1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VĂN NGHỆ dân GIAN của dân tộc GIER TRIÊNG ở TINH KON TUM

32 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 788 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giúp tôi hiểu được về đời sống vật chất cũng như đời sống tinhthần của đồng bào các dân tộc thiểu số và đó cũng là vốn nền tảng kiến thức đểtôi tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về giá trị vă

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU

Việt Nam có 54 thành phần dân tộc Trải qua bao thế kỷ, cộng đồng cácdân tộc Việt Nam đã gắn bó với nhau trong suốt quá trình lịch sử đấu tranhchống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành tự do, độc lập và xây dựng đấtnước Mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hoá riêng

Bản sắc văn hoá của các dân tộc thể hiện rất rõ nét trong các sinh hoạtcộng đồng và trong các hoạt động kinh tế Từ trang phục, ăn, ở, quan hệ xã hội,các phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ tết, lịch, văn nghệ,vui chơi của mỗi dân tộc lại mang những nét chung Đó là đức tính cần cù chịukhó, thông minh trong sản xuất; với thiên nhiên - gắn bó hoà đồng; với kẻ thù -không khoan nhượng; với con người - nhân hậu vị tha, khiêm nhường Tất cảnhững đặc tính đó là phẩm chất của con người Việt Nam

Tôi là sinh viên năm 3 trường Đại học Nội Vụ, Hà Nội chuyên nghànhquản lí văn hóa Trong quá trình học bộ môn chuyên nghành “ Văn hóa các dântộc thiểu số”, tôi đã được trang bị những kiến thức chuyên sâu và hiểu rõ hơn vềtừng vấn đề của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam như : Kinh tế, trang phục, tínngưỡng, ma chay, nhà ở, ẩm thực, lễ hội, thiết chế xã hội, văn nghệ dân gian,hônnhân Từ đó cho thấy được mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có một nét văn hóađặc trưng riêng Giúp tôi hiểu được về đời sống vật chất cũng như đời sống tinhthần của đồng bào các dân tộc thiểu số và đó cũng là vốn nền tảng kiến thức đểtôi tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về giá trị văn hóa dân gian của người Gier –Triêng

Dân tộc Gier – Triêng là một trong số 54 dân tộc của Việt Nam, tên gọikhác là Cà Tang, Giang Rẫy, Pin, Triêng, Ca Tang, Ta Liêng, Bnoong, La – Ve,

Ta Rel,… cư trú tập trung tại tỉnh Kon Tum ( 32.644 người, chiếm 62.1% tổngdân số người Gier-Triêng ở Việt Nam), vùng miền núi tỉnh Quảng Nam ( 19.007người, chiếm 37.3%), ngoài ra còn có tại Đắk Lắk (79 người) và một số ít ở tỉnhkhác Với tổng dân số 50.962 người (Tổng cục thống kê năm 2009), người Gier– Triêng là cư dân gắn bó rất lâu đời ở vùng quanh quần sơn Ngọc Linh Ngônngữ và chữ viết của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me, ngữ hệ Nam Á

Trong bài tiểu luận của tôi tập chung vào nghiên cứu lĩnh vực “ Văn nghệdân gian” của người Gier – Triêng ở tỉnh Kon Tum

Trang 3

NỘI DUNG PHẦN 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI,

NGUỒN GỐC LỊCH SỬ CỦA NGƯỜI GIER – TRIÊNG Ở

TỈNH KON TUM

1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của người Gier – Triêng ở tỉnh Kon Tum.

I.1 Đặc điểm vị trí địa lý

Địa giới tỉnh Kon Tum nằm trong vùng từ 107020'15" đến 108032'30" kinh

độ Đông và từ 13055'12" đến 15027'15" vĩ độ Bắc Phía Bắc Kon Tum giáp địaphận tỉnh Quảng Nam với chiều dài ranh giới 142 km, phía Nam giáp vớitỉnh Gia Laichiều dài ranh giới 203 km, phía Đông giáp với tỉnh Quảng Ngãi vớichiều dài ranh giới dài 74 km, phía Tây giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhândân Lào (142,4 km) và Vương quốc Campuchia (138,3 km), với chiều dài biêngiới khoảng 260 km, có đường 14 nối với các tỉnh Tây Nguyên và Quảng Nam,đường 40 đi Atôpư (Lào) Nằm ở ngã ba Đông Dương, Kon Tum có điều kiệnhình thành các cửa khẩu, mở rộng hợp tác quốc tế về phía Tây Ngoài ra, KonTum có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về quốc phòng, bảo vệ môi trườngsinh thái Kon Tum là đầu mối giao lưu kinh tế của cả vùng duyên hải miềnTrung và cả nước

I.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội

1.2.1 Đặc điểm về kinh tế

a Công thương

Với tiềm năng thiên nhiên ưu đãi Kon Tum có điều kiện để phát triển một

số ngành kinh tế mũi nhọn như: Khai thác khoáng sản, chế biến gỗ, vật liệu xâydựng, chế biến nông sản, xây dựng các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ

Do có vị trí chiến lược quan trọng là ngã ba biên giới Việt Nam – Lào –Campuchia Từ Kon Tum thông thương thuận lợi với các trọng điểm kinh tếmiền Trung: Đà Nẵng, Chu Lai (Quảng Nam), Dung Quất (Quảng Ngãi), Quy

Trang 4

Nhơn (Bình Định) Kon Tum là nơi giao nhau của nhiều tuyến đường giao thôngquan trọng: Quốc lộ 40, quốc lộ 14, quốc lộ 24, đường Hồ Chí Minh và tuyếnđường xuyên Á

su, mía, bông…

c Du lịch

Là một tỉnh có nhiều di tích lịch sử, nhiều khu rừng nguyên sinh, với các

hồ thủy điện và đa dạng tiểu vùng khí hậu… đó là tiềm năng du lịch của tỉnh Kon Tum sẽ là điểm đến hấp dẫn, thú vị của du khách trong và ngoài nước nếuđược quảng bá và khai thác tốt Cơ hội đưa du lịch trở thành một trong nhữngngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh nhà còn ở phía trước với nhiều hứa hẹn tốt đẹp

Với lợi thế về vị trí chiến lược về tiềm năng, tài nguên thiên nhiên cùngvới hệ thống chính sách: Thu hút đầu tư, khuyến khích phát triển kinh tế, trongtương lai không xa Kon Tum sẽ có bước phát triển vững chắc cùng cả nước hoànthành sự nghiệp; công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

1.2.2 Đặc điểm về xã hội

Theo kết quả điều tra ngày 1 tháng 4 năm 1999, tỉnh Kon Tum có 316.600người Toàn tỉnh có 25 dân tộc, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh có 145.681

Trang 5

người chiếm 46,36% Các dân tộc thiểu số gồm dân tộc Xơ Ðăng có 78.741người, chiếm 25,05%; dân tộc Ba Na có 37.519 người, chiếm 11,94%; dân tộcGier – Triêng có 25.463 người, chiếm 8,1%; dân tộc Gia Rai có 15.887 người,chiếm 5,05%; các dân tộc khác chiếm 3,5 %.

Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Kon Tum đạt gần 453.200 người,mật độ dân số đạt 47 người/km².Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần156.400 người, chiếm 36% dân số toàn tỉnh, dân số sống tại nông thôn đạt296.800 người, chiếm 64% dân số Dân số nam đạt 237.100 người, trong khi đó

nữ đạt 216.100 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng18,6 ‰

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng

4 năm 2009, toàn tỉnh Kon Tum có 42 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống.Trong đó dân tộc kinh có 201.153 người, người Xơ Đăng có 104.759người, người Ba Na có 53.997 người, Người Giẻ Triêng có 31.644 người, ngườiGia Rai có 20.606 người, người Mường có 5.386 người, Người Thái có 4.249người, Người Tày có 2.630, cùng các dân tộc ít người khácnhư Nùng, Hrê, Brâu, Rơ Măm

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, Toàn tỉnh Kon Tum có 5 Tôngiáo khác nhau chiếm 173.593 người Trong đó, nhiều nhất là Công giáo có134.312 người, Phật giáo có 25.012 người, Tinh Lành có 13.736 người, cùng cáctôn khác như Cao Đài có 499 người, Đạo Bahá'í có 15 người, Đạo Tứ Ân HiếuNghĩa có bốn người, cuối cùng là Hồi giáo chỉ có một người

Ở tỉnh Kon Tum nói riêng, Tây Nguyên nói chung, mặc dù có mặt các tôngiáo khác như Công giáo, Phật giáo, Cao Đài, nhưng có thể nói, Tin Lành làtôn giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ không chỉ đối với đời sống tôn giáo, mà còn cáclĩnh vực khác của đời sống xã hội đồng bào dân tộc thiểu số khu vực này Vìvậy, giải quyết vấn đề Tin Lành là một nội dung quan trọng trong chiến lượcphát triển bền vững của tỉnh Kon Tum cũng như khu vực Tây Nguyên hiện nay

Trang 6

2 Khái quát về tộc danh và nguồn gốc lịch sử của người Gier – Triêng ở tỉnh Kom Tum

2.1 Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bố dân cư

2.1.1 Dân số, phân bố dân cư

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Giẻ Triêng ở ViệtNam có dân số 50.962 người, cư trú tại 29 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.Người Giẻ Triêng cư trú tập trung tại các tỉnh: Kon Tum (32.644 người, chiếm62,1% tổng số người Gier – Triêng tại Việt Nam), Quảng Nam (19.007 người,chiếm 37,3% tổng số người Gier – Triêng tại Việt Nam), ngoài ra còn có tại ĐắkLắk (78 người) và một số ít ở các tỉnh khác

2.1.2 Nguồn gốc lịch sử

Người Gier – Triêng là cư dân gắn bó rất lâu đời ở vùng quanh quần sơnNgọc Linh

Tên dân tộc: Gier – Triêng (Dgích, Ta Reh, Giảng Rây, Pin, Triềng, Treng

Ta Liêng, Ve, La Ve, Bnoong, Ca Tang)

2.2 Khái quát về đặc điểm văn hóa của người Gier – Triêng ở tỉnh Kom Tum

2.2.1 Văn hóa vật chất

a Nhà ở

Dù các làng của người Gier – Triêng rất nhỏ nhưng kiến trúc nhà sàn dàitruyền thống của họ luôn mang đậm nét độc đáo riêng Những ngôi nhà của họkhá tỉ mỉ, chi tiết, có không gian và luôn tuân thủ nghiêm ngạt theo hướng Đông– Tây

Làng của người Gier – Triêng không lớn, thường ở các sườn đồi thấp,trũng, len lỏi vào các con suối, thỉnh thoảng xuất hiện một vài làng lập trên đỉnhđồi trọc hình bầu dục Chính vì thế, từ xa xưa, các thế hệ trong một gia đình đãsinh sống với nhau trong một ngôi nhà sàn dài

Cũng như nhiều nhà sàn dài của các dân tộc khác, nhà sàn của người Gier– Triêng có mái lợp tranh vách bằng gỗ Tuy nhiên, ngôi nhà của họ vẫn mangnét kiến trục độc đáo riêng Kết cấu, bố cục, quy mô nhà sàn của người Gier –Triêng được làm khá chi tiết tỉ mỉ, chắc chắn và không gian lớn hơn

Trang 7

Nhà sàn của người Gier – Triêng thường được dựng trên nền đất hình chữnhật, sàn thường cách mặt đất khoảng 0.8 – 1m Thông thường, ngôi nhà cóchiều dài khoảng 15m, chiều rộng khoảng từ 6 – 10m Diện tích ngôi nhà lớnhay nhỏ phụ thuộc vào số thế hệ và số thành viên sống trong gia đình.

Thành phần chính cấu tạo lên một sườn nhà của người Gier – Triêng cũnggiống như người Kinh, gồm: cột, xuyên, trính, vì kèo, đòn tay, đòn đông…nhưng hình dáng, vị trí và kết cấu của từng bộ phận thì hoàn toàn khác nhau, thểhiện nét văn hóa vừa độc đáo vừa truyền thống vừa tinh tế của cộng đồng Đểlàm hoàn thành một ngôi nhà, đồng bào nơi đây phải sử dụng ít nhất 200 đến

250 bó tranh lợp( mỗi bó gồm nhiều mớ, nặng khoảng 20kg) và trên dưới 20m3gỗ

Người Gier – Triêng ở nhà sàn dài, nhiều nơi làm mái đầu hồi uốn khumhình mu rùa Thường thì các nhà trong làng được xếp thành hình tròn xungquanh nhà rông Khác với nhà rông của một số dân tộc, nhà sàn Gier – Triêngđược chia làm hai nửa bởi hành lang chạy dọc: một nửa của nam giới, một nửacủa nữ giới

Nhà người Gier – Triêng ở Kon Tum hiện nay là nhà sàn ngắn và vài hộgia đình cùng chung sống với nhau

Những nhà này cũng có đặc trưng đáng quan tâm: nhà sàn hình mai rùa,hai đầu đốc được trang trí bởi hai sừng trâu là hai nét đặc trưng trong kiến trúcnhà sàn của người Gier – Triêng Nhà sàn dài được bố trí trên mặt bằng sinhhoạt còn có hình thức: giữa là một hành lang làm lối đi, hai bên là nơi dành chocác hộ gia đình Trang trí và sắp đặt các vật dụng sinh hoạt trong một ngôi nhàtruyền thống Họ quan niệm hướng đông là hướng quan trọng nhất (hướng gốc),hướng Đông gắn liền với ánh nắng mặt trời tỏa đi khắp hướng khác sưởi ấm chocác thần linh, vạn vật của núi rừng để cây cuối hoa màu luôn tốt tươi, tạo ra củacải dồi dào, đem lại hạnh phúc cho mọi người dân

Do vậy, hai cửa ra vào bố trí hai bên hông của ngôi nhà và luôn chếchtheo hướng Đông – Tây Trong đó, cửa chính bao giờ cũng được bố trí ở hướngĐông , cửa phụ nằm ở hướng Tây Quan niệm này được thể hiện rõ ở cách lập

Trang 8

bếp của họ, nếu một ngôi nhà cửa người Gier – Triêng có nhiều thế hệ cùng sinhsống (thường là ba thế hệ ông – bà, cha – mẹ, con cái) thì phải lập hai bếp đểnấu ăn Trong đó, bếp chính đặt ở hướng Đông gần cửa chính của ngôi nhàgiành riêng cho thế hệ lớn nhất ông bà Bếp phụ được đặt ở hướng Tây của ngôinhà Bếp này chỉ phục vụ cho hai thế hệ cha – mẹ và con cái mà thôi Xungquanh bếp là chỗ ngủ của các thành viên thuộc thế hệ bề trên của một gia đình.

Có thể thấy, nhà sàn của người Gier – Triêng luôn có những nét kiến trúchóa hợp với thiên nhiên và gắn liền với những bếp lửa ấm cúng, đậm tình người

b.Ẩm thực

Người Gier – Triêng ăn cơm tẻ, hết gạo tẻ thì ăn cơm nếp Ngày ba bữasáng, trưa, chiều Đồng bào thích ăn nướng đối với ngô, khoai, sắn, cá thịt, canhrau rừng thường xuyên phải có trong bữa ăn Tập quán ăn bốc, môi húp canh tồntại lâu đời, nay dùng đũa bát đã khá phổ biến Đồ uống truyền thống là nước lã,rượu cốt từ gạo, ngô, sắn,kê, và rượu chế từ một loại cây họ dừa mọc hoangtrong rừng Nam nữ đều hút thuốc là bằng tẩu

Món cá chua là một món ăn truyền thống có từ lâu đời của người Gier –Triêng Món cá chua đã trở thành hương vị riêng có mang đậm dấu ấn văn hóadân tộc bản địa

Những món ăn khác thường được chế biến đơn giản để ăn liền, thì món cáchua của người Gier – Triêng được chế biến khá kỳ công và cẩn thận bởi món ăntruyền thống này không phải chỉ là món ăn chính mà còn có thể dùng trong thờigian dài, dùng để mời khách quý, dùng để biếu tặng Đây cũng là món ăn khôngthể thiếu trong các sự kiện quan trọng của làng Vì vậy cách làm và việc lựachọn cá cũng khá công phú Cá được chọn chú yếu là loại cá Niên, xương mềm.Anh An Ghin, thôn Lao Đu, xã Phước Xuân, huyện Phước Sơn, tỉnh QuảngNam, cho biết cá sau khi bắt về phải được chế biến ngay Những thành viên kháctrong gia đình đều tham gia vào công đoạn này bởi như vậy vừa nhanh vừa đảmbảo thịt cá còn tươi khi được bỏ vào hũ Anh An Ghin cho biết:Để làm món cáchua được ngon thì là phải chọn những con cá Niên to và tươi Trong quá trình

Trang 9

làm cá thì làm khi cá còn tươi chứ không được để cá ươn Vì như thế món cáchua mới thơm và ngon được.

Cá Niên sau khi bỏ ruột, cá được rửa thêm lần nữa, sau đó xẻ dọc sốnglưng để thật ráo rồi ướp gia vị Cá lớn được làm trước để đặt phía dưới hũ, cánhỏ để trên Cách làm cá chua cũng có những cách đặc trưng riêng Để chế biếnđược hũ cá chua ngon, phải tuân theo quy trình và bí quyết pha trộn gia vị củangười làm Một nét độc đáo trong món cá chua là không dùng dầu mỡ và rất chútrọng trong việc điều phối các vị chua, cay, mặn Những vị này được ướp riêngcho từng con một Như vậy từ sau 15 đến 20 ngày sẽ làm thịt cá dai, không mỡ,

có mùi thơm của thịt cá, có thêm vị chua cay khiến người ăn cảm thấy vừamiệng, không ngán Anh An Ghin cho biết thêm:Món này của dân chúng tôi đểdành vào những ngày lễ lớn đón tiếp bạn bè gần xa đến thì chúng tôi đãi món cáchua là món đặc sản của dân chúng tôi Đối với chúng tôi, món cá chua là dânmình rất quý vì món này là món truyền thống của ông già từ thời xưa đến giờ đểlại và giờ dân mình làm theo Món đó là món của dân tộc chúng tôi

Phương pháp chế biến món cá chua của người Gier – Triêng hoàn toàndựa vào kinh nghiệm để lại và được lưu truyền từ đời này sang đời khác Cũngchính điều này đã khiến cho món cá chua của người Gier – Triêng không thể lẫnvới bất kỳ với một dân tộc nào khác Món ăn dân dã này đã gắn liền với cuộcsống của đồng bào Gier – Triêng Khi lên nương họ mang theo cá chua ăn kèmvới cơm vừa tiện lợi, vừa đảm bảo sức khỏe Ở các địa phương khác tronghuyện, cá chua thường được ướp bằng bột gạo hoặc cơm nhưng bà con Gier –Triêng thôn Lao Đu lại chọn bột bắp để thấm vào thân cá kèm thêm muối mìnhchính, ớt bột phải là ớt trồng trên dẫy mới có thể đậm đà và giữ hũ cá được lâu

Để có được hũ cá chua ngon thì cá thường được muối trong hũ đất nung,lượng cá trung bình từ 1-1,5kg mỗi hũ Việc đậy nắp hũ sau khi hoàn thành cũngđược tính toán nếu gia đình nào có việc kiêng cữ thì không dùng lá chuối làmnắp đậy mà phải dùng lá môn, 1 loại lá chỉ có ở địa phương Sau khi hoànthành, hũ cá chua sẽ được để vào góc bên cạnh bếp lửa Như vậy thời gian dùng

Trang 10

được sẽ nhanh hơn và côn trùng không thể xâm hại Khi có khách thì mang ramời thể hiện sự hiếu khách của đồng bào vùng cao.

Để cá chua ngon hơn, khu mang ra dùng, bà con cho thêm một loại láriêng đặc trưng của vùng để cá thơm và hấp dẫn hơn Thưởng thức món cá chuatrong những lúc xum vầy có ý nghĩa tinh thần rất lớn Đó không chỉ là hưởngthụ thành quả lao động mà còn là sự tiếp nối truyền thống văn hóa ẩm thực của

tổ tiên để lại Chị Y Bươm, người dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam, chiasẻ: Đối với cộng đồng ngưởi Gier – Triêng thôn Lao Đu, món cá chua là món ănkhông thể thiếu, để làm nên món cá chua này đòi hỏi người dân phải tỉ mỉ, cẩnthận từ khâu lựa chọn thực phẩm đến cách chế biến và phải đặt cái hồn, cái tinhthần tập thể vào trong món ăn mới có thể mang lại đặc trưng riêng Cũng chính

từ món cá chua này, đã gắn kết cộng đồng lại với nhau, đoàn kết trong lao độngsản xuất, chia sẻ những thành quả trong lao động, qua đó động viên nhau vượtqua khó khăn, ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo

Ngoài ra còn có món láp là một món đặc sản mang đậm hương vị vùngcao, món láp đơn giản nhưng có được món ăn ngon cần sự khéo léo của ngườichế biến Láp có thể làm từ bất kì loại thịt nào của động vật, trừ thịt chó (vì thịtchó rất hôi) Tuy nhiên thịt gà vẫn được họ sử dụng nhiều bởi gà nuôi sẵn trongnhà lên thịt rất ngọt và săn

Thịt gà thay vì làm chín thì họ hơ lửa nhẹ cho khô máu Mục đích củacông đoạn này làm cho thịt săn lại và chất dịch cũng rút hết vào trong thớ thịtgiữ được vị ngon sẵn có của thịt gà Sau đó thịt gà được băm trộn với gia vị như:

lá chua rừng, bột bắp rang, lá ngò gai, bột tiêu rừng và các loại ớt, gừng, muối,

mỳ chính,… Để có được món láp ngon, nguyên tắc rất quan trọng đối với ngườichế biến món láp là phải biết lựa chọn lượng gia vị vừa chuẩn

Khi thực hiện xong công đoạn trộn thật đều các loại gia vị vào thịt coi như

đã chế biến xong món láp đặc sản, mang hương vị rất riêng của núi rừng, Bởithịt gà đã chín nhờ độ chua của lá rừng, độ nóng ấm của tiêu, ớt, gừng và độngấm thấu của thính ngô rang Sau khi chế biến xong, láp có màu nhạt và mùi vị

Trang 11

rất giống món tái của người Kinh Đó là tập hợp những vị ngọt, bùi, chua chua,cay cay, tuyệt nhiên không có mùi tanh ăn rất ngon và càng ăn càng bắt vị.

c Trang phục

Đồng bào Gier – Triêng còn bảo lưu y phục truyền thống với nhiều loạihình khác nhau như váy, áo, khố, áo khoác, khăn, mũ, xà cạp…Váy được tạonên từ 2 tấm vải bông, khâu ghép theo chiều rộng rồi khâu nối thành hình ống.Nền váy màu chàm đen, với các hoa văn trang trí kết hợp giữa màu đỏ và màutrắng Váy dùng trong lễ hội thường có trang trí hoa văn đẹp Khi mặc họ thườngquấn váy cao ngang nách, che kín bộ ngực, sau đó khoác tấm thổ cẩm để che vàgiữ ấm đôi vai

+ Trang phục nam

Nam giới để tóc ngắn hoặc đội khăn chàm theo lối chữ nhất trên đầu.Thân ở trần hoặc tấm áo khoác ngoài chéo qua vai, màu chàm có các sọc trangtrí Họ mang khố cổ hẹp, dài không có tua, thân và các mép khố được viền vàtrang trí hoa văn ở hai đầu trên nền chàm Nam cũng đeo vòng cổ, vòng ngoàikhố mang chuỗi hạt vòng Trong các dịp tết lễ, họ mang thêm tấm choàng rộngmàu chàm có các sọc màu trang trí phủ kín thân

+ Trang phục nữ

Người Gier – Triêng tranh thủ lúc nông nhàn để tự dệt vải, khung cửa dệtvải của người Gier – Triêng khá thô sơ, chỉ dệt được dệt vải khổ hẹp Đồng bàothường trồng bông vào tháng 5 và thu hoạch vào tháng 10 Bông được thu hoạch

về được phơi khô bật tơi, sau đó xe thành sợi rồi đem nhuộm trước khi dệt thànhsản phẩm quần áo Dưới bàn tay khéo léo của các cô gái Giẻ - Triêng đã tạo nênnhững bộ trang phục truyền thống và tấm choàng hoa văn với màu sắc trong sảnphẩm dệt Trên trang phục của người Gier – Triêng, các đường nét hoa văn thêutrang trí và đó cũng chính là chi tiết tạo nên sắc thái riêng biệt trong trang phụccủa người Gier – Triêng

Phụ nữ Gier – Triêng để tóc dài quấn sau gáy Họ không mang áo màmang loại váy dài cao sát nách Đây là loại váy ống tương đối dài rộng Đầu váygiữa thân và gấu váy được trang trí các sọc hoa văn màu đỏ trên nền chàm

Trang 12

Lối mặc có tính chất vừa váy, vừa áo này là một đặc điểm rất khác biệt ởphụ nữ Gier – Triêng, ít gặp ở các dân tộc khác từ Bắc vào Nam, rất cổ truyền vàcũng không kém phần hiện đại.

Đây cũng là một lý do trang phục Gier – Triêng được chọn vào “ Làngvăn hóa các dân tộc” Lối mặc váy đặc biệt là quấn mép ra trước giữa thân, đầuváy còn thừa ( váy loại này thường dài – cao gấp rưỡi váy bình thường),lộnngược ra phía trước hoặc cuốn thành nhiều nếp gấp ra xung quanh trông nhưmột chiếc áo ngắn

Phụ nữ còn mang vòng tay vòng cổ bạc, đồng, chuỗi cườm, đeo cổ chân

và tai Đối với tần lớp phụ nữ khá giả, họ thường đeo hoa tai bằng ngà voi

2.2.2 Văn hóa tinh thần

Người Gier – Triêng theo tín ngưỡng đa thần: thần trời (đồng thời vớithần sấm sét), thần mặt trời, thần đất, thần lửa, thần đá, thần cây, thần lúa, thầnrẫy, thần làng….Ma người chết cũng được coi là vật chi phối đời sống conngười Cùng với hệ thống thần linh, mỗi làng, mỗi dòng họ còn có những vậtthiêng như một thứ bùa hộ mệnh cất giấu ở trong rừng hay một chỗ bí mật nào

đó mà người ngoài không thể biết được

Gắn liền với thần linh là các lễ thức cũng bái, lễ quan trọng đều phải đâmtrâu Xa xưa, có nơi phải cúng bằng máu của tù binh trong chiến tranh Lịchcúng lễ diễn ra hàng năm gắn với chu kỳ sản xuất: lễ chọn đất, lễ phát rẫy, lễgieo trỉa, lễ khô hạn, lễ mở đầu tuốt lúa, lễ khi đưa lúa lên kho, lễ khi được 100gùi lúa trở lên, lễ khi lần đầu lấy thóc về ăn

Gắn với chu kỳ đời người là lễ khi có thai, lễ đang mang thai, lễ trước vàsau khi đẻ, lễ khi đặt tên đứa trẻ, lễ khi ốm đau, lễ khi cà răng, lễ khi cưới xin, lễkhi chết,…

Lễ tết của Người Gier – Triêng sớm hơn lễ tết Nguyên Đán, không cùngthời gian nhất định mà lễ tết tổ chức tùy theo từng làng

2.2.3 Văn hóa xã hội

Đơn vị xã hội cao nhất mà người Gier –Triêng đạt đến trong xã hội truyềnthống là làng (plây) Trong mỗi làng được chia thành nhiều nhà dài (khul), đứng

Trang 13

đầu làng là Krã plây, một người do tập thể dân làng chọn lựa bầu ra theo các tiêuchuẩn của xã hội truyền thống

Dân làng thuộc các họ khác nhau, từng họ có truyền thuyết về cội nguồncủa mình, có tên gọi và có kiêng cữ riêng Xưa kia, có những họ của nữ, cónhững họ của nam Quan hệ cộng đồng trong làng thường xuyên và khá chặtchẽ "Già làng" có uy tín cao nhờ hiểu biết, nhiều kinh nghiệm, cũng thường làngười có cộng lập làng Xã hội cổ truyền có nhiều biểu hiện về tàn dư thời mẫu

hệ và bước chuyển tiếp từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ

Làng người Gier – Triêng có quy mô còn nhỏ bé (khoảng 10-15 nóc nhà).Nhà ở thường được sắp xếp lại thành hình vòng tròn bao boc xung quanh mộtngôi ''Nhà rồng''- nhà công cộng của cộng đồng làng Nhà ở thường có hai loại:nhà sàn và nhà nền đất

Trước đây, mỗi làng chỉ cư trú trong một nhà dài năm sáu chục mét Trongngôi nhà dài này, có gian dành cho sinh hoạt cộng đồng của dân làng và nhữnggian khác là nơi sinh hoạt của các gia đình nhỏ

Người Gier – Triêng cư trú trong vùng rừng núi hiểm trở, tiếp xúc ít với

xã hội nên chuyển biến chậm, đang từ gia đình lớn mẫu hệ chuyển sang gia đìnhnhỏ phụ hệ Gia đình lớn hay nhà lớn gọi là kul.Người đứng đầu mỗi kul đồngthời cũng là người đứng đầu một dòng họ

Người Gier – Triêng có nhiều dòng họ như: Lặp Năng, Ê Đuốt, Na Xá, Kriêng, Blu ông, Lô ông, Mỗi họ gắn với một câu chuyện về thủy tổ liên quan tớimột con vật (như Ê Đuốt là một loại chim), liên quan đến một vùng đất (như Na

Trang 14

công việc sản xuất của làng, bảo vệ làng, ngoại giao có lợi cho làng Welmin còn

là tòa án tập quán pháp xử những vụ tranh chấp kiện tụng trong làng, kẻ phạmtội phải nộp phạt bằng chiêng, ché, trâu, rượu để tạ lễ thần linh và khao làng

Dân làng thuộc các họ khác nhau, từng họ có truyền thuyết về cội nguồncủa mình Quan hệ cộng đồng trong làng thường xuyên và khá chặt chẽ “ GiàLàng” có uy tín cao nhờ hiểu biết, nghiều kinh nghiệm, cũng thường là người cócộng lập làng Xã hội cổ truyền có nhiều biểu hiện tàn dư thời mẫu hệ và bướcchuyển tiếp từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ

Trang 15

PHẦN 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA DÂN TỘC

GIER - TRIÊNG Ở TINH KON TUM

1 Một số loại hình văn nghệ dân gian

Từ hoang sơ núi rừng đã biết sử dụng giại điệu sẵn có từ cây tre, cây nứa

và chất liệu khác thiên nhiên Họ trao đổi thông tin với nhau một cách dễ dàngthông qua các loại sáo, những khi lên rẫy bà con thường sử dụng sao TơLơi bày

tỏ tình cảm Âm nhạc có vị trí quan trọng trong cuộc sống của người Gier –Triêng là động lực to lớn giúp đồng bào vượt qua mọi khó khăn thách thức trongcuộc sống hằng ngày âm nhạc của người Gier – Triêng có sức lôi cuốn kì diệubởi tiết tấu và những giai điệu của nó

Hình thức không thể thiếu trong đám hỏi là hát ví Thường được bắt đầucâu hát ví von , ẩn dụ, thể hiện tinh tế sâu sắc văn hóa ứng xử của đại diện hai

họ đại diện nhà trai thường bắt đầu câu hò:

“ Búp măng đã mọc muốn bẻ nhưng thấy bụi tre già không biết tôi bẻ có được không”

Nếu đồng ý nhà gái sẽ đáp lại:

“ Bụi tre có gai, có rậm anh muốn bẻ thì vẫn sang được”

Nhà trai sẽ nói:

“ Nếu không có trở ngại thì tôi sẽ bẻ vì tôi thích ăn măng”

Thông qua hình thức đối đáp ví von tế nhị như vậy để trao đổi câu chuyệncửa người Gier – Triêng

Trang 16

1.2 Múa

- Người Gier – Triêng có điệu múa Gietrapeo đầy quyến rũ điệu múa đẹp,tinh tế tái hiện lại cảnh sinh hoạt, hoạt động sản xuất trong cuộc sống hằng ngàycủa người Gier – Triêng

- Ngoài điệu múa Gietrapeo thì còn có điệu múa xoang Xoang là múa tậpthể được múa trong các lễ hội của cộng đồng như lễ hội ăn trâu, mừng nhàRông, mừng lúa mới, mừng sức khoẻ số lượng và quy mô người tham gia phụthuộc vào tính chất của nghi lễ và đặc biệt ở Tây Nguyên, bất cứ tộc người nàokhi xoang cũng đi ngược chiều kim đồng hồ, “đó là chuyển động từ Đông sangTây, từ dương sang âm, chuyển động mang theo yếu tố dương cầu mong sự pháttriển”.[ Ảnh 1.tr 30]

Nghệ thuật xoang của người Gier – Triêng cũng như các tộc người khác ởTây Nguyên, nó thể hiện tính cộng đồng cao, tính đoàn kết không phân biệt nam

nữ, lớn nhỏ, già trẻ, nếu họ thích thì cứ việc xoang, nói một cách khác là chấtnghệ sĩ ở trong họ đã có sẵn, cứ có dịp là thể hiện ngay Múa (xoang) của các tộcngười nơi đây mang chất liệu khoẻ khoắn, hồn nhiên, mộc mạc, kết hợp cả độngtác tay và chân chứ không chỉ động tác tay mềm mại như ở vùng miền khác.Phải nói rằng, cũng như các tộc người khác ở Kon Tum, riêng ở tộc người Gier –Triêng động tác múa thật khoẻ khoắn lộ hẳn trên những bắp tay, bả vai và dichuyển nhịp nhàng khéo léo của thân hình, bởi vì ở người phụ nữ Gier – Triêng

họ chỉ mặc váy kéo sát nách Chính điều đó mà chúng ta có thể quan sát từngđộng tác của họ thật điêu luyện và đẹp mắt Xoang của người Gier – Triêng chỉdiễn ra khi có hội lễ nên chỉ có múa tập thể chứ không có múa cá nhân, đơn lẻ,mặc dù số lượng múa đông nhưng từng động tác tay, chân, di chuyển đều đồng

bộ theo nhịp dàn cồng chiêng và trống (gar)

1.3 Văn học dân gian

Văn học dân gian phong phú với ca dao tục ngữ , dân ca, truyền cổ, đượctruyền miệng qua thế hệ này sang thế hệ khác

Ngày đăng: 11/04/2018, 01:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w