MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI LỰ...13 2.1... Nền văn hóa Việt Nam đã hình thành và không ngừng phát triểnqua hàng ngàn năm, trải q
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI, NGUỒN GỐC LỊCH SỬ CỦA NGƯỜI LỰ Ở SÌN HỒ, LAI CHÂU 2
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội ở Sìn Hồ, Lai Châu 2
1.1.1 Về điều kiện tự nhiên 3
1.1.2 Về kinh tế 4
1.2 Khái quát về tộc người và nguồn gốc lịch sử của người Lự ở Sìn Hồ, Lai Châu 6
1.2.1 Khái quát về tộc người 6
1.2.2 Nguồn gốc lịch sử của người Lự ở Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu 6
1.3 Đặc điểm về đời sống văn hóa của người Lự ở Sìn Hồ Lai châu 7
1.3.1 Văn hóa vật chất 7
1.3.2 Văn hóa tinh thần 9
1.3.3 Văn hóa xã hội 12
2 MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI LỰ 13
2.1 Văn học dân gian 13
2.1.1 Chữ viết 14
2.1.2 Thành ngữ, tục ngữ 14
2.1.3 Truyền thuyết, cổ tích 15
2.1.4 Đồng dao 17
2.2.Hát (khắp) 17
2.3 Múa (xề) 21
2.4 Nhạc cụ 23
2.5 Tri thức bản địa 24
3.ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN BẢN SẮC VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA NGƯỜI LỰ Ở SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU 25
3.1 Đánh giá về vốn văn nghệ dân gian của người Lự 25
3.1.1 Ưu điểm 25
3.1.2 Hạn chế 26
3.2 Đề xuất giải pháp bảo tồn bản sắc văn nghệ dân gian của người Lự 27
KẾT LUẬN 30
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
PHỤ LỤC 32
Trang 2MỞ ĐẦU
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo Nền văn hóa Việt Nam đã hình thành và không ngừng phát triểnqua hàng ngàn năm, trải qua nhiều biến cố nhưng nó vẫn luôn được giữ vững vàtrau dồi bởi 54 dân tộc anh em với lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết nhất trí.Nếu như sự thống nhất do cùng cội nguồn đã tạo ra bản sắc chung của văn hóaViệt Nam thì tính đa dạng của các tộc người lại làm nên những đặc trưng bản sắcriêng của từng vùng văn hóa
Giá trị văn hóa cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch
sử đã thực sự trở thành sức mạnh trong công cuộc đánh đuổi ngoại xâm, giànhđộc lập cho dân tộc Tìm hiểu, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyềnthống Việt Nam cũng như văn hóa các dân tộc thiểu số trong thời đại hiện nay làđộng lực, là mục tiêu của mọi thời kỳ phát triển của đất nước
Hơn nữa Là một sinh viên chuyên ngành Quản lý Văn Hóa trong quátrình học tập và rèn luyện của bản thân đã được trang bị những kiến thức chuyênsâu về văn hóa của nước nhà cũng như hiểu rõ hơn về văn hóa của từng dân tộcanh em Không những thế qua môn học Văn hóa các dân tộc thiểu số còn giúptôi hiểu sâu hơn vào từng khía cạnh của các dân tộc như về kinh tế, trang phục,nhà cửa, hôn nhân, ma chay, tín ngưỡng, văn nghệ dân gian, lễ hội, thiết chế xãhội Từ đó cho thấy mỗi dân tộc,mỗi vùng miền khác nhau lại có những nét khácnhau trong nền văn hóa của họ tạo nên sự đặc trưng riêng cho dân tộc họ tại nơi
họ sinh sống Với vốn nền tảng kiến thức đó sẽ giúp một phần để tôi "tìm hiểu
về văn nghệ dân gian của dân tộc Lự"
Dân tộc Lự sống chủ yếu ở một số xã vùng cao thuộc các huyện tamĐường, Tân Uyên, Sìn Hồ tỉnh Lai Châu Trong bài tiểu luận của tôi tập chung chủyếu nghiên cứu về phần văn nghệ dân gian của dân tộc Lự ở Sìn Hồ, Lai Châu
Trang 3
NỘI DUNG
1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI, NGUỒN GỐC LỊCH SỬ CỦA NGƯỜI LỰ Ở SÌN HỒ, LAI CHÂU
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội ở Sìn Hồ, Lai Châu
Lai Châu là một tỉnh biên giới thuộc vùng Tây Bắc, Việt Nam Nằm ở phíatây bắc của Việt Nam, Lai Châu nằm cách thủ đô Hà Nội 450 km về phía tâybắc, có toạ độ địa lý từ 21o51 phút đến 22o49 phút vĩ độ Bắc và 102o19 phútđến 103o59 phút kinh độ Đông phía bắc giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc; phíađông giáp với tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La; phía tây và phía nam giáp với tỉnhĐiện Biên Lai Châu có 273 km đường biên giới với cửa khẩu quốc gia Ma LùThàng và nhiều lối mở trên tuyến biên giới Việt – Trung trực tiếp giao lưu vớicác lục địa rộng lớn phía tây nam Trung Quốc; được gắn với khu vực tam giáckinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh bằng các tuyến Quốc lộ 4D, Quốc lộ
70, Quốc lộ 32 và đường thuỷ sông Đà Lai Châu có tiềm năng để phát triển dịch
vụ – thương mại, xuất nhập khẩu và du lịch, đồng thời, cũng có vị trí chiến lượchết sức quan trọng về quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biên giới quốcgia Lai Châu nằm trong khu vực đầu nguồn và phòng hộ đặc biệt xung yếu củasông Đà, sông Nậm Na và sông Nậm Mu, điều tiết nguồn nước trực tiếp cho cáccông trình thuỷ điện lớn trên sông Đà, đảm bảo sự phát triển bền vững cả vùngchâu thổ sông Hồng
Sìn Hồ là huyện nằm ở giữa tỉnh lai Châu, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam Trung Quốc, phía nam giáp huyện Tủa Chùa(Điện Biên), phía đông giáp huyệntam Đường, phía đông bắc giáp huyện Phong Thổ và Thành phố Lai Châu, phíatây giáp huyện Nậm Nhùn(Lai Châu) và thị xã Mường lay (Điện Biên) Huyện
-có diện tích 1.526 km2 và dân số là 56.000 người Huyện lỵ là thị trấn Sìn Hồnằm cách thị xã Mường Lay 60 km về hướng tây
Theo tiếng bản địa, “Sìn Hồ” là nơi tập trung nhiều con suối Ở độ cao1.500m so với mực nước biển, cao nguyên Sìn Hồ được ví như nóc nhà của tỉnhLai Châu Nơi đây khí hậu khá giống với thị trấn Sa Pa, quanh năm mát mẻ tạođiều kiện cho nhiều giống hoa, quả ôn đới như mận, đào, lê… phát triển
Trang 41.1.1 Về điều kiện tự nhiên
Khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam đợc coi là một trong những cái nôicủa loài người, nơi phát sinh nghề trồng trọt từ rất sớm Qua các tài liệu kháo cổ,cách đây khoảng 1 vạn năm - cư dân của nền văn hóa Hòa Bình đã biết đến tạpcanh sơ khai, thuần hóa nhiều giống cây trồng Do kiến tạo địa chất đặc biệt củađịa hình nên núi non, sông suối khu vực miền núi phía Bắc Việt nam đã tạo ra cáccao nguyên rộng lớn như mộc Châu, Sơn La và các thung lũng , bồn địa như ThanUyển, Mường Lò,Mường Thanh Vùng đất này là nơi cư trú của hơn 30 dân tộcthuộc 3 dòng ngôn ngữ lớn đó là ngữ hệ Nam Á, Thái - Kađai và Hán Tạng Họ
cư trú không chỉ ở những bồ địa phì nhiêu mà ngay cả vùng núi cao khô cằn cũng
đã trở thành nơi định cư của nhiều dân tộc Nhóm cư dân bản địa lâu đời được xácđịnh là các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me Nam Á và Tày Thái.Các tộc người khác di cư từ phía nam Trung Quốc xuống, hay ở Thượng Làosang, muộn nhất cũng chỉ cách ngày nay từ 1 đến 2 trăm năm
Lai Châu là một trong số những tỉnh miền núi, nằm ở phía tây bắc ViệtNam, phía đông bắc giáp Lào Cai; phía đông nam, tây nam và tây bắc giáp tỉnhĐiện Biên; phía bắc Lai Châu giáp với tỉnh Vân Nam của nước cộng hòa nhândân Trung Hoa với đường biên giới dài 311km
Lai châu có khí hậu đặc trưng của vùng cao Tây Bắc Khí hậu khắcnghiệt, một năm chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa khô kéo dài từ tháng 10 nămtrước đến tháng 3 năm sau: thời tiết lạnh, khô, ít mưa; Mùa mưa bắt đầu từ tháng
4 đến tháng 9: thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều Tuy nhiên lượng mưa phân bốkhông nhiều, tập trung vào các tháng 6,7,8 chiếm khoảng 75% tổng lượng mưahàng năm Lượng mưa trung bình hằng năm thường từ 2000 - 2500mm Do ảnhhưởng của địa hình, lượng mưa tập trung với cường độ lớn nên vùng đất nàythường xảy ra lũ quét và xói mòn đất
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20 - 25, thời tiết nóng nhất vào tháng 5,6
và lạnh nhất vào tháng 1,2 Lai châu là vùng chịu ảnh hưởng mạnh của gió đông,đông nam thổi vào tháng 9 đến tháng 3 năm sau và gió tây, tây nam thổi từ tháng
4 đến tháng 9 Số ngày có sương mù ở Lai Châu tương đối nhiều, vào mùa khôcòn xuất hiện xương muối
Trang 5Chế độ thủy văn, Lai Châu có sông Đà chảy qua và rất nhiều sông suốilớn nhỏ Chính sông, suối đã đóng vai trò rất quan trọng đối với sản xuất và đờisống của cư dân đang sinh sống trên địa bàn Sìn Hồ được ví như nóc nhà củatỉnh Lai Châu bởi ở độ cao khoảng 1500m Nơi đây cũng tập trung nhiều consuối róc rách chảy ngày đêm và khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp
1.1.2 Về kinh tế
Nhìn chung, với điều kiện tự nhiên như vậy, Lai Châu có đủ điều kiệnthuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp một cách toàn diện và bền vững.Nguồn tài nguyên đất đai dồi dào, tiềm năng đất cả về số lượng lẫn chất lượng.Khí hậu và đất đai rất thích hợp với việc trồng các giống cây có nguồn gốc ônđới phù hợp phát triển kinh tế theo hướng nông, lâm nghiệp Việc cải tạo đấtthành ruộng bậc thang để canh tác đã trở thành tập quán sản xuất của người dânđịa phương Điều đó cũng là một trong những yếu tố thuận lợi để có thể khaithác và sử dụng nguồn đất chưa được sử dụng của tỉnh
Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thuỷ sản: Xây dựng các vùng sản xuất hànghóa tập trung, có những vùng đạt 30–50 triệu đồng/ha/năm tại các cánh đồngMường So, Bình Lư, Mường Than Duy trì và cải tạo, thâm canh và phát triểncây chè và cây thảo quả, đây là hai loại cây có thế mạnh trong việc xuất khẩuhàng hoá của tỉnh Xã hội hoá nghề rừng, chuyển cơ bản từ lâm nghiệp truyềnthống sang phát triển lâm nghiệp xã hội mang tính cộng đồng, phát triển rừngkinh tế để phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến Tổ chức sản xuất nông thôntheo hướng phát triển kinh tế trang trại, lấy kinh tế hộ làm đơn vị tự chủ, cácdoanh nghiệp, hợp tác xã nông lâm nghiệp là đơn vị dịch vụ hai đầu cho kinh tế
hộ phát triển
Công nghiệp: Đối với Lai Châu có thể coi đây là một ngành kinh tế mũinhọn, kết hợp phục vụ sản xuất nông – lâm nghiệp Tỉnh đã thông qua quy hoạchchi tiết các điểm có thể xây dựng nhà máy thuỷ điện, đặc biệt là công trình thủyđiện Lai châu Công nghiệp chế biến nông lâm sản cũng cần được quan tâmđúng mức Công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng tránh làm theo
Trang 6phương thức vụn vặt để dễ quản lý và khai thác có hiệu quả Tiểu thủ côngnghiệp với các ngành nghề truyền thống của địa phương như: mây tre đan, dệtthổ cẩm, lương thực thực phẩm…
Qua khảo sát, huyện Sìn Hồ có khoảng 7.300 ha đất có thể trồng cây cao
su thuộc 8 xã vùng thấp và 4 xã dọc sông Nậm Na Trên 90% dân số Sìn Hồsống bằng nghề sản xuất nông nghiệp 23/24 xã, thị trấn có đường ôtô đến trungtâm, 9/24 xã, thị trấn có điện lưới quốc gia, 100% xã có điện thoại, 14/24 xã, thịtrấn có điểm bưu điện văn hoá xã, trên 50% dân số được phủ sóng truyền hình,97% dân số được phủ sóng phát thanh, 90% trẻ em trong độ tuổi đi học đượcđến trường
Huyện có một bệnh viện, 2 phòng khám đa khoa khu vực và 24 xã, thịtrấn đều có trạm y tế chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân
Hiện nay, Sìn Hồ đang xây dựng một hồ đập, với sức chứa khoảng 2,4triệu m3 nước Sau khi xây dựng xong, Sìn Hồ sẽ có một hệ thống thủy lợi cungcấp nước tưới cho khoảng 183 ha ruộng đồng Ngoài trồng lúa, bà con dân tộc ởSìn Hồ có thể trồng thêm những loại rau màu như: su hào, bắp cải, súp lơ… vànuôi cá hồi
Giao thông: Sìn Hồ có lợi thế nằm trong 3 vùng kinh tế trọng điểm gồmvùng kinh tế động lực quốc lộ 32, 4D ; vùng kinh tế nông - lâm nghiệp sinhthái sông Đà; vùng kinh tế cao nguyên Sìn Hồ và các điểm kinh tế phụ trợ
Mục tiêu: Năm 2009, Sìn Hồ dự kiến trồng mới 2.000 ha cao su ở 4 xã Ma Quai,Nậm Tăm, Nậm Cuổi, Nậm Cha Riêng vùng biên giới và 5 xã dọc sông Nậm
Na chỉ trồng rừng và cây ăn quả
Đến năm 2010, Sìn Hồ phấn đấu giảm tỷ lệ đói nghèo xuống còn dưới10% và trồng mới thêm 2.350 ha cao su
Năm 2020, Sìn Hồ dự kiến nhân rộng diện tích cao su lên 20.000 ha vàquy hoạch thành vùng cao su trọng điểm
Trang 71.2 Khái quát về tộc người và nguồn gốc lịch sử của người Lự ở Sìn Hồ, Lai Châu
1.2.1 Khái quát về tộc người
Dân tộc Lự còn có tên gọi: Lừ, Nhuồn, Phù Lừ, địa bàn cư trú là tỉnh LaiChâu; thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái Dân tộc Lự có dân số khoảng: 4.493người Đa số người Lự cư trú ở vùng Xíp Xoong Păn Na tỉnh Vân Nam, TrungQuốc (18 vạn), vùng Chiềng Rai - Chiềng Mai - Thái Lan (8 vạn), vùng ThượngLào (4 vạn) Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng người Lự ở Việt Nam cũng như ởnhững nơi khác đều có nguồn gốc từ vùng Xíp Xoong Păn Na Trung Quốc.Người Lự di cư vào Việt Nam cư trú chủ yếu tại các xã Bản Hon, Bình Lư, NàTằm huyện Phong Thổ; tại xã Ma Quai, Nâm Tăm huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
và một số ít sống rải rác, xen kẽ với người Thái, người Khơ Mú ở hai huyệnĐiện Biên và Than Uyên
Người Lự di cư vào Việt Nam qua nhiều thời gian khác nhau, từ nhiềuđiểm xuất phát khác nhau và do những nguyên nhân khác nhau Theo sách Cácdân tộc ít người Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) thì nhóm người Lự đầu tiên cómặt ở vùng Điện Biên vào đầu thế kỷ XII sau Công nguyên Họ chiếm giữ vùngMường Thanh trước cả người Thái Đen và Thái Trắng Chỉ khi Lạng Chượng -
tù trưởng Thái Đen đem quân lên đánh Mường Thanh, người Lự mới bị phụthuộc chúa Thái Đen, nhưng sau đó đồng bào lại đánh đuổi chúa Thái Đen làmchủ vùng này Hiện nay ở Điện Biên còn giữ lại nhiều di tích của người Lự nhưthành Tam Vạn, ruộng Nà Lự
Ở nước ta, Lự là một trong những dân tộc có dân số ít, nếu năm 1959, ởViệt Nam chỉ có 1.254 người Lự, thì đến năm 1979 đã là 3.668 người, đến 1999
có 4.964 người và đến 2009 là 5.601 người Từ nhiều đời nay, người Lự cư trútập trung chủ yếu ở một vài xã thuộc hai huyện Sìn Hồ và Phong Thổ của tỉnhLai Châu
1.2.2 Nguồn gốc lịch sử của người Lự ở Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu
Theo một số tài liệu ghi chép được của người Lự thì họ đến Phong Thổ vàSìn Hồ thuộc tỉnh Lai Châu tương đối muộn, cách ngày nay chỉ 6 - 7 đời (thế kỷ
Trang 8XVIII) Trước kia người Lự chỉ sinh sống tại hai bản Pặu và Phiêng Chá Ngàynay, dân số đã phát triển cộng với sự chia cắt về địa giới hành chính nên Sìn Hồgồm có các bản: Pặu, Phiêng Looc, Phiêng Chá, Nà Tăm 1, Nà Tăm 2,NậmNgặp là địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc Lự.
Xã Nặm Tăm nằm trong số hơn 2.000 thôn bản thuộc huyện Sìn Hồ, tỉnhLai Châu Bản Nậm Ngặp là 1 trong số 13 thôn bản của xã Nặm Tăm Bản NậmNgặp có lịch sử hình thành từ khi nào, đến nay người già nhất trong bản cũngkhông biết Họ cũng chỉ kể lại cho nhau nghe rằng người Lự hiện đang sinhsống ở bản này trước kia đến từ bản Pặu Câu chuyện kể rằng; người Lự trướckia tập trung sống tại bản Pawju, nhưng dân số ngày một đông vì thế họ phải đi
xa nơi ở cũ để kiếm sống Lâu dần, họ thấy vùng đất Nậm Ngặp có thể ở đượcnên một hộ gia đình dọn đến sinh sống Thời gian cứ trôi đi, số người ngày mộtđông lên từ một mái nhà rồi hai, ba Thế là trở thành một bản Người ta đặt bảngắn với con suối nơi cung cấp cho người dân nước sinh hoạt hàng ngày ÔngTao Văn Khằm (66 tuổi) kể rằng người đầu tiên đến đây tên là Tao Văn Nó Câuchuyện nghe có phần đơn giản nhưng chính nó đã cho chúng ta biết được người
Theo truyền thống, người Lự sinh sống ở nhà sàn, nhà có hai mái, máiphía sau ngắn, còn mái phía trước kéo dài xuống che cho cả hàng hiên và cầu
Trang 9thang lên xuống Cửa ra vào của nhà ở chính mở theo hướng Tây Bắc Trongnhà có hai bếp lửa, một bếp để nấu ăn cho gia đình hàng ngày và một bếp để đunnước tiếp khách khi tới thăm nhà
Phụ nữ dân tộc Lự mặc áo chàm, xẻ ngực; váy may bằng vải chàm đen, có thêuhình hoa văn thổ cẩm thành hai phần trang trí do vậy thoáng nhìn ta có cảm giácnhư chiếc váy có hai tầng vải ghép lại Thiếu nữ Lự đeo vòng cổ trang sức đượclàm bằng bạc chạm khắc rất tinh sảo và khăn đội đầu được cuốn nghiêng về phíatrái, để lộ mặt trước với những đường viền thêu hoa văn thổ cẩm đẹp mắt Nétđộc đáo nhất của phụ nữ Lự là phong tục nhuộm răng đen có điểm xuyết một vàichiếc răng bằng vàng giả trông khá ngộ nghĩnh
Người Lự chủ yếu là làm ruộng nước, nên lương thực chính của họ là gạo,xưa kia chủ yếu là gạo nếp Từ gạo nếp họ chế biến thành nhiều loại xôi (xôitrắng, xôi đỗ, xôi sắn, xôi nhiều màu sắc ) Đặc biệt trong dịp lễ teeat phải cóxôi nhiều màu làm lễ vật Người Lự thích các loại đồ ăn chế biến từ những loạirau mọc ngoài ruộng, và ven suối: rau bợ, rau răng lược, rau dớn nước Cácloại rau họ hay dùng để nấu canh, xào, luộc, hoặc đồ gồm: mướp, măng đắng, bíxanh, mướp rừng, rau ngót, lá ban non, rau mồng tơi, đậu đũa, đậu ván Cáchchế biến các loại măng rừng thành món ăn của họ chủ yếu là: đồ, luộc, nướng,muối chua Các món canh ó, canh lam nhọc Nấu bằng các loại rau, quả, thịthoặc cá, sau đo cho một ít gạo tấm, ớt tươi vào Được lưu truyền tới tận ngàynay Đặc sản xôi tím, Măng nộm Hoa Ban, Nộm rau dớn, Cá bống vùi gio, Thịttreo gác bếp, Rêu đá, lợn cắp nách, heo thui luộc, lam nhọ (thịt luộc nướng chín,ướp gia vị, nướng thêm lần nữa), thua nau (được làm bằng đậu nành, xaynhuyễn, để lên men xong ướp với gia vị), pa dính (cá nướng ướp gia vị của địaphương), gà luộc chấm chéo tắp, xôi trứng kiến và canh lá đắng, măng khô rừngMường Tè, gạo nếp đen, hột chuối rừng, Cá bống suối, Sâu chít rừng Mường Tè,mật ong rừng,
Các món ăn nổi tiếng địa phương mang phong vị của núi rừng Sìn Hồ nhưthịt trâu quấn lá lốt, dê hấp, lợn bản, cá suối, xôi nếp nương, thắng cố… cùngmón cá hồi đặc sản xứ lạnh được nuôi thành công tại địa phương
Trang 10Đồ uống truyền thống của dân tộc Lự là các loại rượu Rượu của họ baogồm hai loại chính; rượu cần và rượu cất Đời sống vật chất của người Lự vô cùngđặc sắc và phong phú cần được bảo tồn để giữ được những giá trị văn hóa ấy
1.3.2 Văn hóa tinh thần
Người Lự cũng luôn đề cao đời sống văn hóa tinh thần, có cuộc sống lạcquan, yêu đời và rất dễ gần Trên mái tóc của người phụ nữ Lự không bao giờthiếu lá thơm (lá nếp) Đến mùa hoa xoan nở, người già, người trẻ đi chợ phiên,trên đầu cài rất nhiều hoa xoan, lá thơm và các loại hoa khác nữa Những vậtdụng đan lát của họ rất đẹp, rất tinh xảo Những giỏ đựng cá có thể đựng hoađược Họ cũng rất yêu văn nghệ, khi có khách đến, vui vẻ kể chuyện, uống rượu,
họ sẵn sàng thổi sáo, thổi khèn và hát ngay
Nói đến các làn điệu dân ca ở Tây Bắc, ít ai biết đến các điệu dân ca khỏekhoắn mà không kém phần trữ tình, đằm thắm của người Lự Những làn điệudân ca ấy đã là một tài sản tinh thần quý báu của người Lự Người Lự rất thíchhát dân ca của dân tộc mình, say sưa chơi các loại nhạc cụ truyền thống như sáo,nhị, trống trong các ngày lễ, ngày hội của bản làng Bên cạnh đó, nhiều trò chơidân gian được thanh niên ưa thích như ném én, kéo co
Sự phong phú và đa dạng trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Lựđược thể hiện rõ nét nhất thông qua tục cưới hỏi
Lễ cưới của trai gái dân tộc Lự thường diễn ra khi thời tiết đang độ xuân
về, cây cối đâm chồi nảy lộc, hoa mạ, hoa pon…đua nở Từ xưa các chàng trai,
cô gái Lự đều có quyền tự do tìm hiểu, lựa chọn người bạn đời của mình Trongcưới xin người Lự không có lệ ép gả hay trong đám cưới người Lự không đề caotục thách cưới
Những chàng trai cô gái Lự sau khi tìm hiểu nhau, chàng trai về thưachuyện với gia đình, bố mẹ chàng trai tôn trọng quyền quyết định chọn vợ củacon trai mình Gia đình nhà trai nhờ ông mối đến giúp hỏi cô gái cho con traimình Sau khi nhận lời gia đình chàng trai, ông mối mang theo 1 can rượu đếnnhà cô gái để bày tỏ mong muốn được hỏi cô gái về làm vợ cho chàng trai Ôngmối hát những câu kể về lý lịch của chàng trai cũng như những đức tính củachàng trai với mong muốn nhà gái chấp nhận lời mai mối
Trang 11Khi được nhà gái chấp thuận, ông mối sẽ về thông báo với lại với gia đìnhchàng trai và sắp xếp một cuộc gặp mặt giữa bố mẹ hai bên để bàn về thời giandiễn ra lễ cưới, những lễ vật trong ngày cưới ở rể của chàng trai Đến ngày lànhtháng tốt, lễ vật đã chuẩn bị xong Vào ngày chính lễ, ngay từ sáng sớm hôm lễcưới diễn ra khi con gà mới cất tiếng gáy ông mối bên nhà trai đến thông báo xingiờ để chàng trai đến ở rể Ông mối quỳ trước họ nhà gái và hát những lời cótính chất thông báo, xin cho chàng trai về ở rể Sau khi trả lời ông mối, nhà gáicho ông mối uống một chén rượu và ăn một miếng thịt nhằm trả ơn người đãmai mối cho đôi trẻ thành vợ, thành chồng.
Ông mối về thông báo lại với gia đình chàng trai Như ngày giờ đã địnhgia đình chàng trai dẫn đầu là ông mối mang theo những lễ vật như tiền giấy, 1chai rượu, 5 đôi nến sáp ong, 1 con gà hoặc 1 con lợn đưa chàng trai sang nhàgái để xin ở rể Lúc đưa rể mọi người trong gia đình nhà trai có thể mang theochăn, nệm, vải tấm, vòng bạc (tùy thuộc điều kiện gia đình của chàng trai).Đoànnhà trai khi đến chân cầu thang nhà gái đón tiếp bằng những chén rượu nồng donhững cô gái Lự là bạn bè của cô dâu rót mời Mỗi bên đều uống một chén để tỏlòng thân thiện và đồng ý sự kết duyên của đôi nam nữ Nhà gái chuẩn bị một lễgồm đầu, bốn chân và đuôi lợn, gà luộc sẵn trình báo với tổ tiên hôm nay nhà có
“Kin khéc” (đám cưới con cháu trong nhà) Đoàn nhà trai lên nhà, nhà gái bàymột mâm rượu, đem các lễ vật (của hồi môn cho con gái) trình trước nhà trainhư váy, áo, chăn nệm, gối, vòng bạc… Trên lễ vật cắm những bông hoa sặc sỡ
Cô dâu chú rể lạy trước ông bà, chú bác hai bên gia đình
Sau đó, ông mối hát lời chúc phúc cho hai người thành đôi lứa, sống cóích cho gia đình Sau khi hát xong, hai bên gia đình nhà gái, nhà trai mỗi ngườimột tay bám vào các lễ vật nhằm chúc phúc cho hai vợ chồng trẻ hạnh phúc, làm
ăn phát đạt, sống có ích cho hai bên gia đình nương nhờ Mỗi người đến dự lễcưới buộc chỉ vào tay cô dâu, chú rể như muốn buộc chặt tình cảm yêu thươngcủa mình, buộc chặt tình yêu của đôi trẻ với gia đình hai bên mỗi người buộc chỉđều hát lời hát răn dạy cô dâu chú rể về tình nghĩa vợ chồng, về đạo hiếu với cha
mẹ hai bên
Trang 12Đồng thời, nhà gái phát cho mỗi người một que sáp ong như sự tạ ơn củagia đình đôi trẻ và tinh thần đoàn kết họ hàng thân tộc như mật ong và sáp ongquyện chặt.
Thủ tục hôn lễ đã xong, ông mối mời họ hàng nhà gái và bà con dân bảnvui chén rượu, chúc cho đôi vợ chồng trẻ hạnh phúc, làm ăn phát đạt Trong thờigian diễn ra “Kin khéc” chú rể luôn đóng vai trò là người tần tảo tháo vát, lúcchạy chỗ này, lúc chạy chỗ khác để xem bàn tiệc có thiếu thứ gì thì bổ sung Mộtđiều đặc biệt, trong 3 ngày tính từ đám cưới chính thức chú rể không được ngồighế, chỉ ngồi xổm để tiếp khách Điều này có hàm ý cho bố mẹ vợ biết tính chịukhó, siêng năng, không ngại khó, ngại khổ của chàng rể
Sau khi kết thúc lễ cưới chàng trai sẽ phải ở rể bên nhà gái ít nhất 3 năm,sau đó đón vợ, con về làm dâu nhà mình thêm 2 năm nữa thì mới được phép ra ởriêng Trước khi ra ở riêng cô dâu sẽ gánh nước cho gia đình họ hàng thân thiếtbên chồng mỗi nhà một gánh, họ hàng nhà chồng sẽ nhận gánh nước và tặng quàcho cô dâu như đôi gà, yến gạo, con lợn… để hai vợ chồng có vốn làm ăn khi ra
ở riêng
Lễ cưới của người Lự góp phần làm phong phú, đa dạng đời sống văn hóatinh thần của cộng đồng 54 dân tộc nói chung và cộng đồng các dân tộc Tây Bắcnói riêng Nếu có dịp lên Lai Châu, du khách hãy đến với Tam Đường, đến vớiBản Hon để tìm hiểu, khám phá và trải nghiệm cuộc sống thường nhật của đồngbào nơi đây, bởi còn rất nhiều giá trị văn hóa dân tộc đang chờ đón du khách đếnkhám phá…
Lễ Căm Mường của người Lự là một nghi lễ truyền thống góp phần lưugiữ bản sắc văn hoá, củng cố tinh thần đoàn kết trong cộng đồng Lễ hội nàyđược tổ chức hàng năm vào ngày mùng 3/3 âm lịch Đây là dịp để bà con dânbản dâng tế lễ vật cầu khẩn thần sông, thần núi, thần khe, thần suối, thần rồng,phù hộ cho bà con dân bản được ăn nên làm ra, điều lành ở lại, điều dữ mang đi
Trong quan niệm truyền thống Người Lự tin rằng con người có nhiều hồn.Hồn chính nằm trên đầu, các hồn phụ nằm ở mắt, mũi, mồm, và các bộ phậnkhác của cơ thể người Đồng bào tin rằng con người sau khi chết thì chỉ chết về
Trang 13phần xác còn linh hồn vẫn tiếp tục sống trong thế giới tâm linh, thế giới của cáclinh hồn.
Tang lễ Người Lự vừa thể hiện thế giới 2 bên, tức theo quan niệm ngườichết tiếp tục sống ở thế giới bên kia, nhưng vẫn mang tính Phật Giáo Nhữngngười chết trẻ, chết bất đắc kì tử thì chết ở đâu chôn ở đó Còn người chết già,thi hài quàn ở nhà, rồi thuê 8 người ngoài họ khiêng rừng chôn cất Gia chủ giết
1 con trâu đem cúng tiến hồn ma, bày cỗ ăn uống Sau 1 thời gian, gia đình cóngười chết làm một nhà táng bằng giấy trang trí gọi là coong lan và một số lễ vậtcúng đưa linh hồn người chết lên chùa (chùa chỉ mang tính chất tượng trưng)
Trong đồng bào tồn tại 2 hình thức tín ngưỡng; Tín ngưỡng đa thần và tínngưỡng của đạo Phật Quan niệm đa thần phản ánh thế giới hư ảo xung quanh
mà con người phải phụ thuộc Quan niệm đạp phật xác định chỗ đứng của conngười trong thế giới đương đại và tương lai Mỗi vật, cơ thể sống đều có linhhồn Con người đương sống được bao quanh các thần linh, ma quỷ, siêu nhiên.Những tác nhân đó tồn tại trong mỗi con người, trong mỗi gia đình, cộng đồng,ởtrên trời, dưới nước, ở trong rừng, ở nơi ruộng rẫy Các siêu hồn này thường ở 2thái cực đối lập nhau, nhóm phù hộ con người và nhóm gây hại con người Cóthể gọi quan niệm này ở những ma tiêu biểu như sau:
Ma bản là hồn ma của người lập bản đầu tiên Mỗi cộng đồng làng bảndựng nhà cúng mà bản ở rìa làng nơi có khu rừng già, mỗi năm được cúng lễmột kỳ
Ma rừng là hồn ma lớn nhất trong tín ngưỡng tâm linh của Người Lự Đó
là hồn mà của những người có công lập vùng đất cư trú, đánh đuổi kẻ thù, giặcgiữ Mỗi chu kỳ cúng ma rừng là 3 tới 4 năm
Mà nhà là thế lực siêu nhiên phù hộ cho cả nhà và từng thành viên trongnhà, bảo vệ cho ngôi nhà không bị thiên tai, hỏa hoạn, trộm cướp
1.3.3 Văn hóa xã hội
Trong chế độ cũ, các bản của người Lự thường phụ thuộc các mườngThái, Mường là đơn vị hành chính trên bản và là đơn vị hành chính cao nhất, là
cơ cấu thượng tầng xã hội truyền thống của các cư dân Tây Bắc Đó chính là
Trang 14hình ảnh các nhà nước sơ khai Bộ máy tự quản trong các bản người Lự dotrưởng bản (Chầu bản, nai bản ) đứng đầu Chức vị này thường do phìa, tạoThái chỉ định, được thế tập theo cha truyền con nối, ít khi thay đổi Trưởng bản
là người chăm lo cho mọi hoạt động, kể cả đời sống tâm linh cho cả bản Theotruyền thống xưa, bản làng của người Lự là đơn vị cư dân có nề nếp tổ chứcmang sắc thái văn hóa tộc người Không những thế bản còn là cộng đồng tínngưỡng, mà người đứng đầu là mo bản, chẩu bản
Người già trong bản vẫn dạy con cháu của mình rằng, người Lự vốn rấtcoi trọng tình làng xóm, láng giềng Khi mỗi gia đình trong bản có việc thì cảbản đều giúp đỡ, chia sẻ Bởi vậy, những ngôi nhà trong bản thường làm rất gầnnhau, quây quần trong một không gian vừa phải để tiện sinh hoạt, liên lạc vàgiúp đỡ nhau những khi cần thiết
Gia đình người Lự thuộc loại hình gia đình phụ quyền, đứng đầu là ngườiđàn ông thuộc thế hệ cao tuổi nhất Trong đại gia đình phụ quyền, mọi thànhviên trong gia đình vẫn sống hòa thuận với nhau, các chú, bác đều coi các cháucon của anh em trai mình như con đẻ [1, tr57]
2 MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI LỰ
2.1 Văn học dân gian
Giống như một số tộc người khác, dân tộc Lự có một kho tàng văn họcdân gian hết sức phong phú Nhiều bản trường ca dài một đêm, nhiều bài thơđược ứng tác, sáng tác trước các sự vật, các hiện tượng trong đời sống xã hội của
họ được tồn tại và lưu truyền qua nhiều thế hệ Tất cả đã minh chứng về ý nghĩanhân văn, về kinh nghiệm sống Trong cộng đồng người Lự
Người Lự không ngâm thơ như kiểu người Kinh, họ đọc thơ như hát Hátthơ được sử dụng ở nhiều hoàn cảnh khác nhau nó không bị bó buộc bởi khônggian, thời gian biểu diễn Vì vậy, những bài thơ để hát của họ rất phong phú vàđặc sắc
Trang 152.1.1 Chữ viết
Theo giáo trình nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam của
TS Trần Trí Dõi được Hội đồng khoa học khoa ngôn ngữ học trường Đại họcKhoa học xã hội và nhân văn, Viện ngôn ngữ học, Viện Đông Nam Á thông quangày 13-9-1997 đã nêu rõ:
Tiếng Lự hầu như chưa được nghiên cứu Người ta nói rằng đây là mộtngôn ngữ rất gần với tiếng Tày Hiện nay người ta chưa thấy nói đến việc tiếng
Lự có chữ viết
Lự là một trong số 28/53 dân tộc thiểu số chưa có chữ viết, kể cả chữ viết
cổ - truyền thống lẫn chữ viết latinh
Trong quá trình điền dã, đoàn công tác của Sở Văn hóa - thông tin tỉnh LaiChâu đã phát hiện tại các bản Phiêng Chá và Nặm Ngập 05 văn bản cổ dạngsách và một văn bản cổ dạng tờ sớ do gia đình các ông: Tao Văn Tun, Tao VănPhòong và Tao Văn Chay là người Lự đã truyền giữ qua nhiều thế hệ Các vănbản này được viết trên giấy giá gấp đôi, đóng thàng quyển, gáy được đóng bằngsợi bông xe lại có nhiều nút thắt để treo, bìa bằng vải dệt tho Qua thời gian cáctài liệu đã ngả màu đen nhưng hầu như các chữ viết, hình vẽ, ký hiệu, bảng biểuvẫn còn nguyên vẹn
Qua đối chiếu giữa những tư liệu văn hóa dân gian dân tộc Lự tại xã NặmTăm với những hình vẽ, ký hiệu, bảng biểu trong văn bản trên kết hợp so vớichữ viết cổ của một số dân tộc thiểu số Mặt khác, nhóm nghiên cứu này đãtham khảo chuyên gia phiên dịch tiếng lào,tiếng Thái Lan thì bước đầu đượcđánh giá sơ bộ: chữ viết trong các văn bản cổ kể trên có thể đề cập đến phongtục tập quán, văn học dân gian (dạng thơ, truyện) và hệ thống bảng biểu thể hiệncách tính lịch của người Lự
2.1.2 Thành ngữ, tục ngữ
Người Lự hay đùa, hay tếu vui, nhộn và hóm hỉnh Trong các câu truyện
kể, các bài hát, thậm chí cả trong bài cúng cũng biểu hiện đặc tính của họ là yêuđời, sống vui, thoải mái và lạc quan Chính những đặc tính này đã làm cho khotàng các câu thành ngữ, tục ngữ, phương ngôn của họ vô cùng phong phú Chủ
Trang 16đề luôn đề cập đến vấn đề đối nhân xử thế, quan hệ anh em, vợ chồng, lánggièng, tình yêu mẹ con, chồng vợ và nam nữ:
“Lụ bản phẳng cẳn nai
Lụ trai phẳng cẳn po lè me”
(Dân bản phải biết nghe lời già bản
Con trai phải biết nghe lời mẹ cha)
“Cà chòm pèng tai hèng téc
Cà chòm thúc lụ pà sỏi”
(Ham đi buôn xa thì sẽ chết vì kiệt sức
Chăm làm ăn ở nhà thì con còn được đeo vàng)
“ Phằng cằ mề xế pi nọong
Phằng cằm tòong xế thúng pà”
(Chỉ nghe vợ con thì sẽ mất anh em
Chỉ nghĩ đến cái ăn thì có ngày mất cả tiền lẫn túi)
Chuyện Mák mẳn cả nàng có nghĩa là Quả mận giá vợ nàng: chuyện kể vềmột người con trai nghèo khó đibuôn cùng bạn bè là con nhà giàu Chàng khongbiết lấy gì đi buôn để kiếm tiền, nhà có cây mận chỉ đậu có một quả, chàng bènvặt quả mận để ra đi Đến đâu cũng xin một nhúm muối để chấm quả mận, cuối
Trang 17cùng được nhiều muối làm vốn bán lấy tiền mua một con gà Bằng sự thôngminh chàng đã đổi được cả lợn, trâu, voi và cuối cùng lấy được vợ là con gáiquan mường.
Hay truyện Ải trai tộk có nghĩa là thằng mồ côi: Từ người chăn bò thuêcho quan mường, được bụt giúp đỡ nên lấy được vợ tiên Quan mường thamlam, độc ác muốn chiếm vợ chàng, nên đưa ra nhiều kế sách để thách đố rất oáioăm Nhưng lần nào chàng cũng thắng Cuối cùng cái ác bị tiêu diệt và chàngđược lên làm vua
Qua lời kể của vợ chồng ông Tao Văn Phòong (85 tuổi) và bà Tao Thị Hên(79 tuổi) ở bản Nậm Ngặp xã Nậm Tăm cho nghe câu chuyện cổ tích của người
Lự và được anh Tao Văn Trái, phó bản Nậm Ngặp dịch lại với đại ý như sau: Ởmột bản nọ có một đôi vợ chồng trẻ sinh được rất nhiều con nhưng rất nghèo,nghèo đến mức không có cơm ăn Vào một buổi tối chỉ còn một ít cơm trong nồikhông đủ cho các con ăn, bố mẹ đã bắt các con đi ngủ sớm Khi các con đi ngủ
bố mẹ mới lục cơm trong nồi để ăn không ngờ các con biết được đã nhào dếntranh ăn hết cơm Ông bố tức quá vì đói mà không được ăn, do đó hai vợ chồng
đã bàn nhau sai các con vào rừng sâu múc nước về cho bố mẹ uống Không ngờông bố đã trộm đục thủng một lỗ nhỏ ở đáy ống nứa nên các con cứ mang vềgần đến nhà thì không còn nước ở trong ống nữa và những đứa trẻ phải quay lạisuối lấy nước Trong thời gian các con đi múc nước cũng chính là lúc bố mẹ chặtcây chặn đường để chắn lối về của các con - hai vợ chồng đã bỏ mặc các con củamình ở trong rừng không cho về nhà nữa Những đứa con nhỏ ngây thơ quênmất đường về đành ở lại trong rừng kiếm hoa quả, lá rừng ăn để sống qua ngày
Bố mẹ trở về nhà làm ăn đến ngày thu hoạch được nhiều lúa thì mẹ nhớ đến cáccon, người mẹ đồ xôi nếp đùm vào lá mang vào trong rừng tìm các con Khi vàođến khu rừng nơi ngày xưa thả các con ở đó thì các con của mình đã trở thànhcác con khỉ Người mẹ gọi thì các con trả lời rằng: Mẹ ơi, các con đã biến thànhkhỉ hết rồi không trở về nhà được nữa đâu Người mẹ đau khổ hai tay cầm đùmxôi úp lên mặt khóc nức nở và quay trở về nhà Trên đường về nhà, người mẹ điqua một chiếc cầu tre chẳng may xảy chân ngã xuống suối rồi chết đuối và biến