Giá trị của văn nghệ dân gian đối với dân tộc Xinh Mun trong kho tàng văn hóa Việt Nam...21... Là sinh viên chuyên ngành Quản lý Văn hóa, trong quá trình học tôi đãđược trang bị những ki
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
PHẦN THỨ NHẤT 2
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, NGUỒN GÓC LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC XINH MUN Ở TỈNH SƠN LA 2
1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của dân tộc Xinh Mun ở tỉnh Sơn La 2
1.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý 2
1.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 2
1.1.2.1 Đặc điểm về kinh tế 2
1.1.2.2 Đặc điểm về xã hội 5
1.2 Khái quát về tộc danh và nguồn gốc lịch sử của dân tộc Xinh Mun ở tỉnh Sơn La 5
1.2.1 Dân số, phân bố dân cư, nguồn gốc lịch sử 5
1.2.1.1 Dân số, phân bố dân cư 5
1.2.1.2 Nguồn gốc lịch sử 6
1.3 Khái quát về đặc điểm văn hóa của dân tộc Xinh Mun ở tỉnh Sơn La 6
1.3.1 Văn hóa vật chất 6
1.3.2 Văn hóa tinh thần 9
1.3.3 Văn hóa xã hội 9
PHẦN THỨ HAI 10
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA DÂN TỘC XINH MUN Ở TỈNH SƠN LA 10
2.1 Một sô loại hình văn nghệ dân gian 10
2.1.1 Nhạc cụ 10
2.1.2 Múa 11
2.1.3 Âm nhạc trong sinh hoạt cộng đồng 13
2.1.4 Vè và hát đố 14
2.2 Giá trị của văn nghệ dân gian đối với dân tộc Xinh Mun trong kho tàng văn hóa Việt Nam 21
Trang 22.2.1 Giá trị lịch sử 21
2.2.2 Giá trị văn hóa 22
2.2.3 Giá trị cố kết cộng đồng 23
PHẦN THỨ BA THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA DÂN TỘC XINH MUN 24
3.1 Thực trạng 24
3.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc Xinh Mun 25
3.2.1 Nâng cao công tác tổ chức quản lý 25
3.2.2 Khai thác giá trị văn hóa truyền thống 25
3.2.3 Đẩy mạnh xây dựng chính sách, đầu tư và phát triển các nghệ nhân dân gian 26
3.2.4 Nâng cao nhận thức của người dân 26
KẾT LUẬN 28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHỤ LỤC 30
Trang 3MỞ ĐẦU
Trải qua bao thế kỷ, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó với nhautrong suốt quá trình lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi,giành tự do, độc lập và xây dựng đất nước Mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói,chữ viết và bản sắc văn hóa riêng
Bản sắc văn hoá của các dân tộc thể hiện rất rõ nét trong các sinh hoạtcộng đồng và trong các hoạt động kinh tế Từ trang phục, ăn, ở, quan hệ xã hội,các phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ tết, lịch, văn nghệ,vui chơi của mỗi dân tộc lại mang những nét chung Đó là đức tính cần cù chịukhó, thông minh trong sản xuất, với thiên nhiên - gắn bó hoà đồng, với kẻ thù -không khoan nhượng, với con người - nhân hậu vị tha, khiêm nhường Tất cảnhững đặc tính đó là phẩm chất của con người Việt Nam
Là sinh viên chuyên ngành Quản lý Văn hóa, trong quá trình học tôi đãđược trang bị những kiến thức chuyên sâu và hiểu rõ về từng vấn đề của các dântộc thiểu số như: kinh tế, trang phục, nhà cửa, ẩm thực, hôn nhân, ma chay, tínngưỡng, văn nghệ dân gian, lễ hội, thiết chế xã hội Từ đó cho thấy mỗi dân tộcmỗi vùng miền lại có một nét văn hóa đặc trưng riêng giúp tôi hiểu được về đờisống vật chất cũng như văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số và
đó cũng nền tảng kiến thức để tôi tìm hiểu sâu hơn về giá trị văn nghệ dân giancủa dân tộc Xinh Mun
Trong bài tiểu luận của tôi tập trung vào nghiên cứu “văn nghệ dân gian”của dân tộc Xinh Mun ở tỉnh Sơn La
Trang 4PHẦN THỨ NHẤT KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI,
NGUỒN GÓC LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC XINH MUN
Ở TỈNH SƠN LA 1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của dân tộc Xinh Mun ở tỉnh Sơn La
1.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý
Sơn La là tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, tỉnh có diện tích 14.125 km²chiếm 4,27% tổng diện tích Việt Nam, đứng thứ 3 trong số 63 tỉnh thành phố
Thành phố Sơn La nằm ở tọa độ 21°15' - 21°31' Bắc và 103°45' - 104°00' Đông,
cách Hà Nội khoảng 320 km về phía Tây Bắc Phía bắc giáp các tỉnh Yên Bái,Điện Biên, Lai Châu, phía đông giáp các tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình, phía tây giápvới tỉnh Điện Biên, phía nam giáp với tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Huaphanh (Lào),phía tây nam giáp tỉnh Luangprabang (Lào) Sơn La có đường biên giới quốc giadài 250 km, chiều dài giáp ranh với các tỉnh khác là 628 km Toàn tỉnh có 12đơn vị hành chính (1 thành phố, 11 huyện) với 12 dân tộc
Nói đến Sơn La là nói đến một vùng văn hoá đa dạng, phong phú, giàuhương sắc và đậm đà bản sắc dân tộc bởi nơi đây có 12 dân tộc anh em cùngchung sống đoàn kết Mỗi dân tộc có cách ăn mặc khác nhau và có những di sảnvăn hoá truyền thống độc đáo nhưng giữa các dân tộc lại có những nét chung bởi
sự giao hoà của 12 nền văn hoá Dân tộc Thái (chiếm 54% dân số), dân tộcMông (chiếm 12% dân số), dân tộc Mường (chiếm 8,4% dân số), dân tộc Dao(chiếm khoảng 2,5% dân số), dân tộc Tày, dân tộc Xinh Mun, dân tộc La Ha,dân tộc Kháng, dân tộc Lào, dân tộc Hoa, dân tộc Khơ Mú
1.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội
1.1.2.1 Đặc điểm về kinh tế
Trồng trọt: cây lương thực chính là cây lúa: lúa nếp, lúa tẻ và cây ngô.
Dân tộc Xinh Mun trông cây lương thực ở trên nương Đồng bào chia nươnglàm hai loại dựa vào phương thức canh tác: nương canh tác bằng gậy chọc lỗ,nương canh tác bằng cuốc và nương canh tác bằng cày Nương canh tác bằng
Trang 5gậy chọc lỗ thường là nương mới khai phá, trên mặt đất còn nhiều mùn, dùnggậy chọc lỗ để không làm xáo trộn đất, khi gặp mưa, mùn đất ít bị trôi đi, giữđược độ màu mờ lâu hơn cho đất nương.
Nương cuốc là nương khi gieo trồng người ta dùng cuốc đê bố từng hố,rồi gieo trồng xuống hố đó Nương cuốc, thường là nương đã gieo trồng vài ba
vụ Trên nương này, lớp mùn trên mặt đất đã bị mưa to rửa trôi đi, cho nên cầncuốc sâu hơn xuống đất để khi gieo trồng, cây có cái “ăn” Chiếc cuốc dùng đểlàm nương, dân tộc Xinh Mun gọi là tha mứn
Đây là chiếc cuốc có lưỡi dài khoảng 16cm, rộng khoảng 10cm, thuận tiệncho việc canh tác nơi nương dốc, vừa thuận cho việc cuốc hố nho nhỏ để tra hạt,vừa tiện cho việc móc gốc rễ những cây cỏ dại khi làm cỏ cho cây trồng
Nương cày là nương thâm canh, gieo trồng các loại cây lương thực chínhhoặc cây lương thực phụ, các loại đậu đồ Canh tác trên nương cày, dân tộc XinhMun dùng trâu, hoặc bò làm sức kéo và thực hiện giải pháp kỳ thuật như: bónphân cho cây trồng, tạo bờ cho nương giữ màu khỏi bị trôi nhanh, nhằm bồi bổthêm chất màu mỡ cho đất, để ổn định canh tác lâu dài
Việc thu hoạch lúa, trước đây được thực hiện bằng cách dùng nhíp cắttừng nhánh lúa, hoặc chỉ tuốt lúa bằng tay, về sau đồng bào dùng liềm để gặt.Công việc đập lúa được thực hiện ở ngay trên nương Trước đây, người ta dùngcác que tre, que gồ đập trực tiêp vào các lượm lúa, vê sau họ dùng néo
Chăn nuôi: dân tộc Xinh Mun chăn nuôi gia súc, gia cầm trong từng gia
đình Vật nuôi là những con trâu, bò, lợn, gà, dê Đồng bào nuôi trâu, bò để kéocày, lấy phân bón ruộng, bán Trâu, bò thường được coi là một nguồn tài sản củagia đình Nhà giàu có thường nuôi nhiều trâu, bò Lợn gà, dê,… được nuôi đểphục vụ các nghi lễ tôn giáo, kết hợp sử dụng làm thực phẩm trong các dịp lễ tết,hội hè Trước đây, dân tộc Xinh Mun chủ yếu chăn thả gia súc, gia cầm Về saudân đã làm chuồng trại cho chúng gần nhà ở Bên cạnh trồng trọt, công việcchăn nuôi ngày càng được chú ý, có khả năng phát triển
Khai thác tự nhiên: sinh sống ở vùng Tây Bắc, rừng cung cấp cho dân tộc
Xinh Mun nhiều lâm, thố sản Dân tộc Xinh Mun thu hái các loại rau rừng,
Trang 6măng, nấm hương, mộc nhĩ, mật ong, củ mài,… Công việc thu hái lâm thổ sảnnày diễn ra hàng ngày Sau mỗi buổi chiều đi làm về chị em phụ nữ thường tranhthủ hái rau, củ rừng về làm thức ăn bữa cơm chiều Rừng Tây Bắc còn là nơi cónhiều thú rừng to nhỏ khác nhau Nam giới thường săn bắt các loại thú rừngnhỏ: con cầy, con cáo, con khỉ, hoặc các loại chim muông… Mục đích săn bắt,trước tiên nhằm mục đích bảo vệ mùa màng, sau đó là có thêm thịt cải thiện đờisống Với các loại thú nhỏ các hình thức săn bắt chủ yếu là dùng các loại bầy.Dân tộc Xinh Mun còn săn bắn các loại thú lớn: hổ, báo, gấu Đồng bào haydùng hình thức săn rình đối với các loại thú lớn này Với thú lớn, ngoài mục đíchbảo vệ con người, bảo vệ gia súc, đồng bào còn dùng xương hổ đế nấu cao làmthuốc bổ, lẩy mật gấu để chữa bệnh, khi một nơi nào đó trên cơ thổ người bị vađập mạnh.
Ngành nghề thủ công: dân tộc Xinh Mun có một số nghề thủ công như
nghề đan lát tre, nghề rèn, nghề dệt, nhưng nhìn chung ít phát triển, ở một số bản, người làm nghề rèn, nhưng do bản ít người, nhu cầu rèn ít, cho nên rèn không
có cơ hội phát triển Một số chị em học nghề dệt của người Thái, nhưng rồi cũngkhông phát triển được, vì đồng bào sinh sống trong môi trường xã hội Thái, sảnphẩm dệt của người Thái nhiều, đẹp, bán ở chợ đù thoả mãn nhu cầu về vải cho
cả dân tộc Xinh Mun cư trú trong vùng Nghề đan lát mây, tre là phát triển hơn
cả Họ đan gùi, đan mâm mây ăn cơm, đan ghế mây ngồi, đan hòm đựng quầnáo… kỹ thuật đan của đồng bào khá tinh xảo Đồ đan mây, tre gia dụng củađồng bào được bà con các dân tộc trong vùng ưa thích
Trao đổi, mua bán: sinh sống bằng nền kinh tế tự túc, tự cấp, dân tộc
Xinh Mun ít tham gia vào hoạt động buôn bán Vùng dân tộc Xinh Mun cư trúkhông họp chợ Tuy nhiên, do nhu cầu cuộc sống, đồng bào cũng phải bán một
số nông, lâm, thổ sản để lấy tiền mua những yếu phẩm như dầu thắp, muối, kim,chỉ thêu, giấy vở cho trẻ em đi học Dân tộc Xinh Mun đem ra chợ bán gà, măngkhô, măng tươi, nấm hương, mộc nhĩ Khách mua các hùng nông sản là nhữngthương lái, buôn bán nhỏ lẻ, chạy chợ từ nơi sang nơi khác trong vùng Chợthường họp theo phiên và thường rất xa nơi đồng bào cư trú
Trang 71.1.2.2 Đặc điểm về xã hội
Sơn La là một tỉnh miền núi, có 11 đơn vị hành chính (1 thành phố, 10huyện) với 12 dân tộc cùng sinh sống Dân số của tỉnh, theo số liệu thống kênăm 2006, là trên 1 triệu người Trong đó, dân số ở khu vực nông thôn là chủyếu, chiếm tỷ trọng 88,7%, khu vực thành thị chiếm 11,3% Dân số trong độ tuổilao động khoảng 541 ngàn người, chiếm 54% dân số toàn tỉnh Lao động nông,lâm nghiệp chiếm gần 90% tổng số lao động Lao động công nghiệp, xây dựng,dịch vụ và chế biến chiếm khoảng 10%
Nhân dân các dân tộc Sơn La có truyền thống cách mạng, đoàn kết, yêunước Chính trị, trật tự an ninh, quốc phòng trên địa bàn luôn được đảm bảo Trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tay nghề của lao động ở Sơn
La còn thấp so với yêu cầu phát triển Cả tỉnh hiện nay chỉ có 01 trường đại học,
01 trường cao đẳng, một số trường trung cấp và trung tâm đào tạo nghề Do vậy,việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức và lao động ở tỉnh phụ thuộc chủ yếuvào các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội và các tỉnh khác Điều này cũng gâykhó khăn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
1.2 Khái quát về tộc danh và nguồn gốc lịch sử của dân tộc Xinh Mun ở tỉnh Sơn La
1.2.1 Dân số, phân bố dân cư, nguồn gốc lịch sử
1.2.1.1 Dân số, phân bố dân cư
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân tộc Xinh Mun ở ViệtNam có dân số 23.278 người, có mặt tại 22 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Dântộc Xinh Mun cư trú tập trung tại tỉnh Sơn La (21.288 người, chiếm 91,5% tổng
số dân tộc Xinh Mun tại Việt Nam), Điện Biên (1.926 người), Đồng Nai (10người), Nam Định (10 người), Hà Nội (10 người) Tại Lào, họ được gọi
là người Puộc với dân số khoảng 2.146 người (theo Ethnologue) vào năm 1985
Dân tộc Xinh Mun cư trú ở vùng biên giới Việt – Lào, chủ yếu ở 2 huyệnYên Châu và Sông Mã, ngoài ra còn sống rải rác ở các huyện Mai Sơn, ThuậnChâu, Mường La Dân tộc Xinh Mun còn có tên gọi là Puộc, Pụa Tiếng nói dântộc Xinh Mun thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer
Trang 81.2.1.2 Nguồn gốc lịch sử
Người Xinh-mun đã từng sinh sống lâu đời ở miền Tây Bắc Việt Nam
1.3 Khái quát về đặc điểm văn hóa của dân tộc Xinh Mun ở tỉnh Sơn La 1.3.1 Văn hóa vật chất
Nhà ở: dân tộc Xinh Mun ở nhà sàn Nguyên vật liệu làm nhà là gỗ, tre,
nứa, lá, những nguyên vật liệu này sẵn có ở trong rừng, chỉ mất công vào rừngchọn, chặt lấy, không mất tiền mua Sau khi chuẩn bị xong nguyên vật liệu làmnhà, khâu quan trọng là chọn đất dựng nhà Đồng bào chọn đất dựng nhà thôngqua hình thức bói Trong khi bói dân tộc Xinh Mun làm khò xinh – một que tremỏng, dài khoảng 15 cm Que tre này được bẻ gập thành từng đoạn, tượng trưngcho linh hồn mỗi thành viên trong gia đình Sau khi đã chọn được mảnh đất làmnhà, gia chủ buộc khò xinh vào một cọc, rồi cắm cọc đó ở chính giữa nền nhàtương lai Khi làm xong nhà, trong nghi lễ lên nhà mới, tất cả các thành viêntrong gia đình ngồi trên sàn nhà ăn cơm, phải ngồi ngay đúng phía trên chínhcọc này Đồng bào tin rằng, ngồi như vậy, con ma trong gia đình mới biết mọingười để che chở Dân tộc Xinh Mun rất kiêng chọn đất làm nhà trên nền nhàcũ
Ngày khởi công làm cũng được lựa chọn cẩn thận Theo quan niệm củađồng bào, làm nhà vào ngày nước (thuỷ – các ngày 2, 6, 8, 9 trong tháng) làngày tốt nhất Người ta kiêng khởi công làm nhà vào ngày lửa (hoả – các ngày 1,7) Đồng bào Xinh Mun cũng ít khi làm nhà vào các ngày 3, 5, 10, vì sợ sau này
sẽ cháy nhà
Khi dựng nhà, dân tộc Xinh Mun rất coi trọng việc dựng “cột chính”, theotập quán, chủ gia đình phải mời ông cậu tới dựng cột này Trên cột chính, đồngbào treo một số hiện vật như: ta leo, khò xinh, ba, bốn vòng lạt nhỏ (tượng trưngcho tiền bạc); con dao, cái thớt, gói muối (mong muốn sự no đủ)… Có nơi, đồngbào còn buộc ở đầu cột chính cà chiếc cũ của chủ nhà (để báo cho ma bếp biếtngười chủ của gia đình), một vài bông lúa, mai con ba ba (tượng trưng cho âmvật) và một dùi gỗ tròn (tượng trưng cho dương vật) Việc tôn thờ âm, dương vậtphản ánh quan niệm phồn thực, mong muốn sự sinh con đẻ cái, mùa màng tươi
Trang 9tốt Ông cậu cũng là người đốt ngọn lửa đầu tiên trên bếp nấu cơm của căn nhàmới Ngọn lửa ấy được giữ không tắt trong suốt đêm đầu tiên Hiện nay dân tộcXinh Mun làm mái nhà mai rùa như người Thái Đen Bố trí nhà của dân tộcXinh Mun bao giờ cũng có một gian là nơi ngủ của khách và con trai chưa vợ.Gian khách còn lại là nơi đặt thờ ma nhà Các gian khách dành cho sinh hoạt giađình, có bếp riêng.
Kỹ thuật làm nhà đơn giản: cột là cây có sẵn ngoãm chôn cột xuống đất,gác cây que lên, dùng lạt hoặc dây rừng buộc, mái lợp bằng cỏ gianh Nét đặctrưng của ngôi nhà dân tộc Xinh Mun được thể hiện hình thù của mái Đó là kiểumái nhà hình mai rùa, gồm hai mái chính và hai mái hồi Loại mái này cũng gặp
ở người Thái Đen trong cùng vùng
Trong nghi lễ vào nhà mới, ông cậu không chỉ được mời làm, mà còn làngười nhóm lửa đầu tiên trên chiếc bếp dùng để nấu cơm Ngọn lửa đó khôngđược để tắt trong suốt đêm cùa buổi lễ Giữ ngọn lửa cháy liên tục để chứng tỏrằng, ma bếp phải chiến thắng ma rừng
Ăn: dân tộc Xinh Mun ăn cơm nếp, cơm tẻ, thích gia vị cay, uống rượu
cần, có tập quán ăn trầu, nhuộm răng đen
Trang phục: dân tộc Xinh Mun không phát triển nghề trồng bông dệt vải,
cho trang phục của họ bị phụ thuộc vào nguồn vải và thậm chí cả kiểu dángtrang phục của dân tộc cùng sinh sống trong vùng Vùng Tây Bắc là vùng vănhoá Thái, vì vậy trang phục dân tộc Thái đã ảnh hưởng lớn đến trang phục XinhMun Chính chị em phụ nữ người dân tộc Xinh Mun dùng trang phục Thái đểmặc Do vậy, cơ bản trang phục phụ nữ Xinh Mun giống như trang phục chị emphụ nữ Thái trong vùng, tức là cũng mặc váy, xửa cỏm và khăn piêu Trang phụctruyền thống của phụ nữ Xinh Mun gồm có: khăn, áo, váy, thắt lưng…về cơ bảnkhông khác gì trang phục của phụ nữ Thái Đen
Khăn Phụ nữ Xinh Mun trước đây thường chít khăn vuông bằng vải đenbốn góc có tua chỉ xanh, đỏ Ngày nay, đa số phụ nữ Xinh Mun đội khăn piêu.Khăn được làm bằng vải bông nhuộm chàm, dài khoảng 150cm, rộng 35 –45cm Điểm đáng chú ý là piêu được trang trí bằng cút ở bốn góc và cạnh phía
Trang 10hai đầu khăn Số cút bao giờ cũng là số lẻ Mỗi chùm 3 cút gọi là piêu cút xam,chùm 5 cút gọi là piêu cút hả… Đồng bào tin rằng số lẻ là sự chung thuỷ, phụ nữđội khăn có số cút lẻ sẽ chung thuý cả đời với chồng con.
Áo của phụ nữ Xinh Mun giống như áo của phụ nữ Thái Đen Đây là loại
áo ngắn (sửa cỏm khen ten), may bằng vải bông dệt thủ công, thân áo ngắnngang eo, cổ tròn, tay áo bó sát dài tới mắt cá tay, sửa cỏm mở khuy chính giữathân trước Khuy bằng đồng, nhôm, có khi bằng bạc (mak pém) giống hình conbướm (cáp bửa) Hàng khuy bên phải tượng trưng cho con đực (tở po), hàngkhuy bên trái là con cái (tô me) Mỗi chiếc áo “cỏm” thường có từ 11 – 12 đôi
“pém” Đôi khi khuy áo “cỏm” có hình con cà cuống (meng đa), hình con nhện(xính xao) hoặc hình con ve sầu (chắc chắn)… Đặc điểm chính của loại áo này
là rất ngắn Khi mặc hở phần thắt lưng bằng lụa tơ tằm, bó sát lấy cơ thể Chínhnhững đặc điểm này của “áo cỏm” đã tôn thêm vẻ đẹp tự nhiên của cơ thể ngườiphụ nữ
Váy (xín) của phụ nữ Xinh Mun thường may ngắn hở bắp chân Váy maybằng vải bông nhuộm chàm, ngày nay thường may bằng vải láng đen, lụa đen…Váy được may kiểu khép kín, chu vi khoảng 100 – 120cm Cạp váy khoảng 8cmbằng vải hoa hoặc vải khác màu với thân váy Gấu váy (tin)cao khoảng 3cm, bêntrong nẹp bằng vải đỏ Ngoài áo, váy, khăn, phụ nữ Xinh Mun còn đẹp vòng tay,vòng cổ, khuyên tai bằng bạc
Trang phục truyền thống của nam giới Xinh Mun có phần hơi đơn giản.Ngoài bộ quần áo mặc hàng ngày, người đàn ông Xinh Mun chỉ có thêm chiếckhăn quấn trên đầu, chiếu túi đeo bên người khi đi nương, xuống chợ Áo dàingang tới bắp chân, áo được may bằng vài dệt sợi bông, nhuộm chàm, có màuxanh đen, giống chiếc áo dài của đàn ông Thái Đen, Khơ Mú Thân áo đượcmay thành bốn mảnh, phía sau gồm hai mảnh ghép giữa sống lưng, phía trước làhai mảnh Cổ tròn, được may thành nẹp ôm xung quanh cổ khi mặc Dải khuychạy từ cổ xuống áo, qua vai xuống nách và chạy dọc sườn trái xuống ngangthắt lưng Khi mặc áo này, dân tộc Xinh Mun hay cuốn trên đầu một chiếc khănbằng vải nhuộm chàm, dài khoảng 80cm Cách quấn khăn của họ cũng giống
Trang 11người Thái Đen: quấn mỏ rìu quay ra phía trước trán Quần của đàn ông XinhMun giống quần của nam giới Thái Đen Quần thường may ngắn trên mắt cátrên, ống rộng, nhuộm tràm Quần không có cạp để luồn dây lưng mà dùng thắtlưng buộc lại khi mặc.
1.3.2 Văn hóa tinh thần
Dân tộc Xinh Mun tin vào tín ngưỡng đa thần, quan niệm vạn vật hữulinh, mọi vật kể cả vật vô tri vô giác đều có linh hồn Con người cũng có linhhồn, do đó sau khi chết đi phải thờ cúng, gọi là thờ cúng tổ tiên
Ma chay: tiếng súng trong nhà báo hiệu có người chết, cùng lúc đó người
con trai ném ông đầu rau vào nơi thờ cúng tổ tiên bày tỏ một sự giận giữ truyềnthống Mọi điều kiêng kỵ hàng ngày của gia đình cũng như của người con rể nayđược huỷ bỏ, người ta nấu cơm trên bếp sưởi, đặt tai ninh theo chiều ngang nhà,con rể lo mọi việc cơm nước Không dùng quan tài gỗ mà chỉ bó cót Chọn đấtđào huyệt bằng cách ném trứng trên khu vực định sẵn, trứng vỡ ở đâu thì huyệtđược đặt ở đó Nhà mồ được làm cẩn thận, có đủ thứ cần thiết tượng trưng chongười chết Dân tộc Xinh Mun không có tục cải táng và tảo mộ
Thờ cúng: Thờ cúng tổ tiên hai đời, bố mẹ và ông bà Biểu trưng cho nơi
thờ tổ tiên là một chiếc xương hàm lợn, ít trầu đựng trên nắp giỏ cơm, ống tređựng nước Cúng vào các dịp cơm mới, đám cưới, nhà mới Việc thờ cúng tổtiên, tuỳ nơi, có thể chỉ do anh cả, cũng có thể do các anh em trai cùng đảmnhiệm Bố mẹ vợ được thờ riêng ở một chiếc lán nhỏ, bên cạnh nhà, cơm nướccúng được nấu ở ngoài nhà Lễ cúng bản hàng năm rất được coi trọng
1.3.3 Văn hóa xã hội
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ, phụ quyền là chủ yếu, nhưng những đại gia
đình gồm ba thế hệ hay các anh em trai đã có vợ vẫn sống chung trong một nhàcòn tồn tại khá đậm nét Số lượng thành viên trong nhà khoảng 10-15 người,cũng có nhà lên tới 20-30 người Dân tộc Xinh Mun có nhiều họ nhưng phổ biếnnhất là hai họ: họ Vì và họ Lò
Trang 12PHẦN THỨ HAI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA
DÂN TỘC XINH MUN Ở TỈNH SƠN LA 2.1 Một sô loại hình văn nghệ dân gian
2.1.1 Nhạc cụ
Trong các lễ hội, cuộc vui dân tộc Xinh Mun đều gõ chiêng, đây là loạinhạc cụ mà được dân tộc Xinh Mun sử dụng trong lẽ hội A Ma (lễ hội cầu mùa).Chiêng là nhạc cụ Đông Nam Á thuộc bộ gõ, được làm bằng đồng thau, hìnhtròn như chiếc nón quai thao, đường kính khoảng từ 20 cm đến 60 cm, ở giữa cóhoặc không có núm Người ta dùng dùi gỗ có quấn vải mềm (hoặc dùng tay) đểđánh chiêng Chiêng càng to thì tiếng càng trầm, càng nhỏ thì tiếng càng cao Nó
có nguồn gốc từ Trung Quốc và sau đó lan rộng đến Đông Nam Á và nó cũng cóthể được sử dụng trong phần nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng phương Tây
Nghệ nhân chỉnh Chiêng hay người điều khiển giàn Chiêng là một nhạccông giỏi, có khả năng thẩm âm, biết phát hiện và chỉnh sửa thanh âm lạc điệucủa từng Chiêng để đạt được âm thanh chuẩn của cả giàn Chiêng Nghệ nhânchỉnh Chiêng không chỉ chỉnh âm cho các chiếc Chiêng sai âm, mà còn chỉnh
âm cho các giàn Chiêng mới Nghệ nhân chỉnh Chiêng được coi là báu vật dângian sống, bao hàm tính truyền thống và tính khoa học, không chỉ đơn thuần làmột kỹ thuật viên
Công nhân tạo ra hai loại âm thanh riêng biệt Một chiêng với một bề mặtphẳng rất rung động ở nhiều chế độ, tạo ra "sự sụp đổ" chứ không phải là mộtghi chép được điều chỉnh Loại chiêng này đôi khi được gọi là tam - tam để phânbiệt nó với những chú cồng của chú rồng đưa ra một ghi chú được điều chỉnh.Trong các nhóm gamelan Indonesia, một số chiêng cồng kềnh được cố tình thựchiện để tạo ra ngoài một nhịp beat trong khoảng từ 1 đến 5 Hz Việc sử dụngthuật ngữ "chiêng" cho cả hai loại công cụ này là phổ biến
Trong lễ hội cầu mùa, tiếng chiêng và sáo cùng hòa nhịp tạo âm thanh chomọi người tham gia múa xòe và tăng bu xung quanh cây hoa "xặng bok" Trong
Trang 13tiếng trống, tiếng chiêng rộn ràng, trong sự nồng say của men rượu cần, tinhthần của người dân được thăng hoa, mọi người thả mình theo những điệu múa,trò chơi dân gian rất vui vẻ, diễn tả hiện thực cuộc sống của cộng đồng dân tộcXinh Mun.
2.1.2 Múa
Lễ hội A Ma (lễ hội cầu mùa) là nét văn hoá tiêu biểu, đặc sắc của đồngbào dân tộc Xinh Mun Trong tiếng trống, tiếng chiêng rộn ràng, trong sự nồngsay của men rượu cần, tinh thần của người dân được thăng hoa, mọi lo toanthường nhật phút chốc tan biến, mọi người thả mình theo những điệu múa, tròchơi dân gian rất vui vẻ, diễn tả hiện thực cuộc sống của cộng đồng dân tộc XinhMun, mang tính nghệ thuật và giáo dục cao như múa Tăng bu, To luồng, múakéo thuyền… chơi "to miếng" (đấu võ), chơi "giắc klsù" (bắt tổ ong)…
Múa Tăng bu – là điệu múa bằng cách nghệ thuật hóa động tác chọc lỗ trahạt trong lao động sản xuất vào điệu múa, những động tác tưởng chừng như khôkhan cứng nhắc nay trở nên uyển chuyển mềm mại và có nhịp điệu hơn Đâycòn là tiết mục vui chơi thu hút được rất nhiều người tham gia, nhất là các thanhniên nam, nữ Trong các dịp lễ hội, họ rủ nhau từ các làng bản khác cùng về đâytham gia múa cùng dân bản Nhiều người đứng nối nhau xếp thành vòng trònlớn, một tay bám lên vai người đi trước, một tay cầm cây tăng bu
Cây tăng bu được làm bằng một đoạn thân cây nứa, có đường kính thânkhoảng từ 4- 6cm, dài khoảng từ 1,4m - 1,6m tùy theo mỗi người Sau một nhịpdẫn, tất cả mọi người cùng vỗ mạnh cây tăng bu xuống sàn gỗ, tạo nên một dàn
âm thanh cộng hưởng Dàn âm thanh này luôn được giữ nhịp rất đều, nhữngngười tham gia múa vừa phải đảm bảo tạo ra âm thanh, vừa bước uyển chuyểntheo nhịp điệu và giữ nhịp cho đều
Sau mấy vòng múa lại xoay chiều di chuyển một lần, cứ như thế vòngmúa tăng bu tạo cho người tham ra một cảm giác đầm ấm, đoàn kết, vui vẻ nhưkhông hề biết dừng lại Nếu có một thành viên nào muốn nghỉ sẽ tự rời khỏivòng và lập tức có thành viên khác thay thế, vòng múa không bị gián đoạn
Có thể nói phần múa Tăng bu trong chuỗi các tiết mục văn nghệ thể dục,
Trang 14thể thao, các trò chơi dân gian diễn ra trong lễ hội của người Kháng là phần chơihấp dẫn và kéo dài nhất Đặc biệt các bạn trẻ nam nữ thanh niên tham gia rấtđông vui và kéo dài cho tới tận đêm khuya.
Ngày nay, phương thức canh tác theo hình thức chọc lỗ tra hạt vẫn cònphổ biến trong đồng bào các dân tộc thiểu số, vì vậy điệu múa tăng bu mô tảhình ảnh chọc lỗ tra hạt vẫn còn tồn tại trong đời sống văn hóa văn nghệ củađồng bào Nó như một sản phẩm kết tinh từ sự sáng tạo của đồng bào trong quátrình lao động với một nền tảng âm nhạc dân gian phong phú, đặc sắc Như vậy,múa tăng bu không còn chỉ hạn chế trong một gia đình hay dòng họ mà nó làngày hội chung của cả bản, cả vùng
Múa Tăng bu đã thể hiện được những nét truyền thống đặc trưng riêngcủa dân tộc Xinh Mun nơi đây, góp phần làm phong phú thêm nền di sản vănhóa của tỉnh Sơn La nói riêng và nền di sản văn hóa Việt Nam nói chung
Ngoài múa Tăng bu dân tộc Xinh Mun còn có điệu múa “xòe họa” Múaxòe là một sinh hoạt văn hoá đặc sắc, một điệu múa phổ biến trong lễ hội Múaxòe còn có tên khác là "Xe khăm khen" (múa cầm tay) Múa xòe biểu hiện sựđoàn kết thân thiện gắn bó, có tính tập thể, dân chủ cao, nên mọi người dân tộcXinh Mun đều biết múa xòe và yêu thích nghệ thuật xòe của dân tộc
Vui nhất là "xòe họa", mọi người cầm mảnh vải dài nối tay nhau thànhvòng tròn nhảy "xòe" quanh cây hoa Vừa xòe họ vừa nhảy, xòe mạnh, nhảy caođược khuyến khích bằng những lời hô "họa, họa" Chỉ khi nào mọi người mệt lử,xòe họa mới dừng Múa xòe là nét văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc XinhMun trong mỗi dịp hội hè, mỗi động tác, mỗi dáng đi dáng đứng, cách xếp độihình đều là những cung bậc, sắc thái khác nhau mà điệu xòe mang lại
Nhạc cụ chính phục vụ múa xòe là công và cống Cống là loại trống dàikhoảng 1m, đường kính khoảng 45 cm làm bằng thân cây gỗ đục rỗng, hai đầubọc da trâu hoặc da bò Công là loại trống dài từ 1,5 – 3 m, đường kính từ 5-7
cm, 2 đầu bịt da trâu, bò Tiếng công trong, gọn, vang xa Công còn có thể dùng
để báo hiệu khi bản làng có sự việc cần thiết triệu tập dân đến hội họp Ngoàitiếng công còn có tiếng chiêng vang rộn ràng tạo nên âm thanh lôi cuốn người
Trang 15xem hào hứng nhập cuộc vui Tiếng nhạc công, cống, chiêng hòa vang đệm theonhịp 2/4 tạo nên không khí tưng bừng ngày hội bản làng, đặc biệt sự nhún nhảycủa người chơi nhạc tạo nên sự rạo rực, tăng thêm sức sôi động của vòng xòe.
Xòe còn là nơi con người gửi gắm tình yêu của đồng bào dân tộc Khitham gia vòng xòe trai gái được gần nhau, được lựa chọn bạn xòe, là nơi để thểhiện tình cảm riêng tư Vòng xòe gắn kết tình cảm con người với nhau Ngườimúa xòe đứng thành vòng tròn nắm tay nhau, thường thì nam, nữ đan xen Khimúa, nếu vòng đơn thì vòng xòe quay ngược chiều kim đồng hồ, nếu vòng xòekép thì các vòng xòe quay ngược chiều nhau trông đẹp mắt Một trong nhữngyếu tố thu hút người tham gia vòng xòe là sự dân giã, mộc mạc, dễ múa, dễ hiểu
và sức quyến rũ của nhạc lý
Trong lễ hội Lộc Hoa của dân tộc Xinh Mun, cùng lúc tiệc rượu được bắtđầu là tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng nhạc từ nhạc cụ "bàn sang" nổi lên rộn rã,mọi người nắm tay bắt đầu múa xoè xung quanh cây nêu giữa nhà Khác với xoèThái êm dịu, nhẹ nhàng, xoè quanh cây nêu lễ hội Lộc hoa rộn ràng, mạnh mẽ,
có phần quyết liệt hơn, ồn ã hơn nhiều, xoè múa say sưa, lúc cầm tay nhau, lúcxoè khan, lúc dùng khăn nối vào nhau, tạo thành điệu xoè kéo co Xoè khoảng 1giờ, tiếng trống tiếng nhạc trầm dần, họ lại mời nhau uống rượu cần, rồi lại tiếptục xoè, hết đợt này đến đợt khác, kéo dài đến lúc phương đông hửng sáng mớikết thúc, mọi người hoan hỉ xuồng cầu thang về nhà, để đến tối hôm sau lại đến
dự Lễ hội ở nhà người trong họ hoặc cùng mường cho đến khi hoa ban đã tàn,măng đắng mọc cao
2.1.3 Âm nhạc trong sinh hoạt cộng đồng
Hát gọi: là làn điệu phổ biến không kém gì khắp xứ, được dùng trong
nhiều hình thức sinh hoạt âm nhạc như các cuộc vui gặp gỡ, trong xòe vòng Nhạc điệu của khắp chiêu gần với khắp xứ, tính chất vui vẻ, trong sáng
Hát ru: chứa đựng những tình cảm tha thiết của người mẹ, lời ru ngọt
ngào như dòng sữa mẹ đối với con yêu Dân tộc Xinh Mun ru con bên nôi trênnhà sàn, nhưng cũng có lúc đặt trẻ vào địu đeo ở trên lưng theo mẹ ra nương rẫy
Hát giao duyên: là hình thức sinh hoạt âm nhạc dành cho trai gái đến tuổi
Trang 16trưởng thành tìm hiểu nhau Có nhiều hình thức hát giao duyên khác nhau tùytheo hoàn cảnh và mục đích Đây là một làn điệu thông dụng nhất trong các lànđiệu hát của dân tộc Xinh Mun Tức là một làn điệu dân ca mà trai gái dùng để
tỏ tình, dùng để hát đối đáp, nên làn điệu này không một người nào không biếthát, đặc biệt các cô gái lại là người hát hay hơn cả Phần lời vừa trữ tình, vừalãng mạn, đôi khi nó được giao thoa với làn điệu kháy mua (tình yêu nảy nởtrong lao động)
Hát trên nương: là làn điệu phần lớn dùng để tả cảnh thiên nhiên tươi đẹp.
Ở Sơn La người dân trên đường đi đến nương ruộng, hay đi về thường hát mộtmình hoặc thổi khèn bè, pí pặp Đôi lúc cũng được dùng trên nương ruộng, khichăn trâu, khi trên chòi canh lúa Có những lúc vào đêm canh khuya, các chàngtrai mang khèn bè đi đến các bản xa có bạn gái để tìm hiểu Khi họ đi qua nhữngcánh đồng, làng bản bồng bềnh trong sương, trong ánh trăng trên núi cao, họ đãứng tác ra những bài hát trữ tình (hoặc dựa trên lời cổ có sẵn)
Trong những năm gần đây, do sự thay đổi trong đời sống kinh tế xã hội,
sự phát triển của công nghệ thông tin khiến văn hóa cổ truyền Sơn La nói riêng
và âm nhạc dân gian nói chung đang ngày càng bị thất truyền Một số lễ hội chỉcòn lại trong ký ức của người già, lớp trẻ hầu như ít để ý đến dân ca, dân nhạccủa dân tộc mình Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị âm nhạc dân gian nóichung và âm nhạc dân gian Xinh Mun ở Sơn La nói riêng là một việc làm hếtsức cần thiết và cấp bách Việc làm này cần sự quan tâm của nhiều người trongcộng đồng và các cơ quan ban ngành Tuy nhiên cần phải có một phương hướngthống nhất, một biện pháp cụ thể để giải quyết vấn đề nêu trên
2.1.4 Vè và hát đố
Cũng như nhiều dân tộc khác sinh sống trên đất nước Việt Nam dân tộcXinh Mun cũng có một nền văn hóa dân gian rất phong phú mang đậm dấu ấnbản sắc riêng của dân tộc tiếng thơm truyền và được nhắc đến nhiều nhất là múa
và truyện thơ Tất nhiên vè và hát đố cũng là một mảng đóng góp vào kho tàngvăn hóa dân gian phong phú đó
Trên thực tế vè và hát đố hầu như không được lưu lại trên các văn bản viết