1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn nghệ dân gian của dân tộc sán CHAY tại Phú Lương, Thái Nguyên

23 402 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 475,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một sinh viên đang theo học chuyên ngành Quản lý văn hóa, sau khitrải qua quá trình học tập, rèn luyện và được trang bị những kiến thức chuyênsâu về văn hóa các dân tộc thiểu số tại V

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU

Cộng đồng người Việt Nam có 54 dân tộc anh em khác nhau Mỗi mộtdân tộc như một đóa hoa, góp phần tạo nên một rừng hoa mang đậm bản sắc dântộc Việt Nhưng để có được rừng hoa ấy, mỗi một tộc người cần phải giữ lại nétvăn hóa riêng biệt cho tộc mình, và chỉ có thời gian, những biến cố của lịch sửmơi có thể minh chứng rõ cho điều này Công lao ấy là thành quả của những dântộc có số dân chiếm đại đa số như dân tộc Kinh, và những vùng dân tộc thiểu sốtrải trên khắp cả nước ta Điển hình là dân tộc Sán Chay sinh sống tại huyện PhúLương, tỉnh Thái Nguyên

Người Sán Chay chủ yếu tập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc Bộ như YênBái, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, rải rác ở các tỉnh: QuảngNinh, Cao Bằng, Lạng Sơn Hiện tại có một nhóm người vào Tây Nguyên lậpnghiệp được tổ chức thành các làng Họ đều là những cộng đồng mới di cư sangViệt Nam cách đây một vài trăm năm, và chiếm 2.9% dân số ở Thái Nguyên

Là một sinh viên đang theo học chuyên ngành Quản lý văn hóa, sau khitrải qua quá trình học tập, rèn luyện và được trang bị những kiến thức chuyênsâu về văn hóa các dân tộc thiểu số tại Việt Nam, tôi càng thêm trân quý vàmuốn đi sâu tìm hiểu về họ, về những giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc SánChay tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Để từ đó có thể đưa ra nhữngbiện pháp bảo tồn, phát huy những giá trị đó ngày càng đi lên trước những ýđịnh xấu của thế lực phản động Vì vậy, tôi đã mạnh dan lựa chọn nghiên cứu đề

tài: “ Tìm hiểu, mô tả, đánh giá và đề xuất để bảo tồn những giá trị văn nghệ dân gian của tộc người Sán Chay tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.”

Trang 3

NỘI DUNG CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI

NGUYÊN VÀ DÂN TỘC SÁN CHAY 1.1 Khái quát về huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

1.1.1 Lịch sử hình thành

Địa danh Phú Lương có từ thời Lý Khi ấy, Phú Lương là một phủ rộnglớn, bao gồm toàn bộ phần đất của các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn và CaoBằng ngày nay Thời thuộc Minh (từ năm 1407 đến năm 1427), lập huyện PhúLương, thuộc phủ Thái Nguyên Từ thời Lê đến đầu nhà Nguyễn (Gia Long),huyện Phú Lương thuộc phủ Phú Bình Năm Minh Mệnh thứ 16 (1836), triềuNguyễn điều chỉnh địa giới 2 phủ Phú Bình và Thông Hóa, để thành lậpphủ Tòng Hóa trực thuộc tỉnh Thái Nguyên, huyện Phú Lương thuộc phủ TòngHóa, huỵên lị đặt tại xã Quán Triều Theo “Đồng Khánh địa chí”, huyện hạt PhúLương cách phủ lỵ 78 dặm về phía tây nam Phía đông giáp các xã Quang Vinh,Văn Lăng (huyện Đồng Hỷ), phía tây giáp xã An Trạch (Định Châu) và hai xãThượng Lương, Hạ Lương (huyện Văn Lãng), phía nam giáp hai xã Huy Ngạc,Yên Thái (huyện Đại Từ), phía bắc giáp trang Yên Đĩnh (châu Bạch Thông).Đông - tây cách nhau 63 dặm, nam - bắc cách nhau 135 dặm; gồm 6 tổng với 28

xã, trang, phường Dưới thời Pháp thuộc, từ tháng 10/1890 đến tháng 9/1892huyện Phú Lương thuộc Tiểu Quân khu Thái Nguyên (một trong 3 Tiểu Quânkhu thuộc Đạo quan binh I Phả Lại) Từ tháng 10/1892, huyện Phú Lương thuộcphủ Tòng Hóa (tỉnh Thái Nguyên) như dưới thời nhà Nguyễn Ngày 11/4/1900,thực dân Pháp tách phủ Thông Hoas khỏi tỉnh Thái Nguyên để thành lập tỉnhBắc Kạn Ngày 25/6/1901, thực dân Pháp tách tổng Yên Đĩnh khỏi huyện PhúLương, sáp nhập vào châu Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Huyện Phú Lương lúc đó

có 7 tổng: Quán Triều, Cổ Lũng, Tức Tranh, Động Đạt, Phủ Lý, Yên Đổ, YênTrạch với 21 làng, bản Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, Phú Lương có 7

Trang 4

tổng, 23 xã: tổng Yên Thịnh có 3 xã, tổng Ninh Tường có 7 xã; tổng Yên Đổ có

3 xã; tổng Động Đạt có 3 xã; tổng Tức Tranh có 3 xã; tổng Cổ Lũng có 3 xã:tổng Sơn Cẩm có 3 xã Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, huyện Phú Lươngđược tổ chức lại thành 12 xã: Yên Trạch, Yên Ninh, Tam Hợp, Yên Đổ, YênLạc, Động Đạt, Phấn Mễ, Phú Đô, Tức Tranh, Vô Tranh, Cổ Lũng, Sơn Cẩm.Sau hòa bình lập lại (1954), huyện Phú Lương có 14 xã (do xã Tam Hợp táchthành 3 xã: Hợp Thành, Tân Thành, Phú Lý) Từ ngày 1/7/1965, huyện PhúLương là một trong số 14 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Bắc Thái.Ngày 25/3/1967, Bộ Nội vụ ra Quyết định số 111-NV chuyển 9 xã: Nông Thịnh,Thanh Bình, Yên Đĩnh, Quảng Chu, Như Cố, Bình Văn, Yên Hân, Yên Cư,Nông Hạ và thị trấn Chợ Mới của huyện Bạch Thông về huyện Phú Lương.Ngày 7/4/1974, Bộ Nội vụ ban hành Quyết định số 136-NV đổi tên xã TânThành thành xã Ôn Lương Ngày 23/2/1977, Bộ trưởng Phủ thủ tướng ra Quyếtđịnh số 616-VP18 thành lập thị trấn Giang Tiên Ngày 3/6/1993, Chính phủ raNghị định số 36-CP thành lập thị trấn Đu thuộc huyện Phú Lương Ngày1/1/1997, tỉnh Bắc Thái tách thành 2 tỉnh: Bắc Kạn và Thái Nguyên; huyện PhúLương là một trong 9 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên; cácxã: Nông Thịnh, Thanh Bình, Yên Đĩnh, Quảng Chu, Như Cố, Bình Văn, YênHân, Yên Cư, Nông Hạ và thị trấn Chợ Mới tách khỏi huyện Phú Lương, sápnhập về huyện Bạch Thông của tỉnh Bắc Kạn (nay 10 đơn vị hành chính nàythuộc huyện Chợ Mới) Ngày 18/8/2017, chuyển xã Sơn Cẩm về thành phố TháiNguyên quản lý Hiện nay, huyện Phú Lương có 15 đơn vị hành chính gồm 2 thịtrấn, 13 xã, với 14 tổ dân phố và 240 xóm

1.1.2 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên

Phú Lương có tổng diện tích tự nhiên là 369,34 km2 gồm thị trấn Đu, thịtrấn Giang Tiên và 14 xã, dân số có mặt đến 1/4/2009 là 105.152 người PhúLương là huyện miền núi nằm ở vùng phía bắc của tỉnh Thái Nguyên, nằm trong

Trang 5

toạ độ địa lý từ 21036 đến 21055 độ vĩ bắc, 105037 đến 105046 độ kinh đông;phía bắc giáp huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Cạn), phía nam và đông nam giáp thànhphố Thái Nguyên, phía tây giáp huyện Định Hoá, phía tây nam giáp huyện Đại

Từ, phía đông giáp huyện Đồng Hỷ; huyện lỵ đặt tại thị trấn Đu, cách trung tâmthành phố Thái Nguyên 22km về phía bắc (theo Quốc lộ 3) Phú Lương có baloại đất chính: đất fe-ra-lít vàng đỏ trên phần thạch sét, đất fe-ra-lít mầu vàngnhạt trên đá cát và đất nâu đỏ trên đá mácmabazơ và trung tính tương đối phùhợp để trồng cây công nghiệp dài ngày, chủ yếu là các cây chè, cà phê, cây ănquả và bố trí sản xuất theo hớng nông - lâm kết hợp Ba loại đất này chiếm trên50% tổng diện tích tự nhiên của huyện Khí hậu Phú Lương mang tính chất nhiệtđới gió mùa với hai mùa nóng, lạnh rõ rệt Mùa lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3năm sau) nhiệt độ xuống thấp, có khi xuống tới 30C, thường xuyên có các đợtgió mùa đông bắc hanh, khô Mùa nóng (từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm)nhiệt độ cao, nhiều khi có mưa lớn và tập trung Trong lòng đất Phú Lương cónhiều khoáng sản Than có ở các xã Phấn Mễ, Sơn Cẩm Than Phấn Mễ rấtnhiều chất bay hơi, có giá trị cao Từ năm 1905 thực dân Pháp đã tiến hành thăm

dò và sau đó tiến hành khai thác than ở Phấn Mễ một cách ồ ạt E.Chinad viếttrong Tiểu chí Thái Nguyên “Trung bình có 2.000 tấn được xuất ra ngoài tỉnhmỗi tháng” Than ở xã Động Đạt có trữ lượng khoảng 40 vạn tấn Đất cao lanh ởcác xã Cổ Lũng, Phấn Mễ, trữ lượng khoảng 2 triệu tấn, điều kiện khai tháctương đối thuận tiện

1.2.1 Dân số và phân bố dân cư dân tộc Sán Chay

Người Sán Chay, tên gọi khác là Cao Lan, Sán Chỉ, Mán Cao Lan, HờnBận, là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam Tiếng Sán Chay là ngônngữ thuộc ngữ chi Thái trong Hệ ngôn ngữ Tai-Kadai Người Sán Chay chủ yếutập trung ở các tỉnh đông bắc Bắc Bộ như Yên Bái, Tuyên Quang, TháiNguyên, Bắc Giang, rải rác ở các tỉnh: Quảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn Hiện

Trang 6

tại có một nhóm người vào Tây Nguyên lập nghiệp được tổ chức thành các làng.

Dân số theo điều tra dân số 2015 là 170.000 người Theo Tổng điều tradân số và nhà ở năm 2009, người Sán Chay ở Việt Nam có dân số 169.410người, có mặt tại 58 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Sán Chay cư trú tậptrung tại các tỉnh: Tuyên Quang (61.343 người, chiếm 36,2% tổng số người SánChay tại Việt Nam); Thái Nguyên (32.483 người, chiếm 19,2% tổng số ngườiSán Chay tại Việt Nam); Bắc Giang (25.821 người); Quảng Ninh (13.786người); Yên Bái (8.461 người); Cao Bằng (7.058 người); Đăk Lăk (5.220người); Lạng Sơn (4.384 người); Phú Thọ (3.294 người); Vĩnh Phúc (1.611người)… [5, tr.134 - 225]

2.2 Đặc điểm đời sống kinh tế của dân tộc Sán Chay

Người Sán Chay làm ruộng nước là chính, nông nghiệp đóng vai trò quantrọng Ngoài ra có một số dân tộc: Sán Chỉ vì điều kiện không có ruộng nênnghề chính của những người dân vẫn là nghề làm nương rẫy (lúa nương)

1.2.3 Vài nét về dân tộc Sán Chay ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên

Dân số, nguồn gốc dân tộc Sán Chay là dân cư chiếm số đông ở huyệnPhú Lương Hiện nay, có những xã của huyện Phú Lương người Sán Chaychiếm tới 96% Họ là cư dân nông nghiệp, làm ruộng nước thành thạo nhưngnương rẫy vẫn có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế và phương thức canh táctheo lối chọc lỗ, tra hạt vẫn tồn tại đến ngày nay Họ sống trong nhà sàn, váchche sát đất, xa trông tưởng là nhà đất Người Sán Chay ăn cơm tẻ là chính Rượucũng được dùng nhiều, nhất là trong ngày tết, ngày lễ Ðàn ông thường hút thuốc

lào, phụ nữ ăn trầu Trong gia đình người Sán Chay, người cha là chủ nhà Tuy

nhà trai tổ chức cưới vợ cho con nhưng sau cưới, cô dâu lại về ở với cha mẹ đẻ,thỉnh thoảng mới về nhà chồng, cho đến khi mang thai mới về hẳn với chồng

Họ thờ cúng tổ tiên và chịu ảnh hưởng của Phật giáo Phổ biến nhất là thờ NgọcHoàng, Phật Nam Hoa, Táo Quân Hiện nay trang phục của người Sán Chay

Trang 7

thường giống người Kinh hoặc người Tày Thường ngày phụ nữ Sán Chay mặcváy chàm và áo dài có trang trí hoa văn ở hò áo và chỉ dùng một thắt lưng chàmnhưng trong ngày tết, ngày lễ họ dùng 2 – 3 chiếc thắt lưng bằng lụa hay nhiễuvới nhiều màu khác nhau.

CHƯƠNG II MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA DÂN

TỘC SÁN CHAY TẠI PHÚ LƯƠNG – THÁI NGUYÊN

2.1 Múa Tắc Xình

Múa Tắc Xình luôn song hành cùng với tiến trình hình thành và phát triểncộng đồng người Sán Chay ở Việt Nam, tập trung tại huyện Phú Lương, tỉnhThái Nguyên Đây là nghệ thuật trình diễn dân gian mang tính tâm linh quantrọng trong lễ hội Cầu mùa của người Sán Chay để tạ ơn trời đất, thần linh đãcho mưa gió thuận hòa, mùa màng tốt tươi, bản làng no ấm, lúa ngô được mùa

và cầu khẩn sự che chở của thần linh cho mùa vụ tiếp theo [Ảnh 1; Tr 20]

Múa Tắc Xình có 09 động tác mô phỏng đời sống của người Sán Chaygồm: thăm và dọn đường, bắt quyết, mài dao, đánh dao, phát nương, tra mố,chăm sóc lúa, thu hoạch mùa màng, mừng mùa và trả lễ cho thần linh Động tácmúa và âm nhạc cho múa đơn giản, dễ thực hành, tuy nhiên, những người thamgia Tắc Xình phải là nam giới với chủ lễ là thầy cúng hoặc người múa có kinhnghiệm và kỹ thuật cao

Khi người làm lễ ra hiệu lệnh, hai người tay cầm ống tre nhấc lên caongang mặt, một tay cầm cây gõ hai lần liên tiếp vào ống tre tạo nên âm “tắc,tắc”, rồi cầm ống mai đập mạnh xuống đất phát ra tiếng kêu “xình” Tiếng nhạc

gõ liên tục, không ngừng nghỉ, tạo thành nhịp điệu của bước nhảy và âm thanhtạo thành chuỗi “Tắc - tắc - xình, tắc - tắc - xình ” Trong vòng âm thanh liênhồi đó, những người nhảy thể hiện động tác khỏe mạnh, nhịp nhàng mô phỏngđộng tác trong các hoạt động lao động sản xuất của người Sán Chay

Nhạc cụ để múa gồm: trống đất (náy cau) được tạo ra bằng cách đào một

hố sâu xuống đất, trên mặt hố phủ một miếng vỏ cây để tạo âm vang Người ta

Trang 8

chăng một sợi dây rừng cố định, ngang mặt hố, rồi lấy một que nhỏ chống dâylên ở vị trí đúng tâm của hố đất và âm thanh sẽ phát ra khi gõ vào sợi dây; trốnglớn, trống nhỏ, trống nứa (náy trooc); quả chuông, chiêng, chập xeng (sắm sẹ);kèn tổ sâu làm bằng lá cây, kèn pó lè; bộ gõ là các ống tre và que tre.

Múa Tắc xình có hai tư thế: Tư thế ngồi: Hai người ngồi đối diện nhau, sửdụng ngọn tre hoặc mai được vót nhẵn, phần gốc chôn chặt xuống đất, phầnngọn có chòm lá hướng lên trời, uốn cong theo hình cần câu, nhờ sợi dây (sebằng vỏ cây tu va) nối với một ống mai già Ống tre hoặc mai có độ dài khoảng

70 - 80cm được buộc chặt bởi một đầu sợ dây rừng, còn đầu dây bên kia buộcvào ngọn tre còn tươi (có thể là ngọn trúc, vầu ) để chỏm lá trên đỉnh Họ dùnghai tay cầm ống tre gõ mạnh xuống đất tạo âm thanh “xịch”, gõ 2 thanh tre vàonhau tạo ra âm “tắc”, liên tục, nhịp nhàng; Tư thế đứng: Người gõ tay trái cầmống tre đường kính 3,5cm, chiều dài 180m, tay phải cầm thanh tre nhỏ vót hìnhchữ nhật, chiều dài 30cm gõ ngang vào thân ống, ngừoi gõ tư thế đứng thẳng Người gõ nhạc một tay dùng thanh tre già gõ vào ống mai tạo ra âm thanh “tắc”,tay kia cũng gióng mạnh ống mai xuống đất tạo nên tiếng “xịch” và cứ nối tiếptạo thành âm “Tắc tắc xịch, tắc tắc xịch, tắc tắc xịch, tắc xịch, tắc xịch ”

Trong tiếng nhạc rộn rã của trống, kèn, chập xeng , những nghệ nhânthực hiện các động tác dứt khoát, phối hợp linh hoạt, nhịp nhàng với bước chânnhún nhảy theo chuỗi âm thanh tắc xịch Nguời múa cùng người gõ nhạc càngnhiệt tình và phối hợp nhịp nhàng bao nhiêu thì thần linh càng phù hộ cho mùamàng tốt tươi bấy nhiêu

Múa Tắc Xình là điệu múa nghi lễ, vừa tái hiện các hoạt động lao độngsản xuất của người Sán Chay vừa thể hiện đời sống tâm linh của người dân làmnông nghiệp, phụ thuộc hoàn toàn vào các yếu tố tự nhiên Múa Tắc Xình cũngphản ánh cấu trúc xã hội, gia đình phụ hệ của người Sán Chay, với việc chỉ cónam giới được thực hành nghi lễ Việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản Múa TắcXình không chỉ có ý nghĩa giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau, khơi

Trang 9

dậy lòng tự hào về bản sắc riêng của cộng đồng Sán Chay, mà còn khích lệ tinhthần đoàn kết cộng đồng và góp phần vào công tác xây dựng đời sống văn hóacủa Thái Nguyên.

Với những giá trị đặc sắc đó, Múa Tắc Xình của người Sán Chay đượcđưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số2684/QĐ-BVHTTDL ngày 25/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và

Du lịch

2.2 Dân ca Sán Chay

Dân ca Sán Chay hay còn gọi là dân ca Cao Lan hay Sịnh ca Cao Lanthuộc loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian của người Cao Lan Từ bao đờinay, Dân ca Cao Lan được lưu truyền trong cộng đồng dân tộc Cao Lan như mộtsinh hoạt văn hoá tinh thần không thể thiếu

Từ người già đến thanh niên, trẻ nhỏ, ai cũng say mê Sịnh ca, bởi nókhông chỉ là những bài hát giao duyên của trai gái, mà còn là những bài hát cangợi sản xuất, hát “phụng” Thổ công và Thần Nông, hát mừng nhà mới, hát rucon, hát đố, hát ghẹo… Qua những làn điệu dân ca này, người Cao Lan có thểgửi gắm những tâm tư, tình cảm với nhau, những ước mơ, nguyện vọng củangười lao động với thiên nhiên và thần linh… Mỗi khi có dịp gặp nhau, ngườiCao Lan hát cho nhau nghe những bài hát ca ngợi cảnh đẹp quê hương, làngbản Những lúc lao động vất vả, mệt nhọc, họ thường cất lên tiếng hát ca ngợitinh thần lao động, cầu chúc những vụ mùa tươi tốt Khi trai gái làm quen haybén duyên nhau, họ hát những làn điệu dân ca để ngỏ ý giao duyên và hẹn ước…

Ngoài những bài được truyền lại, người Cao Lan còn có thể hát ngẫuhứng, sáng tạo ra những bài dân ca mới, phản ánh cuộc sống của người dân, cangợi Đảng, Nhà nước và Bác Hồ Phần lời của Dân ca Cao Lan thường là nhữngbài thơ theo thể thất ngôn tứ tuyệt Bốn câu thành một bài, mỗi câu 7 chữ Một

số trường hợp câu thứ nhất chỉ có 3 hay 4 chữ, nên 4 câu chỉ có 24 đến 25 chữ

Do vậy, khi hát người ta phải dùng lời láy để ngân nga Bố cục của một cụm ca

Trang 10

thường gồm hai bài, nhưng cũng có trường hợp một bài hoặc nhiều bài Tuy vậy,trong mỗi cụm ca thường có phần đầu giống nhau, diễn tả về một sự việc, câuhỏi, lời chào, còn phần giữa và phần kết lại có nội dung khác nhau.

Về cơ bản, Dân ca Cao Lan bao gồm các thể loại:Sịnh ca Thsăn lèn(mừng năm mới): là những bài hát để mừng năm mới, chúc tụng nhau đủ đầy,hạnh phúc, nhà nhà vui vẻ; Sịnh ca Thsao bạo (đối giao duyên): là những bài hátphổ biến nhất và được nhiều người Cao Lan ưa thích Hát đối đáp, giao duyên có

từ xa xưa và được sáng tác theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, ghi chép bằng chữHán Có thể coi đây là một trong những thể loại văn học dân gian cần được bảotồn và gìn giữ Các điệu hát đối đáp, giao duyên này phần lớn được các thanhniên nam nữ hát với nhau và được truyền lại qua nhiều thế hệ Nội dung nhữngbài ca này thường là mượn cảnh thiên nhiên để trao đổi, tâm tình với nhau, hỏithăm gia cảnh của nhau Họ mượn lời hát để gửi gắm yêu thương, nhớ nhunghay trách móc, giận hờn để sau cuộc hát lại gần nhau hơn Những cuộc hát giaoduyên giữa thanh niên nam nữ có thể kéo dài nhiều đêm với đề tài tình yêu đôilứa và ước vọng xây dựng một cuộc sống chung hạnh phúc; Sịnh ca Kên láu (hátđám cưới): là thể loại hát vui nhộn và phong phú về số lượng bài Người CaoLan hát Sịnh ca Kên láu trong suốt những ngày diễn ra lễ cưới Thường khi đếnnhà gái, đoàn đón dâu của nhà trai phải hát thì nhà gái mới cho vào nhà Từ khi

đi đón dâu đến lúc đưa dâu về nhà chồng, phải trải qua ít nhất hai đêm hát; Sịnh

ca Tò tan (hát đố): gồm những bài hát được truyền lại và một số bài mới dongười Cao Lan sáng tạo ra hàng ngày để đố nhau rồi tự giải nghĩa Đây cũngthuộc loại hát vui, đầy tính sáng tạo ngẫu hứng, đòi hỏi người hát phải thuộcnhững bài cổ để trên cơ sở đó sáng tạo những bài mới

Dân ca Cao Lan được hát ở hầu khắp mọi nơi, như trong nhà, ngoàiđường, ở chợ, trên đồi, trong rừng hay trên nương rẫy… Nếu như có bạn hát làngười làng khác đến chơi thì bao giờ chủ cũng hát trước, khách hát sau Đó lànhững bài hát hỏi thăm gia cảnh, gia đình, quê hương…

Trang 11

Đối với hát làm quen, giao duyên, địa điểm hát thường là một nhà nào đótrong làng Cả chủ và khách, họ bắt đầu từ những bài hát hỏi, chào mừng lẫnnhau; khi quen hơn, họ hát đối đáp; khi đã hiểu về nhau, họ mượn những bài tảcảnh để nói với nhau về tình Những cuộc hát như vậy thường từ chiều hômtrước tới lúc gà gáy hôm sau Sáng hôm sau, họ tiếp tục ra đường hát và từ lúcnày, người ta có thể sáng tạo thêm các bài để hát chơi, trêu ghẹo nhau, gọi

là Sịnh ca ý Khi cuộc hát đã tàn, một bên nửa muốn về, nửa muốn ở lại; mộtbên lại muốn níu giữ nên cứ dùng dằng kẻ ở người về, lưu luyến, nhớ nhung…

Dân ca Cao Lan là sinh hoạt văn hóa đặc sắc được các thế hệ người CaoLan kế thừa và lưu truyền từ nhiều đời nay Trong tiềm thức của mỗi người dânCao Lan đều có ý thức tự hào về lịch sử và văn hoá dân tộc mình, nên họ cùngnhau đoàn kết để gìn giữ và bảo vệ Dân ca Cao Lan được lưu truyền hết sức tựnhiên và giản dị, bởi nó không bị lệ, luật ràng buộc chặt chẽ, cũng không bị lệthuộc vào không gian hay thời gian thể hiện Đơn giản, đó chỉ là những cuộc háttrong gia đình khi năm mới đến, hát chúc mừng khách đến chơi, hát giao duyêntrong đám cưới, hát kể về công lao cha mẹ sinh thành nuôi dưỡng, hát đối đápkhi lao động, hát giao duyên, hay ngày nay là ca ngợi Đảng và Bác trong cáckhông gian rộng mở…, thể hiện muôn mặt đời sống văn hóa, tinh thần, cácphong tục tập quán của người Cao Lan

Dân ca Cao Lan còn là sinh hoạt tinh thần giúp gắn kết cộng đồng Khihát, người ta quên hết khó khăn, vất vả của cuộc sống thường ngày, quên đi mọihiềm khích mà chỉ còn ở đó tiếng hát với tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương,động viên nhau lao động và vui sống…, vì thế mà con người trở nên gần gũi,yêu thương nhau hơn

Trước xu thế hội nhập, phát triển trong cuộc sống hiện đại, đời sống vănhoá, xã hội và tinh thần của người Cao Lan cũng có nhiều biến đổi Dân ca CaoLan đang bị mai một do thế hệ trẻ không còn say mê như trước Hơn nữa, đa sốnhững bài Sịnh ca được ghi chép bằng chữ Hán, nên chỉ có những người biết

Ngày đăng: 11/04/2018, 11:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w