 800 mét so với mực nước biển Gia Lai có diện tích 15.495 km²,trải dài từ 12˚58´ đến 14˚36´ vĩ bắc, từ 107˚27´ đến 108˚54´ kinh đông PhíaĐông giáp với tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên; phía Tây giáp tỉnhRatanakiri của Campuchia; phía Nam giáp tỉnh Đắk Lắk, phía Bắc giáp KonTum

1.1.2 Dân số.

Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Gia Lai đạt gần 1.322.000 người,mật độ dân số đạt 85 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần399.900 người chiếm 32% dân số toàn tỉnh, dân số sống tại nông thôn đạt922.100 người chiếm 68% dân số Trong đó, người Việt (Kinh) chiếm 52%dân số Còn lại là các dân tộc Jrai (33,5%), Bana (13,7%), Giẻ-triêng, Xơ-đăng, Thái, Mường Cư dân Gia Lai có thể chia làm hai bộ phận: Bộ phận cưdân bản địa đã sinh sống ở Gia Lai từ lâu đời gồm dân tộc dân tộc Jrai vàBana, bộ phân cư dân mới đến bao gồm người Việt và các dân tộc ít ngườikhác

1.1.3 Kinh tế-xã hội.

Với số lượng dân cư chiếm ưu thế trong cộng đồng các dân tộc thiểu số,

ý thức về tộc người và vùng lãnh thổ tộc người khá rõ, lại sinh sống trên địabàn án ngữ các đầu mối giao thông huyết mạch nối bắc Tây Nguyên với cáctỉnh ven biển nam Trung Bộ nên người Bana ở Gia Lai chiếm giữ một vị tríđặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị và an ninh - quốc phòng Đây là bộphận dân cư đã có những đóng góp quan trọng trong lịch sử hình thành vàphát triển của tỉnh

Gia Lai có tiềm năng về thủy điện rất lớn với trữ năng lý thuyết khoảng 10,5đến 11 tỷ kw, trữ năng kinh tế kĩ thuật là 7,1 tỷ kw với công suất lắp máy1.502 MWh Tổng thu ngân sách từ sau năm 1975 đến năm 1991 chỉ đạt 40 tỷđồng; năm 2001 đạt 256 tỷ đồng; đến năm 2010 đạt 3.200 tỷ đồng Chấtlượng cuộc sống của người dân được nâng lên rõ rệt; GDP bình quân đầu

Trang 5

người năm 2011 đạt 19,5 triệu đồng; gấp 3,82 lần so với năm 2005; gấp 6,5lần so với năm 2000.

Tiềm năng du lịch của Gia Lai rất phong phú; đa dạng với núi rừng cao cónhiều cảnh quan tự nhiên và nhân tạo Rừng nguyên sinh nơi đây có hệ thốngthực vật phong phú; nhiều ghềnh thác; suối; hồ như Biển Hồ là một thắngcảnh nổi tiếng Ngoài ra, Gia Lai còn có nền văn hóa lâu đời của đông bàodân tộc, chủ yếu là dân tộc Giarai và Bana thể hiện qua kiến trúc nhà rông,nhà sàn, nhà mồ, qua lễ hội truyền thống, qua y phục và nhạc cụ Gia Lai còn

có các món đặc sản như rượu cần, cơm cháy, rượu nếp, phở khô và điêu khắcnổi tiếng là Tượng nhà Mồ

1.2 Khái quát về tộc người Bana.

1.2.1 Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bố dân cư.

• Dân số, phân bố dân cư:

Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Bana ở Việt Nam có dân

số 227.716 người, cư trú tại 51 trên 63 tỉnh thành Người Bana cư trú tậptrung tại các tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, BìnhThuận… Tại tỉnh Gia Lai có 150.416 người; chiếm 11,8% dân số toàn tỉnh và66,1% tổng dân số người Bana tại Việt Nam

• Nguồn gốc lịch sử:

Theo các nhà nhân chủng học thì người Bana có nguồn gốc thuộc chủngIndonesia, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ me Vì sống rải rác trênmột địa bàn rộng lớn nên phong tục, tập quán của người Bana có thay đổi ítnhiều theo phong thổ từng địa phương và sự giao lưu với xã hội bên ngoài

Về tiếng nói, các nhánh người Bana cùng một thứ tiếng, tuy cũng có sự thayđổi ít nhiều tùy theo địa phương Về chữ viết, người Bana là dân tộc thiểu sốđầu tiên cư trú tại Tây Nguyên biết đọc, biết viết và biết làm tính Năm 1861,chữ Bana viết theo mẫu tự la tinh như chữ quốc ngữ được đặt ra và tồn tại,phát triển cho đến ngày nay

Người Bana có nước da ngăm đen, ngày xưa đàn ông để tóc dài tới cổ, ngàynay thì tóc ngắn hơn Người Bana có bản tính mộc mạc, chất phác, hiền lành

và hiếu khác, họ coi người Kinh là anh em nên đối đãi rất thân thiết Tuynhiên, người Bana không muốn khách lạ đụng chạm đến phong tục, tập quánkiêng cữ của họ Muốn vào thăm một nhà nào thì phải được chủ nhân ưngthuận; kỵ nhất là xông thẳng vào bếp núc (một số người Bana thờ thần ở bếp)

Trang 6

1.2.2 Đặc điểm về đời sống văn hóa của người Bana.

• Văn hóa vật chất

_Về nhà ở của người Bana thuộc loại hình nhà sàn Cho đến nay nhà củangười Bana có rất nhiều thay đổi, hầu như không còn nhà sàn dải Nhà sànngắn của các gia đình nhỏ là hiện tượng phổ biến Mặc dù có nhiều thay đổinhư vậy nhưng vẫn tìm được ở những địa phương khác nhau những ngôi nhà

cổ truyền Bana, nhà nóc hình mai rùa hoặc chỉ còn là hai mái chính với haimái phụ hình khum, dấu vết của nóc hình mai rùa Chỏm đầu dốc có “sừng”trang trí, với các kiểu khác nhau tùy từng địa phương Nhà tre vách nhưng cóthêm lớp đố, ngoài được buộc rất cầu kỳ có giá trị như là một thứ trang trí Bộkhung nhà kết cấu đơn giản Đã là vì kèo nhưng vẫn trên cơ sở của vì cột Tổchức mặt bằng cũng đơn giản là 1 hiện tượng rất phổ biến hiện nay Nhà sànthường dài từ 7m đến 15m, rộng từ 3m-4m, cao từ 4m-5m, sàn cách mặt đấtkhoảng 1m đến 1,5m.[A1]

_Về trang phục:

Trang phục nam: nam giới Bana mặc áo chui đầu, cổ xẻ Đây là loại áo cộctay, thân áo có đường trang trí sọc đỏ chạy ngang, gấu áo màu trắng Nammang khố hình chữ T theo lối quấn ngang dưới bụng, luồn qua háng rồi chemột phần mông Ngày rét, họ mang theo tấm choàng Ngày trước nam giớibúi tóc giữa đỉnh đầu hoặc để xõa Nếu có mang khăn thì thường chít theokiểu đầu rìu Trong dịp lễ bỏ mả, họ thường búi tóc sau gáy và cắm một lôngchim công Nam cũng thường mang vòng tay bằng đồng.[A2]

Trang phục nữ: Phụ nữ Bana ưa để tóc ngang vai, có khi búi và cài lượchoặc lông chim, hoặc trâm bằng đồng, thiếc Có nhóm không chít khăn mà chỉquấn bằng chiếc dây vải hay vòng cườm Có nhóm như ở An Khê, MangGiang hoặc một số nơi khác họ chít khăn trùm kín đầu, khăn chàm quấn gọntrên đầu Trước đây, họ đội nón hình vuông hoặc tròn trên có thoa sáp ong đểkhỏi ngấm nước, đôi khi có áo tơi vừa mặc vừa che đầu Họ thường đeo chuỗihạt cườm ở cổ và vòng tay bằng đồng xoắn ốc dài từ cổ đến khủy tay (theokiểu hình nón cụt) Nhẫn được dùng phổ biến và thường được đeo ở hai, bangón tay Tục xả tai phổ biến vừa mang ý nghĩa trang sức vừa mang ý nghĩatín ngưỡng của cộng đồng Hoa tai có thể là kim loại, có thể là tre, gỗ Tục càrăng mang theo quan niệm của cộng đồng hơn là trang sức Phụ nữ Bana mặc

áo chủ yếu là loại chui đầu, ngắn thân và váy Áo có thể cộc tay hay dài tay.Váy là loại váy hở, thường là ngắn hơn váy của người Ê Đê, ngày nay thì dài

Trang 7

như nhau Quanh bụng còn đeo những vòng đồng và cài tẩu hút thọc vào đó.[A3]

_Về ăn uống, người Bana cũng như các tộc người khác thích ăn bốc,không dùng đũa Thường một ngày họ ăn hai bữa cơm: buổi sáng, trước lúc đirẫy hoặc xuống phố chợ; bữa tối ăn vào lúc tối mịt trước khi đi ngủ Họthường nấu cơm buổi sáng, để dành ăn cả ngày Cơm hay thức ăn nấu trongnhững cái nồi đất miệng loe ra, không có nắp đậy, không có quai; thường đậynồi bằng lá chuối Ngày nay, họ thường dùng nồi đồng hay xoong nhôm muacủa người Kinh để nấu ăn Rượu là thức uống rất được ưa thích, phổ biến nhất

là rượu cần, rượu cần được ủ bằng cơm gạo nếp hay tẻ, bằng bắp, củ mì, bobo

Nam nữ Bana đều hút thuốc lá Thuốc được trồng tại chỗ Sau khi thuhoạch có thể thái thành sợi nhỏ và dùng tẩu để hút hoặc để nguyên lá khôcuốn thành điếu để hút Tẩu thuốc được làm từ thân tre, nứa hoặc bằng gỗ vàđược tạo dáng đẹp

• Văn hóa tinh thần

Dân tộc Ba Na có nền âm nhạc rất phong phú Nhạc cụ của Ba Na cũngrất đa dạng gồm cả bộ dây, bộ hơi và bộ gõ Múa dân gian Ba Na trong đó cómúa phục vụ nghi lễ và biểu diễn ở hội hè được nhiều người ưa chuộng.Trường ca, Truyện cổ của dân tộc Ba Na cũng là những tác phẩm dân gian cổtruyền độc đáo, có giá trị trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Người

Ba Na có nhiều lễ hội như; Lễ tạ ơn cha mẹ, lễ đâm trâu, lễ bỏ mả, lễ tạ ơnthần lúa Những lễ hội không chỉ là dịp để đồng bào tạ ơn trời đất cho vụ mùabội thu mà còn là dịp vui chơi,đánh cồng chiêng, uống rượu cần và cũng làdịp để người Ba Na thể hiện tài năng chế biến những món ăn vô cùng độcđáo

• Văn hóa xã hội

Đối với người Bana, làng là đơn vị xã hội hoàn chỉnh Chế độ mẫu hệtuy tan rã, địa vị nam giới có nâng cao, nhưng phía mẹ vẫn gần gũi hơn Tàn

dư mẫu hệ thể hiện rõ trong quan hệ gia đình, gia tộc và trong hôn nhân Sauhôn nhân vẫn còn tập quán ở nhà vợ, hoặc ở luân phiên, mỗi bên một thờigian Chỉ sau khi có con đầu lòng mới dựng nhà riêng

Trang 8

2 MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI BANA.

2.1 Một số loại hình văn nghệ dân gian.

2.1.1 Sử thi.

Ra đời và tồn tại như một mắt xích quan trọng trong cuộc sống, Hơmon-sử thicủa người Bana gắn liền với tên tuổi những anh hùng thần thoại, những anhhùng của buôn làng Tây Nguyên nói chung, người Bana nói riêng, từng đượcbao thế hệ ngưỡng vọng như Diông, Dư, Dăm Noi… Mang trong mình nhữnggiá trị lịch sử, giá trị văn hóa về một giai đoạn lịch sử nhất định, Hơmon làmột phần bản sắc của dân tộc Bana, phản ánh lịch sử, xã hội cũng như tâm tư,nguyện vọng của cộng đồng, đẹp như một khúc tráng ca

Vừa mới đây thôi, loại hình diễn xướng bằng hình thức hát kể có sức sốngvượt thời gian ấy đã được Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch đưa vào danhmục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Cầm trong tay cuốn sử thi GiôngTrong Yuăn, tôi lại bị những lời hát đầy chất thơ mê hoặc:

“Ê…

Một cái làng đông vuiHơn ba trăm nóc nhà to cao, rộng dàiNhà nào cũng có buồng ngủ ấm áp bên trongNhà rông hơn ba trăm sải sừng sữngĐụng trời xanh mái cao ngất ngưởng

Rì rầm sông trôi dưới gầm sànNước bạc, nước vàngMặt trời lấp loáng…”

Đây là câu truyện được hát kể theo trật tự tuyến tính, toàn bộ nộidung được xoay quanh việc tranh chấp giữa các làng Bana xưa với nhau, qua

đó phản ánh cuộc sống và ước mơ chinh phục tự nhiên của con người và phảnánh những cuộc chiến tranh của những người anh hùng Mà cụ thể ở đây làmột bên do Giông Trong Yuăn-một người tài giỏi, oai phong là đại diện vớiphe còn lại là Giông Ayôr Pôr Kuan; để rồi bên thua trận phải chấp nhận bồithường nhiều của cải để được sự tự do Chuyện kết thúc với bữa rượu lớn kéo

Trang 9

dài trong sự hoan hỉ của tất cả mọi người; và khi mà hận thù đã hết, các lànglại trở nên thân thiện, gần gũi.

Nội dung cơ bản xuyên suốt trong mỗi tác phẩm sử thi bao gồm 3nhiệm vụ của người anh hùng là lấy vợ, lao động và đánh giặc, trong đó đánhgiặc là nhiệm vụ trung tâm Giông Trong Yuăn cũng vậy Lấy vợ là việc làmcủa hầu hết các anh hùng trong sử thi của các dân tộc đều phải trải qua; nhưng

đó không phải là những cuộc hôn nhân bình thường mà là các cuộc hôn nhâncủa xã hội sau thời đại anh hùng Nếu trong Diông Trong Yuăn là cướp phụ

nữ về làm vợ, trong Diông Dư là giành lại vợ của mình bị cướp thì hành độngcứu phụ nữ bị cướp rồi lấy làm vợ lại được đặc tả trong Hơmon Đăm Noi,Kon Kra-Kon Krung Sự hình thành và thực hành Hơmon trải qua một quátrình lâu dài, mà trong đó công đầu tiên và lớn nhất phải kể đến hoạt độngsáng tạo của các nghệ nhân hát-kể Hơmon Họ là người am hiểu sâu sắc vềcộng đồng, văn hóa của dân tộc mình và có trí nhớ tuyệt vời để hát kể nhữngcâu chuyện sử thi kéo dài nhiều đêm Trong quá trình hát kể sử thi, họ đã vậndụng và sáng tạo nên những câu chuyện về người anh hùng, về văn hóa, đờisống xã hội của cộng đồng, dân tộc Hơmon thường được chia thành nhiềuđoạn, mỗi khúc đoạn mô tả về một sự kiện, thậm chí một nhân vật, một hiệntượng văn hóa

Hơmon thường được hát-kể vào đêm không trăng Nghệ nhân hát-kểnằm trên đầu hồi nhà rông phía Tây và chìm trong bóng tối, chỉ có giọng hát-

kể vang lên trên nền đêm đen Người nghe ngồi thành từng nhóm quanhnhững đống lửa chăm chú lắng nghe diễn biến của sử thi từ sự kiện này sang

sự kiện khác, khiến cho mọi người hòa nhập với mạch kể của sử thi Số lượngđông đảo người nghe tạo thêm niềm hưng phấn cho tâm lý và giọng điệu, diễntấu của người kể, khiến cho câu chuyện về người anh hùng càng thêm hấpdẫn, lôi cuốn Trong không gian im ắng ấy, tiếng nghệ nhân ngân nga vanglên, như vọng lại từ một không gian xa xôi thần bí Cả người kể lẫn ngườinghe đều bị nghệ thuật và không gian diễn xướng mê hoặc, dẫn dắt theo, nhưsống trong diễn biến của câu chuyện Đây cũng chính là điều làm nên sứcsống và sự truyền cảm của nghệ thuật diễn xướng hát kể của Hơmon tồn tạiqua bao thế hệ người Bana.[A4]

Di sản Hơmon của người Bana ở tỉnh Gia Lai là vô giá về mặt vật chấtcũng như tinh thần Ở tỉnh Gia Lai, sử thi được phát hiện và công bố đầu tiênvào năm 1982, là sử thi Đăm Noi của dân tộc Bana do nhóm tác giả Đinh Văn

Mơ, Tô Ngọc Thanh, Phạm Thị Hà sưu tầm và biên dịch Đến nay, Gia Lai đã

Trang 10

công bố gần 20 sử thi Những tác phẩm này không những có giá trị thuộcphạm trù văn học dân gian, mở ra nhiều vấn đề nghiên cứu mới về lịch trìnhphát triển xã hội, đất nước, con người của cư dân nơi đây, mà còn đóng góprất quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

2.1.2 Thơ ca dân gian.

Thơ ca dân gian của người Bana chủ yếu là tự sáng tác, khi có cảmhứng hay bằng trái tim rung động và truyền miệng cho nhau Những lời camộc mạc có vần điệu rõ ràng, mang nội dung cụ thể ngắn gọn, dễ hiểu, dễthuộc Từ bao đời nay thơ ca vốn là tiếng nói gần gũi của mỗi con ngườiBana Trong cuộc sống hằng ngày, tring các lễ hội đồng bào ở đây có thể thiếu

áo, váy đẹp, cơm thịt thơm ngon nhưng không thể thiếu được lời ca tiếng hát

Từ những đứa bé mới chào đời, người mẹ Bana đã có bài Pơ nhông con, ƯmKom… để ru ngủ, cho đến tiễn người già ra đi cũng có bài: Hmon tiễn biệt Thơ của người Bana cũng có vần điệu, thường là thơ bốn chữ và sáuchữ Trong thực tế cuộc sống thơ của người Bana vùng này ít “sống” mộtmình như thơ của anh em người Kinh Thơ ra đời là chất liệu để cấu thành lời

ca (trước đây người Bana không có nhạc lý) chuyển tải ngay những nội dung

mà lời thơ muốn nói Qua thực tế chúng tôi thấy những nghệ nhân, ở đây vừa

là người sáng tác thơ, vừa là người trình diễn nội dung đó qua làn điệu dân ca.Bài hát mà mình sáng tác được mới đầu chỉ hát một mình, sau dần dần mớitruyền miệng để mọi người cùng hát

Thơ dân gian của người Bana mang nhiều nội dung phong phú, đadạng, đi sâu vào nhiều lĩnh vực nhằm ca ngợi cái đẹp trong lao động sản xuất,trong tình yêu nam nữ, tình yêu quê hương đất nước, thiên nhiên hùng vĩ.Trên rừng có nhiều loài hoa đẹp là nỗi niềm cảm hứng của những nghệ nhânlàm thơ, ca Hoa tượng trung cho cái đẹp, là niềm kiêu hãnh, là ước nguyệncủa bao con người muốn vươn tới cái đẹp Đồng bào người Bana phần lớnsống trên các vùng rừng núi cao, gắn liền với rừng cây, chim thú, sông suối vàhoa thơm, quả ngọt Mỗi con người ở đây họ rất yêu hoa như một thứ của quý

mà ông Yàng (Trời) đã ban cho họ Ở nhà mọi người nhìn hoa qua cánh cửa,lên rừng nhìn hoa qua các cành cây, sông suối, nhìn hoa lung linh qua ánhnước…hoa mọc xung quanh con người…cho nên đời hoa và đời người đã đivào thơ ca của người Bana là thường tình, cụ thể và cũng rất mộc mạc

“Cheng reh, oh liêm dang pơ kao chen reh

Trang 11

Wưeng long, oh liêm dang pơ kao veng long

Ơ drong đum, oh liêm dang pơ kao drong đumJur hum, oh liêm dang xem jong jur hum…”

Tạm dịch:

“Cheng reh, em đẹp như hoa Cheng rehTrên cao, em đẹp như hoa trên cành cây cao

A dong, em đẹp như hoa A dong đỏ giữa rừng

Em đẹp như con chim xem jong xuống tắm sông trong…”

2.1.3 Dân ca.

Những làn điệu dân ca Bana còn lại ngày nay đều ở dạng truyền miệngqua trí nhớ của người già nên đã bị mất mát khá nhiều Khối lượng dân caBana đã sưu tầm và bảo tồn cho đến nay khá phong phú và đặc sắc Dân caBana ngoài giá trị văn học, âm nhạc, còn có giá trị về lịch sử xã hội và dântộc Hiểu dân ca Bana là phải hiểu từ cái gốc, xuất xứ và đặc điểm riêng

“Tôi muốn xem hoa rung reng đẹptôi muốn xem hoa còn ở trên câynhưng còn sợ trên cây có kiếncòn sợ con ong chưa bay đi.”

Trang 12

Có thể tạm chia dân ca Bana làm 3 thể loại: Khan hơ mon, hát ru vàbài cúng tế trong các lễ hội Hát ru của người Bana có những nét riêng, trướchết là kiểu cách ru của họ Đồng bào Bana không có nôi, không có võng, thậmchí giường nằm cũng không vì phải sống và lao động ở môi trường luôn cóthú dữ rình rập nên đứa con phải ở luôn bên mình Nhỏ thì cõng trên lưng, lớnthì dắt theo bên cạnh, đàn ông mang rựa ná đi trước, đàn bà mang gùi theosau Người mẹ vừa trẩy bắp, gặt lúa vừa ru; vừa giã gạo, lấy nước vừa ru Họ

ru không chỉ bằng lời mà bằng cả hơi ấm và sự chuyển động của thân thể theonhững tiết tấu nhịp điệu của lời ru, vừa êm ái lại vừa nhẹ nhàng Lời ru bay ra

từ miệng quyện lẫn vào gió, vào nắng, vào hương hoa rót vào lòng đứa trẻ âmthanh huyền diệu của bao la đất trời:

“Ngủ đi con ơi đừng khócLớn mau chân tay như cây chò, cây trắc

Ngủ đi con đừng khócCây lớn lên từ đất

Có gốc rồi mới có ngọnNgủ đi con ơi đừng khóc.”

Hát ru của người Bana không chỉ ở người mẹ mà ở cả người bà, người chị.Trẻ con là tài sản của làng, ai cũng phải có trách nhiệm nâng niu, bảo vệ Bài cúng trong các lễ hội được xếp vào dân ca bởi nó cũng có chất vănhọc và âm nhạc Dân tộc nào cũng có nhiều lễ hội và có những bài cúng riêngcho từng lễ hội Người Bana trong lao động sản xuất có những bài cúng cácgiai đoạn làm rẫy, từ chọn đất đến hội mừng ăn cơm mới có năm, sáu lễ cúng

Từ con người mới sinh ra đến khi nằm dưới đất, cũng lắm thứ lễ cúng Và các

lễ hội có lẽ bài cúng đâm trâu là lớn hơn cả, có bài cúng các vị thần linh, kể cảbài cúng tiễn biệt con trâu cũng khá độc đáo Trong khi các già làng xướng lờicúng thì dàn cồng chiêng vẫn diễn tấu, làm cho buổi lễ hội thêm long trọng vàthiêng liêng, đi sâu vào tiềm thức trong mỗi người

Trong môi trường văn học dân gian, Khan hơ mon là một tác phẩmvăn học tổng hợp, nó thu hút hầu hết các giá trị văn hóa vốn có của dân tộc:thơ ca, thần thoại, truyền thuyết, âm nhạc, diễn xướng, để thành một tác phẩm

tự sự bằng văn vần hay những làn điệu dài hơi lấy các nhân vật anh hùng làmtrung tâm để biểu đạt tư tưởng, ý nguyện, quan niệm sống của cộng đồng Sửthi ra đời sau thần thoại vào buổi bình minh của loài người, thời kỳ có giai

Trang 13

cấp và tổ chức xã hội Khan hơ mon là một sinh hoạt văn hóa độc đáo được kểqua những ngữ điệu trầm bổng lôi cuốn của những nghệ nhân Bana Khônggian trong sử thi Bana rất rộng, không chỉ có núi cao, rừng rậm mà còn có cõitrời bao la, cõi âm huyền bí, có sông, có biển, lại còn có cả những làng dướiđáy biển.

“…Mỗi bước đi váy hé da đùi lóe sánglàm da trời bớt xanh biển bớt sáng…”

(Nàng Bia Bông trong sử thi Dyông wi win)Dân ca Ba na có tính chất thiết tha, nồng nàn nhưng không bước đến tột cùngcủa tình cảm do dùng nhiều quãng 4 ( Si-Mi hay Mi-Si) Giai điệu Ba na cótính bình ổn, ít có đột biến, thường là những khúc nhạc ngắn, nhịp điệu đơngiản Dân ca Ba na cũng đem cảm giác lắng dịu, êm đềm Thang âm dân ca

Ba na Rơ ngao còn được gọi tên là đon, đen, ton, ten theo âm thanh phát racủa bộ chiêng

2.1.4 Múa dân gian.

Trong tiếng Bana, múa được biểu cảm bằng động từ Xoang Xoang làmúa tổng hợp, múa nói chung, múa theo vũ điệu có sẵn, vũ điệu ăn sâu vàotâm trí và tình cảm của mỗi người dân Bên cạnh Xoang, đôi khi người dâncũng dung từ Yun để chỉ các điệu múa, tuy nhiên yun chỉ là động tác nhú nhảyđơn giản, nhiều khi ngẫu hứng, không theo bài bản, yun trong tiếng Ba na cónghĩa là dập dềnh nhún nhảy

Có rất nhiều điệu múa khác nhau, được trình diễn trong những dịpkhác nhau Mỗi điệu múa lại được diễn tấu cùng với những nhạc cụ riêng,trong đó cồng chiêng bao giờ cũng là nhạc cụ bắt buộc Các điệu múa phổbiến thường là múa bỏ mả (xoang p rự p sát a tâu), múa mừng lúa mới (xoang

sa k pô et b nao), múa cúng máng nước, mừng chiến thắng, múa trong tang lễngười chết… Trong từng điệu múa trên lại có những điệu mua hợp phần nhưmúa trống, múa chia tay người chết, múa tạ ơn thần lúa…[A6]

Múa Bana mang một số đặc trưng đáng lưu ý Thứ nhất, dù thể hiệntình cảm khác nhau, có điệu múa sôi nổi, mạnh mẽ như múa trống, có điệumúa vui vẻ, rạng rỡ như múa mừng lúa mới, có điệu múa lại êm đèm nhưsoang pơ sat a tâu, nhưng nhìn trên tổng thể, múa Bana có cử động chủ yếu làthân thể (đàu, lưng, eo, hông) nhún nhảy êm dịu nhẹ nhang, cử động của chântay chỉ là phối hợp Thứ hai, đội hình múa bao giò cung xếp theo hình tròn

Trang 14

hoặc hình vòng cung Thứ ba, chiều vân dông của đội múa thường là chiềungược kim đông hồ từ đông sang tây, đặc biệt trong múa đám tang và múa bỏ

và tái hiện lại các sinh hoạt sản xuất và xã hội truyền thống đã và đang diễn ra

ở vùng rừng núi của người Bana

Chẳng hạn múa ăn trâu tái hiện những động tác săn bắn, múa mừng lúavào kho tái hiện thao tác làm nương rẫy Ở cấp độ cao hơn có thể khẳng địnhmúa Bana nhìn chung là nghệ thuật, là nhịp điệu của những người săn bắn,hái lượm và gieo trồng

Trong múa Xoang truyền thống của người BaNa không thể thiếunhững chiếc trống Chơ gút Mặt trống được làm bằng da dê hoặc da bò Trốngkhông đánh bằng dùi, mà vỗ bằng tay, do một người mang trống trước ngựcdẫn đầu (chỉ huy) dàn cồng chiêng, âm thanh của nó rộn rã, đầm ấm Đánhtrống Chơ gút là cả một nghệ thuật vì trống chỉ huy cả đội hình cồng chiêng,các cô gái nhẹ nhàng múa Xoang theo tiếng gọi rộn rã của trống và nhữngbước di chuyển nhịp nhàng cùng nụ cười giao cảm

Trong tiếng cồng chiêng sống động, những điệu múa Xoang nhịpnhàng, uyển chuyển của các chàng trai, cô gái đã cuốn hút mọi người cùngvào vòng Xoang Đội hình múa Xoang của người BaNa thường đi theo vòngtròn ngược chiều kim đồng hồ, quay tròn theo cây nêu ngoài sân hoặc khu vựctrước nhà Rông Đội hình Xoang tiến hành trong khi đang thực hiện nhữngnghi lễ của lễ hội thì gọi là Xoang nghi thức - những vũ điệu có nội dung nhấtđịnh đối với từng loại lễ hội Và bên cạnh đội hình Xoang nghi thức là Xoang

tự do, với sự tham gia tùy hứng của các thành viên khác trong cộng đồng Đối với người Bana, tùy theo những lễ hội có tính chất khác nhau, vũđiệu Xoang có những biến đổi về đội hình, nhịp điệu, tiết tấu… cho phù hợp.Xoang Samơk là vũ điệu trong lễ Samơk (lễ ăn lúa mới) vào dịp những vạtlúa trên nương bắt đầu chín tới, lễ Samơk với những điệu Xoang Samơk sôinổi, đầy hứng khởi làm rộn rã buôn làng suốt 3 ngày liền Khi kết thúc lễSamơk, người ta tiến hành điệu Xoang vòng tròn kéo dài thâu đêm suốt sángngay trong nhà Rông hoặc dưới sân trước cửa nhà Rông để tất cả thành viên

Trang 15

cùng tham gia Xoang Khi tiến hành lễ Bơ-thi (lễ bỏ mả), vũ điệu Xoang Atâu chậm rãi, u buồn Khi tiến hành lễ đâm trâu, Xoang Khiêl và Long Đeh là

vũ điệu dành cho các chiến binh thể hiện sức mạnh cộng đồng Vũ điệuXoang Tơnơl hay Tap Sơgơr lại chỉ thực hiện khi nào cộng đồng Pơlêi làm lễcúng sân mới trên mảnh đất cư trú mơi…

Cách đây hàng trăm năm, người Bana đã làm ra những nhạc cụ thể hiện

sự giao hòa, chinh phục của con người đối với thiên nhiên hùng vĩ Đến nay,đồng bào vẫn tạo tác và giữ gìn được nhiều nhạc cụ cổ truyền đặc sắc, chủngloại đa dạng và gắn với nhiều cách thức biểu diễn như gõ, thổi, búng, gảy,kéo, vỗ Các loại nhạc cụ của người Bana gồm cả bộ dây, bộ hơi và bộ gõ.Trong các loại nhạc cụ của người Bana, tiêu biểu nhất phải kể đến là bộ gõ: “Chinh Goong” (cồng chiêng) và trống

Cồng chiêng là nhạc cụ được làm bằng đồng thau, hình tròn có đườngkính khoảng từ 20 cm đến 60 cm Một dàn cồng chiêng của người Banathường có 3 chiếc cồng lớn hơn, ở giữa có núm và khoảng 10 chiếc chiêng rẹtnhỏ hơn Khi diễn tấu, người Bana dùng dùi gỗ quấn vải mềm để đánh Cồngcàng to thì tiếng càng trầm, còn những chiêng càng nhỏ thì tiếng càng cao.Mỗi bài cồng chiêng gồm nhiều bè, mỗi cá nhân sử dụng một cái cồng hoặcchiêng.Trong các dịp lễ hội, âm vang tiếng cồng chiêng luôn rộn ràng, nhịpnhàng và tinh tế Âm nhạc cồng chiêng của người Bana đã góp phần làmphong phú không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên,là một trong nhưngthành tố để Uỷ ban văn hoá khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc côngnhận là di sản văn hóa thế giới

Trong đời sống âm nhạc của mình, người Bana còn sử dụng và sángtạo nhiều loại đàn độc đáo như: đàn t’rưng, các loại đàn dây như: Ting Ning,K'ni hay các loại đàn thổi ống như: K'long Put, Đing Jơng, Đing Hor Những loại nhạc cụ truyền thống này vẫn được lưu truyền đến ngày nay Trong cuộc sống của người Bana, đàn t’'rưng là loại nhạc cụ gõ phổbiến Đàn t'rưng làm bằng các ống tre, lồ ô hay nứa, có kích cỡ khác nhau,

Trang 16

được kết nối bằng dây mây với cách xếp ống to và dài ở phía trên, rồi đi dầnxuống là những ống ngắn và nhỏ hơn Mỗi đầu ống đều bịt kín do còn đầu kiađược gọt vát một phần ống để tạo âm theo chuỗi âm thanh Khi dùng dùi gõvào các ống sẽ tạo thành âm thanh cao thấp khác nhau Âm sắc của đàn t'rưnghơi đục, tiếng không vang to, vang xa, nhưng khá đặc biệt Nghe tiếng đànt'rưng có cảm giác như tiếng suối róc rách, tiếng thác đổ, tiếng xào xạc củarừng tre nứa khi gió thổi.

Trong các loại nhạc cụ của người Bana, đàn Tinh Ninh ( hay còn gọi

là đàn goong) được coi là cây đàn độc đáo nhất Đàn goong là một đoạn ốngtre lồ ồ, hai đầu ống đều có mấu kín Phía chân đàn có mắc một đầu dây, phầnđầu dây còn lại quấn vào những trục lên dây bằng gỗ, cắm xuyên qua ống ởphía đầu đàn Mỗi cây đàn goong thường có 10 đến 18 dây.Trước đây, ngườiBana dùng dây tơ se vuốt sáp ong để làm dây đàn goong Để tạo thêm độvang cho cây đàn, một số nghệ nhân đã nghĩ ra cách gắn thêm nửa quả bầukhô rỗng ruột ở dưới Tiếng đàn Goong thánh thót, nhưng không rộn rã nhưđàn T’rưng, mà như thủ thỉ, tâm tình Các chàng trai Bana thường chỉ đánhđàn goong vào ban đêm, khi con trai con gái hẹn hò

Trong quá trình lao động sản xuất, chinh phục thiên nhiên, từ xa xưa, ngườiBana còn sáng tạo nhiều loại nhạc cụ độc đáo khác như đàn:Pơ-Chet” ( còngọi đàn suối), đàn“ Reng reo”(đàn gió) Đây là hệ thống đàn làm từ tre, nứa,lợi dụng sức nước, sức gió để tạo ra âm thanh Ngoài ra, người Bana còn chơicác loại nhạc cụ hơi như: Đing But (K'long Put ), Đing Jơng, Đing Hor (đànthổi ống),Hool( sáo )

Đến với các buôn của người Bana vào lễ hội xuân, trong không gian rộng lớncủa núi rừng, bạn sẽ có dịp được chiêm ngưỡng những nhạc cụ độc đáo củangười Bana Âm nhạc dân gian của người Bana , không khí của những lễ hộikhông chỉ thể hiện bản sắc dân tộc, mà còn cho thấy tâm hồn trẻ trung, tìnhyêu nhiệt thành của người Bana đối với âm nhạc, đối với cuộc đời

2.2 Lễ hội.

2.2.1 Lễ hội đâm trâu.

Lễ hội đâm trâu được người Bana gọi là x’trǎng, là một lễ hội tế thầnlinh, ăn mừng chiến thắng, mừng mùa màng bội thu, mừng lễ hội mùa xuânhay mừng các sự kiện trọng đại trong năm Tuỳ theo hoàn cảnh ở từng địaphương mà bà con tổ chức lễ đâm trâu

Ngày đăng: 11/04/2018, 01:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Minh Đạo_ “Dân tộc Bana ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Bana ở Việt Nam
4. Nguyễn Quang Tuệ_ “Kho tàng sử thi Tây Nguyên-sử thi Bana”, nhà xuất bản khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng sử thi Tây Nguyên-sử thi Bana
Nhà XB: nhàxuất bản khoa học xã hội
5. Bùi Thiết_ “54 dân tộc Việt Nam và các tên gọi khác” Sách, tạp chí
Tiêu đề: 54 dân tộc Việt Nam và các tên gọi khác
2. Ngân Qúy (2007), Vấn đề kế thừa và phát triển múa dân gian Việt Nam, nhà xuất bản Hội nghệ sĩ mua Việt Nam Khác
3. E.B.Taylor: Văn hóa nguyên thỷ. Tạp chí văn hóa nghệ thuật xuất bản năn 2001 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w